Thứ Năm, 28 tháng 2, 2013

Về bài thơ Đường Không tên(Vô đề) của Lý Thương Ẩn


Ngân Triều : Về bài thơ Đường( Không tên) của Lý Thương Ẩn

Nhân đầu năm mới, xin tặng quý anh chị em một bài Thơ  Đường hay. Xin chúc một năm mới An khang- Thịnh đạt và thỏa lòng. Ngân Triều
VÔ ĐỀ (Lý Thương Ẩn), một bài Thơ Đường không tên

Khai bút đầu Xuân Quý Tỵ, biết viết gì đây?  Tự nhiên,  tôi chợt nhớ đến một bài Thơ Đường đã đọc ngày xưa, bài Vô đề của Lý thương Ẩn (     /        隠)
Lý thương Ẩn (813 – 858), tự là Nghĩa Sơn, hiệu là Ngọc Khê Sinh.  Người huyện Hà Nội, nay là Phủ Hoài Khánh, tỉnh Hà Nam, Trung Quốc.  Thiếu thời, giỏi văn chương nên thường giao du với con cái của những người quyền quý bấy giờ.  Năm 837, ông nhờ thế lực, đậu tiến sĩ, được nhận làm  thư ký, được  Quan trấn Thủ Hà Dương gả con gái cho.  Do ở giữa các thế lực đối đầu nhau nên con đường công danh của ông nhiều  phen lận đận …Bệnh  mất năm 858, lúc đó ông mới 46 tuổi.
Xin cùng tôi đọc bài thơ.

Vô đề - Lý Thương Ẩn
Tương kiến thời nan, biệt diệc nan.
Đông phong vô lực, bách hoa tàn.
Xuân tàm đáo tử ti phương tận,
Lạp chúc thành hôi, lệ thủy can
Hiểu kính đản sầu vân mấn cải,
Dạ ngâm ưng giác nguyệt quang hàn
Bồng lai thử khứ vô đa lộ
Thanh điểu ân cần vị thám khan


                             
                  
                  
                  
                  
                  
                   
                   
                   

Tạm chuyển sang Tiếng Việt:
Không  đề  bài – Lý Thương  Ẩn

Gặp nhau đã khó mà chia tay nhau lại càng khó hơn
Cũng như gió Xuân kia, thổi nhẹ nhàng mà muôn hoa tàn héo.
Cũng như con tằm Xuân, đến chết vẫn còn cho tơ
Cũng như ruột nến kia cứ tuôn lệ sầu cho đến lúc thành tro mới dứt
Buổi sáng, soi gương, những buồn vì tóc mây đổi màu
Đêm đến ngâm thơ, mới thấy ánh trăng lạnh lẽo
Cơ hội mừng vui, còn gặp  nhau (Bồng Lai)chắc không còn  nhiều  nữa
Vậy xin ân  cần  cậy   người (chim  xanh), hãy đến đưa  đón, trợ   giúp tôi với.

  đề -     Thương  Ẩn
Xa  nhau  khó,   tựa  gặp  nhau
Gió  Đông  không   sức,  hoa  rầu  xác   
Thác  rồi  tằm  vẫn cho  tơ;
Tàn rồi nến   mới  biết  khô   lệ  sầu.
Soi  gương,  buồn   tóc  đổi  màu ;
Ngâm   khuya  h ẵn  biết  trăng  thâu  lạnh  lùng
Cõi  xa  xôi,  mấy   non  Bồng ,
  đường  hỏi  lối,  cậy  cùng  chim  xanh
(Thầy   Trần  Trọng  San   dịch)

·       Về đề bài
Đã hơn ngàn năm qua rồi, mà ý tưởng của cổ nhân thật là gần gũi!  Vô đề là không  có đầu đề bài thơ, hay đầu đề bài thơ là không có đầu đề.  Tác giả có lẽ dạt dào cảm xúc, chưa kịp nghĩ ra đề bài, hay đó chính là một cách cố ý muốn nói nửa vời, thi vị, lôi cuốn  độc giả…(Dẫu sao, cấu tứ cụ thể cũng đã dàn trải trong nội dung của bài thơ hàm súc…Đặt đầu đề hay không , khi đọc qua bài thơ thì độc giả cũng hiểu bài thơ chuyên chở điều gi). 
Hơn ngàn năm sau, trong lĩnh vực âm nhạc Việt Nam, có nhạc sĩ cũng đã sáng tác hàng loạt ca khúc có tựa đề là “Bài ca không tên số…” cũng rất được khán thính giả cổ vũ và ưa thích một thời.
Vậy là, “không đề bài” có thể là một sự sáng tạo hữu duyên của tiền bối, được người đời sau sử dụng như  một phong cách đưa duyên, trữ tình, thi vị.
·        Hai câu đề:
                  
                  


Thiên nhiên và con người như đồng cảm trước cảnh hợp tan.
 Câu đầu tác giả đã đưa ra một sự thật hiển nhiên.  Gặp nhau, đã khó nhất là ngày xưa, đường đi núi sông cách trở, phương tiện đi lại khó khăn, thì người gặp người… quả là thiên nan, vạn nan.
Nhưng đã gặp nhau rồi, biết bao tình, mừng vui khấp khởi, thỏa lòng.  Đến khi chia tay nhau thì càng khó khăn hơn.  Người ở lại thì thương người đi xa, dấn thân vào nơi nguy hiểm, gian nan, tự hỏi không biết có còn gặp nhau nữa không, hay là lần găp nhau nầy, kể như là vĩnh biệt.  Thật quá bi thương! Khác nào như cảnh tàn úa, rơi rụng của muôn hoa, trong gió Xuân mát lạnh, nhẹ nhàng.  (Muôn hoa buồn vì cảnh chia ly đó nên sầu thảm,  lìa cành/ Có thể hiểu cảnh chia tay diễn ra trong mùa Xuân.  Thấy hoa rụng, muôn hoa kia héo hon tàn úa, chừng như chính là  nỗi lòng tác giả phải lìa xa người bạn phương trời)
Ngày ấy, Lý Bạch   đã tiễn đưa Mạnh Hạo Nhiên    đi Quảng Lăng     cũng đồng một tâm tình như thế.  Ộng đứng lại rất lâu, mãi nhìn theo cánh buồm lẻ loi (cô phàm) của bạn xa dần…xa dần, chỉ còn là một chấm nhỏ (viễn ảnh), cho đến khi cánh buồm đó tan biến vào khoảng trời xanh biếc (bich không tận).  Tình bạn xưa nay thật vô cùng  cảm kích:

Tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng (Lý Bạch)

Cố nhân Tây từ Hoàng Hạc Lâu,(1)
Yên hoa tam nguyệt há Dương Châu (2)
Cô phàm viễn ảnh bích không tận (3)
Duy kiến trường giang thiên tế lưu (4)

Nguyên văn:

       之     (   白)

         西                   
                        
                             
                              


Chuyn sang Tiếng  Vit:

TIỄN   MẠNH   HẠO NHIÊN  ĐI  QUẢNG  LĂNG
(1)Bạn cũ  rời  xa  lầu  Hoàng  Hạc  phía  Tây
(2)Đi xuống  Dương  Châu ,  vào  tháng  ba,mùa  hoa  khói
(3)Cứ   mãi  nhìn theo  cánh  buồm  lẻ  loi (của  bạn)  cho   đến tận  cuối  trời xanh  biếc,
(4)(Cuối   cùng) Chỉ còn thấy dòng  sông  dài  tuôn  chảy  đến  bên  trời.

Dịch thơ:

 Bạn từ Lầu Hạc lên   đường,
Giữa   mùa  hoa  khói, Châu  Dương xuôi dòng.
Bóng  buồm   đã  khuất  bầu  không,
Trông  theo  chỉ thấy dòng  sông  bên trời.
(Ngô Tất Tố dịch)


Bạn    rời chân  Hoàng  Hạc Lâu,
Giữa  mùa  hoa  khói, xuống  Dương  Châu.
Buồm  ai  mất hút trong  mây  biếc,
Chỉ thấy Trường  Giang  vẫn chảy  mau.
(Thầy  Trần  Trọng  San  dịch)

·       Hai câu thực:
                   
                   


                   Phải chăng  chuyện hợp tan là cái qui luật đau thương của kiếp người, muôn nơi                      
                   và muôn thuở?
Điều đó, khác nào “Con tẳm đến thác cũng còn vương tơ” (Kiều câu 1976)/ hay như  ngọn nến kia cứ mãi nhỏ lệ cho đến khi tim cháy thành tro tàn, lệ nến mới khô.  Hai hình ảnh con tằm và lệ nến được chọn lọc, như một từ nhãn tự, hàm súc, gợi tả tuyệt vời...

·       Hai câu luận: Chạnh nỗi niềm riêng

                   
                   

Buồn vì thấy mình cao tuổi, già đi khi soi gương.  Già đi là một trong bốn cái khổ của thế nhân: Sinh, lão, bệnh, tử.  Tứ thơ rất thanh thoát như phần mở đầu của bài thơ Tương Tiến Tửu của Lý Bạch:


Quân bất kiến
Hoàng Hà chi thủy, thiên thượng lai
Bôn lưu, đáo hải, bất phục hồi
Quân bất kiến
Cao đường minh kính bi bạch phát
Triêu như thanh ty mộ thành tuyết…


   不 見
                  
                  
     
                  
                  

Anh thy chăng
Nước sông  Hoàng  Hà,t tr đến
Tuôn chảy ra tn bin  không bao gi tr lại
Anh thy chăng
Gương  tỏ  nhà  cao, bun tóc trng
Bu sáng  như  tơ  xanh,bui chiu tr thành tuyết.

Ý  nói thời gian  cũng  như  tuổi Xuân trôi qua  như dòng sông ra biển, không bao giờ trở lại.  Đời người nhanh sao!   Mới sớm chiều thôi, mà  tuổi già đã sồng sộc đến.
Mặt khác, chi tiết ánh trăng  lạnh lẽo  hàm  ẩn  sự  vắng vẻ, cô   liêu,rượi buồn trong  nỗi niềm vắng bạn.

·        Hai câu kết  : Tâm  tình  của tác  giả

                   
                   

Vi nhng  ý  tưởng  trên, gp  g -  chia  tay là  khó  khăn , bun  kh  thêm   nhưng đời người  ngn  ngủi, bun  hiu,trong cô quạnh thì có lẽ  cũng nên có  nhng  cơ hội mừng vui (họp mặt)gặp nhau cho thỏa  lòng.   Vậy xin  nhờ  người  đưa  đón  (tổ chức) tạo  điều  kiện và  trợ  giúp  cho  ta  nhé!

Tóm lại,

  đề  (Lý  Thương  Ẩn)     môt  tiếng   ca  buồn,  nhiều  cung  bậc về cảnh ngộ  hợp-tan  của  đời  người.   Cái buồn   thật     não   nuột.   Việc  tương   phùng   đã   khó   thay      ly   tan   càng   khó   hơn   bội   phần .    Đời   người   chóng    qua, dài  trong   gang   tấc   sớm    chiều     người  sống   trong   chốn   tịch   liêu , bạn       xa   cách   phương   trời,   không   thể   gặp   nhau… thì   hụt   hẫng    lòng   đau,  nhớ   thương  không   dứt…
   đề   còn là một thông  điệp  về lòng  hiếu khách, ái hữu, tôn trọng , yêu quý bạn bè  rất mực của tác giả.
Kết thúc bài thơ, tôi cứ lẩm nhẩm :

Thác rồi ,tằm vẫn cho tơ.
Tàn rồi, nến mới biết khô lệ sầu.

Tứ thơ thật là cao nhã!  Tứ thơ không những cao ngất lòng vị tha, nhân ái    nó còn dạt dào thông đạt một thái độ hiểu lẽ đời, (ý thức rõ cái nghĩa thống  khổ thương  đau tất nhiên, trong cõi người ta) …của một thức giả, của một bậc minh triết.