Thứ Ba, 16 tháng 12, 2014

Tiểu sử Đức chúa Jesu - Hồ Nguyễn

Sắp tới Lễ Giáng sinh,mời các bạn đọc  1 bài do Hồ Nguyễn st                         


 TIỂU SỬ ĐỨC CHÚA JESUS CHRIST
          Đức Chúa Jesus Christ là một vị Thánh được kính trọng và chính thức được tôn thờ trong Đạo Cao Đài, trong thời kỳ Đại Ân Xá Lần thứ ba của Đức Cao Đài Thượng Đế, để cứu vớt nhơn loại ra khỏi sông mê tội lổi và tránh thãm họa diệt vong.
          Jesus Christ (có thể viết và đọc khác là Giê-su, Giê-xu, Yêsu, Jésus, Gia-tô, ), cũng được gọi là Chúa Giêsu Kitô, hay Gia-tô Cơ-đốc, là người sáng lập ra Kitô giáo. Jesus là người Do Thái có tên là Yehoshua (có nghĩa là "Thiên Chúa là Đấng Cứu Độ" trong tiếng Hebrew), thường được gọi vắn tắt là Yeshua. Đối với người đương thời, Jesus còn được biết dưới tên Jesus người Nazareth, hoặc Jesus con ông Joseph. Danh từ "Kitô" (tiếng Latinh: Christus; tiếng Hy Lạp: Χριστός Khristós hoặc từ "Cơ Đốc", hay Ji-du) là một danh hiệu của Jesus, có nghĩa là "người được xức dầu", nhằm chỉ Ngài là một vị lãnh đạo, chính trị cũng như tôn giáo, được chọn bởi Thiên Chúa. Những gì chúng ta biết được về Jesus là do được ghi chép trong Thánh Kinh Tân Ước, đặc biệt là trong bốn sách Phúc Âm.

         Những nguồn thông tin chính về cuộc đời và những lời dạy của Jesus Christ là bốn sách Phúc Âm quy điển, đặc biệt là trong Phúc âm Nhất lãm, mặc dù nhiều học giả cho rằng những văn bản như Phúc âm TômaPhúc âm người Hebrews cũng xác đáng. Trong Hồi giáo, Jesus (tiếng Ả Rập: عيسى‎, chuyển tự là Isa) được xem là một nhà tiên tri quan trọng của Thiên Chúa, người mang lại Injil (Phúc âm), và là người làm những phép lạ. Hồi giáo cũng xưng tụng và kính trọng Đức Jesus là Đấng Masih (Messiah), nhưng họ không được dạy rằng Jesus mang đặc tính thần linh. Hồi giáo dạy rằng Jesus đã lên thiên đường cả linh hồn và thể xác nhưng không trải qua việc đóng đinh vào thập tự giá và phục sinh, khác với niềm tin truyền thống của Ki Tô Giáo về cái chết và sự phục sinh của Đức Chúa Jesus Christ.
         Theo thông lệ, người Do Thái đương thời thường thêm tên người cha hoặc tên quê quán vào tên gọi cá nhân. Như vậy, trong Tân Ước, Jesus cũng được gọi là "Jesus người Nazareth" (Matthew 26:71), "Jesus con ông Joseph" (Luca 4:22) hoặc đầy đủ nhất là "Jesus con ông Joseph thành Nazareth" (John 1:45). Tuy nhiên, trong Marco 6:3 thì lại gọi là "con bà Maria, và anh em của các ông James, Joses hay Joseph, Judas và Simon". Tên Jesus ngày nay trong các ngôn ngữ hiện đại có nguồn gốc từ Iesus trong tiếng Latin, đây là một hình thức chuyển tự của chữ ησος (Iesous) từ tiếng Hy Lạp. Hình thức thể hiện của tiếng Hy Lạp lại bắt nguồn từ chữ ישוע (Yeshua) trong tiếng Aramaic, nhưng tựu chung có nguồn gốc từ chữ יהושע (Yehoshua) của tiếng Do Thái. Tên Yeshua dường như đã được sử dụng trong xứ Judea tại thời điểm Đức Chúa Jesus ra đời. Theo giải thích của Tân Ước, tên gọi này nghĩa là "Đức Javeh là sự cứu rỗi".
          Các tín đồ sơ khai của Ngài đã thường gọi Ngài là "Chúa Jesus Christ".Chữ "Kitô" hoặc "Cơ Đốc" (tiếng Anh: Christ) không phải là tên nhưng là một danh hiệu. Trong tiếng Hy Lạp Khristos (Χριστός), có nghĩa là "người được xức dầu", được dịch từ tiếng Hebrew là Messiah, để ám chỉ vị lãnh đạo được Thiên Chúa sai đến để giải cứu dân Chúa, nhưng trong ngôn ngữ hiện đại được hiểu là "Đấng cứu thế". Từ đó chữ Kitô hữu được chỉ những người tin và theo Chúa Jesus Christ.
          Theo ký thuật của các sách Phúc Âm, Đức Jesus xưng mình là Con Người (the Son of Man - tức "Con của Loài người", "Con chồn có hang, chim trời có tổ, nhưng Con Người không có chỗ tựa đầu" - Mt 8:20). Danh xưng này thường được cho là để khẳng định Jesus là một con người trọn vẹn cũng như Jesus được gọi là Con Thiên Chúa (the Son of God, "Quả thật, người này là Con Thiên Chúa" - Mt 27:54) để khẳng định Jesus đồng thời cũng là Thiên Chúa một cách trọn vẹn.
          Ngoài ra, Đức Jesus còn có một số danh xưng khác như "Đấng Tiên tri", "Chúa". Trong Phúc âm John chương 14 câu 6 chép: "Đức Chúa Jesus phán rằng: Thầy là đường đi, là sự thật và là sự sống; không ai đến được với Chúa Cha mà không qua Thầy" (John 14:6). Theo đức tin Kitô giáo, Đức Jesus là con Đức Chúa Trời, và được sinh ra trên Trái Đất và chịu đóng đinh, để cứu chuộc nhân loại khỏi tội lỗi, nên Jesus còn được xưng tụng là Đấng Cứu Thế, Đấng Cứu Rỗi, Cứu Chúa -"Nhưng Thiên Chúa tỏ lòng yêu thương của Ngài đối với chúng ta, khi chúng ta còn là người có tội, thì Chúa Cơ Đốc vì chúng ta mà chịu chết". (Roma 5:8).
          Hầu hết các học giả đồng ý rằng Jesus là một người Do Thái vùng Galilee, sinh vào khoảng đầu thế kỷ thứ nhất và qua đời trong khoảng từ năm 30 đến 36 Sau Công Nguyên tại xứ Judea. Chúa chỉ sống và hoạt động tại Galilee và Judea chứ không ở nơi khác. Các sách Phúc Âm chỉ tập chú vào quãng đời ba năm cuối khi Chúa sống trên thế gian, đặc biệt là tuần lễ cuối cùng trước khi bị đóng đinh trên thập tự giá, nhưng chúng cũng cung cấp một số manh mối liên quan đến năm sinh của Chúa Jesus. Đoạn Matthew 2:1 liên kết sự giáng sinh của Chúa Jesus với sự cai trị của Herode Đại đế - người đã chết vào khoảng năm thứ 4 trước Công nguyên, và đoạn Luca 1:5 viết rằng Herode đã trị vì nước Do Thái trước khi Chúa Jesus giáng sinh, ngoài ra Phúc Âm này còn đề cập đến cuộc điều tra dân số của chính quyền La Mã diễn ra mười năm sau đó. Luke 3:1-2 và 3:23 viết rằng Chúa Jesus bắt đầu sứ vụ khi Ngài khoảng ba mươi tuổi, và đó là năm thứ 15 của triều đại Tiberius (khoảng năm 28 hoặc 29 Sau Công Nguyên). Qua những chi tiết này và bằng các phương pháp phân tích khác nhau, hầu hết các học giả đi đến đồng thuận rằng Chúa Jesus sinh trong khoảng từ năm thứ 6 đến năm thứ 4 trước Công nguyên.
           Về thời điểm qua đời, tức là sự kiện Chúa bị đóng đinh trên cây thập tự giá, hầu hết các học giả đồng ý rằng sự kiện này xảy ra trong khoảng từ năm 30 đến 33 Công nguyên. Các sách Phúc Âm nói rằng sự kiện này xảy ra trong thành xứ JudeaPilate là tổng trấn thuộc quyền Đế quốc La Mã khoảng năm 26-36. Người ta tin rằng ngày mà Phaolô theo Kitô giáo (ước tính khoảng năm 33-36) có mối liên hệ nào đó đến cho ngày Chúa Jesus bị đóng đinh qua việc phân tích thư của Thánh Phaolô và sách Công vụ Tông đồ. Các nhà thiên văn từ thời Isaac Newton đã cố gắng ước lượng chính xác ngày Chúa Jesus bị đóng đinh bằng cách phân tích chuyển động của Mặt Trăng và tính theo lịch sử của lễ Vượt Qua (Passover) theo lịch của người Do Thái. Và ngày giả thiết được chấp nhận rộng rãi nhất theo phương pháp này là ngày 7 tháng 4, năm 30 AD; và ngày 3 tháng 4, năm 33 (kể cả lịch Julian).
          Jesus, theo các sách Phúc Âm, là một người Do Thái tôn trọng luật pháp Moses (kinh Torah), là nhà thuyết giáo và người chữa bệnh bằng phép mầu, cũng là người thường bất đồng với giáo quyền Do Thái, và cuối cùng, là người bị đóng đinh trên thập tự giá dưới phán quyết của chính quyền Đế quốc La Mã theo ý giáo quyền Do Thái lúc đó.
          Vì vậy, Đức Jesus sinh ra tại Bethlem (gần Jerusalem). Mẹ của Jesus, bà Maria (Mary hoặc Ma-ri), là một phụ nữ đồng trinh đã mang thai bởi quyền năng siêu nhiên của Chúa Thánh Linh. Ông Joseph, chồng của bà Maria, chỉ được nhắc đến trong thời thơ ấu của Chúa Jesus, dẫn đến những suy đoán rằng ông qua đời trước khi Jesus bắt đầu đi giảng dạy. Theo các sách Phúc Âm, khi Chúa Jesus sinh ra, các mục đồng được thiên sứ báo tin đã đến thờ lạy và mấy nhà thông thái (còn gọi là mấy nhà chiêm tinh hay mấy đạo sĩ, hoặc ba vua) từ phương Đông xa xôi, được dẫn dắt bởi một ngôi sao lạ, đã tìm đến để tôn thờ Đức Jesus.
         Đúng 12 giờ khuya đêm 24 tháng 12 /DL, Bà Maria chuyển bụng hạ sanh Chúa Jesus. Chúa Hài đồng được quấn tả và được đặt tạm vào máng cỏ cho đở lạnh vào mùa đông, nơi chuồng chiên trong hang đá.

          Các nhà tiên tri đã báo trước ngày giáng sanh của Chúa: Ngày nào sao chổi mọc là ngày đó Chúa giáng sanh, nên nhớ mà để ý tìm Ngài. Trong giờ Chúa giáng sanh, có nhiều huyền diệu xảy ra: Đám chăn chiên ngoài đồng bỗng nghe giữa thinh không có tiếng nói của Thiên thần: Có Chúa giáng sanh. Có hào quang chiếu sáng ngời.
          Các người chăn chiên liền đi tìm và gặp Chúa Hài đồng nằm trong máng cỏ. Họ là những người đảnh lễ Chúa trước tiên hơn hết.
          Lúc đó là thời đại vua Hérode đang cai trị dân Do Thái. Một hôm, có các Đạo sĩ từ phương Đông tìm đến yết kiến vua và hỏi rằng: “Vua dân Do Thái mới sanh ra hiện ở đâu? Chúng tôi thấy ngôi sao của Ngài bên Trời Đông nên tìm đến để đảnh lễ Ngài”.
          Nghe vậy, vua Hérode hoãng hốt và cả thành Jérusalem náo động lên. Vua Do Thái lo sợ sự ra đời của Chúa sẽ làm nguy hại đến quyền lực tối cao của mình nên tìm mọi cách phải giết Chúa, vua đã ra lịnh giết tất cả các trẻ con mới sanh từ 2 tuổi trở xuống. Thiên Thần đã hiện ra, báo mộng cho ông Joseph và bảo: Hãy thức dậy đem hài nhi và mẹ Ngài trốn qua Ai Cập.
          Joseph nghe theo và nhờ vậy mà Chúa được bảo vệ bình an.
          Sáu năm sau, vua Hérode chết. Thiên thần báo mộng và xin mang Chúa Hài đồng trở về Do Thái vì kẻ tìm giêt Chúa đã chết rồi.
                                              Chúa Jesu dưới nét vẽ của hoạ sĩ Trung Hoa
                                         

           Phúc âm Mark 6:3 ký thuật rằng "Jesus là con của Maria, anh của James, Joses, Judas và Simon". Josephus, sử gia Do Thái, và Eusebius, sử gia Kitô giáo, cũng có nhắc đến James như là em ruột của Đức Jesus. Tuy nhiên, Hieronymus cho rằng James (hoặc Gia-cơ) chỉ là em họ của Jesus. Tất cả chỉ là anh em họ. Những chị em gái của Jesus cũng không được biết là ai và tên gì vì phong tục trọng nam hơn nữ?Cách giải thích này đặt nền tảng cho truyền thống Công giáo RomaChính Thống giáo Đông phương tin rằng Maria đồng trinh trọn đời. Chúa đã trải qua thời niên thiếu tại làng Nazareth thuộc xứ Galilee. Chỉ có một sự kiện xảy ra trong thời gian này được ghi lại là khi cậu bé Jesus theo gia đình lên Jerusalem trong một chuyến hành hương. Bị thất lạc khỏi cha mẹ, cuối cùng cậu bé Jesus 12 tuổi được tìm thấy trong ngôi Đền thờ Jerusalem và cậu bé Jesus đang tranh luận với các học giả Do Thái giáo. Về anh chị em của Jesus, nhiều nhà nghiên cứu không đồng ý nhau việc Chúa có anh em ruột, đa số cho rằng chỉ là anh em họ, hay cùng cha khác mẹ mà thôi. Bà Maria với ông Joseph chỉ có một con là Jesus.
          Ngay sau khi chịu lễ Baptism (lễ rửa tội hoặc Báp-têm) bởi Joan Baotixita (Giăng Báp-tít), Chúa bắt đầu đi rao giảng, khi ấy khoảng ba mươi tuổi. Theo Phúc Âm Lu-ca, Chúa và Joan Baotixita là anh em họ vì Maria và Elizabeth, mẹ của John, là hai chị em họ. Thuở thiếu thời, Jesus theo cha làm nghề thợ mộc, đúng hơn là nhà xây dựng. Tài liệu ghi lại, Jesus làm nghề “tekton”, dịch từ chữ “charash” (tiếng Hebrew) có nghĩa là “crafsman hay builder”(thợ xây dựng).
         Theo Kinh Thánh, Chúa Jesus đã cùng các môn đồ đi khắp xứ Galilea để giảng dạy và chữa bệnh. Cung cách giảng dạy mang thẩm quyền, uy lực cùng với kỹ năng diễn thuyết điêu luyện, Chúa sử dụng các dụ ngôn để giảng dạy quan điểm về tình yêu thương nên đã thu hút rất nhiều người. Họ tụ họp thành đám đông và tìm đến bất cứ nơi nào Chúa có mặt. Đôi khi đám đông trở nên mất trật tự và Ngài buộc phải ngồi trên thuyền mà giảng dạy. Và Chúa cũng tìm đến và thuyết giáo tại các Thánh đường Do Thái giáo (synagogue).
         Chúa áp dụng các phương pháp khác nhau khi giảng dạy, phép nghịch lý, phép ẩn dụ và các truyện dụ ngôn. Ngài thường tập trung vào Nước Trời (hay Thiên Quốc). Nổi tiếng nhất là Bài giảng trên núi, trong đó đề cập đến Tám mối Phúc thật (Beatitudes). Trong số những dụ ngôn của Chúa, được biết đến nhiều nhất là hai câu chuyện: Người Samaria nhân lànhNgười con trai hoang đàng. Jesus có nhiều môn đồ, thân cận nhất là mười hai sứ đồ (hoặc tông đồ), Phêrô (Peter hoặc Pierre) được Công giáo Roma cho là sứ đồ trưởng. Theo Tân Ước, Chúa Jesus làm nhiều phép lạ như chữa bệnh, đuổi tà ma và khiến một người đàn ông tên là Lazaro sống lại khi đã chết. Chúa thường có 12 đệ tử cùng theo Ngài đi truyền giáo các nơi.
         Mười hai đệ tử của Chúa Jesus là:
        1/ Simon Peter, hay Thánh Phero (Thánh Pierre).
        2/ Andrew, em của Phéro.
        3/ James (con của Zebedee).
        4/ John (con của Zebedee, là em của James).
        5/ Philip (bạn thân của Andrew, người hướng dẫn Bartholomew đến với Chúa Jesus Christ) .
        6/ Bartholomew (hay Nathanael).
        7/ Thomas.
        8/ Mathew (hay Levi) là người thu thuế.
        9/ James, con của Alpheus.
        10/ Thaddeus (con của James).
        11/ Simon.
        12/ Judas Iscariot (kẻ vì tham tiền phản bội bán Chúa).
          Giới lãnh đạo Do Thái giáo bao gồm các nhóm quyền lực đối nghịch nhau như nhóm Sađốc (Sadducee) và nhóm Pharisêu (Pharisee) thường bất đồng với Chúa Jesus. Chúa vẫn thường vạch trần tính chuộng hình thức cũng như tinh thần đạo đức giả của người Pharisêu. Nhiều người xem Chúa như một nhà cải cách xã hội, những người khác tỏ ra nhiệt tình vì tin rằng ông là vị vua đến để giải phóng dân Do Thái khỏi ách thống trị của Đế quốc La Mã, trong khi giới cầm quyền xem Jesus Christ như một thế lực mới đang đe dọa những định chế tôn giáo và chính trị đương thời. Nhiều người tin nhận Jesus là "Đấng Cứu Tinh" đến để cứu chuộc nhân loại.
Chúa bị bắt và bị xét xử:
         Chúa Jesus Christ cùng các môn đồ lên thành Jerusalem vào dịp Lễ Vượt Qua (Passover); Ngài vào Đền thờ Jerusalem. Các môn đồ đánh đuổi những người buôn bán và những kẻ đổi tiền, lật đổ bàn của họ và quở trách họ rằng: "Nhà ta được gọi là nhà cầu nguyện nhưng các ngươi biến thành hang ổ của bọn trộm cướp". Sau đó, Chúa bị bắt giữ theo lệnh của Toà Công luận (Sanhedrin) bởi viên Thượng tế Joseph Caiaphas. Trong bóng đêm của khu vườn Getsemani ở ngoại ô Jerusalem, lính La Mã nhận diện Jesus nhờ cái hôn của Judas Iscariot, một môn đồ đã phản Chúa để nhận được tiền.


             Chúa bị treo mình trên Thập Tự giá

            Tòa công luận cáo buộc Jesus tội phạm thượng và giao ông cho các quan chức Đế quốc La Mã để xin bản án tử hình, không phải vì tội phạm thượng nhưng vì cáo buộc xúi giục nổi loạn. Dưới áp lực của giới lãnh đạo tôn giáo Do Thái, Tổng đốc Pontius Pilate (Philatô) miễn cưỡng ra lệnh đóng đinh Chúa. Tuy nhiên, theo các sách Phúc Âm, một tấm bảng có hàng chữ viết tắt INRI (của câu: "Jesus người Nazareth, vua dân Do Thái") được treo trên thập tự giá theo lệnh của Pilate.
         Sau khi thoát xác chết, Chúa được người Arimathea đến gặp Pilate và xin được phép chôn với sự chứng kiến của Maria, Maria Magdalene và những phụ nữ khác.
Phục sinh và thăng thiên:
          Các Kitô hữu tin rằng Chúa Jesus sống lại vào ngày thứ ba sau khi chết trên thập tự giá. Sự kiện này được đề cập đến theo thuật ngữ Kitô giáo, được cử hành hằng năm vào ngày Lễ Phục sinh (Easter).
         Maria Magdalene và Maria, mẹ của Giacobê, và Salome khi đến thăm mộ với thuốc thơm để xức xác Chúa (theo tục lệ thời ấy) thì chỉ thấy ngôi mộ trống mà trước đó họ đã an táng Ngài trong đó [Mác-Cô 16:1]. Phúc Âm Joan (20:12, 20:13, 20:14) thuật rằng khi Maria Magdalene đến bên ngôi mộ trống thì thấy hai thiên sứ mặc áo trắng. Hai thiên sứ hỏi: "Hỡi người đàn bà kia, sao ngươi khóc?” Người thưa rằng: “Vì người ta đă dời Chúa tôi đi, không biết để Ngài ở đâu". Vừa nói xong người đàn bà quay lại, thấy Đức Chúa Jesus tại đó; nhưng chẳng biết người đó là Đức Chúa Jesus. Các sách Phúc Âm và Công vụ đều ghi nhận rằng Chúa Jesus đã gặp lại các môn đệ tại các nơi chốn khác nhau trong suốt bốn mươi ngày trước khi về trời. Phúc âm Mác-Cô (16:20) chép, về phần các môn đồ, thì họ ra đi giảng đạo khắp mọi nơi, Chúa cùng đi với các môn đồ, và lấy các phép lạ cặp theo lời giảng mà làm cho vững đạo. Và đức Chúa Jesus luôn ở cùng các môn đồ của Ngài cho đến ngày tận thế [Mat-tê-ô 28:20].
         Hầu hết Kitô hữu chấp nhận câu chuyện phục sinh, như được ký thuật trong Tân Ước, là sự kiện lịch sử và xem đây là tâm điểm cho Đức tin Kitô giáo của họ mặc dù theo quan điểm của một số tín hữu thuộc trào lưu tự do (liberalism), đây chỉ là câu chuyện có tính ẩn dụ. Tuy nhiên lịch sử chứng minh đây là niềm tin bất di dịch của Kitô giáo. Tất cả Kitô hữu tin rằng Chúa Jesus đã làm nhiều dấu kỳ phép lạ và các tông đồ được ban cho quyền lực siêu nhiên bởi ơn Chúa Thánh Thần để chữa lành bệnh tật cho nhiều người và nói được nhiều thứ tiếng khác nhau sau khi Chúa Jesus Christ về trời.                                 
  Bối cảnh văn hóa và lịch sử:                                       
         Thế giới đương thời mà Jesus sống luôn biến động, được đánh dấu bởi những bế tắc nối tiếp nhau cả về văn hoá và chính trị. Về văn hoá, vì người Do Thái phải vật lộn với nền triết học và các giá trị của văn minh Hy Lạp và với sự mâu thuẫn nội tại của kinh Torah, vì trong khi kinh Torah mặc khải các chân lý có giá trị cho toàn thể nhân loại thì các luật lệ của nó chỉ áp dụng riêng cho người Do Thái. Tình thế này dẫn dắt họ đến những cách giải kinh mới chịu ảnh hưởng của tư tưởng Hy Lạp và nhằm đáp ứng quyền lợi của người không thuộc chủng tộc Do Thái đã gia nhập Do Thái giáo.
         Vào thời điểm Jesus sinh ra, lãnh thổ Israel thuộc Đế quốc La Mã, nhưng đặt dưới quyền cai trị của Hérođe Đại Đế. Vào năm thứ 4, Hoàng đế La Mã Augustus phế truất Herode Archelaus, con của Hérode Đại Đế và đặt các xứ Judea, SamariaIdumea dưới quyền cai trị trực tiếp của chính quyền La Mã, được giám sát bởi một quan tổng đốc, người này có quyền bổ nhiệm chức Thượng tế của Do Thái giáo. Tình trạng này kéo dài cho đến năm 64. Xứ Galilea, nơi Jesus lớn lên, vẫn dưới quyền cai trị của Herode Antipas (một người con khác của Hérode Đại Đế). Khi ấy Nazareth là một làng quê nhỏ bé với vài trăm cư dân, không có hội đường Do Thái giáo (synagogue), cũng không có cơ sở công cộng nào. Không có vàng, bạc hay sản phẩm nhập khẩu được tìm thấy ở đây trong
cuộc khai quật khảo cổ.
                                          Xứ Palestine thời Jesus sống
Dấy tích 1 ngôi nhà ở Jesusalem
           Vài phe nhóm tranh giành ảnh hưởng với nhau trong cộng đồng Do Thái như nhóm Saducee, có quan hệ mật thiết với giới tư tế và đền thờ, trong khi nhóm Pharisêu có nhiều ảnh hưởng trong vòng các học giả, giáo sư và lãnh đạo các hội đường. Các nhóm này chống đối sự chiếm đóng của Đế quốc La mã nhưng vào thời Jesus họ vẫn cố kềm chế để không có phản ứng công khai nào.
         Nhiều người kỳ vọng vào sự xuất hiện của một vị Cứu Tinh (Messiah), hậu duệ của vua David để giải phóng họ khỏi sự cai trị của người La Mã. Theo đức tin Do Thái, lịch sử được điều khiển bởi Thiên Chúa, có nghĩa là sự chiếm đóng của người La Mã là một phần trong hoạch định của Ngài. Vì vậy đế quyền La Mã cần được thay thế bởi một vị vua Do Thái nhờ sự can thiệp siêu nhiên. Những người thuộc nhóm quá khích tin rằng chẳng bao lâu Vương quốc Do Thái sẽ được phục hồi và họ chuẩn bị các phương tiện để chống người La Mã. Các phản ứng của người La Mã cuối cùng dẫn đến sự phá đổ Đền thờ và sự suy vong của các nhóm kể trên.
Di sản của Jesus Christ:
          Theo hầu hết các giải thích của đạo Thiên chúa trong Kinh Thánh, các chủ đề cơ bản của những lời răn dạy của Jesus là sự hối cải, tình thương vô điều kiện, tha thứ tội lỗi và khoan dung và về Thiên đường. Khởi đầu như một giáo phái nhỏ của người Do Thái, nó đã phát triển và trở thành một tôn giáo riêng biệt so với đạo Do Thái vài thập kỷ sau cái chết của Jesus. Kitô giáo đã lan rộng ra khắp đế chế La Mã dưới phiên bản được biết đến như Tín điều Nicea và trở thành quốc giáo dưới thời Theodosius I. Qua hàng thế kỹ, nó lan rộng đến hầu hết châu Âu và trên toàn thế giới. C. S. LewisGiáo hoàng Joan Phaolô II đã bảo vệ niềm tin vào Chúa Jesus trước những sự chỉ trích về lịch sử.
Nhận định từ một số tôn giáo về Chúa Jesus:
          Hầu hết Kitô hữu tin rằng, Đức Jesus là Thiên Chúa, là Đấng Messiah mà sự xuất hiện đã được tiên báo trong Cựu Ước. Họ tin rằng Jesus là Thiên Chúa hóa thân thành con người, là Ngôi Hai trong Ba Ngôi; rằng Giêsu nhập thể bởi quyền phép Chúa Thánh Linh, theo Ân điển xuống thế gian để cứu nhân loại khỏi tội lỗi và sự chết bởi máu của Jesus đã đổ ra khi bị đóng đinh trên thập tự giá như là sinh tế chuộc tội cho loài người. Họ cũng tin rằng Jesus Christ đã sống lại từ cõi chết và sau đó trở lại Thiên Đàng.
         Khác với đức tin của người Kitô giáo, tín đồ Hồi giáo tin rằng, Jesus là một trong những nhà tiên tri đáng được tôn trọng, được Thiên Chúa sai đến và là Đấng Messiah; nhưng họ không tin Jesus là "Con Thiên Chúa". Họ cũng không tin về sự chết và sự phục sinh của Jesus, xem đó chỉ là sự hóa phép của Thiên Chúa dành cho tiên tri Jesus để đánh lừa người đương thời. Sau đó, Jesus về trời cả hồn lẫn xác.
         Do Thái giáo thì cực lực phản đối cả hai niềm tin của hai tôn giáo trên. Họ không xem Jesus là Thiên Chúa xuống thế làm người cũng không nhận đó là nhà tiên tri, thậm chí coi đó là nhà tiên tri giả hay kẻ xúc phạm đến Thiên Chúa của họ. Họ cho rằng, kể từ sau sự sụp đổ lần thứ hai của Đền thờ Jerusalem, không có một tiên tri nào xuất hiện thêm nữa. Cho đến tận bây giờ, họ vẫn đang hy vọng có một Đấng Messiah từ trời xuống.
         Phật giáo hầu như không đưa ra nhận định về vai trò của Jesus trong tôn giáo họ. Đối với họ, dựa theo lịch sử, Jesus chỉ là một con người. Tuy nhiên, một số tín đồ thuộc một số phái cho rằng, với những đức tính hiển nhiên của "Jesus", chắc chắn sau đó Jesus cũng được sinh vào cõi trời dựa theo luật nhân quả. Do đó, những người tu theo đạo Phật cấp tiến, nhất là tông Tịnh Độ, có thể tôn kính "Jesus Christ" như một vị A La Hán hay vị Bồ tát.
         Một số Phật tử, trong đó có Tenzin Gyatso, Đạt-lại Lạt-ma thứ 14 xem Jesus như một vị Bồ tát, người cống hiến đời mình cho hạnh phúc của nhân loại. Nga Sơn Thiều Thạc ở thế kỷ 14 của Tào Động tông ngụ ý rằng những lời dạy của Jesus trong Sách Phúc Âm do một người theo Chúa, đã được giải thoát viết lại.
             Vì có vai trò đặc biệt trong một số tôn giáo này, Đức Jesus Christ được nhìn nhận là một trong những nhân vật quan trọng nhất và có ảnh hưởng sâu rộng nhất trong lịch sử nhân loại.
                       Đức Chúa Jesus Christ trong Đạo Cao Đài:        
         Trong Đạo Cao Đài, Đức Chúa Jesus Christ được xưng tụng là “Gia Tô Giáo Chủ Cứu Thế Thiên Tôn”. Trong Thánh tượng thờ cúng tại Tòa Thánh, các Thánh Thất và Thiên bàn tại gia đều có ghi nhận danh vị của Ngài, như đại diện Đạo Thánh trong thời kỳ Tam giáo qui nguyên; Ngũ chi phục nhứt. Đạo của Ngài là thuộc về Ngũ Chi Đại Đạo.
         Hơn nữa, vai trò và ảnh hưởng của Chúa Jesus trong Đạo Cao Đài cũng rất quan trọng:
        - Theo diễn biến Đạo sử từ ngày khai Đạo, nhân ngày Lễ Chúa Giáng sinh 24-12-1925, tại miền Nam nước Việt, Đức Chí Tôn xưng là Đấng A, Ă, Â tức NGỌC HOÀNG THƯỢNG ĐẾ cho biết trước: Ngài khai sáng mối Đạo Cao Đài để cứu vớt con cái của Ngài thoát khỏi sông mê, bể khổ.
           “Muôn kiếp có Ta nắm chủ quyền,
            Vui lòng tu niệm hưởng ân Thiên.
            Đạo mầu rưới khắp nơi trần thế,
            Ngàn tuổi muôn tên giữ trọn biên.
            Đêm nay, 24 Décembre, phải vui mừng vì là ngày Ta xuống trần dạy Đạo bên Thái Tây (Europe).
           Ta rất vui mừng mà đặng thấy đệ tử kính mến Ta như vậy.
           Nhà nầy sẽ đầy ơn Ta.
           Ta sẽ làm cho thấy huyền diệu đặng kính mến Ta hơn nữa.
           CHIÊU KỲ TRUNG độ dẫn HOÀI sanh,
           BẢN đạo khai SANG QUÍ GIẢNG thành.
           HẬU ĐỨC TẮC CƯ Thiên Địa cảnh,
           HƯỜN MINH MÂN đáo thủ đài danh”.  (TNHT/Q1/trang 5)
(Mười hai chữ lớn trong ba câu đầu là tên 12 vị môn đệ đầu tiên của Đức Chí Tôn. Ba chữ nghiêng trong câu chót là tên 3 vị hầu đàn; hay tên 3 vị sẽ trở lại sau này chăng?)           
       - Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc, trong bài thuyết đạo này vía Đức Chúa Jesus (25-12-1948 và 25-12-1949) có dạy:
        “Có một Đấng Chơn linh Tam Thế Chí Tôn, nhơn loại đều biết danh, đó: Brahma Phật, tức là Tạo hóa; Nhị Thế Civa Phật, tức Tấn hóa; Tam Thế Christna Phật, tức nhiên Bảo tồn. Đấng trọn quyền bảo tồn ấy là lòng ái tuất thương sanh vậy.
         Vì cớ cho nên, Đức Chúa Jesus Christ thương nhơn loại một cách nồng nàn thâm thúy. Ngài đã ngó thấy Nhứt Kỳ Phổ Độ, nhơn loại ký Hòa ước với Chí Tôn mà đã bội ước nên phạm Thiên Điều, nhơn quả nhơn loại gớm ghiết. Do nhơn quả ấy mà tội tình nhơn loại lưu trử đến ngày nay. Thánh giáo gọi “Tội Tổ Tông”. Chính mình Ngài đến, đến với một xác thịt phàm phu, Ngài đến giơ tay để ký Đệ Nhị Hòa Ước với Đức Chí Tôn, chịu tội cho nhơn loại, ký Đệ Nhị Hòa Ước đặng dìu dắt chúng sanh trở về cùng Đấng Cha Lành của họ tức nhiên là Đức Chí Tôn của chúng ta ngày nay đó vậy.
          Đấng ấy vô tận vô biên, thấy nạn của nhơn loại đã dẫy đầy, Ngài chỉ xuống mặt thế nầy làm con tế vật đặng chuộc tội cho nhơn loại, mà lại còn đem quyền của Chí Tôn để nơi tay của nhơn loại, bàn tay đó đã ký Đệ Nhị Hòa Ước cho nhơn loại, nó làm cho Ngài thế nào?Do tay Ngài ký tờ Hòa Ước với Chí Tôn, nên hai tay của Ngài bị đóng đinh trên Thập tự giá. Hai chân của Đấng ấy đi trước nhơn loại, dìu đường hằng sống cho họ, rồi hai chân của Đấng ấy cũng bị đóng đinh trên cây Thánh giá. Còn trái tim yêu ái nhơn sanh vô hạn ấy bị một lưỡi kiếm vô tình đâm cạnh hông Ngài, lấy giọt máu cuối cùng đó đặng cứu nhơn loại, một tình ái vô biên ấy để lại cho loài người một tôn chỉ yêu ái. Tôn chỉ nhìn nhơn loại là anh em cốt nhục và khuyên nhủ nhơn loại coi nhau đồng chủng.
           Cho đến ngày nay, cả nhơn loại trên địa cầu nầy không chịu nghe lời Ngài, không theo bước của Ngài, nên nạn tương tàn tương sát sắp diễn ra gần đây. Nhưng nếu chừng nào toàn cả nhơn loại biết thương yêu nhau, vì tình cốt nhục, thì cái nạn tương tàn tương sát trên mặt địa cầu nầy sẽ không còn nữa.
           Hai tấn tuồng, hai thảm trạng như thế, có thể đưa nhơn loại đến chỗ tiêu diệt mà chớ, vì nhơn loại không biết nghe, Đấng ấy đã lấy máu thịt của mình làm con tế vật dâng hiến cho Đức CHÍ TÔN để cầu xin tha tội cho nhơn loại.
           Nhơn loại sẽ mất đức vì không nghe theo Đấng Cứu Thế. Đấng ấy đã bảo anh em yêu ái nhau cho trọn vẹn kiếp sanh.
           Trái ngược lại, Đệ Nhị Hòa Ước kia đã ký với Đức Chí Tôn bị nhơn loại bội ước nữa. Vì bội ước mà bảo nhơn loại không bị tội tình mắc mỏ sao được.
          Đêm nay, nhờ hiển Thánh anh linh của Đấng Cứu Thế, Đấng ấy đã để lòng ưu ái vô tận, mong cứu vãn tình thế nguy ngập, lấy cả tình ái ấy làm phương giải khổ cho nhơn loại.
          Chúng ta để tâm cầu nguyện Ngài, để Ngài mở con mắt Thiêng liêng cho chúng sanh đặng nhìn thấy cái chơn tánh của kiếp sống họ nơi nào, đừng mê muội, đừng ngu dốt, lấy tinh thần sáng suốt, bỏ cái lục dục thất tình đầy tội ác nầy”…….
        -“Cái chết của Đức Chúa Jesus Christ là gì? Là Ngài đem xác Thánh quí trọng dâng cho Đức Chí Tôn làm tế vật. Xác Thánh trên Thánh giá là tế lễ đồng thể với Tam Bửu của chúng ta dâng cúng Đức Chí Tôn ngày nay đó vậy.
           Vậy, Đức Chúa Jesus Christ đã làm con tế vật cho Đức Chí Tôn đặng cứu chuộc tội lỗi của loài người, nhứt là các sắc dân Âu Châu, nên danh thể Ngài để hai chữ Cứu Thế chẳng có chi là quá đáng.
          “Ngài chết như thế ấy, nếu không phải con mắt Thiêng liêng oai quyền của Đức Chí Tôn thì cái chết của Jesus Christ mai một mờ ám mà thôi, không có cái gì gọi là Chí Thánh cả. Không phải vậy. Đức Chí Tôn đã hứa, đã nhìn nhơn loại là con và chính mình Ngài đã ở trọn hiếu cùng hy sinh tánh mạng của mình làm cho danh của Đức Chí Tôn cao trọng và làm cho nhơn loại đặng hưởng đặc ân của Đức Chí Tôn chan rưới, làm cho con cái của Đức Chí Tôn biết cái hiếu của Ngài đối với Chí Tôn.
           Từ thử tới giờ, chưa có một Giáo chủ nào đã làm. Cái hiếu của Ngài đến giờ chót đối với Đức Chí Tôn đã trọn.
          Còn Đức Chí Tôn, nếu không phải giữ “Nghĩa” với đứa con yêu dấu, con hiếu hạnh của Ngài, thì cái chết của Jesus Christ bất quá như kẻ tù nhân chết mà thôi, có đâu lên phẩm vị Giáo chủ, ngồi trên ngai Thiêng liêng vô cùng quí báu trên mặt địa cầu nầy gần 2000 năm.
          Trong lúc Đức Chúa Jesus Christ làm con hiếu hạnh có 3 năm thôi, mà Đức Chí Tôn trả lại cái danh dự sang trọng cho Ngài đến 1949 năm, là năm nay”.    
         - Vào dịp lễ Noel năm 1967 tại Thánh Thất Bàu Sen, Đức Chúa Jesus Christ có giáng đàn cho một bài THI sau đây:
                               “Ta đến với một mùa đông đầy gió rét,
Để hy sinh cứu rỗi cho nhân loài.
Ta lại đến trong cơn lửa bỏng dầu sôi,
Để cất tiếng từng hồi gọi đàn chiên lạc lỏng.
Chúa Cứu Thế muôn đời còn mãi sống,
Sống muôn đời và sống mãi muôn đời.
Việt Nam ơi! Hồng Lạc ơi!
Đấng Thượng Đế, Đức Cao Đài đang ngự trị
……Hởi chư hiền! Hãy thương những người đi trước chư hiền vì đó mới có vết chân đi trước. Hãy thương những người đi sau chư hiền vì đó mới có vết chân đi sau. Nhạc trùng dương không bao giờ dứt, vì mọi làn sóng cứ tiếp tục theo nhau ngày đêm chẳng ngăn cách rời rạc.
           Cuối cùng, Ta muốn nói với chư hiền về Thiên mạng vi nhơn là hãy làm theo con chiên khôn ngoan hơn là làm người chăn chiên u tối. Giá rét nào không trở lại mùa đông, sứ mạng nào không trao cho người đã chọn.
          Việt Nam ơi! Hồng Lạc ơi! Đấng Thượng Đế Cao Đài đang ngự trị….”.
         (CĐTĐ/Q1/trang 1267-1268)
-                     Ngày 17-11-Ất Sửu (DL: 01-01-1926), có ông bà Đốc Phủ Sứ CHI theo Đạo Thiên Chúa đến nhà Đức Cao Quỳnh Cư muốn xem thử cơ bút nên nói với ông Cư rằng:
Xin cho tôi để thử trên bàn cầu cơ hình Đức Chúa Jesus và một cây Thánh giá. Nếu Đức Cao Đài là Thượng Đế thiệt thì mới giáng cơ được, bằng là Quỉ Vương thấy hai vật báu ấy tự nhiên phải tránh”.
           Đức Cao Quỳnh Cư bằng lòng cho thử, đoạn ông cùng Đức Phạm Công Tắc ngồi lại cầu cơ. Trước hết, có Thánh Pierre giáng cơ cho 4 câu thi:
THÁNH PIERRE:
Thiên Đàng giữ cửa góc trời tây,
Truyền Đạo cho dân biết mặt Thầy.
Cứu chuộc đã gần hai ngàn tuổi,
CAO ĐÀI phú thác dắt dìu bây.
                                    THẦY:
Con hiểu Jesus là ai chăng?
Trước Ta đã đổ máu cho loài người vì thương yêu. Nay Ta đến cứu loài người cũng vì thương yêu.
            Bây đủ thương yêu Ta dường ấy chăng?
            Ta cần bây biết ăn năn hầu cứu chửa bây (ĐS.1:35)
                                      (Trích Thánh Giáo Sưu Tập Q1/trang 34)
           Trong tôn giáo Cao Đài, hàng năm khi đến ngày lễ Noel, là ngày Giáng Sanh của Chúa Jesus Christ, tại Đền Thánh Tây Ninh và khắp các Thánh Thất tại địa phương từ trong nước cho đến hải ngoại, đều có thiết Đàn Đại lễ cúng Vía Đức Gia Tô Giáo Chủ Cứu Thế Thiên Tôn (Đức Jesus Christ) để nhắc nhở công nghiệp vĩ đại của Đức Ngài, đã lấy cái chết của mình treo trên thập tự giá để chuộc tội cho nhơn loại và trả hiếu với Đấng Cha Trời Thượng Đế.
__________Hiền Tài HỒ XƯA sưu tầm và viết lại từ các tài liệu:

-         Thánh Ngôn Hiệp Tuyển (Q1)
-         Thánh Giáo Sưu Tập (Q1, Q2)
-         Cao Đài Tự Điển (Q1)
-         Sưu tầm Lịch sử Chúa Jesus, trang web.TWD.
-         History of Bible page 1200-1276.

-         The book of Mormon (USA)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét