Chủ Nhật, 31 tháng 7, 2016

Lũ lụt càn quét một nửa Trung Quốc, chính quyền bưng bít số người chết thực tế

Lũ lụt ở miền Nam Trung Quốc còn chưa rút đi, miền Bắc nước này lại gặp phải một trận bão lớn gây lũ kinh hoàng quét qua một nửa đất nước đông dân nhất thế giới. Chính quyền nước này còn bị người dân tố cáo giảm nhẹ số người thiệt mạng xuống rất nhiều chỉ còn 500.

xả đập không báo trước, Lũ lụt Trung Quốc, bưng bít thông tin,
Hình Đài chìm trong nước lũ.
Gần đây, trên mạng Trung Quốc lan truyền rộng rãi thông tin hàng trăm người dân tỉnh Hà Bắc đứng chặn ở đường, kháng nghị việc chính quyền địa phương xả lũ hồ chứa nước mà không thông báo trước, khiến nhiều ngôi làng bị nhấn chìm, hơn nữa còn bưng bít thông tin thiên tai ra bên ngoài, khiến cho người dân phẫn nộ.

Ngày 22/7, đoạn video “bí thư ủy ban hành chính khu phát triển thành phố Hình Đài quỳ xuống xin lỗi người dân bị hại” được lan truyền rộng rãi trên mạng, thu hút sự chú ý của dư luận. Sau đó, giới truyền thông Trung Quốc cho biết, người quỳ gối trước người dân là Vương Thanh Phi – Phó Bí thư đảng ủy của khu mở rộng phát triển kinh tế thành phố Hình Đài, tỉnh Hà Bắc.
Sau đó giới truyền thông lần lượt tiết lộ, từ ngày 18/7, cơn bão mau chóng đổ bộ vào tỉnh Hà Bắc, các khu vực như: Hàm Đan, Hình Đài, Bảo Định,…. phải chịu nạn nghiêm trọng khi tổng cộng 18 con đập chứa nước thi nhau xả lũ. Trong đó, chính quyền địa phương đã không thông báo cho người dân ở vùng hạ du trước khi xả lũ đập chứa nước Hình Đài, khiến hơn 10 thôn làng bị phá hủy, rất nhiều người dân thương vong. Trong đó chịu nạn nặng nhất là làng Đại Hiền.
xả đập không báo trước, Lũ lụt Trung Quốc, bưng bít thông tin,
Bí thư Vương Thanh Phi quỳ gối trước người dân.

Ông Mâu, một người dân địa phương cho biết: “Khi đập chứa nước xả lũ, không hề đưa ra thông báo. Dòng nước đó chảy rất xiết, Hình Đài vớt được rất nhiều thi thể“.
Tuy nhiên ngày 20/7, ông Vương Thanh Phi lại phát ngôn trên đài truyền hình kinh tế tỉnh Hà Bắc rằng, “không có người nào thương vong” trong trận lũ lần này, hoàn toàn khác biệt với cách nói của người dân.
Chiều 22/7, hàng trăm người dân làng Đại Hiền đã mang theo thi thể của những người chết đuối, đứng chặn ở đường cao tốc, kháng nghị vụ việc chính quyền xả lũ không báo trước, giấu giếm số người chết thực tế và còn định phong tỏa thông tin. Tình hình nhanh chóng leo thang khi chính quyền huy động cảnh sát vũ trang dùng bạo lực trấn áp người dân, dân làng căm phẫn bao vây ông Vương Thanh Phi tại hiện trường, yêu cầu chính phủ đưa ra lời giải thích.
Cô Dung, một người dân ở làng Đại Hiền, thành phố Hình Đài nói: “Tai nạn thật sự quá nghiêm trọng, chỉ riêng con số người chết ở làng Đại Hiền đã nhiều đến như vậy rồi, nhà cửa chúng tôi đều bị cuốn trôi đi. Tôi thật sự không biết rốt cuộc bên phía chính quyền họ làm như thế nào mà trước khi xả lũ không hề báo trước lấy một tiếng“.
xả đập không báo trước, Lũ lụt Trung Quốc, bưng bít thông tin,
Chính quyền Hình Đài xả lũ không báo trước khiến người dân ở hạ du gặp nạn.
Một người dân ở làng Đại Hiền đưa ra câu hỏi chất vấn trên mạng, việc xả lũ ở trị trấn Hình Đài đã khiến hàng nghìn người chết, tại sao “Đài truyền hình trung ương” của chính phủ lại bao cáo là Hình Đài không có xảy ra thiên tai? Tại sao chính quyền thành phố Hình Đài lại giấu giếm thông tin, đưa ra báo cáo giả?
Cô Triệu Mẫn sống ở thị trấn Hình Đài chia sẻ: “Người dân sẽ không nói dối về số người chết, họ cũng không có gan đó, họ chính là nói sự thật ngay tại hiện trường. Dựa theo tính cách của người dân, nếu như họ không phải bị dồn đến đường cùng, có thể nhẫn chịu được thì họ đã nhẫn chịu, nhưng lần này quả thật là không thể nhẫn chịu thêm được nữa, thật sự đã không còn cách nào nữa rồi“.
Còn về nguyên nhân ông Vương Thanh Phi quỳ xuống xin lỗi, phía chính quyền giải thích rằng đó là “vì để an ủi dân chúng, mong nhận được sự thông cảm“, nhưng có cư dân mạng cho biết nguyên nhân thật sự là ông Vương đang cầu xin người nhà nạn nhân đừng phản ánh việc này lên cơ quan cấp trên.
xả đập không báo trước, Lũ lụt Trung Quốc, bưng bít thông tin,
Hiện một nửa đất nước Trung Quốc đang chìm trong nước lũ.

Sau khi vụ xả lũ ở Hình Đài bị cư dân mạng đưa ra ánh sáng, đã dấy lên làn sóng căm phẫn cực độ của người dân, phía chính quyền dưới sức ép của dư luận, hai ngày liên tục sau đó đã đưa ra và sửa đổi con số người chết …… Tối 20/7, ủy ban thành phố Hình Đài cho biết có 9 người chết, 11 người mất tích. Đến ngày 23/7, chính quyền lại nói rằng số người thiệt mạng tăng lên 25 người, 13 người mất tích. Nhưng nhiều người vẫn nghi ngờ con số này.
Một người dùng Weibo tên “Giang phong thời bình” cho biết, chỉ tính riêng trẻ em thiệt mạng xác định được danh tính đã lên đến 12 người, nhưng nội dung này sau đó nhanh chóng bị xóa đi.
Cư dân mạng Trung Quốc có nickname là “Tú tài giang hồ” phẫn nộ bình luận: “Cậu bé Syria chết đuối, đài truyền hình trung ương đăng tin rợp trời dậy đất; còn em bé Hình Đài bị chết đuối, đài truyền hình lại im lặng không nói một lời. Tại sao vậy? Trẻ con nước ngoài bị chết đuối, mới đáng được đài truyền hình đồng cảm sao? Các em nhỏ của Trung Quốc thì lại không đáng được đồng cảm sao?
xả đập không báo trước, Lũ lụt Trung Quốc, bưng bít thông tin,
Ngoài ra, người này còn nói thêm: “Quan chức chính quyền xưa nay đã nói dối quen miệng rồi, hơn nữa là ăn nói giống như kiểu không có chủ đích, trước thì nói rằng “không có người chết”, về sau dần dần lại nói “vài người”, cuối cùng người dân căm phẫn quá mới lên tiếng xin lỗi; bên phía chính quyền xưa nay luôn như vậy mà. Các quan chức vì để bảo vệ cái mũ ô sa của mình, duy trì ổn định chính quyền của mình, họ đã không tiếc nói dối“.
Theo công bố mới nhất của Bộ Nội vụ dân sự Trung Quốc, số người đã chết và mất tích trong các trận lũ nửa đầu năm nay là 576 người. Tuy nhiên, có cư dân mạng chỉ ra rằng, chỉ riêng một ngôi làng ở thành phố Hình Đài, tỉnh Hà Bắc, đã có nhiều người chết bị giấu giếm như vậy, thì không biết cả nước có bao nhiêu người dân chết bởi thiên tai đã bị che đậy.
Tiểu Thiện, theo NTDTV, Secret China

Bạn Bè Gặp Nhau Ngày 30/7/2016 (Lê Tấn Tài về nước)

Sáng 30/7/2016 có buổi gặp mặt bạn bè cũ TH.Tây Ninh (1956...)

Anh Lê Tấn Tài là cựu HS.THTN.Kỳ nầy anh từ Úc về mang theo linh vị vợ (chị Nguyễn Thị Lựu,từ trần tại Úc )  về quê hương ấp Trường Đua -Hiệp Trường Tây Ninh an vị tai phần đất hương hỏa gia tộc
Trong thời gian lưu lại quê nhà  anh đã tổ chức 1 buổi họp mặt bạn bè cũ.
 7 giờ sáng , P. Hòa ,Ngô Huệ,Tô Hằng  đi xe đò từ  Saigon về và được anh Nguyễn Ngọc Ẩn cùng con đưa xe ra đón về nhà anh Tài tại ấp Trường Đua 
Mọi người ra mộ thắp một nén nhang...
                      Từ Trái : Con anh NN.Ẩn,Lê Tấn Tài,Ngô Huệ,Tô Hằng,P.Hòa,Nguyễn Ngọc Ẩn .

Sau đó cả nhóm đến nhà hàng Chí Thanh 2,cửa số 8-Tòa Thánh Tây Ninh,Bạn bè cũ đã có mặt tại đây : Gồm Tú,Sơn,Tiệp ,Đôi, T.C.Minh ,2 người em Ngô Minh Chí,vợ anh Ẩn. Lê Kim Hòan,Nguyễn Kim Xuyến,Trần thị Biển .Có nhiều bạn sau mấy mươi năm mới gặp lại nhau như nhóm  Saigon và Lê tấn Tài..
Đặc biệt còn có thầy Trần văn Rạng-GS.Sử Địa đã gắn bó với TH.TN từ  1960.Thầy nay đã trên 80, (cô đã mất từ lâu ) Từ khi nghỉ hưu,thầy viết rất nhiều sách nghiên cứu về đạo Cao Đài..
Những GS.cổ thụ của TH.TN còn ở TN như thầy Rạng ,Thầy Cô Hồng Vân,Tôn Thất Sum,Mai văn Sít, Thầy Võ Thanh Tòng+cô Thu Vân ... rất  quan tâm theo các bước tiến của hoc sinh cũ .
Anh Nguyễn Ngọc Ẩn cũng thông báo 1 tin không vui  là thầy Mai văn Sít đang bị bệnh rất nặng, phải cách ly  và chưa cho người vào thăm
Sau bửa cơm trưa (kèm hát karaoké ),Lê Tấn Tài,P.Hòa,Huệ,Biển,Hằng,LK.Hòan,Ngọc lên lịch thăm chị Thân Thi Đời và cô Hồng Vân,Thầy TT.Sum.
Anh Tài đã gọi điện thoại và biết cô Vân,Thầy Sum đang trên đường từ Saigon về.
Cả bọn kéo nhau thăm chị Đời trước .
Ở nhà chị Đời,nhìn đồng hồ chỉ 3 giờ chiều nên  P.Hòa,Tô Hằng,Ngô Huệ  phải  ra xe về  lại Saigon trước.
Anh Tài và các bạn : Biển,Ngọc,Hòang sẽ ghé thăm cô Vân
Anh Lê Tấn Tài nói với các bạn.Bìa phải là Thầy T.V.Rạng .
    HS.cũ chụp ảnh cùng thầy Rạng .

Chụp ảnh cùng chị  Thân thị Đời.

Ngày 31/7/2016,anh Lê Tấn Tài  chia tay bạn bè bằng1 buổi cà-phê. TM.Thấu đã đưa ảnh nầy lên FB.Mình ghi lại.

Cầu mong thầy Mai văn Sít sớm bình phục.
Chị Đời cố gắng giữ gìn sức khỏe (vì chị đã hồi phục sau cơn bạo bệnh nhưng lại bị té lần 2 nên chân hết sức yếu ).
Rất mong gặp lại  Quí Thầy Cô và các Bạn bè trong những năm sau

(ảnh: Tô Hằng)
        

Đàn ông thời Ai Cập cổ đại cũng “tô son trát phấn”, nhưng không phải chỉ để làm đẹp


Những bức họa miêu tả cuộc sống đời thường trong nhiều ngôi đền Ai Cập cổ đã cho thấy ‘đấng mày râu’ xứ này cũng thường hay trang điểm. Trên thực tế, hầu như không thể tìm được một bức chân dung của người Ai Cập cổ đại, bất kể là nam hay nữ, mà đôi mắt không được trang điểm.
Trong tất cả các thời kỳ và triều đại, việc trang điểm mắt đã trở thành một công việc thường nhật cho cả người nam lẫn người nữ. Tại sao nam giới thời Ai Cập cổ đại cũng trang điểm mắt? Thật sự, có một vài lý do đằng sau.
Kỹ thuật trang điểm mắt cực kỳ công phu của người Ai Cập cổ đại đã bắt nguồn từ rất sớm, vào khoảng 4000 năm TCN. Các dụng cụ trang điểm mắt (bảng đánh màu mắt, miếng nghiền phấn, và bông thoa phấn) đã được tìm thấy trong những ngôi mộ sớm nhất của giai đoạn Tiền Triều đại (3100 – 2686 TCN). Chúng dường như là những vật dụng thiết yếu cho cuộc sống ở thế giới bên kia của người Ai Cập cổ.
trang diem ai cap (2)(Ảnh: Internet)
Người Ai Cập cổ đại đã sử dụng nhiều loại mỹ phẩm như phấn bôi mắt, son đỏ và tinh dầu nước hoa giúp da mềm mại, bảo vệ làn da khỏi bị cháy nắng và thương tổn từ gió cát sa mạc. Không chỉ cả người nam lẫn người nữ ở Ai Cập cổ đại đều trang điểm mà ngay cả những bức tượng nam thần và nữ thần cũng được tô điểm bằng nhiều loại mỹ phẩm khác nhau. Một người có địa vị xã hội càng cao, thì sẽ mặc càng nhiều phục sức và trang điểm càng nhiều.
Bột khoáng vật Galena (Chì Sunfat – PbS) có tính năng khử trùng và xua đuổi ruồi nhặng. Nó cũng được cho là có tác dụng bảo vệ đôi mắt trước ánh nắng Mặt Trời.

Nguyên liệu làm mỹ phẩm của người Ai Cập cổ đại

Người Ai Cập cổ đại đã sử dụng phấn côn – hỗn hợp bồ hóng và khoáng chất galena – để tạo màu đen trong trang điểm mắt. Loại màu này rất được ưa chuộng trong thời kỳ Tân Vương quốc.
thuyen thuong jack sparrow trang diem matThuyền trưởng Jack Sparrow trong loạt phim Cướp biển vùng Ca-ri-bê đã trở nên khá nổi tiếng với cách trang điểm và ăn mặc rất độc, điển hình là cặp mắt đánh phấn côn. Bấm vào ảnh để phóng to. (Ảnh: Internet)
Để tạo màu xanh lục trong trang điểm mắt, người Ai Cập cổ đại đã viện đến loại đá lông công (malachit, một loại khoáng vật chứa đồng có kí hiệu hóa học là CuCO3.Cu(OH)2..
da long cong malachiteNhững viên đá malachite được nghiền vụn để tạo màu trang điểm. (Ảnh: Turkishgem)
Màu đỏ son là chất màu được chế tạo từ đất sét đỏ tự nhiên: sắt oxit ngậm nước. Để làm màu đỏ son, đầu tiên đất sét được khai thác từ đất, rửa kỹ để lọc bỏ cát rồi đem đi phơi nắng cho khô; thỉnh thoảng đất sẽ được hun nóng để tăng cường độ đậm cho sắc đỏ.
phan son do trang diem ai capĐất sét đỏ sử dụng trong trang điểm (Ảnh: Kremerpigment)
Chì kẻ phấn côn có ý nghĩa thực tiễn cũng như tâm linh. Nó được cho là có thể đuổi ruồi, bảo vệ mắt khỏi ánh nắng mặt trời và phòng chống nhiễm trùng. Người ta dùng một một que nhỏ để thoa phấn côn lên mắt. Cả mí mắt trên và dưới đều sẽ được kẻ mắt, và đường kẻ này sẽ vượt quá đuôi mắt, kéo dài ra tận phía trước thái dương. Lông mày được tô màu đen. Màu trang điểm mắt được ưa chuộng là màu đen và màu xanh lục; và việc vẽ viền mắt bằng phấn là để tạo nên con mắt hình hạnh nhân hay mắt mèo.

Và đây là kết quả:

Egyptian-Eye-Makeup-History
(Ảnh: Internet)
Việc trang điểm mắt cũng cung cấp một sự bảo vệ tâm linh. Trong tiếng Ai Cập, danh từ “bảng phấn màu mắt” dường như bắt nguồn từ động từ “bảo vệ” hay “bảo hộ”. Một con mắt không được trang điểm cũng tương đương với không được bảo vệ, và dễ bị tổn thương trước Con mắt Tà ác (Evil Eye) [1]. Việc vẽ đường kẻ mắt do đó đã trở thành một lá bùa hộ mệnh được vẽ ngay lên trên da, một lá bùa mà một khi được tạo ra sẽ không thể bị đánh mất hoặc thất lạc. Trang điểm cũng được cho là có huyền năng chữa bệnh kỳ diệu.
Tuy rằng các loại mỹ phẩm chắc chắn đã được sử dụng cho mục đích làm đẹp, nhưng vào thời Ai Cập cổ đại, việc trang điểm mắt thật sự không chỉ để tạo ra một khuôn mặt đẹp.
Chú thích của người dịch:
[1] Con mắt Tà ác (Evil eye): một lời nguyền. Rất nhiều nền văn hóa tin rằng việc bị yểm Con mắt Tà ác sẽ mang đến sự xui xẻo hoặc thương vong.
Nguồn: Message to Eagle
Đăng tải với sự cho phép. Đọc bản gốc tại đây.
Thạch Khánh biên dịch

Những bức họa miêu tả cuộc sống đời thường trong nhiều ngôi đền Ai Cập cổ đã cho thấy ‘đấng mày râu’ xứ này cũng thường hay trang điểm. Trên thực tế, hầu như không thể tìm được một bức chân dung của người Ai Cập cổ đại, bất kể là nam hay nữ, mà đôi mắt không được trang điểm.
Trong tất cả các thời kỳ và triều đại, việc trang điểm mắt đã trở thành một công việc thường nhật cho cả người nam lẫn người nữ. Tại sao nam giới thời Ai Cập cổ đại cũng trang điểm mắt? Thật sự, có một vài lý do đằng sau.
Kỹ thuật trang điểm mắt cực kỳ công phu của người Ai Cập cổ đại đã bắt nguồn từ rất sớm, vào khoảng 4000 năm TCN. Các dụng cụ trang điểm mắt (bảng đánh màu mắt, miếng nghiền phấn, và bông thoa phấn) đã được tìm thấy trong những ngôi mộ sớm nhất của giai đoạn Tiền Triều đại (3100 – 2686 TCN). Chúng dường như là những vật dụng thiết yếu cho cuộc sống ở thế giới bên kia của người Ai Cập cổ.
trang diem ai cap (2)(Ảnh: Internet)
Người Ai Cập cổ đại đã sử dụng nhiều loại mỹ phẩm như phấn bôi mắt, son đỏ và tinh dầu nước hoa giúp da mềm mại, bảo vệ làn da khỏi bị cháy nắng và thương tổn từ gió cát sa mạc. Không chỉ cả người nam lẫn người nữ ở Ai Cập cổ đại đều trang điểm mà ngay cả những bức tượng nam thần và nữ thần cũng được tô điểm bằng nhiều loại mỹ phẩm khác nhau. Một người có địa vị xã hội càng cao, thì sẽ mặc càng nhiều phục sức và trang điểm càng nhiều.
Bột khoáng vật Galena (Chì Sunfat – PbS) có tính năng khử trùng và xua đuổi ruồi nhặng. Nó cũng được cho là có tác dụng bảo vệ đôi mắt trước ánh nắng Mặt Trời.

Nguyên liệu làm mỹ phẩm của người Ai Cập cổ đại

Người Ai Cập cổ đại đã sử dụng phấn côn – hỗn hợp bồ hóng và khoáng chất galena – để tạo màu đen trong trang điểm mắt. Loại màu này rất được ưa chuộng trong thời kỳ Tân Vương quốc.
thuyen thuong jack sparrow trang diem matThuyền trưởng Jack Sparrow trong loạt phim Cướp biển vùng Ca-ri-bê đã trở nên khá nổi tiếng với cách trang điểm và ăn mặc rất độc, điển hình là cặp mắt đánh phấn côn. Bấm vào ảnh để phóng to. (Ảnh: Internet)
Để tạo màu xanh lục trong trang điểm mắt, người Ai Cập cổ đại đã viện đến loại đá lông công (malachit, một loại khoáng vật chứa đồng có kí hiệu hóa học là CuCO3.Cu(OH)2..
da long cong malachiteNhững viên đá malachite được nghiền vụn để tạo màu trang điểm. (Ảnh: Turkishgem)
Màu đỏ son là chất màu được chế tạo từ đất sét đỏ tự nhiên: sắt oxit ngậm nước. Để làm màu đỏ son, đầu tiên đất sét được khai thác từ đất, rửa kỹ để lọc bỏ cát rồi đem đi phơi nắng cho khô; thỉnh thoảng đất sẽ được hun nóng để tăng cường độ đậm cho sắc đỏ.
phan son do trang diem ai capĐất sét đỏ sử dụng trong trang điểm (Ảnh: Kremerpigment)
Chì kẻ phấn côn có ý nghĩa thực tiễn cũng như tâm linh. Nó được cho là có thể đuổi ruồi, bảo vệ mắt khỏi ánh nắng mặt trời và phòng chống nhiễm trùng. Người ta dùng một một que nhỏ để thoa phấn côn lên mắt. Cả mí mắt trên và dưới đều sẽ được kẻ mắt, và đường kẻ này sẽ vượt quá đuôi mắt, kéo dài ra tận phía trước thái dương. Lông mày được tô màu đen. Màu trang điểm mắt được ưa chuộng là màu đen và màu xanh lục; và việc vẽ viền mắt bằng phấn là để tạo nên con mắt hình hạnh nhân hay mắt mèo.

Và đây là kết quả:

Egyptian-Eye-Makeup-History
(Ảnh: Internet)
Việc trang điểm mắt cũng cung cấp một sự bảo vệ tâm linh. Trong tiếng Ai Cập, danh từ “bảng phấn màu mắt” dường như bắt nguồn từ động từ “bảo vệ” hay “bảo hộ”. Một con mắt không được trang điểm cũng tương đương với không được bảo vệ, và dễ bị tổn thương trước Con mắt Tà ác (Evil Eye) [1]. Việc vẽ đường kẻ mắt do đó đã trở thành một lá bùa hộ mệnh được vẽ ngay lên trên da, một lá bùa mà một khi được tạo ra sẽ không thể bị đánh mất hoặc thất lạc. Trang điểm cũng được cho là có huyền năng chữa bệnh kỳ diệu.
Tuy rằng các loại mỹ phẩm chắc chắn đã được sử dụng cho mục đích làm đẹp, nhưng vào thời Ai Cập cổ đại, việc trang điểm mắt thật sự không chỉ để tạo ra một khuôn mặt đẹp.
Chú thích của người dịch:
[1] Con mắt Tà ác (Evil eye): một lời nguyền. Rất nhiều nền văn hóa tin rằng việc bị yểm Con mắt Tà ác sẽ mang đến sự xui xẻo hoặc thương vong.
Nguồn: Message to Eagle
Đăng tải với sự cho phép. Đọc bản gốc tại đây.
Thạch Khánh biên dịch

NEVER ENDING RAIN- Kristi Maxim và Bài Phỏng Dịch của Hồ Nguyễn


NEVER ENDING RAIN
You had to go and that is understood.
Things just weren
t right here for you.
The feeling you have given me,
Has left me alone, standing alone.
I
m almost certain that you can see.
           
During your absence it has given me time
To think of ways I can escape this.
To run away from the pain.
Nothing ever seems to work,
It
s almost like a never ending rain.

With you there and me here standing alone,
I worry for the day to come.
The day when we are further apart,
You won
t be there in the coming year,
To help me through things, but you
ll be in my heart.

There is also a fear of being detached,
Of being separate for so long.
We have progressed through the years.
The times we have shared merely brightened my day,
And now all I can do is shed the tears.
The hurt that I am feeling right now,
I know that you can feel it inside.
But I want you to remember that once it
s through,
You
ll always be my big brother,
Someone whom I will forever look up to.
                                                 By Kristi Maxim


PHỎNG DỊCH: CƠN MƯA KHÔNG DỨT
            Anh phi ra đi đ biết rng,
Nhng điu anh nghĩ có còn chăng.
Ân nng anh đã trao tôi đó,
Vn ch cô đơn, vn kéo chng.
Vng bóng anh mình s hiu thêm,
Con tim thoát khi mi gông km.
Xa lìa ni kh hn in du,
            Chng khác mưa bun trút sut đêm.
Gi ta mi đa mt cô đơn,
Em s ngày mai cách bit vn.
            Anh đã tránh xa nào thy bóng,
Tim lòng em lung nh tng cơn.
Ni s trong tôi mãi kéo dài,
Th
i gian xa cách s nay mai.
Ân tình rn n bao năm tháng,
Nghĩ đến tình ta l thm nhoài.
Cái đn đau em gng chu gi,
Em tin anh cm nhn đơn sơ.
Bao điu em mun anh luôn nh,
Cao c người anh…em mãi ch.
                                          HỒ NGUYỄN

Quan chức TQ không thể tiếp tục ra rả về ‘đường chín đoạn’ (Từ Tuanvn )

Ý kiến chỉ ra, phán quyết vừa qua đã làm thay đổi mạnh mẽ những tranh luận về vấn đề Biển Đông, đặc biệt là đối với các học giả và quan chức Trung Quốc.
Các biện pháp giải quyết tranh chấp được quy định theo Công ước Luật biển 1982, cùng các khuôn khổ pháp lý khác nên được xem là một biện pháp quan trọng (bên cạnh chính trị ngoại giao) để giải quyết các tranh chấp lãnh thổ-lãnh hải. Quan trọng hơn, khi một phán quyết đã được ban hành bởi những vị thẩm phán công tâm và có uy tín, nó nên được quốc gia là thành viên chấp hành. Đây là quan điểm được nhấn mạnh tại cả hai sự kiện khoa học quan trọng liên quan đến Biển Đông cuối tuần qua[1].
Tác động mạnh mẽ
Ngày 12/7 vừa qua, Tòa Trọng tài được thành lập theo đơn kiện của chính phủ
Philippines
đã ra phán quyết bao gồm 3 nhóm nội dung chính. Thứ nhất, Tòa bác bỏ yêu sách về quyền lịch sử và tuyên bố chủ quyền theo đường 9 đoạn của Trung Quốc. Thứ hai, Tòa tuyên bố tất cả các thực thể trong quần đảo Trường Sa đều không đạt được quy chế pháp lý của một “hòn đảo”, nghĩa là không có thực thể nào được hưởng vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) 200 hải lý. Thứ ba, Tòa xem xét các hành động của Trung Quốc không phải là các hoạt động quân sự và vi phạm nhiều điều khoản trong công ước UNCLOS, làm trầm trọng hơn các căng thẳng trên Biển Đông.

Biển Đông, Vụ kiện Biển Đông, Phulippines kiện Trung Quốc, Phán quyết Toà trọng tài, PCA, Đường lưỡi bò, Trường Sa, Hoàng Sa
Đường băng mà Trung Quốc xây dựng phi pháp trên đá Chữ Thập thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam. Ảnh: CSIS
Các ý kiến chỉ ra, phán quyết này đã làm thay đổi mạnh mẽ những tranh luận về vấn đề Biển Đông, đặc biệt là đối với các học giả và quan chức Trung Quốc. Họ không còn có quyền để lên tiếng chỉ trích các nước khác và tuyên bố về “chủ quyền không thể chối cãi” của Trung Quốc trong vùng biển “đường chín đoạn”. Đường vẽ này đã hoàn toàn bị xóa khỏi bản đồ quốc tế.
Về lĩnh vực pháp lý, ThS. Phạm Ngọc Minh Trang, Khoa Quan hệ Quốc tế, Đại học KHXH&NV, TP. HCM, cũng nhắc đến một số vụ kiện trong đó một quốc gia không tham dự và không tuân thủ phán quyết củan thủ phán quyết của Tòa.
Cách ứng xử của các quốc gia khi không tuân thủ phán quyết (đặc biệt là Trung Quốc) sẽ tạo một tiền lệ rất xấu cho chính quốc gia đó. Vì sau này, nếu Trung Quốc muốn kiện một quốc gia nào ra Tòa án quốc tế, thì nước bị kiện hoàn toàn có thể hành xử theo “kiểu Trung Quốc” và không tham dự phiên tòa, gây khó cho ch Tòa. Trường hợp vụ kiện Nicaragua với Mỹ là bên từ chối tham gia (1986) và gần đây nhất là vụ kiện giữa Hà Lan với Nga, Nga cũng đã hành xử hệt như Trung Quốc hiện nay. Tuy nhiên, cuối cùng Nga vẫn tuâo Trung Quốc khi muốn được bảo vệ bởi luật pháp quốc tế - ThS. Minh Trang phân tích.

Các vấn đề hợp tác Biển Đông sau vụ kiện
Điểm qua các xung đột chính liên quan đến việc khai thác, thăm dò dầu mỏ trên Biển Đông (2007 ở Hoàng Sa, 2011 ở Trường Sa và 2012 ở vùng cửa Nam vịnh Bắc Bộ), học giả Kathrin Reed, nghiên cứu viên tại Viện Hòa bình và Hợp tác Campuchia, khẳng định các xung đột này chỉ là một bộ phận, không chiếm vai trò chủ đạo, cấu thành các tranh chấp trên Biển Đông như nhận định của nhiều nhà nghiên cứu. Nói cách khác, xung đột Biển Đông không thể được diễn giải đơn lẻ bởi bất cứ yếu tố tài nguyên, thương mại, chủ quyền... mà phải có cách nhìn tổng thể khi nhận định. Nếu chỉ chú tâm tập trung vào một yếu tố trong đó, mà bỏ qua các yếu tố khác, dẫn đến những phương thức giải quyết đơn lẻ, sẽ không thể chấm dứt sự bất ổn hiện nay trên Biển Đông.
Học giả này nhận định, việc tập trung vào các mối quan hệ của các quốc gia Đông Nam Á với Trung Quốc sẽ đồng nghĩa vừa thừa nhận và giữ nguyên phán quyết của PCA, lại vừa chống lại mong muốn dùng nó để đấu tranh với Trung Quốc. Trong khi đó, Đông Nam Á cần khẩn trương hơn làm việc với Hoa Kỳ và các đối tác khác - bao gồm Nhật Bản, Ấn Độ và Úc - để thuyết phục các nhà lãnh đạo Trung Quốc về giá trị ổn định mối của quan hệ của Trung Quốc với khu vực.
Tiến sĩ Felix Heiduk, từ Viện nghiên cứu Chính sách an ninh và Quốc tế của Đức, nhận định về tình thế lưỡng nan an ninh đang xuất hiện ở Biển Đông và sự gia tăng bất ổn cho tất cả các bên trên tất cả các lĩnh vực pháp lý, quân sự, ngoại giao và kinh tế. Vấn đề ngư nghiệp, quản lý đánh bắt cá và duy trì các ngư trường truyền thống có vai trò rất quan trọng với nền kinh tế và an ninh lương thực của Trung Quốc nhưng lại ít được phổ biến trên truyền thông. TS. Felix cũng nhấn mạnh vai trò trung tâm của ASEAN trong việc giải quyết và quản trị các tranh chấp trên Biển Đông, đặc biệt sau phán quyết của Tòa Hague ngày 12/7.
Giải pháp đáng tin cậy cậy và thông minh sẽ được yêu cầu bởi tất cả các bên để ngăn chặn việc biến các xung đột cục bộ trở thành cuộc xung đột vũ trang quy mô lớn cũng như ngăn chặn sự hiếu chiến từ các bên có yêu sách. Giải pháp này có sự hỗ trợ rộng rãi từ các quốc gia Đông Nam Á trước sự hiện diện quân sự của Hoa Kỳ tại Biển Đông, cũng như đối với sự hỗ trợ hiện tại của nước này và các đồng minh nhằm thúc đẩy giám sát hàng hải và khả năng phòng thủ của các bên tranh chấp như Philippines.

Trong các phiên thảo luận, học giả các nước đưa ra các đánh giá khác nhau về tác động chính sách phán quyết của Tòa Trọng tài thành lập theo Phụ lục VII UNCLOS.
Các học giả cũng hướng đến xem vấn đề Biển Đông không phải “cuộc chơi có tổng bằng không (zero – sum – game)” mà hoàn toàn có thể mở rộng chiếc bánh cho mọi người. Phán quyết của Tòa Trọng tài thực sự đã có tác động tích cực đến tình hình khu vực, và dù cho tác động này không đồng đều cho tất cả các bên, nó sẽ tạo ra nhiều cơ hội cho việc giải quyết các vấn đề trên Biển Đông theo chiều hướng hòa bình, tạo ổn định và phát triển công bằng trong khu vực.
Trần Thắng
[1] Tọa đàm "Cập nhật tình hình Biển Đông 2016" do Trung tâm Nghiên cứu Quốc tế (SCIS) và Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Chính sách quốc gia (CSS), Đại học KHXH&NV, TP.HCM phối hợp thực hiện và Hội thảo quốc tế “Những vấn đề pháp lý liên quan đến phán quyết của Toà trọng tài thành lập theo Phụ lục VII Công ước Liên hiệp quốc về Luật Biển (UNCLOS) 1982” do Trường Đại học Luật TPHCM phối hợp với Hội Luật gia Việt Nam tổ chức.

Động đất mạnh tấn công Thái Bình Dương

Động đất mạnh 7,7 độ Richter vừa tấn công quần đảo Mariana ở Thái Bình Dương sớm ngày (30/7).
Hãng tin CNN dẫn thông báo từ Cơ quan Khảo sát Địa chất Mỹ (USGS) cho biết, động đất xảy ra ở độ sâu 212km, cách đảo Agrihan 30km về phía nam-tây nam thuộc lãnh thổ của Mỹ. Đảo này không có người ở.
Thái Bình Dương, động đất, sóng thần
Đảo Agrihan không có người ở
Trung tâm Cảnh báo Sóng thần quốc gia Mỹ cho biết họ không đưa ra cảnh báo nào.
Người dân ở đảo Guamgần đó cũng có thể cảm thấy sức mạnh của cơn thiên tai kể trên.
USGS đưa tin, 4 trậnđộng đất nhỏ hơn cũng xảy ra ở Quần đảo Mariana ngay sau đó, với trận mạnh nhấtđo được 4,9 độ Richter, cách Agrihan 11km về phía nam ở độ sâu 195km.

Thanh Hảo

THU NHẬT NGẪU HỨNG và Các Bài Dịch của Thi Hửu Vườn Thơ Thẩn

秋日偶成              Thu Nhật Ngẫu Thành

千村木葉盡黃落,Thiên thôn mộc diệp tận hoàng lạc,    
獨立西風拂鬢絲。Độc lập tây phong phất mấn ti.   
歲月堂堂留不得,Tuế nguyệt đường đường lưu bất đắc 
昨非今是只心知。Tạc phi kim thị chỉ tâm tri .
             阮子成                  Nguyễn Tử Thành
Dịch Nghĩa:
Lá cây ở ngàn thôn đều vàng rụng hết,
Đứng một mình, ngọn gió tây thổi bay mái tóc.
Năm thang lừng lững trôi đi không giữ được
Trước sai , nay đúng chỉ lòng mình biết .

Dịch Thơ :

   Ngẫu Hứng Ngày Thu         
Lá ngàn thôn vàng bay lả tả       
Gió tây về lõa xõa tóc mai.        
Tháng năm lặng lẽ nào hay ,    
Trước sai nay đúng lòng này biết thôi .  
                      Mailoc phỏng dịch                                                               


Các Bài Dịch Khác:  

 Ngày Thu Cảm Hứng   

Ngàn thôn cây lá cuốn vàng bay,    
Thơ thẩn một mình tóc gió lay.  
Năm tháng lạnh lùng khôn giữ được,   
Thi phi sai đúng chỉ mình hay !  
                 Đỗ Chiêu Đức diễn nôm   
***
    Ngẫu Hứng Ngày Thu

Cây lá ngàn thôn sắc úa vàng
Tóc bay trước ngọn gió thu sang
Tháng năm hờ hững trôi qua mãi
Tâm sự nào ai biết, sẻ san
           Phương Hà phỏng dịch
***
     Chợt Hứng Ngày Thu

Lá vàng xóm xóm rụng rơi đầy
Một bóng tóc sầu phơi gió tây
Năm tháng lạnh trôi sao giữ lại
Đúng sai tự biết chỉ lòng đây.
                            Quên Đi


BÀI 1 :
THU BUỒN NGẪU HỨNG

Ngàn thôn lả tả lá vàng rơi,
Gió thổi tóc mai quạnh quẽ đời.
Tháng tận năm cùng qua lặng lẽ,
Tự lòng, sai, đúng lạnh lùng trôi...

Mai Xuân Thanh xin góp vui vào VTT
Ngày 26 tháng 07 năm 2016


BÀI 2 :
THU NGẪU HỨNG

Lá vàng rụng hết cả ngàn thôn,
Đứng lặng gió bay tóc mõi mòn.
Năm tháng thoi đưa nghe lặng lẽ,
Đúng, sai, tự biết mất hay còn !

Mai Xuân Thanh xin góp vui vào VTT
Ngày 26 tháng 07 năm 2016

Hồn Thư - Chuyện ngắn của Thuyên Huy




Chuyện để tặng Huỳnh ĐT, Phan Thiết và nhóm bạn cùng học QGSPSG
Bố cục bối cảnh, nhân vật, tình tiết được sắp xếp và viết bằng tưởng tượng, những trùng hợp vô tình, nếu có, là việc ngoài ý muốn của tác giả, xin miễn thứ.
   
    Buổi sáng, trên đường trở lại nhà, sau khi dắt con Benji đi bộ vòng quanh bờ sông, cuối dốc đồi Edgewater như mọi ngày từ sớm, sương phủ mù mờ dù trời chưa vào thu, vẫn còn chút nóng hạ đâu đó, mưa bất chợt đổ như trút nước, may vừa kịp tới trạm xe buýt về East Keilor, đầu đường Rosemond, Thuận kéo con chó chạy vội vào, bên kia đường Trí vụt băng nhanh qua, không chờ đèn xanh báo hiệu, giờ này phố xá còn vắng người xe, mưa tiếp tục nặng hột, xối xả rớt trên mặt đường, Trí nhận ra, gật đầu “chào chú”, con chó vẫy đuôi vì biết là người quen, Trí kéo cái túi xách vải bố cũ mèm lên vai, cao một chút, ngồi xuống vuốt đầu, con chó mừng quấn quýt, Thuận nhìn Trí cười “bữa nay về trễ hả con”, Trí gật đầu “dạ, con ở lại làm thêm một giờ, chú ơi”, chuyến xe buýt đầu ngày, đưa khách ra trạm xe lửa Tottenham chầm chậm chạy ngang qua, nhạt nhòa trong màn sương, lưa thưa hai ba người khách. Ở cuối đường, chút nắng sáng hé lên phía bờ bên kia sông, mưa bớt dần rồi lất phất nhẹ, trời đứng gió, một lần nữa, cúi xuống xoa đầu con chó, đứng dậy, quàng túi xách lên vai, sửa lại cái áo khoát, Trí chào Thuận “bớt mưa, thôi con về nghe chú” rồi hối hả lầm lũi bỏ đi, Thuận dắt con Benji bước ra khỏi trạm xe, đứng nhìn theo tới cuối đường, nắng rựng trải dài xuống cuối dốc, Trí đi khuất từ lâu.
    Thuận biết Trí từ hơn một năm nay, thằng nhỏ chừng mười sáu mười bảy, nhưng chưa lần nào nói chuyện nhiều, vài câu chào thông thường rồi bỏ đi, sáng sớm, xuân hạ thu đông, mưa mù nắng nhạt, ngày nào cũng vậy trừ Chủ Nhật, dắt con Benji về lại nhà, sau khi đi hết một vòng, tới ngang công viên nhỏ, tắt qua khu phố chính, đến trạm xe buýt, đúng lúc chuyến xe đầu tiên trong ngày ngang qua, giờ đó ít khi  có người chờ, thì cũng là lúc Trí đi bộ, từ hướng trên miệt West Footscray lên, với cái túi xách cũ trên vai, mặt mài trông có phần mệt và bơ phờ đôi chút, nhưng luôn luôn không quên hai tiếng cười “chào chú”, cúi người xoa đầu con chó rồi lẳng lặng đi tiếp, nhiều lần Thuận định muốn hỏi Trí thêm đôi ba câu, nhưng thấy anh ta có vẻ vội vã, nên thôi, cứ như vậy, ngày qua ngày lại, cũng cái vẫy tay, cũng hai tiếng chào và nụ cười mệt mỏi rồi thôi, không có gì khác.
    Cuối thu, trời ngấp nghé chở gió sang mùa, sáng thứ bảy, thường lệ như mọi ngày, cũng với con Benji, đứng lòng vòng tại trạm, chuyến xe buýt đầu từ East Keilor lên, đến rồi bỏ đi, không thấy Trí về ngang như trước, không hiểu sao, tự dưng cảm thấy thiếu thiếu một cái gì đó, Thuận nấn ná nhìn phía trên đầu đường Rosemond chờ thêm, xe và người bắt đầu càng đông hơn, đèn điện quanh rào bải đậu trước cổng chính vào khu thương mại High Point đã tắt từ nãy giờ, trời vẫn còn lạnh nhưng có chút nắng âm ấm, chờ cũng tạm lâu, Thuận sửa lại vòng đeo trên cổ con Benji, vừa định bỏ đi, bên kia đường, có tiếng gọi “chú Thuận” nghe rõ mồn một vọng qua, sau lưng chiếc xe buýt bỏ trạm ngừng, chạy vụt đi, Thuận đứng khựng lại, cũng cái túi xách quen thuộc, Trí đưa tay vẫy,  băng qua, kịp lúc đèn báo hiệu vừa đổi màu đỏ, đứng bên nhau, nói một hơi, Trí cho biết, “phải ở lại chờ người trưởng ca đêm, làm giấy tờ cho con đổi lên ca ngày tuần tới, đở quá chú ơi, làm đêm riết rồi mệt quá nhưng ráng kiếm thêm chút tiền, gởi về cho mẹ con bị bệnh nặng, nên đành chịu cực, không nghĩ là chú còn ở đây, nên khi thấy, xuống xe ngay trạm này liền, thay vì đi thêm lên trạm trên kia”, Thuận nhìn mà vui lây cho thằng nhỏ, chuyện cực khổ, ngủ gà ngủ gật, khi làm ca đêm thì không lạ gì với mình trong suốt ba bốn năm, lúc mới vừa đến xứ người, Trí ngồi bệt xuống đường, ôm con Benji tươi cười nựng nịu, nó vẫy đuôi không ngừng, Trí lập đi lập lại mấy tiếng “khỏe quá chú ơi, ở bên nhà khỏi lo nữa”, rồi bổng dưng, nhìn lên “nhà con ở cũng không xa đây lắm, thôi con mời chú dẫn con Benji theo luôn, tới chơi cho biết, con pha cà phê cho chú uống, con pha ngon lắm đó, hôm nay khỏi cần ngủ bù rồi, chú đi nghe”, có ý muốn biết hoàn cảnh thằng nhỏ từ lâu, một phần cũng hơi tò mò, Thuận đồng ý ngay, Trí hớn hở, mang túi xách lên, giành lấy dây, dắt con Benji đi trước, Thuận chầm chậm phía sau, rẽ ngang con đường Williamson, lá chết úa vàng trải đầy, còn ướt đẩm sương đêm, hàng cây già nua, dọc hai bên khẳng khiu và trơ trụi giữa trời thu tiếc nuối tàn.
    Gian nhà trọ, nằm gọn riêng biệt, ở một góc vườn rậm lá trong cái biệt thự cũ xưa, cuối đường, chênh chếch trên đầu dốc, chủ nhà là một bà cụ người Ý, sống đơn độc, thỉnh thoảng năm khi mười họa, Giáng sinh, Tết mới thấy dăm ba người tới thăm rồi thôi, ít nói hay cười, “tiếng Anh tiếng u” chữ còn chữ mất, ngày nào cũng vậy, sáng sớm đi một vòng quanh chỗ của Trí, xem lại cửa nẻo, rồi đón xe buýt đến nhà thờ St Martin, ở đó bà phụ giúp lau chùi quét dọn cho tới xế chiều, xâu chuổi tràng hạt màu đen bóng luôn luôn cầm trong tay, bà thương Trí lắm, nấu cái gì cũng gọi Trí qua ăn, có khi còn hỏi cần tiền không bà cho, trừ cái sân trước có chút ít cỏ, còn lại thì toàn là lát gạch đen, nên việc cắt cỏ, cắt cành mỗi hai ba tuần, Trí đều lo một cách tươm tất. Từ cánh cửa sổ nhỏ, vừa đủ khoảng cho hai người ngồi nhìn xuống con rạch hẹp, chạy ra khúc sông Maribyrnong, dưới chân cầu đường Raleigh, nắng từng vạt lưa thưa, đong đưa hắt ngang, hâm hấp nóng, mùi cà phê bốc lên thơm cả phòng, Trí có vẻ hài lòng “tiếng một tiếng hai” mời mọc, nhìn thằng nhỏ lăng xăng, cảm thấy vui vui, Thuận bưng ly lên, chậm rãi uống, hỏi và nghe Trí kể chuyện mình, “Cộng sản vô, tài sản bị tịch thu, mẹ mất việc vì là vợ của “sĩ quan Ngụy”, đồ đạc trong nhà đem ra bán dần rồi cũng hết sạch, mẹ một thân, chạy ngược chạy xuôi, bán cá bán tôm, kiếm sống, may mà còn căn nhà, hai ba năm sau, buồn quá, thất chí, ông ngoại qua đời, bà ngoại bị đau khớp xương hai đầu gối, đi đứng khó khăn, có một thiếm cùng bán với mẹ, tốt bụng, quen chủ tàu vượt biên, sắp xếp cho đi không tốn tiền, mà nếu đòi tiền thì cũng không có đâu mà trả, mẹ đẩy Trí xuống tàu giữa khuya theo đám người chừng bảy tám chục, lạ ngắt, nước mắt ràn rụa, khóc ròng, mẹ không thể bỏ ngoại mà đi, may mắn tàu thoát đến Nam Dương, thấy Trí bơ vơ côi cúc, tội nghiệp, một gia đình đi trên tàu, khi lên đến trại tỵ nạn đã khai thêm tên anh ta vào danh sách, ở trại cùng họ, phụ bưng nước bưng cơm rồi theo họ sang đây, ở trung tâm tỵ nạn Midway không bao lâu, Trí được một bà sơ nhà dòng, đem gởi ở với bà cụ già người Ý này”.
    Thấy ở cũng đã lâu, những gì muốn biết cũng tạm biết đủ rồi, Thuận ra về, hẹn gặp lại lần khác “hôm nào tới nhà chú chơi nghe”, Trí theo tới ngoài cổng nhà, con Benji chồm lên, vúi đầu vào tay, rồi lẻo đẻo theo sau, Thuận đi cũng khá xa, quay lại nhìn, Trí vẫn còn đứng đó, trên đường về, bỗng dưng Thuận muốn khóc, những chi tiết của chuyện Trí kể, “nhà ở Phan Thiết, ông bà ngoại có hảng làm nước mắm lớn, mẹ là cô giáo ở trường tiểu học trước năm 1975 ở gần chợ tỉnh, tên Tâm Như, ba chết vì bị phục kích ở Tuy Phong” cứ lẩn quẩn trong đầu, tới trước nhà, đứng chết lặng một hồi lâu, con Benji, mừng rở chạy vào trong sân, sủa vang, chân Thuận nặng nề không màng bước thêm, nhớ tới chuyện, lòng đau nhói.
    Trong đám bạn cùng quê Thủ Dầu Một, Thuận học không khá, đậu được tú tài một là đã mừng hết lớn rồi, nhưng không qua nổi năm sau, rớt tú tài hai, buồn thân nhưng đành chịu, biết tỏ cùng ai, nhà nghèo, mẹ mất sớm, có hai cha con đùm bọc nhau, ba Thuận không tái giá từ ngày đó, lấy phần trước căn phố, hẹp, gạch cũ mốc, của nhà mình, một mình mở tiệm buôn bán trái cây, tại chợ Phú Cường, lấy mối từ người quen dưới Lái Thiêu lên, không khá nhưng cũng tạm đủ sống từ bao nhiêu năm qua, nghe tin thi rớt, ông không buồn không giận, thương con “thôi thì học tài thi mạng con ơi”, ông không buồn nhưng cứ mỗi lần về thăm nhà, nhìn ông vất vả, Thuận chết lặng, tệ tái lòng. Long nhong lên xuống Sài Gòn, chừng đâu vài tháng, nghe lời Trung, thằng bạn cũng học cở mình, biến mất sau mùa thi, đậu rớt không nghe ai nói tới, gặp lại hôm đi lang thang ngoài khu chợ cũ Hàm Nghi, thi vào trường Quốc Gia Sư Phạm, trường mà hắn đặt tên là “trường làng tôi ” nhưng có một chuyện  ít ai để ý tới, là ra trường có thể xin được hoản dịch hay còn gọi là “động viên tại chỗ”, cho nên không phải lo ngại chuyện khoát áo lính, trừ khi tự nguyện, thêm nữa cũng có được cái nghề, may mắn, chứ chắc chẳng hay ho gì so với con số vài trăm người thi, cả hai vào học cùng năm nhưng khác lớp. Thuận quen Tâm Như ngày đầu nhập học, khi nhường nhau lối đi, người trước người sau, ngay cầu thang lên lớp học trên lầu, chọn chỗ ngồi sau lưng, rồi “thương thầm nhớ trộm” những ngày sau đó, đám bạn thường “kết đôi kết ba” với cô nàng, thấy điệu bộ anh chàng đã biết ngay từ đầu nên cố tình “chọc phá” cho thêm phần “mắm muối”, cộng thêm có Thật, học chung lớp, ở cùng quê Phan Thiết với Tâm Như, “rù rì thêm bớt, tiếng này tiếng nọ”, rồi thì cả lớp ai cũng biết hai người “tình trong như đã dẩu ngoài còn e”, đối với bạn bè trong trường, cùng lớp cũng như khác lớp quen nhau, hai người quá “xứng đôi vừa lứa”, cuối năm đầu, cùng với Trung, đi thi lại tú tài hai nhưng vẫn còn bị sao quả tạ chiếu đen quá, cho nên hai chàng đều “trợt vỏ chuối”, gặp nhau, nhìn nhau cười trừ, chẳng màng “trách trời cao đất rộng”.
    Nhà Tâm Như ở bên phố trong, không xa nhà của Thuận, ngoài đầu bến xe chợ Phan Thiết bao nhiêu nên cũng dễ đi qua đi lại, gia đình hai bác Tiến, chỉ có một mình Tâm Như, bác trai trước là công chức sở hỏa xa thời Tây, đã hưu trí, sau ngày nghỉ hưu, bác hùn với người em trai, sang lại hảng làm nước mắm nhĩ  hiệu Thành Tựu, ở xóm biển, từ đó đến giờ, công việc làm ăn phát đạt, tạm gọi là người khá giả trong tỉnh, cuối hè, trước khi vào học năm thứ hai lại vài ngày, theo Thật ra Phan Thiết cho biết, và cũng để đi cùng với Tâm Như trở vô Sài gòn, hôm cùng Thật đến nhà, quen quá nên không ngó ngàng gì tới anh ta, gặp Thuận, hai bác niềm nỡ thăm hỏi, chuyện quê nhà, cha mẹ, anh em cũng như chuyện học hành, tương lai ngày mai ngày mốt rồi chúc tốt chúc lành đủ thứ, Thật ngồi kế bên nghe, không tiếng thêm tiếng bớt, gục gặc đầu, mĩm cười theo từng câu hỏi.
    Trước ngày thi tốt nghiệp vài hôm, Sài Gòn bỗng dưng vắng mưa hỗm rày, sáng thứ bảy, Tâm Như đến gặp Thuận một mình, lần này thật sớm, không có mấy cô bạn như thường lệ đi theo “tán hươu tán vượn, kéo lê hè phố”, trời đã có nắng từ lâu, ngoài đường vẫn còn vắng người, bóng nắng hắt xuyên vào khung cửa sổ từng vệt dài, trên gác, qua ngang cái bàn học gỗ cũ, vàng một màu bông vạn thọ, tiếng bác chủ nhà ho khan dưới nhà vẫn vậy mỗi sáng, Thuận loay hoay xếp mền gối ngay ngắn trên giường, Tâm Như ngồi lặng thinh nhìn xa xăm xuống dưới đường thật lâu, cảm thấy hình như có gì đó là lạ, khác với mọi lần, Thuận thắc mắc chờ, thì ra cô nàng đang khóc, Thuận kéo ghế ngồi sát bên, Tâm Như rấm rứt nói chuyện hai bác Tiến cho biết, không hài lòng chuyện của hai người, tuy không nói thẳng ra nhưng hai bác bảo “ba mẹ muốn con nên có một người chồng có địa vị hơn con đôi chút, đằng này Thuận chỉ là một thầy giáo xoàng như con thì, ba mẹ làm sao vui được, con suy nghĩ kỹ đi”, Thuận chợ dưng nhớ lại, câu hỏi của ba Tâm Như “cháu có định thay đổi nghề nghiệp sau này không hay chỉ cứ là một ông giáo làng bình thường thôi”, anh thở dài “à thì ra là vậy”, Tâm Như ngừng khóc, run run nắm chặt tay Thuận, hơi ấm của làn da làm Thuận có thêm một chút bình tỉnh, cô nhìn thẳng vào mắt anh ta, nhoẻn miệng cười, với qua hôn nhẹ lên mặt, khe khẻ nói nhỏ “anh biết em yêu anh nhiều lắm mà nhưng là con một, nên để rồi  thủng thẳng mình tính, không có gì đâu”, Thuận gật đầu, khẻ cười “thôi cứ từ từ ra trường rồi tính”. Thuận đứng dậy thay đồ, sắp vào trưa, nắng hắt hơi nóng vào nửa căn phòng, Tâm Như vừa kéo tấm màn vải xám nhạt che ngang cửa sổ, bên dưới có tiếng gọi của mấy cô trong nhóm, tiếng bà chủ nhà cười giòn, nói gì đó, không lớn lắm nhưng nghe được mấy tiếng “cô Tâm Như”.
    Sau bữa ăn chiều chia tay, tại quán cơm bình dân thường ăn, trên đường Trần Bình Trọng, nơi góc đường gần trường, cả bọn, ai nấy ít cười hơn ngày thường, Thuận theo Trung về trường tiểu học Lái Thiêu, Thật cùng với Tâm Như trở lại Phan Thiết, mấy cô khác, người Long Khánh, người Biên Hòa, Tây Ninh, ai về ngã nấy, buồn buồn kể chuyện cũ, không ai nói chuyện ngày mai, cũng hẹn cũng hò, nhưng biết chừng nào mới có dịp gặp nhau, dù không đến nổi là “chim trời cá nước”, tiễn nhau ở góc đường, mọi người bỏ đi rồi, Tâm Như cùng Thuận trở lại nhà trọ, đèn đường lên, phố xá vẫn chưa tối hẳn, trời bất chợt mưa lâm râm, mùi đất khô mấy ngày qua bốc lên hăng hắc, nóng vẫn nóng, bà chủ ngồi hóng gió trước hiên, con chó nhỏ nhà kế bên, thấy có người sủa vài tiếng làm vui, với nụ cười thường ngày, nhìn hai người buồn buồn “mai là không còn gặp lại hai người rồi, khi nào có về Sài gòn nhớ nghé thăm cô nghe, đi đường cẩn thận, nhớ giữ gìn sức khỏe, khi nào có tin mừng đừng quên cô là được rồi”. Đêm nằm tựa đầu bên nhau, nhắc nhau nghe đủ thứ chuyện, chờ sáng, rồi cũng có những cái hôn, cái mơn trớn, vuốt ve trên người như tạo hóa đã tạo, một vài vệt sáng vàng nhạt từ cột đèn đường bên kia lề, xuyên qua kẻ hở khung cửa sổ, lén hắt ngang qua chút phần da thịt trần truồng, mù mờ trên giường, đâu đó tiếng hơi thở cấu xé nhau, ngụp lặn thì thào, dồn dập, hối hả, không lâu thì im bặt, mọi chuyện ngừng ngang ở đó, một người ngồi dậy, nói tiếng “cám ơn”, người kia chợt biết rằng mình chưa mất đi “đời con gái”, có tiếng chuông nhà thờ thong thả đổ xa xa, trời rựng sáng.
    Thuận về lại Phú Cường, gần nhà, khi hoán chuyển với một cô khóa đàn chị sau ngày về dạy lớp nhì ở trường tiểu học Lái Thiêu, chừng ba bốn tháng, ba anh giờ già yếu, có mình bên cạnh cũng bớt hiu quạnh, chuyện ngày mai với Tâm Như hình như xa vời vợi, chừng nào mới không còn là “thầy giáo làng”, chưa biết, Thuận buồn cho mình, một nổi buồn dằn dặt, làm cách nào để cãi lại định mệnh, trừ khi bỏ nó ra đi, nhưng ít người có can đảm làm, Thuận không báo tin đổi trường cho Tâm Như biết, thôi thì ráng sống ngày qua ngày như “sông cứ trôi đời sông”. Thuận nhận được thư của Tâm Như, gởi về trường dưới Lái Thiêu do Trung trao lại, mừng đó nhưng cũng buồn đó, cô nàng không viết gì nhiều, “phần chính là chưa thuyết phục được hai bác Tiến, dù khóc lóc năn nỉ cũng đã nhiều với bốn tiếng “bên tình bên hiếu” và riêng mình, Tâm Như không có đủ can đảm để bỏ nhà đi được”, Thuận chần chừ chưa trả lời vì không biết phải viết gì, nên quyết định tạm quên đi thì, chưa tới hè, nhận được lá thư ngắn ngủi của Thật, từ Phan Thiết báo tin, nghe theo cha mẹ,  “Tâm Như đã kết hôn với mộtThiếu tá VNCH, là Chi khu phó chi khu Tuy Phong, hình như có tin có thể sẽ là quận trưởng nay mai, có mời đám cưới, cảm thấy không vui, anh ta từ chối khéo, không tới dự”, đọc thư mà chết lặng dật dờ, Thuận chấp nhận phận mình, tuy có nghiệt ngã nhưng cám ơn đất trời đã cho anh lối thoát, một lối thoát bình yên, không có giận hờn trách móc, ngày hai buổi đi về âm thầm với bảng đen phấn trắng, không quên chúc Tâm Như  nơi đó tìm được hạnh phúc thật sự, đừng là “cái hạnh phúc tưởng như là hạnh phúc”.
    Miền Nam mất, được nhà cầm quyền mới cho phép giữ nghề thầy giáo, sau khi  “học tập bồi dưỡng, kiểm điểm tự phê”, gần một năm sau, không gặp lại Thuận nhưng Trung có lên Phú Cường, cho biết, hôm ra Phan Thiết tìm đường “vượt biên” với chủ tàu, gặp Thuận rũ đi, anh ta ở lại vì bác gái mắt kém quá, không ai săn sóc, và “mới biết là Tâm Như vừa sinh thằng con trai chừng vài ngày, lúc miền trung di tản, chồng cô bị phục kích chết tại Tuy Phong, khoảng hai ba tuần trước khi miền Nam thua trận”, với sự đồng ý và đốc thúc của ba mình và gia đình bà cô thứ năm, em ruột của ông và mấy người con, từ Pleiku về ở chung trước ngày 30 tháng 4, theo Trung, Thuận xuống tàu rời bỏ Việt Nam từ Phước Tỉnh trong một đêm mưa tầm tã tuôn trên biển, thoát được ra nước ngoài chừng một năm sau, ba Thuận mất, lặng lẽ đến chùa xin lễ phát tang và cầu siêu, viết thư về, nhờ bà dì lo chăm sóc giùm mồ mả, chờ ngày trở lại một mai nào đó.
                                                                       *
    Thuận đứng trước sân cỏ, nhìn trời, chiều nay nắng tốt, cái nhà cây nhỏ, hai phòng ngủ, nằm khiêm nhượng, lọt giữa những căn lầu hai tầng rộng hai bên đường, mà Thuận mua được với giá rẽ, nhờ số tiền dành dụm mấy năm, rồi mướn một người thợ mộc quen Thái Lan, sửa sang, sơn phết lại nên cũng tạm tốt, từ ngày đó đến giờ Thuận vẫn sống một mình, chưa nghĩ tới chuyện vợ con, Trí xách cái túi đi làm về, cũng cái túi vải cũ ngày nào, ghé qua, con Benji, đứng phía sau cánh cửa lưới sắt sủa vang trời, hai người lửng thửng vào nhà, trong thời gian qua, mấy năm rồi, từ ngày định cư ở đây, sau nhiều lần, Thuận liên lạc thư từ được với Thật, cũng còn may, anh ta giờ có cơ sở làm ăn gì đó khấm khá, Thật thuật lại đúng chuyện mà Trung kể lại trước khi rời Việt Nam, và cho biết thêm, Tâm Như hiện bị ung thư phổi, khá nặng, hình như là ở thời kỳ cuối, khó sống lâu, thuốc men giờ có được chỉ để cầm cự mua thời gian thôi, bác gái thì còn sống nhưng yếu lắm rồi, từ khi gặp Trí, Thuận đã gởi nhiều lần, một số tiền kha khá cho Thật, nhờ trao cho Tâm Như, nhưng hứa một lời là đừng nói của ai, nếu rãnh bỏ chút thời giờ thăm viếng, lo liệu thuốc men. Con Benji chạy lăng xăng quanh chân, không như mọi lần, mặc dù cũng nựng nịu con chó nhưng xem ra thằng nhỏ mặt không vui, nhưng hai người cũng hỏi han chuyện này chuyện nọ, trước khi về, Trí cho biết, đã mua vé máy bay về Việt Nam, vì được thư mẹ trở bệnh nặng, hôm nay là thứ năm, sáng thứ bảy đi, gởi lại cái chìa khóa nhà cho Thuận cất giùm, chắc phải ở bên đó hai ba tuần.     
    Thứ sáu, chưa kịp đi ăn trưa, Thuận ngồi thừ người, đau nhói cả lòng, khi cảnh sát cùng người cai thợ tại hảng dây cáp điện Olex, đến văn phòng Thuận làm, tìm báo tin, vì sau khi đổi lên làm ca ngày, Trí điền tên và số điện thoại của Thuận trong phiếu cần liên lạc khi có việc khẩn cấp, Trí chết vì bị cuộn dây đồng dài, lớn hơn vòng tròn bánh xe vận tải, đè lên người, do ở thằng nhỏ không nhấn nút bấm ngừng như thường lệ, khi chạy ra khỏi đầu giàn máy, bác sĩ ở bệnh viện Western General cố cứu nhưng đành chịu, bà cụ già người Ý, chủ nhà khóc sụt sùi khi nghe tin, cầm tay Thuận, nói bù lu bù loa, nửa tiếng Ý, tiếng Anh, tay vỗ lên trán liên hồi “my God, my Jesus”, được sự giúp đở của Cha xứ và mấy người trong họ đạo St Martin, làm lễ tang ở nhà thờ, rồi đưa Trí đi hỏa thiêu ở nghĩa trang Altona Memorial Park. Chôn cất xong, Thuận nhận được điện thoại của Thật, từ Việt Nam qua, cho biết Tâm Như đã mất trên giường trong bệnh viện Phan Thiết hôm chủ nhật, hai ngày sau khi Trí bị tai nạn, hai mẹ con đã không có được ngày thứ bảy, ngày mà theo chuyến bay, Trí về tới Sài Gòn buổi chiều, Thuận cũng báo tin Trí chết rồi, bên đầu dây bên kia, im lặng một hồi lâu mới nghe Thật thở dài hai tiếng “trời ơi”. Như đã dặn, Thuận trở lại nhà bà cụ già người Ý, chiều thứ năm, phụ dọn dẹp lại gian nhà, để bà cho ai đó về ở, gom những đồ dùng, giấy tờ cá nhân, trong đó có cái hộp thiếc đem về nhà mình, cũng hôm đó, Thuận bất ngờ nhận được thư Tâm Như, như vậy là Thật đã nói hết rồi, cầm lá thư vào nhà,  chưa mở ra, nâng niu trên tay, tưởng chừng như cái nâng niu tay nắm tay, trong tiếng mưa lâm râm, tiếng mưa của cái đêm cuối bên nhau trên gác trọ, trước ngày chia tay về nhiệm sở.
    Thuận ngồi bệt xuống trước tấm bia, bằng đá hoa cương màu xanh nhạt, lớn chừng trang giấy học trò, cùng một kích thước chung như các nấm mộ khác của nghĩa trang, trên mặt đất, trong khoảng đất hình vuông, giữa thảm cỏ xanh rì, nằm gần cuối dãy các mộ phần khác, song song bên nhau, hun hút chạy dài từ phía lối vào, cái nào cũng cắm đầy hoa nhưng úa héo nhiều hơn tươi, vì cái nóng của trời tháng giêng mùa hạ gay gắt, ở đây người ta không  xây mộ cao như nhiều nghĩa trang khác, tất cả đều đặt dưới đất, cắm mấy nhánh hoa trắng mới, thay cho mấy cái chiều hôm qua, đưa tay lau nhẹ dăm ba giọt sương đêm còn nấn ná, nửa đi nửa ở, trên tấm bia, khuôn mặt hai mẹ con rõ dần, dưới ánh nắng mặt trời vừa lên, nhất là Tâm Như, cũng đôi mắt dịu dàng và nụ cười nửa miệng có duyên của ngày đầu quen nhau trong sân trường sư phạm, mắt Thuận bỗng dưng cay xé, ba cây nhang thơm lắc lư theo nhịp run rẩy của tay, pha chút nước mắt, nghẹn ngào khóc, Thuận xếp hai lá thư của Tâm Như, một gởi cho Trí, một cho Thuận, đã đọc hết nhiều lần, đặt trong cái hộp thiếc nhỏ Trí dùng cất giữ thư từ, hình ảnh của mẹ gởi qua, mà anh đã đem theo, mỗi khi đến đây, trong mấy tuần qua, để đó, nhìn một hồi lâu, khẻ bật lửa lên từ cái hộp quẹt máy, chầm chậm đốt, miệng thì thầm nghèn nghẹn, cũng những giọt nước mắt hồi nãy nhưng có phần mặn đắng hơn “cuối cùng mình cũng gặp lại nhau, em nằm đó, anh ngồi đây, em đã nói hết những gì muốn nói, định mạng vẫn cứ mãi là định mạng, không có gì để hờn trách chi nhau, anh cũng đã làm xong những gì muốn làm, anh đốt thư em, thả hồn thư bay theo về nơi đó, để em vui, để em yên tâm, biết rằng anh đã đọc, với muôn vàn tha thứ, cho em và cho anh, và cũng để em lúc nào cũng ở bên anh tới một ngày nào đó, mai này mình thật sự có nhau, ở một chốn thiên thu bình yên của trời đất, nơi chỉ có ông giáo và cô giáo làng cùng nắn nót viết, chữ yêu trên tấm bảng đen màu phấn trắng”.
    Thuận ôm cái hộp thiếc, đựng những lớp bụi tro giấy xam xám đứng dậy, nắng rực lên, len qua bóng người vừa đủ sáng trên tấm bia đá, trên tấm hình, hai mẹ con Tâm Như hình như đang cười, một cặp trai gái còn rất trẻ thăm mộ ai đó đi ngang, gật đầu chào, mắt vẫn còn ươn ướt nước mắt, Thuận cười nhẹ đáp lại, nhìn theo, lẻ loi đâu đó, có tiếng chuông từ nhà nguyện phía trong vang lên từng hồi một.

Thuyên Huy
Viết sau ngày đội mưa đưa một người bạn thân vừa mất, ra nằm ở nghĩa trang Altona Memorial Park trong cái lạnh rét run một sáng giữa Thu.