Thứ Tư, 25 tháng 11, 2015

Chuyện bản dịch bài thơ Nam Quốc Sơn Hà Nam Đế Cư (Tùy Bút Hoàng Đằng)



Chuyện bản dịch
bài thơ Nam Quốc Sơn Hà
                                 (Tùy bút của Hoàng Đằng)
Thời gian này, ở nước ta, trên các phương tiện thông tin đại chúng, dư luận ồn ào về việc thay đổi bản dịch bài thơ Nam Quốc Sơn Hà – tương truyền là của Lý Thường Kiệt - trong sách Giáo Khoa Ngữ Văn lớp 7.
Người viết bài này đọc báo, xem TV tìm hiểu xem sự thật như thế nào; bây giờ xin chia xẻ với bạn đọc những gì mình biết.

                                             
                            , 
                           
                            
                            
Bài thơ Nam quốc Sơn Hà bằng âm Hán Việt như sau:
Nam quốc sơn hà Nam đế cư.
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư.
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm?
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.
Dịch nghĩa: Sông núi nước Nam vua Nam ở; trong sách của Trời, phần  chia đã dứt khoát rõ ràng không thay đổi được. Bọn khốn nạn ngang ngược đến xâm phạm là cớ sao? Bọn bây sẽ  nhận lấy thất bại tan tành cho mà coi.
Xưa nay, bản dịch sau đây của cụ Trần Trọng Kim (1883 – 1953) được dùng và quen với độc giả:
Sông núi nước Nam vua Nam ở.
Rành rành định phận ở sách Trời.
Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm?
Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời.
Bây giờ, Ban Biên Soạn Sách Giáo Khoa Ngữ Văn lớp 7 đưa vào, để học sinh học, bản dịch của cụ Lê Thước (1891 – 1975) và cụ Nam Trân (1907 – 1967):
Sông núi nước Nam vua Nam ở.
Vằng vặc sách trời chia xứ sở.
Giặc dữ cớ sao phạm đến đây?
Chúng mày nhất định phải tan vỡ.
Dư luận xôn xao, thắc mắc. Tổng chủ biên sách Giáo Khoa Ngữ Văn lớp 7 lý giải về việc chọn bản dịch của hai cụ Lê Thước và Nam Trân như sau:
"Cho đến giờ, không có bản dịch nào toàn bích. Trong sách giáo khoa, ngoài bản của Lê Thước - Nam Trân, còn đưa thêm hai bản (?): một bản dịch kèm nguyên bản ở bức sơn mài trong Viện Bảo tàng Lịch sử (?), một bản của dịch giả Ngô Linh Ngọc (1922 – 2004) để học sinh có sự tham khảo, so sánh. Chia ra bản chính và bản đọc thêm, nhưng vai trò thì không khác nhau. Trong giảng dạy, giáo viên có thể linh động để tùy chọn …
Trong dịch thuật, tín, đạt, nhã là ba yếu tố quan trọng. Nhất là tín, nghĩa là phải giữ lại tinh thần nguyên bản của bài thơ.
Trong bản chữ Hán bài thơ Nam quốc sơn hà có một chữ rất "gay cấn" người dịch phải cực kỳ cân nhắc, đó là chữ định phậnĐịnh phận ở đây là phân định ranh giới, là địa phận quốc gia. Nếu dùng theo bản dịch phổ biến thì rất dễ hiểu nhầm thành số phận đã định. Như vậy không hay. Bản dịch của Lê Thước + Nam Trân: "Vằng vặc sách trời chia xứ sở" là hoàn toàn phù hợp với định phận trong bản chữ Hán. Ngoài ra, trong nguyên tác còn có chữ đế mà nhiều dịch giả chuyển thành vua (vương) thì không hay. Bản dịch của Lê Thước + Nam Trân trong sách giáo khoa cũng là vua Nam, nên Hội Đồng Biên Soạn đã thêm bản của Ngô Linh Ngọc vào ở phần đọc thêm. Bản dịch của Ngô Linh Ngọc giữ lại được chữ đế trong câu đầu tiên: “Đất nước Đại Nam, Nam đế ngự”.
"Giữ được chữ đế là khẳng định nước ta có chủ quyền, một nước độc lập, sánh ngang hàng với những nước khác. Thành thử, lâu nay những bản dịch chữ đế thành vua (vương) đều chưa chuẩn"
Nhiều người băn khoăn bản dịch của Lê Thước - Nam Trân toàn vần trắc, khiến khó nghe, khó đọc. Xưa nay, nhiều người học quen với sự êm ái của vần bằng; nhưng những nhà dịch thuật dùng vần trắc cũng phải có lý do. Trong dịch thơ, dịch ra vần bằng bao giờ cũng dễ hơn ra vần trắc. Hai cụ Lê Thước + Nam Trân là những dịch giả văn học rất giỏi, dùng toàn vần trắc, khi dịch, hẳn phải suy nghĩ, cân nhắc rất nhiều. Bởi vì khi nào cần đến sự quyết tâm, sự đấu tranh thì nên dùng vần trắc; như thế biểu đạt tình cảm hiệu quả hơn, phù hợp hơn".  Bản dịch của Lê Thước + Nam Trân in trong Thơ văn Lý - Trần (trang 322, Tập 1, xuất bản năm 1977) thì câu đầu tiên là “Núi sông Nam Việt, vua Nam ở”. Khi đưa vào trong sách giáo khoa được Hội Đồng Biên Soạn nhất trí sửa thành “Sông núi nước Nam, vua Nam ở”, bởi "nước ta chưa bao giờ có quốc hiệu Nam Việt". "Nguyên tắc biên soạn sách giáo khoa ở nước ta cũng như nước ngoài, cho phép người biên soạn có quyền sửa chữa cho phù hợp nội dung. Vì có sự sửa chữa nên mới có một chữ “theo” dưới phần nguồn gốc bản dịch thơ là “Theo Lê Thước - Nam Trân dịch trong Thơ văn Lý Trần, Tập 1, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội 1977”. Điều này được cả Hội Đồng Biên Soạn thông qua". Giáo sư Nguyễn Khắc Phi cho rằng "nếu dùng bản cũ phổ biến, phải sửa lại từ định phận và chữ vua thành chữ đế thì mới tốt. Điều này thuộc về nguyên tắc".
Trong những lý giải của GS Nguyễn Khắc Phi, phần nguyên tắc tôn trọng văn bản khi sử dụng, đã được  Tiến sĩ Phạm Văn Tuấn, Viện Nghiên Cứu Hán - Nôm “sửa lưng”. Theo TS Phạm Văn Tuấn, sách giáo khoa trích dẫn câu đầu tiên khác với nguyên bản dịch thơ của Lê Thước + Nam Trân trong cuốn Thơ văn Lý Trần,  thì Hội Đồng Biên Soạn nên dùng từ Dựa vào bản Thơ văn Lý Trần... và có chỉnh sửa hoặc ghi rõ Chỉnh sửa theo bản..., còn nếu ghi là Theo Lê Thước - Nam Trân dịch trong Thơ văn Lý - Trần, Tập 1, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội 1977, như thế mặc định đã trích dẫn nguyên bản của phần dịch ấy. "Nhóm làm sách đã làm sai, làm không đúng thao tác"
Nhà giáo Huỳnh Trung Vũ cũng đưa ra ý kiến phản bác lý giải của GS Nguyễn Khắc Phi về một số điểm như sau :
- Giáo sư Nguyễn Khắc Phi, Tổng chủ biên sách giáo khoa Ngữ văn 7, Tập 1, cho rằng từ “định phận” không hay, rất dễ hiểu nhầm thành số phận đã định; trong khi “Rành rành định phận tại sách trời” là một câu thơ rất rõ, nghiêm túc, khẳng định một thực tế là nước ta đã được cắm mốc xác định lãnh thổ, không tham lam của người và cũng không chấp nhận ngoại bang xâm chiếm; điều này là hiển nhiên, đã được “Trời”- bậc cao nhất cai quản cả thiên đình và địa giới theo cách nghĩ của người xưa “cấp sổ đỏ”!
- Giáo sư (Nguyễn Khắc Phi) biện minh rằng chữ “vằng vặc” là chính xác,.. Xin bàn về nghĩa của từ này: trong tiếng Việt, người ta nói “ánh trăng vằng vặc”, là ánh trăng sáng, soi rõ mọi vật; còn nói “sách trời vằng vặc” là không phải tiếng Việt. Nếu chấp nhận cách hiểu “vằng vặc” là một tính từ bình thường có nghĩa là “rành rành” “rất rõ ràng”, “không thể chối cãi” thì, từ nay trở đi, sẽ không ai ngạc nhiên khi đọc, trong bài phát biểu của một chính khách, “chủ quyền biển đảo của chúng ta là một thực tế vằng vặc” hay cái “ý đồ của các thế lực thù địch quá vằng vặc!”; thầy cô sẽ ghi sổ liên lạc cho học sinh: “Tiến bộ vằng vặc”; hay chủ nợ viết cho con nợ: “Nợ vằng vặc có giấy tờ hẳn hoi nhá…”!
- Từ “tơi bời”, ở cuối bản dịch (cũ) quá đủ nghĩa rồi: Chúng bây xâm phạm đất đai tổ tiên của ta thì ta đánh cho “tơi bời” không kịp cuốn cờ, không còn manh giáp. Sao lại phải đổi thành “tan vỡ”! Ngữ cảnh này sử dụng “tan vỡ” không phù hợp. Từ này hàm chút “tiếc nuối” một cái gì đó đã không còn nguyên vẹn, do một sự cố nào đó: cuộc tình “tan vỡ”, chiếc cốc rơi xuống đất, “tan vỡ”… Chứ đâu ai nói “bọn trộm chó đã bị dân làng đánh tan vỡ”!
- Bây giờ nói đến dịch, giáo sư Nguyễn Khắc Phi cho rằng phải đảm bảo “đạt, nhã, tín” trong dịch thuật. “Tín” là phải tôn trọng văn bản gốc, thế mà giáo sư cho rằng phải dùng vần trắc (trong khi bản gốc dùng vần bằng), vì “khi nào cần đến sự quyết tâm, sự đấu tranh thì nên dùng vần trắc; như thế biểu đạt tình cảm hiệu quả hơn, phù hợp hơn”.
-“Đạt” là mạch lạc, dễ hiểu, “nhã” là êm tai, có tính thẩm mỹ. Nhưng, như đã phân tích ở trên, tiếng Việt trong bản dịch mới là “lạ”, vần thơ lại “trúc trắc” khó đọc, kiểu hơi khiên cưỡng; như vậy, 2 tiêu chí này cũng khó đạt tới. 
Ngoài những ý kiến phản bác của TS Phạm Văn Tuấn và nhà giáo Huỳnh Trung Vũ, người viết bài này xin có ý kiến thêm. GS Nguyễn Khắc Phi cho rằng sách giáo khoa xếp bản chính và bản đọc thêm, nhưng vai trò không khác nhau; đó là cách nói “lấy được”; dùng từ “vua” để dịch từ “đế” không nói hết nghĩa. Đúng là từ “đế” cao hơn từ “vương”, nhưng các từ điển Hán – Việt đều dịch “đế” và “vương” ra tiếng Việt là “vua” (Hán Việt Từ Điển của Đào Duy Anh, Hán Việt Tự Điển của Thiều Chửu); bản dịch dùng từ “vua” để dịch từ “đế” là hợp tình hợp lý thôi vì trong tiếng Việt không có từ nào tương đương với từ đế! Dùng từ vua lại còn dễ hiểu hơn bê nguyên xi từ “đế” vào; hơn nữa, nếu viết “Sông núi nước Nam, ĐẾ Nam ở” thì sai luật bằng trắc của câu thơ; từ “định phận” (“định”: sắp xếp dứt khoát, “phận” là phần – phần đất) là phần đất đã được sắp xếp chia dứt khoát rồi, từ “định phận” đã Việt hóa, không có chi khó hiểu! Còn sử dụng vần trắc để mạnh ý bài thơ thì nguyên bản Hán văn sử dụng vần bằng: “cư”, “thư”, “hư” mà vẫn mạnh mẽ, hào hùng, thì sao?
Trong đợt thăm dò dư luận do Vnexpress tổ chức, tính đến ngày 14/11/2015, có 1335 phiếu cho ý kiến thì trong đó, 1,306 phiếu thích bản dịch của cụ Trần Trọng Kim (chiếm 98%), chỉ có 29 phiếu thích bản dịch của cụ Lê Thước + cụ Nam Trân (chiếm 2%).
Những vị trong ban biên soạn sách giáo khoa có thừa kiến thức để biết, giữa bản dịch của cụ Trần Trọng Kim và bản dịch của cụ Lê Thước + cụ Nam Trân, bản dịch nào “đạt” hơn. Tuy nhiên, họ ngụy biện rồi chọn bản dịch của cụ Lê Thước + cụ Nam Trân, cớ sao?
Có thể họ bị ám ảnh bởi bệnh “đổi mới” thời thượng, mà, vì bận tâm đến nhiều chuyện khác, quên mất “đổi mới” là phải chọn cái tốt hơn, điều tốt hơn để thay cho cái cũ, điều cũ đang dùng. “Mới” hơn “cũ” thì thay thế, còn “mới” thua “cũ”, xin hãy dùng tạm “cũ” để chờ có sáng kiến, phát minh.
Chưa thỏa mãn, người viết bài này muốn tìm thêm nguyên cớ .
Cụ Trần Trọng Kim từng làm thủ tướng chính phủ thân Nhật dưới triều vua Bảo Đại. Sau khi Việt Minh giành được chính quyền, thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, cụ lưu vong ra nước ngoài ở Quảng Châu  Hồng Kông (Trung Quốc); ngày 6 tháng 2 năm 1947, cụ trở về Sài Gòn. Năm 1948, cụ qua Phnom Penh sống. Sau đó, cụ trở về Việt Nam sống thầm lặng và mất tại  Đà Lạt vào ngày 02 tháng 12 năm 1953, thọ 71 tuổi. Như vậy, xét về nhân thân, cụ Trần Trọng Kim không phải là người của “phe ta”.
Còn cụ Lê Thước, sau Cách mạng tháng Tám (1945), tham gia Hội Đồng Cố Vấn Giáo Dục. Tháng 12 năm 1946, cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ, cụ được cử làm Chủ Tịch Uỷ Ban Tăng Gia Sản Xuất tỉnh Thanh Hóa. Trong năm đó, con trai cả của cụ là Lê Thiệu Huy hy sinh ở Thakkhet (Lào). Năm 1950, cụ được bầu vào Ủy Ban Trung Ương Hội Liên Hiệp Quốc Dân Việt Nam. Tháng 3 năm 1951, cụ được bầu vào Ban Chấp Hành Uỷ Ban Mặt Trận Liên-Việt toàn quốc. Sau năm 1954, cụ làm cán bộ phiên dịch, hiệu đính, chú thích, giới thiệu các tác phẩm Hán-Nôm chọn lọc ở bậc trung học và đại học tại Nha Giáo Dục Phổ Thông, sau chuyển sang Ban Tu Thư thuộc Bộ Giáo dục (Hà Nội). Tháng 2 năm 1957, cụ sang làm trong Ban Phụ Trách Ngành Bảo Tồn Bảo Tàng thuộc Bộ Văn Hóa, góp phần quan trọng trong việc phát hiện, sưu tầm hiện vật, và xây dựng Thư viện Hán - Nôm. Đến tháng 6 năm 1963, cụ về nghỉ hưu ở tuổi 72 tuổi.
Đồng dịch giả bản được chọn trong sách giáo khoa Ngữ Văn lớp 7 là cụ Nguyễn Học Sỹ, bút hiệu là Nam Trân, sau Cách mạng tháng Tám, tham gia kháng chiến, công tác ở Ủy Ban Kháng Chiến - Hành Chính huyện Đại Lộc (tỉnh Quảng Nam), Ủy Ban Kháng Chiến - Hành Chính tỉnh Quảng Nam, rồi làm chánh văn phòng Ủy Ban Kháng Chiến - Hành Chánh liên khu V. Năm 1954, cụ tập kết ra Bắc, công tác ở Ban Chấp Hành Hội Nhà Văn Việt Nam. Cụ là hội viên sáng lập Hội Nhà Văn Việt Nam. Năm 1959, cụ công tác tại Viện Văn Học, chuyên về dịch thuật. Cụ cũng là một trong những cán bộ giảng dạy lớp đại học Hán - Nôm đầu tiên ở miền Bắc, do Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam tổ chức.
Như vậy, hai cụ Lê Thước và Nam Trân là người của “phe ta”.
Thành thử, việc chọn bản dịch của hai cụ là việc đương nhiên.
“Ta về, ta tắm ao ta,
Dù trong, dù đục ao nhà vẫn hơn.”
Điều này thể hiện rõ hơn khi bản dịch của cụ Trần Trọng Kim thậm chí còn không được sử dụng ở phần đọc thêm mà ở phần đọc thêm chỉ sử dụng bản dịch của cụ Ngô Linh Ngọc:
Đất nước Đại Nam, Nam đế cư.
Sách Trời định phận rõ non sông.
Cớ sao nghịch tặc sang xâm phạm.
Bây hãy chờ coi, chuốc bại vong.
Việc chọn lựa chắc do sáng kiến và quyết định “biết điều” của ban Biên Soạn Sách Giáo Khoa Ngữ Văn, chứ không phải do lệnh của cấp trên. Chứng cớ là ngày 16/11/2015, tại nghị trường Quốc Hội, đại biểu Lê Văn Lai (Quảng Nam) nêu chất vấn về việc tại sao thay bản dịch cũ bài “Nam quốc sơn hà” (được coi là tuyên ngôn độc lập đầu tiên của dân tộc) bằng bản dịch mới trong khi bản dịch cũ “đã tồn tại bao đời nay, có chỗ đứng vững chắc trong lòng nhân dân”,  bộ trưởng Giáo Dục & Đào Tạo Phạm Vũ Luận cho biết quan điểm cá nhân của ông là nếu không cần thiết và không có hiệu quả cao thì không thay thế bản dịch.
Kết thúc bài, người viết xin gởi đi niềm mong ước là ban biên soạn sách giáo khoa cũng như các vị thẩm quyền biết nghe tâm tư nguyện vọng của dân, đứng trước một vấn đề chưa hợp lòng dân, đừng ngụy biện “lấy được”, biết nhìn nhận sự thật, bỏ tính hẹp hòi và biết trân quý cái gì hay, cái gì đẹp của toàn dân bất kể chính kiến, tôn giáo, sắc tộc, địa phương, cảm tính … để khỏi lãng phí nguồn lực quốc gia./.
21/11/2015 (10/10/Ất Mùi).
(havu.blogspot.com)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét