Thứ Sáu, 15 tháng 1, 2016

CHỮ NHO....Dễ Học....(Bài .3)


                       CHỮ NHO ... DỄ HỌC  (3)

           Ngoài TƯỢNG HÌNH và CHỈ SỰ ra, HỘI Ý cũng là một cách tạo chữ vô cùng lý thú và Ý vị. Vậy, Hội Ý là gì ?!

3. HỘI Ý 會意 :
            Hội Ý là Hội cái Ý của 2, 3, 4, 5 ... chữ Tượng hình lại  để tạo nên ý nghĩa của một chữ mới. Tiếng Anh gọi là  IDEATIVES. Ví dụ :
         -  Chữ MINH 明 : Do 2 chữ Nhựt 日 và Nguyệt 月 ghép lại mà thành, với ý nghĩa : Nhựt là nguồn sáng ban ngày, Nguyệt là nguồn sáng ban đêm, HỘI 2 Ý của Nhựt Nguyệt lại, ta có chữ MINH 明 là SÁNG SỦA  ( bất kể ngày hay đêm ), như từ kép Quang Minh 光明 là Sáng Sủa, ngoài ra ta còn có : 
       Image result for 會意字 Image result for 會意字

        - Minh Giám 明監 : là Soi xét một cách rõ ràng.
        - Minh Giám 明鑑 : là Gương sáng. Chữ Giám 鑑 nầy có bộ Kim bên trái, nên có nghĩa là gương soi ( Ngày xưa chưa phát minh ra pha-lê, nên gương soi là do kim loại mài bóng lên để làm gương soi ). Minh Tâm Bửu Giám 明心寶鑑 là Tấm gương để soi sáng lòng ta.
        - Minh Kính 明鏡 : Kính là Kiếng là Gương, nên Minh Kính cũng là Gương sáng. " Thân tự bồ đề thọ, Tâm như minh kính đài " là từ MINH KÍNH nầy !
        - Minh Tinh 明星 : là Ngôi sao sáng. Chỉ những người nổi tiếng của Nghệ Thuật Thứ Bảy !.
          Ngoài nghĩa sáng ra, MINH còn có nghĩa là Rõ Ràng, như : Minh Bạch, Xác Minh, Thuyết Minh ...
          Trời Tối rồi sáng lại là sang ngày hôm sau, nên Minh Thiên 明天 hoặc Minh Nhựt 明日 có nghĩa là : NGÀY HÔM SAU. Ngày xưa ở sát bên trường Trung Học Phan Thanh Giản có một trường tư dạy kèm Văn Toán Lý Hóa Sử Địa là trường MINH NHỰT VĂN ĐẠT, tức là NGÀY MAI VĂN sẽ ĐẠT của Niên Trưởng Thái Minh Nhựt mở ra !
         MINH còn là Thông Minh, Minh Mẫn, Anh Minh .....

                     Image result for 會意字 

         Nói thêm ...
     Ta có 6 chữ MINH có nghĩa khác nhau, đó là :
         1. MINH 明 là SÁNG, như chữ nêu trên.
         2. MINH 冥 là TỐI. Chữ Hội Ý gồm 3 bộ. Bộ Mịch 冖 bên trên dậy chữ Nhật 日 và chự Lục 六 lại, nên có nghĩa là Mặt trời bị đậy lại 6 ngày nên ...Tối Đen, như U MINH 幽冥 là Tối thui. Âm Phủ còn gọi là Minh Phủ 冥府. Ta có rừng U MINH TRÈM TRẸM vì là rừng lá thấp nên rất âm u hắc ám của xứ Năm Căn Cà Mau. Nhớ khoảng thập niên 50, tác giả Dương Hà đã viết quyển tiểu thuyết " Bên Dòng Sông Trẹm " rất ăn khách lúc bấy giờ.
        3. MINH 鳴 là KÊU, HÓT. Chữ Hội Ý do 2 bộ Khẩu 口 là Cái Miệng và bộ Điểu 鳥 là Con Chim ghép lại mà thành. Ta đã từng đọc bài Điểu Minh Giản 鳥鳴澗  ( Chim kêu trong khe núi ) của Vương Duy với 2 câu :
                 Nguyệt xuất kinh sơn điểu,      月出驚山鳥,
                 Thời MINH xuân giản trung.     時鳴春澗中。 
Có nghĩa :
           - Trăng mọc giật mình chim núi,
           - Thường KÊU oang oác trong khe.

             Inline image   Image result for 鳥鳴澗

           Nhớ hồi còn nhỏ, đọc truyện Tàu như Thuyết Đường Diễn Nghĩa, La Thông Tảo Bắc, Tiết Nhân Quý Chinh Đông, Tiết Đinh San Chinh Tây... thường hay gặp câu :... MINH KIM THÂU BINH 鳴金收兵 ... mà không biết là nghĩa gì, đến khi đi học chữ Nho với ông Thầy Thừng mới biết MINH KIM là Gỏ Phèng La để Thâu Binh . ( Minh Kim: là Làm cho miếng kim loại kêu lên, tức là Gỏ Kẻng đó !).
        4. MINH 銘 là KHẮC, là GHI, là TRẠM lên kim loại.
            MINH nầy là chữ Hài Thanh, có bộ KIM 金 bên trái chỉ Ý, chữ DANH 名 ( Người Hoa đọc là Ming ) ở bên phải chỉ Âm. Thành ngữ mà ta hay gặp là : Minh Tâm Khắc Cốt 銘心刻骨, có nghĩa : Trạm vào tim, khắc vào xương, mà ta nói là " GHI LÒNG TẠC DẠ. Lời của cô Kiều cám ơn Từ Hải :
                 Trạm xương tạc dạ xá chi,
           Dễ đem gan óc đền nghì trời mây !


           Inline image

   Image result for 寒夜品茗

        5. MINH 茗 là TRÀ.
            MINH nầy cũng là chữ Hài Thanh, với bộ THẢO là Cỏ phía trên chỉ Ý, và chữ DANH  ( Ming ) phía dưới chỉ Âm, nên MINH nầy là một loại Thảo Mộc, là TRÀ. Thành ngữ của những ngày cuối đông đầu xuân là HÀN DẠ PHẨM MINH 寒夜品茗. Có nghĩa : Đêm lạnh cùng nhau ngồi lại bình phẩm và uống trà. Đây là cái thú tao nhã của người xưa với câu nói bất hũ :
            Hàn dạ phẩm minh ý vô cùng !  寒夜品茗意無窮!
Có nghĩa:
       - Đêm lạnh mà cùng ngồi để nhấp nháp bình phẩm trà thì thật ý vị vô cùng, với đề tài nầy rất nhiều danh họa đã cho ra  đời rất nhiều tác phẩm nghệ thuật, nhất là giới Trà Đạo của  Nhật, xin được giới thiệu một bức dưới đây :
            
     6. MINH 螟 là Côn trùng phá hoại mùa màng.
               Chữ MINH nầy là chữ Hài Thanh, do bộ Trùng 虫  là Sâu Bọ bên trái chỉ Ý, chữ Minh 冥 là U Minh bên phải chỉ Âm. Nên MINH có nghĩa là loại Côn Trùng phá hoại mùa màng. Tuỳ theo chữ đi kèm, ví dụ :
         MINH NGA 螟蛾 : là Con Bướm, còn gọi là con Ngài cánh nhỏ mình to, trên đầu có 2 cái râu dài có lông tơ như chơn mày của phái nữ, cho nên gọi chơn mày đẹp là Mày Ngài. " Râu hùm hàm én mày NGÀI " là mày của con Ngài nầy đây. Hai câu chót trong bài Tiệp Dư Oán của Hoàng Phủ Nhiễm là :
             借問承恩者,          Tá vấn thừa ân giả,
             雙蛾幾許長?          Song NGA kỷ hứa trường  ?
Có nghĩa :
                    Hỏi người yêu dấu điện vàng,
              Đã dài được mấy hai hàng mày NGA ?!
         Minh Trùng 螟蟲 : là loại Bù Cào Châu Chấu...loại côn trùng chuyên ăn lúa non phá hoại mùa màng .
         MINH LINH 螟蛉 : là Ấu trùng của con Ngài và con Chuồn Chuồn, ta thường gọi là con Bà Mụ, sống tạm ở dưới nước. Theo tài liệu về Chuồn Chuồn như sau :
        Người ta thường nói “chuồn chuồn đạp nước” đó là lúc chuồn chuồn đang đẻ trứng vào nước. trứng nở ra ấu trùng còn gọi là “con xin cơm” hay “bà mụ”. môi dưới của ấu trùng biến thành mặt nạ có gai khỏe để bắt mồi (cá nhỏ, tôm tép,…). Chuồn chuồn trưởng thành có thể sống khoảng 2 tháng, nhưng giai đoạn ấu trùng ở nước có thể dài tới 3 năm .
        MINH LINH là con Bà Mụ, chỉ sống tạm ở dưới nước mà thôi, Nên MINH LINH còn có nghĩa là CON NUÔI. Ta có thành ngữ : DƯỠNG TỬ MINH LINH. Trong tuồng hát Cải Lương " Thần Nữ Dâng Ngũ Linh Kỳ ", khi Tiết Ứng Luông đánh với Phàn Lê Huê có hẹn rằng, nếu đánh thua thì sẽ ..." Theo chân nàng.. ... làm dưỡng tử minh linh ...á ..a ...".

         Image result for 螟虫 Inline image

                     Cào cào                     Con Ngài

Bây giờ thì ta sang chữ...
       - KIẾN 見 là THẤY là GẶP. Gồm bộ MỤC 目 là Con mắt ở trên, bên dưới là bộ NHÂN 人 là người hội ý lại mà thành. Con người đứng mở con mắt to lên, nên có nghĩa là THẤY là GẶP. Theo diễn tiến của chữ viết sau đây :

               
           Mở đầu quyển Minh Tâm Bửu Giám, bài đầu tiên là bài " Khuyến Thiện " với câu nói của Khổng Tử :  孔子曰:“見善如不及,見不善如探湯. 見賢思齊焉,見不賢而內自省也!Khổng Tử viết : " Kiến thiện như bất cập, Kiến bất thiện như thám thang, Kiến hiền tư tề yên, Kiến bất niền nhi nội tự tỉnh dã !.
Có nghĩa :
       Gặp người lương thiện, tự thấy mình như không bằng  được, gặp người không lương thiện thì như nhúng tay vào nước sôi. Gặp người hiền giỏi thì phải nghĩ làm sao cho ngang bằng  được với người ta. Gặp người không hiền giỏi thì phải biết tự cảnh tỉnh để đừng có "bất thiện" như họ.
           Ta cũng thường biết chữ KIẾN qua câu : " Kiến nghĩa bất vi vô dũng giả 見義不為無勇者.". Thấy việc nghĩa mà không làm là người không có dũng khí.

           Mở mắt to là KIẾN 見 là Thấy. Đã mở mắt to rồi, bây giờ lại NHƯỚNG đến nhăn cả MÀY nữa là đang TÌM KIẾM cái gì đó. Nên trên chữ KIẾN thêm bộ TRÃO 爪 là Móng Vuốt, thì ta có chữ MICH 覓 là TÌM KIẾM, với Ý là dùng cả ngón tay móng vuốt banh mắt ra mà NHÌN, nên có nghĩa là đang Tìm cái gì đó ! Theo diễn tiến chữ viết như sau :

  Image result for 會意字      Ta có từ kép TẦM MỊCH 尋覓 la Tìm Kiếm.
      MỊCH THỰC 覓食 là Kiếm Ăn, cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng.
      SƯU MỊCH 搜覓 là Lục lọi tìm kiếm.
      Một trong Đường Tống Bát Đại Gia là Tô Đông Pha có bộ râu rậm bó hàm, nên bị cô em gái là Tô Tiểu Muôi diễu rằng :
            Khẩu giốc kỷ hồi vô MỊCH xứ,        口角幾回無覓處,
            Hốt văn mao lý hữu thanh truyền.  忽聞毛裡有聲傳。
Có nghĩa :
         - Miệng mồm mấy lượt TÌM đâu thấy.  
         - Chợt nghe tiếng vẳng tự đám lông.
  
       Cũng được Hội Ý bằng chữ MỤC 目 là Con Mắt, phía trên con mắt là chữ THỦ 手 là TAY. Lấy Tay che Mắt là để cho khỏi chói mắt mà nhìn xa được, như hình tượng của Tôn Ngộ Không khi dò đường dẫn Tam Tạng đi thỉnh kịnh vậy. Đó chính là chữ KHÁN theo diễn tiến sau đây :
         Image result for 孫悟空  Image result for 孫悟空
     KHÁN  看 còn đọc là KHAN.
Có nghĩa là NHÌN, XEM, ĐỌC, THĂM như các ví dụ sau đây :     
     * Trong bài  " Độc tọa Kính Đình San " của Lý Bạch, hai câu cuối là :
              TƯƠNG KHAN lưỡng bất yếm,    相看兩不厭,    
              Chỉ hữu Kính Đình San.             只有敬亭山.
Có nghĩa :
               NHÌN NHAU cùng không chán,
               Ta với núi Kính Đình !


       Inline image  Inline image

     * KHÁN HÍ KỊCH 看戲劇 : Xem Hát, Xem Kịch.
     * KHÁN TIỂU THUYẾT 看小說 : Đọc Tiểu Thuyết.
     * KHÁN BẰNG HỮU 看朋友 : Thăm Bạn bè.

        Cũng chữ MỤC 目 là Mắt bên dưới, phía trên là chữ VONG 亡 là Chết. ta có chữ MANH 盲, theo Hội Ý là : Con Mắt Chết ! Nên MANH có nghĩa là Mù, trong tiếng Việt ta có từ MANH  ĐỘNG 盲動 có nghĩa là : Hành động MÙ QUÁNG, thấy người ta làm thì làm theo, thấy người ta đi biểu tình, thì đi biểu tình theo, mà không biết là đi biểu tình để làm gì ? hay làm càn không có mục đích chính đáng, cũng gọi là MANH ĐỘNG !

         Sang qua bộ MỘC 木 là Cây. Ta có hình một người ngồi dựa vào cây để nghỉ ngơi, nên bộ NHÂN 人 là người viết sát vào chữ MỘC 木 là Cây thì ta có chữ HƯU 休 có nghĩa là NGHỈ. Ta có từ Hưu Trí : là Nghỉ Hưu khi tuổi đã già. Từ kép của Nghỉ Ngơi là HƯU TỨC 休息.
         Nghĩa phát sinh của chữ Hưu là : ĐỪNG, KHỎI. Ví dụ trong câu :
          Nhập gia HƯU VẤN vinh khô sự,     入家休問榮枯事,
          Quan khán dung nhan tiện đắc tri.  觀看容顏便得知。
Có nghĩa :
         - Bước vào cửa nhà ai đó, KHỎI cần phải HỎI chuyện Khá hay không khá. ( Vinh là Tươi, Khô là Héo ).
         - Chỉ cần nhìn sắc mặt dung nhan của chủ nhà là sẽ biết ngay ! ( Sắc mặt xanh xao thiếu ăn là nhà nghèo khó, sắc mặt hồng hào tươi tắn là nhà khá giả ... ).

            Image result for 會意字    Image result for 會意字                                   
        Từ 2 sắp lên được kể là số nhiều, nên ta có 2 chữ Mộc liền nhau là chữ...
        LÂM 林 là RỪNG ( Có rất nhiều Cây ). Ta có từ Sơn Lâm 山林 là Rừng núi Núi Rừng. Tục ngữ Việt Nam ta có câu : " Nhất phá SƠN LÂM, nhị đâm Hà Bá " để chỉ những người làm nghề Phá rừng lấy lợi và Đánh cá ngăn sông, thấy thì rất có lợi, khá giả, nhưng không làm giàu được lâu bền.
        Sắp 3 chữ MỘC 木 thành hình tháp thì ta có chữ ...
        SÂM 森 là Rừng sâu. Ta có từ Kép SÂM LÂM 森林 là Rừng Rậm. Xem hình minh họa bên dưới ...
        Image result for 會意字  Image result for 會意字
        Tương tự, ta có rất nhiều chữ sắp theo kiểu hình tháp nầy như sau :
       - 3 chữ NHỰT 日 là chữ TINH 晶 : là Trong Suốt, Lắp Lánh. Thuỷ Tinh, Thuỷ Tinh Cung 水晶宮 là chữ Tinh nầy.
       - 3 chữ XA 車 là chữ OANH 轟 : là tiếng của nhiều chiếc xe đang chuyển động ẦM ẦM. Chữ nầy làm ta nhớ đến câu đối trước đền thờ của cụ Nguyễn Trung Trực ở Rạch Gía là :
           Hoả hồng Nhật Tảo OANH thiên địa,   火紅日早轟天地, 
           Kiếm bạt Kiên giang khấp quỷ thần !  劍拔堅江泣鬼神。
Nghĩa đã khá rõ ràng :
         - Lửa hồng Nhật Tảo ẦM trời đất,
         - Gươm tuốt Kiên Giang khóc quỷ thần !

     Inline image  Inline image  Inline image

    - 3 chữ NỮ 女 là chữ GIAN 姦 : Tương đương với chữ GIAN 奸 là Gian Ác, Gian Trá, Gian Manh, Gian Tà ... Qủa là " Ba bà đi bán lợn xề " chẳng có chuyện gì là tốt lành cả ! Chỉ cần 2 bà với con vịt là đã thành cái chợ rồi, đằng nầy những BA BÀ lận cơ ! Xin lỗi các bà, lâu lâu mới có dịp nói xấu phái đẹp !
    - 3 chữ KIM 金 là chữ HÀM 鑫 : Tiền của tài lộc hưng vượng, chữ nầy thường chỉ dùng để đặt tên.
    - 3 chữ THUỶ 水 là chữ DIỂU 淼 : là Mênh Mông, mặt nước lớn rộng, tương đương với chữ DIỂU 渺.
    - 3 chữ HỎA 火 là DIỆM 焱 : là Lửa bốc HỪNG HỰC, tương đương với chữ DIỆM 焰 là Hoả Diệm Sơn. Chữ nầy cũng thường chỉ dùng để đặt tên mà thôi ! Nhưng ...
    -3 chữ KHẨU 口 là chữ PHẨM 品 : là Đồ Vật Bình Thường. Nghĩa gốc Tam Khẩu, ba cái miệng là 3 người chỉ số Đông, mà số đông thì là Bình Thường. Ta có các từ như : 
     *  VẬT PHẨM 物品 : là Đồ Đạc Vật Liệu.
     *  VĂN PHÒNG PHẨM 文房品 : là Vật dung cùng cho Văn
          Phòng.
     *  NHU YẾU PHẨM 需要品: Những Vật dụng cần thiết thường
          ngày.
       Chỉ Thứ Bậc như :
     * Các chức quan ngày xưa từ NHẤT PHẨM 一品 đến NGŨ PHẨM 五品. Cả cho phái nữ nữa. Ngày xưa các bà rất lấy làm hãnh diện khi được phong là : Nhất Phẩm Phu Nhân 一品夫人. Ngoài ra ...
     * Các vật dụng cũng được phân biệt Chánh Phẩm 正品, Thứ Phẩm 次品, Hạ Phẩm 下品 và... đồ bỏ là Phế Phẩm 廢品 !  
       Nhưng nếu là Động từ thì có nghĩa là Nhận Xét, Phê Phán xem tốt xấu ra sao như :
     * PHẨM BÌNH 品評 mà tiếng Nôm ta nói thành Bình Phẩm.
     * HÀN DẠ PHẨM MINH  寒夜品茗 mà ta đã nói ở trên.
              
       Ngoài ra PHẨM còn chỉ Bản chất của sự vật, tánh hạnh vốn có của con người như :
        - PHẨM CHẤT 品質 của đồ vật hoặc Con người.
        - PHẨM HẠNH 品行 là Tánh tình vốn có của con người.

        Còn một chữ Hội Ý chuyên dùng để chuyển tiếp  ( Liên Từ ) rất lý thú mà các Cụ ngày xưa học chữ Nho đã kháo nhau rằng :
                      Đêm khuya nguyệt xế tà tà,
                Bỗng nghe chó cắn canh đà điểm tư !
Này nhé :
         Nguyệt xế tà tà , ta có chữ NGUYỆT 月 được viết xeo xéo bên góc trái. Bỗng nghe chó cắn là chó sủa, ta có chữ KHUYỂN 犬 là Con Chó được viết ở góc phải. Canh đà đểm Tư, Tư là số 4, ta có 4 chấm ở bên dưới cùng. Bốn Chấm nầy thuộc bộ HỎA 火 là Lửa. Đó chính là chữ NHIÊN 然 là ĐỐT, là NẤU. Bây giờ thì ta sẽ giải thích chữ NHIÊN 然 nầy bằng Hội Ý nhé !

甲骨文金文金文大篆小篆繁体隶书

         Trong đêm thanh, các Cụ tụ tập nhau dưới ánh TRĂNG để NẤU  ( chữ Hỏa bên dưới ) thịt CHÓ nhậu chơi, chả là khoái chí lắm hay sao ? Nên ...
         NHIÊN 然 nghĩa gốc là Được !, là Tốt ! nhưng chỉ thường dùng làm Liên Từ để chuyển tiếp như :
         NHIÊN HẬU 然後 : là Rồi sau đó ...
         DĨ NHIÊN 以然 : Hẵn là thế. người Hoa nói là SỞ DĨ NHIÊN 所以然 !
         Nói thêm,
         Chữ NHIÊN 然 trên được giải thích theo lối xưa, chữ NHIÊN 燃 là Đốt là Nấu hiện nay được viết thêm một bộ HỎA 火 nữa ở bên trái. Ta có các từ như :
         NHIÊN LIỆU 燃料 : là Chất đốt.
         NHIÊN THIÊU 燃燒 : là Bùng Cháy.
         Nhắc tới chữ NHIÊN là Đốt là Nấu, ta lại nhớ đến bài thơ 7 bước ( Thất bộ Thi 七步詩 ) của Tào Thực con của Tào Tháo  đời Nguỵ. Sau khi lên ngôi, nhưng vẫn còn ganh tài của người em, Tào Phi mới nói với Tào Thực rằng : " Ai cũng bảo là văn tài của nhà ngươi giỏi hơn ta, vậy ta hạn cho ngươi trong vòng bảy bước phải làm xong một bài thơ, nếu không được, sẽ trị tôị khi quân. Tào Thực xin đề, thì Tào Phi bảo là : Nói về Anh Em mà không được dùng từ anh em trong bài thơ. Đoạn bắt đầu bước đi và đếm, khi vừa đúng 7 bước thì Tào Thực cũng vừa cất tiếng ngâm :
              煮豆燃豆萁,     Chữ đậu NHIÊN đậu cơ,
              豆在釜中泣.     Đậu tại phủ trung khấp.
              本是同根生,   Bổn thị đồng căn sanh,
              相煎何太急 ?!  Tương tiễn hà thái cấp ?!
Có nghĩa :
        - Lấy vỏ đậu để làm củi NẤU đậu. Nên ...
        - Đậu mới than khóc ở trong nồi.
        - Vốn là cùng chung một gốc rể sinh ra.
        - Đốt nấu lẫn nhau, sao mà gấp rút làm vậy ? !
             Image result for 相煎何太急。   Inline image
          Tào Phi nghe xong bài thơ, rất xúc động, từ đó tới sau, không có ý muốn giết em mình nữa !

Sau đây....
      Xin mời đọc chữ HỘI Ý cuối cùng của bài viết nầy, gồm 5 bộ ghép thành. Sau đây là 2 câu thiệu của các Cụ ngày xưa nói về chữ nầy :
                     Chim chích mà đậu cành tre,
                Thập trên tứ dưới nhất đè chữ tâm !
      Chim chích đậu cành tre là hình tượng của bộ XÍCH 彳theo diễn tiến chữ viết sau đây :

         Inline image
      XÍCH là bước chân trái, hàm ý là ĐI, nằm bên trái của chữ viết.Vế thứ 2 bên phải thì đã rõ nghĩa :
        THẬP 十 trên, TỨ 四 dưới, NHẤT 一 đè chữ TÂM 心. Vế nầy có vấn đề ở chữ TỨ, hình thức thì trông như chữ TỨ 四, nhưng thực ra đó là chữ MỤC 目 được đặt nằm ngang. Nên vế đó phải là : Thập trên MỤC dưới Nhất đè chữ Tâm, mới đúng.
       Ghép các phần trên lại với nhau, ta có chữ ĐỨC 德, với ý nghĩa Hôi Ý như sau :
       Bộ XÍCH chỉ ĐI NHIỀU, THẬP MỤC 十目 là Mười con mắt, Ý chỉ THẤY NHIỀU. NHẤT TÂM 一心 là Một Tấm Lòng. Vậy ĐỨC 德 là gì ?! Xin thưa theo Hội Ý là :
       " Đi nhiều, thấy nhiều, mà làm việc gì đó biết thông qua MỘT TẤM LÒNG để xét rồi mới làm, thì đó chính là hành động có ĐỨC đó !"
       Một hình thức khác của chữ Đức 德 là Đức 惪 nầy. Bỏ hẵn bộ XÍCH 彳bên trái, và bộ Mục 目 được viết đứng hẵn hoi, hợp với chữ Thập 十 thành chữ TRỰC 直 là Ngay thẳng. Chiết tự chữ ĐỨC 惪 nầy gồm TRỰC 直 trên, TÂM 心 dưới. Có nghĩa : Một tấm lòng ngay thẳng ! Vâng, MỘT TẤM LÒNG NGAY THẲNG đã là có ĐỨC rồi !

        Xin được kết thúc bài viết HỘI Ý với chữ ĐỨC thấy dễ mà rất khó làm nầy !

                       Đỗ Chiêu Đức

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét