Chủ Nhật, 25 tháng 6, 2017

Về Bài "LÂM GIANG TIÊN Của DƯƠNG THẬN


  DƯƠNG THẬN 楊慎 (1488-1559 Tương đương thời kỳ Văn Hoá Phục Hưng của phương Tây )

 Ông là Văn Học gia đời Minh, tự là Dụng Tu 用修, hiệu là Thăng Am 升庵. Người đất Thành Đô. Đậu Tiến Sĩ hạng nhất năm Chánh Đức thứ 6 đời Minh Võ Tông. Ông là người đất Thục ( tỉnh Tứ Xuyên ) duy nhất đậu Trạng Nguyên dưới triều nhà Minh. Dương Thận tính tình cương trực, gặp việc thì nói thẳng, nên vào đời Minh Thế Tông năm Gia Tĩnh thứ 3 bị biếm đến Vân Nam và mất ở nơi nầy sau hơn ba mươi năm đi đày. Đến năm Thiên Khải đời Minh Hi Tông ( 1621-1627 ) mới được truy phong " Văn Hiến ". Trứ tác của ông còn để lại trong " Thăng Am Tập ".
       Dương Thận là người học rộng biết nhiều, Minh Sử ghi ông là người trứ tác phong phú. Trong " Nhị Thập Nhất Sử Đàn Từ " kể lại lịch sử từ đời Tam Đại cho đến đời Nguyên và cuối đời Minh, văn phong lưu loát, được truyền tụng rộng rãi trong dân gian.
       LÂM GIANG TIÊN là bài từ của ông viết để mở đầu khai quyển cho TAM QUỐC DIỄN NGHĨA của La Quán Trung đã làm tăng thêm sức thu hút của quyển truyện nầy.
       LÂM GIANG TIÊN 臨江仙 là " Tiên trên bến sông ", là TÊN của một THỂ LOẠI " Từ " chuyên tả Thủy Tiên mà thành tên. Với nhịp đôi gồm 58 hoặc 60 chữ, đều gieo thành vần Bằng.
        Bài " Lâm Giang Tiên " của Dương Thận viết để đề từ cho quyển Tam Quốc Chí rất nổi tiếng, gồm có 60 chữ và được gieo vần Bằng như sau :

    臨江仙.                           LÂM GIANG TIÊN
              楊慎                                     Dương Thận

滾滾長江東逝水,   Cổn cổn Trường Giang đông thệ thủy,
浪花淘盡英雄。      Lãng hoa đào tận anh hùng.
是非成敗轉頭空。   Thị phi thành bại chuyển đầu không.
青山依舊在,         Thanh sơn y cựu tại,
幾度夕陽紅。         Kỷ độ tịch dương hồng.
白髮漁樵江渚上,   Bạch phát ngư tiều giang chử thượng,
慣看秋月春風。      Quán khan thu nguyệt xuân phong.
一壺濁酒喜相逢。   Nhất hồ trọc tửu hỉ tương phùng.
古今多少事,         Cổ kim đa thiểu sự,
都付笑談中.           Đô phó tiếu đàm trung !

CHÚ THÍCH :
   1. ĐÔNG THỆ THỦY : THỆ là Mất, là Chết. THỆ THẾ 逝世 là Từ trần. Nên Đông Thệ Thủy 東逝水 là Nước chảy mất hút về hướng đông không trở lại.
   2. ĐÀO TẬN : là Đào thãi hết, đào thãi sạch sẽ không chừa ai cả.
   3. CHUYỂN ĐẦU : là Quay đầu nhìn lại, chỉ thời gian rất nhanh.
   4. BẠCH PHÁT : Tóc trắng, chỉ người gìa.
   5. NGƯ TIỀU : là Ngư Ông và Tiều Phu, nhưng ở đây là Động Từ, có nghĩa là : Bắt cá và đốn củi.
   6. CHỬ : là Bãi nước, là Bến nước , là Cồn ở giữa sông.
   7. QUÁN KHAN : đã quen nhìn, đã thường thấy.
   8. THU NGUYỆT XUÂN PHONG : chỉ Thời gian lần lựa, hết thu nguyệt thì tới xuân phong và ngược lại.
   9. TRỌC TỬU : không phải là rượu dơ, mà là rượu thường của giới bình dân uống thường ngày, chưa được tinh chế chắc lọc.
  10. PHÓ : là Phó mặc, là mặc cho.

NGHĨA BÀI TỪ :
      
         Sông Trường Giang sóng xô nước cuốn cuồn cuộn chảy về biển đông rồi không bao giờ còn trở lại nữa; cũng như biết bao anh hùng hào kiệt đều như hoa sóng kia tan biến biệt tăm và chịu đào thải theo dòng lịch sử. Bất luận là thị hay phi, là đúng hay sai, là thành hay bại, trong chớp mắt quay  đầu nhìn lại thì đã không còn gì nữa. Chỉ có núi xanh vẫn như cũ đứng trơ gan cùng tuế nguyệt và nắng chiều vẫn biết bao lần hồng lên rồi chợt tắt. Những ông lão đốn củi và đánh bắt cá trên bến nước, họ đã quen rồi với thu nguyệt rồi lại xuân phong, thời gian cứ thế trôi đi. Nên khi gặp nhau thì cứ cùng vui với nhau bên chung rượu lạt. Biết bao nhiêu là chuyện lớn chuyện nhỏ trên đời nầy từ xưa đến nay, chẳng qua cũng chỉ là những chuyện nói cười trong lúc nhậu, là chuyện phiếm chuyện gẫu khi trà dư tửu hậu của người đời mà thôi !
      Thật là cảm khái ! Tam Quốc Chí chẳng những viết lại lịch sử, mà còn viết lại những cuộc đời anh hùng, sự chìm nổi hưng suy của anh hùng, cái khí thế và khí phách của anh hùng, cái thành công và thất bại của anh hùng, cuối cùng đều phải chịu chung sự đào thải vô tình của thời gian và lịch sử. Lịch sử đã sang trang, thời gian đà biền biệt, rốt cuộc họ còn được gì ? Chẳng qua chỉ là những câu chuyện khề khà với nhau khi trà dư tửu hậu của hậu thế mà thôi ! Tất cả đều qui về một chữ KHÔNG to lớn !. 
      Bài Từ rất thực tế và sát sao với cuộc sống, nên có những từ Hán Việt cũng rất sát sao với cuộc sống thực tế, không cần phải diễn Nôm mà ai cũng đã hiểu nghĩa cả rồi. Như : Thị Phi Thành Bại, Thu Nguyệt Xuân Phong ...

DIỄN NÔM :
                     LÂM GIANG TIÊN
         Trường giang cuồn cuộn nước về đông,
         Sóng xô đào thải hết anh hùng.
         Thị phi thành bại quay đầu : hết !
         Núi xanh vẫn còn đó,
         Bao lượt nắng chiều hồng.
         Ngư tiều đầu bạc trên sông nước,
         Đã quen rồi thu nguyệt với xuân phong,
         Một bầu rượu lạt thắm tình nồng,
         Xưa nay bao thế sự,
         Cười nói cũng như không !

Lục bát :
             Trường Giang cuồn cuộn về đông,
         Anh hùng như sóng theo dòng trôi xuôi.
             Thị phi thành bại trên đời,
         Quay đầu là hết núi đồi còn đây.
             Núi xanh sừng sửng tháng ngày,
         Hoàng hôn mấy lượt thêm dài hoàng hôn.
             Ngư tiều đầu bạc ven thôn,
         Trên dòng sông nước vùi chôn tháng ngày.
             Một bầu rượu lạt ngà say,
         Cổ kim thế sự nào ai có lòng ?
             Nói cười nhấp rượu như không !

                                                 Đỗ Chiêu Đức.
  


       Bài TỪ nầy rất nổi tiếng trong giới "sồn sồn" của Đài Loan và Hoa Kiều hải ngoại. Vì 3 câu ...


是非成敗轉頭空。   Thị phi thành bại chuyển đầu không. 
青山依舊在,         Thanh sơn y cựu tại,
幾度夕陽紅。         Kỷ độ tịch dương hồng. 


   ... được nữ văn sĩ QUỲNH DAO trích ra làm trọng tâm của quyển tiểu thuyết rất nổi tiếng của bà, đó là quyển : 幾度夕陽紅. Kỷ độ tịch dương hồng. được quay thành phim màn ảnh lớn, màn ảnh nhỏ, phim nhiều tập ... với tựa đề :

        TÌNH BUỒN (Kỷ Độ Tịch Dương Hồng) 幾度夕陽紅 Many Enchanting Nights, sản xuất năm 1986 với Tần Hán và Lưu Tuyết Hoa.
        Lần đầu tiên là phim Màn ảnh rộng với Giang Thanh và Dương Quần, sx năm 1969 với tựa phim là :
                      MƯỜI TÁM NĂM DĨ VÃNG
       
        Hồi còn thanh niên, tôi cũng là một trong những người mê Truyện và Phim của Quỳnh Dao ! Nên 3 câu ...


是非成敗轉頭空。   Thị phi thành bại chuyển đầu không.
青山依舊在,         Thanh sơn y cựu tại,
幾度夕陽紅。         Kỷ độ tịch dương hồng. 

..... hầu như lớp tuổi chúng tôi ai cũng thuộc lòng cả ! Nhưng, chỉ có 3 câu đó thôi, còn NGUYÊN BÀI thì " bù trất " ! và bài từ đó tác giả là ai cũng " bù trất" luôn ! Thế mới vui ! Cứ mở miệng ra là :

是非成敗轉頭空。   Thị phi thành bại chuyển đầu không.
青山依舊在,         Thanh sơn y cựu tại,
幾度夕陽紅。         Kỷ độ tịch dương hồng. 

      Làm như mình là người từng trải, ưu thời mẫn thế lắm vậy !
                     ......................................

            Nhớ lại, cũng vui ghê !!!
                     
                             
                                 Đỗ Chiêu Đức.
Mai Xuân Thanh phỏng theo Diễn Nôm Thơ Lâm Giang Tiên của anh Đỗ Chiêu Đức
qua bài từ Lâm Giang Tiên_ Dương Thận (1488_1559)
Với bài góp vui  như sau :

Tiên Trên Bến Sông

Trường Giang sóng dữ cuộn xuôi đông,
Chiến sĩ anh hùng thác mạng vong.
Thành bại thị phi ai có biết,
Non xanh nước biếc nắng chiều hồng.

Tiều phu đốn củi nay đầu bạc,
Bắt cá ngư ông tóc trắng bông
Mấy độ xuân phong thu tuế nguyệt,
Bạn già cạn chén rượu ngon nồng.

Hàn huyên thế sự ngoài tai bỏ,
Say khướt cười khà rốt cuộc không !
Tam quốc ngày xưa nhiều dũng tướng,
Khổng Minh, Mã Ý thuộc nằm lòng...

                                                Mai Xuân Thanh

                                      
Cám ơn Mai Xuân Thanh đã hưởng ứng 

7 phát minh siêu việt đi trước thời đại hàng ngàn năm lịch sử

Nhìn lại lịch sử hàng ngàn năm, có rất nhiều công nghệ cổ xưa khiến chúng ta không khỏi ngạc nhiên trước kiến thức và sự thông thái của con người trong quá khứ. Dưới đây là những ví dụ điển hình về công nghệ và sáng chế thời cổ thách thức cả khoa học hiện đại ngày nay.

1. Động cơ hơi nước của người hùng xứ Alexandria
tiên tiến, phat minh, co dai,
(Ảnh: Pinterest)
Heron Alexandrinus là người hùng xứ Alexandrinus. Ông là một kỹ sư, nhà toán học người Hy Lạp sống vào thế kỷ I, được biết đến là người đầu tiên phát minh ra động cơ hơi nước. Thiết bị hơi nước được ông gọi là Aeolipile, được đặt tên theo thần gió Aiolos.
Cỗ máy Aeolipile gồm một quả cầu được đặt ở vị trí có thể xoay quanh trục. Các vòi phun đối diện nhau sẽ nhận hơi nước từ dưới và 2 luồng không khí sẽ kết hợp tạo ra 1 lực đẩy dạng xoắn bên trong quả cầu khiến quả cầu có thể tự xoay quanh trục của nó. Hơi nước được tạo ra bằng cách đun sôi nồi nước bên dưới quả cầu.
Bản mẫu của cỗ máy Heron có thể quay ở tốc độ 1500 vòng/phút với áp suất rất thấp, khoảng 0,1266 kg/cm². Thiết bị đáng chú ý này đã bị lãng quên và không bao giờ được sử dụng cho đến năm 1577, khi động cơ hơi nước được tái phát minh bởi triết gia, nhà thiên văn học và kỹ sư Taqi al-Din.
2. Thấu kính Nimrud của người Assyria – Kính thiên văn lâu đời nhất thế giới?
tiên tiến, phat minh, co dai,
(Ảnh: Wikiwand)
Thấu kính Nimrud được làm từ đá pha lê tự nhiên vát cong hình bầu dục có niên đại 3.000 năm tuổi, được Sir John Layard khai quật vào năm 1850 tại cung điện của người Assyria, thuộc thành phố cổ Nimrud, Iraq ngày nay.
Nó có tiêu điểm cách mặt kính khoảng 11 cm, và chiều dài tiêu cự khoảng 12 cm. Cấu tạo này làm cho nó có độ phóng đại tương đương với một kính lúp 3x (có thể kết hợp với một ống kính khác để đạt được độ phóng đại lớn hơn). Bề mặt của thấu kính có 12 lỗ rỗng, bên trong có chứa naptha, một chất lỏng dễ cháy và một số chất lỏng khác.
Kể từ khi được phát hiện cách đây hơn một thế kỷ, các nhà khoa học và sử học đã tranh cãi về mục đích sử dụng của nó, một số cho rằng nó được sử dụng để làm kính lúp, hay một số khác cho rằng đây là một chiếc kính hội tụ ánh sáng Mặt trời để tạo ra lửa. Tuy nhiên giáo sư nổi tiếng người Ý Giovanni Pettinato đã đề xuất rằng, ống kính này được người Assyria cổ sử dụng như một phần của kính viễn vọng, điều này giải thích vì sao người Assyria lại tinh thông về thiên văn đến vậy.
3. Lịch cổ nhất Scotland
tiên tiến, phat minh, co dai,
12 hố đại diện cho 12 tháng trong năm và chu kỳ hoạt động của Mặt trăng. (Ảnh: GEO.ru)
Một nghiên cứu được tiến hành bởi tổ chức National Trust for Scotland đã cho thấy một hệ thống lịch tinh vi khoảng 10.000 năm tuổi, và là cuốn lịch lâu đời nhất thế giới từ được khám phá.
Tại cánh đồng Warren, lâu đài Crathes, thành phố Aberdeen. có một dãy dài 50 m gồm 12 cái hố được tạo ra bởi người Anh thời kỳ đồ đá và được sử dụng từ khoảng năm 8000-4000 TCN. Những cái hố này đại diện cho các tháng trong năm cũng như các chu kỳ hoạt động của Mặt trăng.
Chúng được hình thành theo thiết kế hình cánh cung phức tạp, trong đó mỗi tháng âm lịch được chia thành 3 tuần, mỗi tuần khoảng10 ngày đại diện cho Mặt trăng từ trăng khuyết, trăng tròn và trở về trăng khuyết. Những cái hố cũng cho phép quan sát vị trí Mặt trời mọc vào giữa mùa đông, nhờ vậy có thể được điều chỉnh lại sao cho phù hợp với dương lịch. Toàn bộ vòng cung này đại diện cho lịch cả năm và cũng phản ánh các chuyển động của Mặt trăng trên bầu trời.
4. Bê tông La mã cổ đại, công nghệ vượt xa thời hiện đại
tiên tiến, phat minh, co dai,
Bê tông gần 2.000 năm tuổi tại Rome. (Ảnh: Pinterest)
Các nhà khoa học nghiên cứu cấu trúc bê tông của La Mã từ những công trình bị chìm dưới biển Địa Trung Hải trong 2.000 năm qua và phát hiện ra rằng, nó vượt trội hơn so với bê tông hiện đại về độ bền và ít gây độc hại cho môi trường hơn.
Người La Mã làm bê tông bằng cách trộn đá vôi và đá núi lửa. Đối với các cấu trúc dưới nước, hỗn hợp vôi, tro núi lửa và nước biển sẽ ngay lập tức tạo ra phản ứng hóa học. Phân tích bê tông cho thấy nó tạo ra một hợp chất có tính kết dính vô cùng ổn định, chất lượng vượt xa xi măng ngày nay.
Ngoài ra, bê tông cổ còn có cấu trúc tinh thể lý tưởng của Tobermorite, làm cho nó có sức mạnh và độ bền cao hơn. Cuối cùng, các nghiên cứu trên kính hiển vi đã xác định rằng các khoáng chất khác trong bê tông cổ đại đã cho thấy tiềm năng ứng dụng làm cho khối bê tông đạt hiệu năng cao, bao gồm cả việc giảm thiểu độc hại.
Nhà khoa học Paulo Monteiro cho biết: “Vào giữa thế kỷ 20, công trình bê tông được thiết kế để tồn tại trong 50 năm. Tuy nhiên, các bến cảng La Mã này đã tồn tại trong 2.000 năm qua trước sóng biển và sự ăn mòn hóa học bên dưới đáy biển”.
5. Sơn phủ kim loại 2.000 năm tuổi vượt trội so với các tiêu chuẩn ngày nay

tiên tiến, phat minh, co dai,
Họa tiết trang trí tại nhà thờ Sant’Ambrogio ở Milan, Italy. (Ảnh: La Gran Epoca)
Nghiên cứu cho thấy nghệ nhân và thợ thủ công cách đây 2.000 năm đã sử dụng một dạng công nghệ thời sổ đại để dính các màng kim loại mỏng lên các pho tượng và các mặt hàng khác với chất lượng cao hơn cả ngày nay.
Mạ vàng và bạc là những quá trình lâu đời dựa trên thuỷ ngân để phủ các mặt hàng như đồ trang sức, tượng với các lớp vàng hoặc bạc mỏng.
Từ góc độ công nghệ mà xét, trình độ của các thợ mạ vàng cổ đại đã đạt được cách đây 2000 năm rất đáng kinh ngạc, họ có thể làm lớp phủ kim loại rất mỏng, dính chặt và đồng nhất, tiết kiệm được các kim loại đắt tiền và cải thiện độ bền của nó, điều chưa từng đạt được hiện nay với cùng một tiêu chuẩn.
Thợ thủ công cổ đại đã sử dụng các kim loại một cách có hệ thống để tạo ra thành quả ngoạn mục. Họ đã phát triển một loạt các kỹ thuật, bao gồm sử dụng thủy ngân thành keo để dính các màng kim loại mỏng vào vật thể. Các phát hiện cho thấy người cổ đại có một mức độ hiểu biết và kiến thức về kỹ thuật tiên tiến cao hơn so với những gì chúng ta thường nghĩ.
6. Máy dò động đất 2.000 năm tuổi
tiên tiến, phat minh, co dai,
(Ảnh: Forum.Nysa.PL)
Mặc dù chúng ta vẫn chưa thể dự đoán chính xác động đất, nhưng con người đã đi một chặng đường dài để phát hiện, ghi lại và đo lường các cơn địa chấn. Tuy vậy, nhiều người không nhận ra rằng quá trình này đã được bắt đầu từ gần 2.000 năm trước, với việc phát minh ra máy khảo sát địa chấn đầu tiên vào năm 132, bởi một nhà thiên văn học, nhà toán học, kỹ sư và nhà phát minh Trung Quốc tên là Trương Hành.
Thiết bị này có thể phát hiện động đất từ xa với độ chính xác đáng kể, và nó không dựa vào những rung chuyển hay dao động tại vị trí thiết bị được lắp đặt. Ở trung tâm máy phát hiện địa chấn của ông là một ống đồng to, với đường kính khoảng 2m.
Tám hướng có 8 con rồng chồm xuống dọc theo bên ngoài ống đồng, bố trí theo các phương vị chính của la bàn. Bên trong miệng của mỗi con rồng có một quả cầu bằng đồng nhỏ. Bên dưới có 8 con cóc được đặt ở những vị trí tương đương, miệng há sẵn để chuẩn bị đón nhận quả cầu rơi ra từ miệng rồng. Âm thanh phát ra khi quả cầu rơi xuống miệng của 1 trong 8 con cóc sẽ là 1 dấu hiệu rõ ràng về nguồn gốc và hướng đi của 1 trận động đất.
Năm 2005, các nhà khoa học tại Trịnh Châu, Trung Quốc, cũng là quê hương của Trương Hành, đã cố gắng dựng lại cỗ máy này và dùng nó để phát hiện các trận động đất mô phỏng tại Trung Quốc và Việt Nam. Kết quả cỗ máy đã phát hiện được tất cả, theo dữ liệu thu thập được thì nó có độ chính xác tương đương với các máy đo động đất hiện nay.
7. Chiếc cốc 1600 tuổi cho thấy người La Mã cổ đại đã biết đến công nghệ nano
tiên tiến, phat minh, co dai,
(Ảnh: Manuel Gago)
Cốc Lycurgus là một chiếc chén thánh La Mã màu xanh lục có niên đại 1.600 năm tuổi, có khả năng thay đổi màu sắc tùy thuộc vào hướng ánh sáng chiếu vào.
Chiếc cốc này đã khiến các nhà khoa học bối rối kể từ khi nó được Bảo tàng Anh mua lại vào thập niên 1950. Họ không thể hiểu được tại sao chiếc cốc lại hiện màu xanh ngọc bích khi chiếu sáng từ phía trước nhưng lại hiện màu đỏ đậm khi rọi sáng từ phía sau. Mãi đến năm 1990 bí ẩn này mới có lời giải, khi các nhà nghiên cứu ở Anh xem xét kỹ lưỡng các mảnh vỡ dưới kính hiển vi và phát hiện ra rằng bằng cách nào đó chiếc cốc đã được phủ lên các hạt vàng và bạc với kích thước không quá 50 nanomet – nhỏ hơn một phần ngàn kích thước hột muối ăn.
Tác phẩm này quá hoàn mỹ, và chắc chắn không phải là điều ngẫu nhiên. Các nghệ nhân La Mã dường như là những người tiên phong trong lĩnh vực công nghệ nano. Trong thực tế, tỷ lệ chính xác của các kim loại trong hỗn hợp cho thấy người La Mã đã hoàn thiện kỹ năng sử dụng các hạt nano. Khi tiếp xúc với ánh sáng, các hạt electron bên trong cấu trúc hạt kim loại dao động theo nhiều cách khác nhau, khiến màu sắc trên cốc thay đổi tùy thuộc vào vị trí quan sát.
Hoàng An biên dịch

(Tinhhoa.net)

Những cảnh báo đáng sợ từ tỏi Trung Quốc

Thời gian vừa qua có nhiều thông tin tỏi Trung Quốc được phun thuốc để ngưng mọc mầm, được tẩy trắng, tẩm hóa chất,…làm ảnh hưởng đến sức khỏe người sử dụng.

Tràn lan tỏi Trung Quốc trên thị trường
Tỏi là loại gia vị được sử dụng phổ biến trong bữa ăn hằng ngày của người Việt Nam. Mặc dù Việt Nam có nhiều nơi trồng như Lý Sơn, Đà Lạt,…nhưng tỏi Trung Quốc vẫn được nhập nhiều vào Việt Nam. Trên thực tế hầu như chợ nào cũng có bán tỏi Trung Quốc vì giá thành của loại tỏi này rẻ hơn nhiều so với những loại tỏi trồng trong nước ta.
tỏi trung quốc, tỏi, gia vị trung quốc, hàng Tàu,
Tỏi Trung Quốc được bày bán tràn lan trên thị trường.
Loại tỏi Trung quốc có tép to, trắng, nhìn bề ngoài đẹp, dễ bóc. Với giá rẻ hơn khoảng 1/3 so với giá của một số loại tỏi trong nước. Đều này làm nhiều người nội trợ rất ưa chuộng, người bán thu được nhiều lợi nhuận hơn khi bán tỏi Trung Quốc.
Nhiều quán ăn, nhà hàng rất ưa chuộng tỏi Trung Quốc, vì loại tỏi này giá thành rẻ hơn nhiều so với các loại tỏi khác. Trong khi đó tỏi Trung Quốc tép to rất dễ bóc vỏ, bảo quản được lâu mà không mọc mầm nên người chế biến rất thích sử dụng.
Một số cảnh báo nguy hiểm từ tỏi Trung Quốc
Theo số liệu thống kê xuất nhập khẩu của Mỹ, hiện nay có trên 80% lượng tỏi bày bán trên toàn cầu có xuất xứ từ Trung Quốc. Hầu hết những loại tỏi này đều được phun thuốc để ngưng mọc mầm và bị tẩy trắng. Tỏi Trung Quốc có thể được tưới bằng nước cống và khử trùng bằng methyl bromide trước khi được xuất khẩu. Đây là chất diệt sâu bọ rất độc hại với con người, nó có thể hủy hoại hệ hô hấp và cơ quan thần kinh trung ương, thậm chí gây tử vong.
The Age dẫn nguồn từ một khảo sát của Hiệp hội Công nghiệp tỏi Úc cảnh báo, đa số tỏi của Trung Quốc đều được phun hóa chất để ngưng mọc mầm. Không những vậy, tỏi đã được tẩy trắng và ngăn chặn côn trùng.
tỏi trung quốc, tỏi, gia vị trung quốc, hàng Tàu,
Theo khảo sát tỏi Trung Quốc được phun thuốc để ngưng mọc mầm và bị tẩy trắng.
Các đội thanh tra thực phẩm Mỹ liên tục phát hiện ra tỏi có nguồn gốc từ Trung Quốc có chứa chất hóa học độc hại. Tỏi Trung Quốc được trồng với hàm lượng chất tăng trưởng cao, sau đó được tẩy trắng và ướp các hóa chất bảo quản dài ngày. Vị của tỏi Trung Quốc thay đổi cũng là một trong những dấu hiệu của hóa chất độc hại chứa sâu bên trong tép tỏi.
Hiện môi trường, đất trồng ô nhiễm của Trung Quốc cũng là nguyên nhân làm cho tỏi nhiễm độc trầm trọng hơn. Một báo cáo chính thức của chính phủ Mỹ vào năm 2014 cho biết gần 1/5 diện tích đất của Trung Quốc bị nhiễm độc kim loại nặng như cadmium, asen cũng như thuốc trừ sâu và phân bón có hại khác.
(Theo Pháp luật TP.HCM)

Thứ Bảy, 24 tháng 6, 2017

THIÊN THƯỢNG THIÊN HẠ DUY NGÃ ĐỘC TÔN LÀ GÌ?

Tương truyền câu nói nổi tiếng“THIÊN THƯỢNG THIÊN HẠ DUY NGÃ ĐỘC TÔN” là của Đức Phật Thích Ca khi Ngài giáng sanh nơi nước Ấn Độ. Ý nghĩa câu nói đã bị diễn dịch sai lệch từ hàng ngàn năm qua những hệ phái khác nhau, qua những cá nhân khác nhau, cùng theo theo Phật Giáo hay không theo, đã làm cho người khác hiểu lầm thật đáng tiếc. Theo đó, ý nghĩa theo ngôn từ trên như sau:
       Thiên: Ông Trời, từng Trời, cõi Trời. Thiên thượng: trên trời, tức cõi Trời. Thiên hạ: dưới trời tức chỉ nhơn loại. Duy: chỉ có. Ngã: Ta. Độc: một mình. Tôn: kính. Duy Ngã độc tôn: chỉ có cái Ta là được tôn trọng nhứt.
      
Nhiều người hiểu câu nầy theo nghĩa thông thường là: Trên Trời, dưới Trời, chỉ có một mình Ta là tôn kính nhứt.
       Vì hiểu như thế nên nhiều người cho rằng Đức Phật quá tự cao tự đại, xem Trời Đất không có ai bằng mình. Đó là một cái hiểu hết sức sai lầm, hết sức mê muội, bởi vì Ngài là Phật rồi thì Ngài là bực Đại giác, hiểu rõ mọi lẽ cao siêu huyền bí trong khắp Trời Đất, thì Ngài biết rõ, còn có rất nhiều Đấng cao minh hơn Ngài, đứng trên Phật vị của Ngài, như Đức A-Di-Đà Phật, Đức Nhiên Đăng Cổ Phật, v.v... thì Ngài không thể thốt lên câu nói tự tôn tự đại như thế, nếu vậy thì không xứng đáng với ngôi vị Phật của Ngài.
        Theo đó, chúng ta phải hiểu câu nói trên có một ý nghĩa khác hẳn, bởi vì Phật nói về Tâm pháp, ý nghĩa rất cao siêu, do nghĩa của chữ: NGÃ.

        Nhưng NGÃ là gì?
        Ở đây, Ngã không phải là cái Ta tầm thường thấp kém, mà là cái BẢN NGÃ của mỗi người, là sự CHẤP NGÃ (cố chấp cái Bản Ngã). Cái Bản Ngã ấy, sự Chấp Ngã ấy nó to lớn lắm, vĩ đại lắm, cho nên hễ có ai khác đụng chạm đến cái Bản Ngã nầy thì nó vùng lên phản ứng quyết liệt, cho rằng chỉ có nó là quan trọng nhứt, đáng tôn kính nhứt.
       Con người vì Chấp Ngã nên coi thường mọi người, mọi vật, coi thường cả Trời Phật, nên si mê ám muội, không học hỏi được điều gì nên không tiến hóa được bước nào, lại gây ra nhiều ác nghiệt tội tình, nên cứ lẩn quẩn trong vòng lục đạo.
       Cho nên, Đức Phật Thích Ca nói ra câu ấy là để Phá Chấp, Phá Mê, thố lộ Tâm pháp Thượng thừa.
        Người nơi thế gian thường chấp cái TA Phàm Ngã, vì dục vọng trần gian, vì tất cả những cái hư giả phù phiếm, vì lục dục thất tình đeo mang trong xác trần ô trược, nên phải chìm đắm trong biển khổ muôn đời.
        Vì chấp cái TA Phàm Ngã hữu hình nên không thấy được cái TA Chơn Ngã vô hình. Chính cái Chơn ngã nầy mới thật là Ta, vĩnh viễn là Ta, chớ cái Phàm ngã chỉ là cái Ta giả tạm, vì nó là hữu hình nên hữu hoại, nhiều lắm là trăm năm cũng phải tan rã (gọi là chết). Cái TA Chơn Ngã ấy là gì? Đó là Linh Hồn, Chơn Linh, là Atma, là thần thức, v.v... tùy theo tên gọi của mỗi tôn giáo và mỗi dân tộc.
        Khi biết được cái Chơn Ngã báu trọng ấy thì ta mới lo trau giồi cho nó tinh anh, đặng thấy rõ đạo pháp cao siêu mầu nhiệm, để trở về với chơn lý thâm uyên huyền diệu. Ta sẽ tìm được ta trong cái bổn lai diện mục của ta, trong ánh sáng nhiệm mầu của chơn lý hằng hữu bất biến. Đương nhiên cái ngôi vị cao trọng nơi cõi Thiêng liêng là kết quả.

      NGÔ đây được hiểu là chấp ngã, là dính mắc, là bị ràng buộc đủ mọi thứ. Chấp ngã có gốc rễ từ tham, sân, si. Tùy theo tham sân si nhiều hay ít, nặng hay nhẹ mà thọ sanh nơi các cõi trời (thiên thượng) hay đọa ở các cõi giới thấp như địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh (thiên hạ). Cái ngã này là cái ngã vướng mắc trong mỗi con người từ khi sinh ra đến khi lìa bỏ cõi đời. Nó ngự trị độc tôn trong mỗi con người. Đừng ai lớ xớ đụng đến cái ngã này, nó sẽ nóng máu lên, phản pháo nếu có ai động đến, đó chính là cái “Duy Ngã Độc Tôn!
       Từ đó, câu “Thiên thượng thiên hạ, duy ngã độc tôn” có thể hiểu rằng: Ta từ vô lượng kiếp đến nay, nhiều khi sanh lên các cõi trời, lắm lần đọa vào các địa ngục, đầu dây mối nhợ không do đâu khác hơn là tham sân si đẩy đưa đến ngã chấp mà không thấy rõ bản chất vô ngã, duyên sanh từ thân tâm đến hoàn cảnh chung quanh.
       Nghĩa là vì chưa tìm ra nguyên nhân, nên trải qua vô số kiếp ta phải chịu sanh tử luân hồi. Nay đã thấy rõ nguyên nhân và nhất là đã có phương pháp diệt trừ, thì sanh tử luân hồi không còn chi phối ta được nữa.
       Cho nên trong Kinh Pháp Cú câu 154 còn ghi lại:
     “Ta đi lang thang trong vòng luân hồi qua bao kiếp sống, tìm mãi mà chưa gặp kẻ làm nhà. Nay ta đã gặp ngươi rồi, ngươi đừng hòng cất nhà thêm được nữa, những đòn tay, những cột kèo, những rui mè... của ngươi đã bị mục rã cả rồi...”
        Ngươi ở đây chính là Ngã!

      "Duy Ngã Độc Tôn " là có ý tự cao, tự cho cái Ta hơn Nguời.
        Muốn đuợc làm Nguời nổi nhất, uy quyền nhất, đẹp nhất, giỏi nhất, …hay nhất, đặc biệt nhất …cao qúy nhất. Khi nghĩ “Ta là nhất” thì sẽ nảy sanh uy quyền và thế lực rồi ỷ quyền, cậy thế lực nảy sinh ý muốn sai khiến chỉ huy nguời khác làm thế này thế kia.
       Muốn tranh giành vị thế thuợng phong hơn nguời khác, không cho ai đụng cái cái Ta của mình nên cũng mang ý nghiã của tâm phân biêt Ta và Nguời. Đó là Ngã chấp.
- Ngã Chấp: là tánh ích kỷ, vị kỷ. Vì ai cũng tự cho mình (tự tôn) là đúng, là hợp lý, là nhất, là hơn, là phải đuợc ưu tiên, …v.v…nên sinh ra:
- Tham: muốn thâu tóm những cái hơn về Ta.
- Sân: khi nguời khác đụng chạm tới quyền lợi Ta, là phê bình Ta hay phỉ báng Ta.
- Kiêu mạn: khi mình hơn nguời thì có ý khinh nguời.
- Ganh tị: thấy nguời khác hơn thì tức tối ghen ghét, tìm cách hạ nguời xuống.
       Từ tham lam, sân hận, kiêu mạn, ganh tị, sinh ra những tranh giành, xung đột…, do đó mà “đuợc mất, hơn thua, thắng bại, khen chê, thiện ác…”, rồi tiếp tục sinh ra “vui buồn, yêu ghét, giàu nghèo, ân oán, suớng khổ, nuối tiếc hy vọng, bạn thù, thân sơ, khinh trọng ….”
        Đó là tâm "Duy Ngã Độc Tôn", nguyên nhân của tham, sân, si, ganh tị, kiêu mạn, và kế tiếp nữa sẽ là tranh giành, xung đột, dối trá, lừa đảo, tội ác và làm cho đời sầu khổ.
Vì chỉ lo nghĩ cho bản thân, nên ta chỉ biết vun đắp cho chính bản thân TA và những gì thuộc về TA (ngã), đã khiến chúng ta, quên đi quyền lợi và hạnh phúc của nguời khác đã khiến chúng ta có những  hành động sai lầm:
- Ích kỷ: là lo lôi kéo những lợi ích về cho TA
- Vị kỷ: là làm cái gì cũng vì bản thân TA truớc
- Tự cao, tự tôn, tự đại: là cho "cái TA" là nhất
- Tự ái: là chỉ yêu mình trên hết
        Tất cả những tánh trên là "Bản Ngã", nằm trong cái "Duy Ngã ".
        Vì tự cho cái TA là đúng nhất tốt nhất, nên ta luôn tôn mình lên và hạ nguời khác xuống, phô trương cái hay của mình, che dấu hay chối bỏ lỗi của mình, bới móc cái lỗi của nguời.
       Đó là những tính chất:
- Phô trương mình
- Dìm nguời xuống
- Dấu lỗi mình
- Phô lỗi nguời.

        Cũng làm những việc giống y như nhau, vào thời điểm cũng như nhau, cùng mục đích hướng tới như nhau; nhưng của mình làm, của nhóm mình làm thì cho là chính nghĩa, là đúng lý, là lẽ phải. Còn việc kẻ khác làm thì lại lên án, phê phán là tà mỵ, là theo Tả đạo Bàng môn, là phi nhân, phản bội..v..v. Tất cả đều do xuất phát từ cái Bản Ngã xấu xa kia xúi giục.
       Trong Đạo Cao Đài, Đức Hộ Pháp PhạmCông Tắc lúc thuyết Đạo tại Đền Thánh (đêm 30 tháng 5 năm Quý Tỵ) có dạy:

      “Hôm nay, Qua giảng về sự thật và cái hay của tánh đức hạ mình và khiêm nhượng đổi lụng lại phản lực của nó là: Tự cao, tự tôn, tự đại.

       Chúng ta thử xét đoán tại mặt thế nầy, ta mang thi phàm xác thịt cũng như ai, ta xét đoán lại coi ta có hơn ai chăng? Có đặng hơn cái chi mà ta tự cao, tự tôn, tự đại? Cũng ở trong lòng mẹ mà ra, ai cũng sanh trong một khuôn luật như ta. Thân hình cả thiên hạ nơi mặt địa cầu này hai ngàn bảy trăm triệu người, ta thử so sánh có thể hơn hai ngàn bảy trăm triệu người đó hay chăng mà ta tự tôn, tự đại?

      Ta cũng như một hột cát ở bãi sa mạc kia.

       Lấy theo tình lý mà luận, đầu ta cũng một đầu, thân ta cũng một thân, ta không phải ba đầu sáu tay hơn ai mà ta tự tôn, tự đại, nếu lấy theo hình thể mà luận thì thân nầy thế nào, thì thân của bạn đồng sanh ta cũng như ta vậy. Ta không có lý do gì gọi ta hơn kẻ đó, hơn bạn đồng sanh ta mà ta tự tôn tự đại. Nếu như ta luận về mặt tinh thần, tại sao ta còn được Đại Từ Phụ ban cho ta khôn ngoan khéo léo, biết nên, hư, phải, quấy, lấy tinh thần đặng định hướng cái cái mạng sống của mình coi có mục đích chuẩn thằng không?

       Ôi! Thoảng như bạn đồng sanh ta thiệt thà hơn ta, thiếu kém về mặt trí thức tinh thần hơn ta, ta ngó thấy, nếu ta hơn bạn ta là nhờ căn tu của ta dày hơn họ chút thôi, còn căn tu của họ mỏng hơn ta một chút mà thôi, lấy theo lý luận về căn tu ấy, thì ta hơn họ, hơn mảy may mà thôi, hơn môt chút xíu thôi, không phải đủ mà ta tự cao, tự tôn, tự đại.

      Trái ngược lại, nếu người bạn đồng sanh thiếu kém hơn ta, khiếm cảnh tu hơn ta, mạng căn quả kiếp nặng nề hơn ta, thì ta phải thương yêu họ, tội nghiệp dùm họ, chớ ta không có quyền nào thù ghét họ, coi họ là hèn hơn ta, ta cao trọng hơn họ là không có lý do vậy. Bây giờ trái lại cái phản lực đó, chúng ta thử nghĩ coi, mình phải khiêm nhượng chơn thật hay xảo trá? Nếu kẻ nào tự cao, tự tôn, tự đại, mà giờ phút nầy không biết hạ mình đặng chiều chuộng người, thì đời nó không buổi nào thiên hạ thương được, dầu cho từ buổi nhỏ dĩ chí 100 tuổi già đến chết nó vẫn học mãi thôi, không buổi nào gọi tự đủ…”

       (Trích Thuyết Đạo của Đức Hộ Pháp, năm Quý Tỵ)

       Bởi vậy cho nên: "Vị Ngã " (là sự thiên vị trong ngã chấp), là tánh xấu cần loại bỏ, nhất là đối với những người đang tập luyện tu hành, đang gần lẽ Đạo.

       (Tài liệu do Hồ Xưa sưu tầm từ nhiều nguồn)

Ăn nội tạng động vật có nguy hiểm cho sức khỏe không? Ăn thế nào là hợp lý?

Các món ăn từ nội tạng động vật đều rất hấp dẫn và được đánh giá là giàu dinh dưỡng. Tuy nhiên, ăn những bộ phận trong cơ thể con vật vẫn tiềm ẩn những rủi ro nhất định.

Tiến sĩ Manny Alvarez, Biên tập viên cao cấp trang Sức khỏe của tờ FoxNews, Trưởng bộ môn Sản phụ khoa và Khoa học sinh sản tại Trung tâm Y khoa, Đại học Hackensack (Mỹ) đã có một bài viết về nội tạng động vật trên tờ báo của mình.
Ăn nội tạng động vật có nguy hiểm cho sức khỏe không? Ăn thế nào là hợp lý? Những câu hỏi mà ngay chính người Việt Nam cũng đang thắc mắc sẽ được tiến sĩ Alvarez giải đáp ngay dưới đây.
Ở nhiều quốc gia trên thế giới, đặc biệt là ở Châu Á, nội tạng động vật như tim, gan, cật, lòng và não… được sử dụng rộng rãi để chế biến thành nhiều món ăn hàng ngày.
Trong khi đó, các bộ phận bên trong cơ thể con vật lại không thường xuyên xuất hiện trên bàn ăn của người dân Mỹ. Chỉ có một số bộ phận nhỏ thích ăn có vài món nhất định với nguyên liệu là nội tạng như món ruột lợn và pate.
Không thể phủ nhận được một sự thật là nội tạng động vật có hàm lượng dinh dưỡng rất cao.
Ngoài chứa rất nhiều khoáng chất sắt, folate, canxi, đồng, B1, B2 và kẽm, gan động vật rất giàu Vitamin A. Dù mang lại những lợi ích dinh dưỡng nhất định, bộ phận này cũng tiềm ẩn chứa những rủi ro không thể bỏ qua.
Thực tế cho thấy, hàm lượng Vitamin A dồi dào tới mức khiến các chuyên gia dinh dưỡng rất quan tâm.
Cách đây nhiều thế kỷ, những trường hợp ngộ độc thức ăn có vitamin A đã được ghi nhận. Năm 1597, trong nhật ký của mình, ông Gerrit de Veer (thành viên đoàn thám hiểm từ Nova Zembla tới Indonesia) đã mô tả việc các thủy thủ bị ngộ độc khi ăn gan gấu trắng Bắc cực.
Hơn thế nữa, trung bình 100 g gan chứa 1,2 g chất béo bão hòa và 302 mg cholesterol, nhiều hơn lượng cholesterol tối đa hàng ngày được cho phép sử dụng đối với người khỏe mạnh (300 mg) và người bị bệnh tiểu đường hoặc bệnh tim (200 mg).
Ăn nội tạng động vật có nguy hiểm không: Câu trả lời của Tiến sĩ Mỹ người Việt cần đọc - Ảnh 2.
Trong khi đó, nhiều nghiên cứu gần đây đã đặt ra nghi vấn cholesterol và chất béo bão hòa là 2 trong những tác nhân gây ra bệnh tim.
Hiệp hội Tim mạch Mỹ vẫn luôn khuyến cáo người dân rằng chất béo bão hòa chỉ nên giữ ở mức thấp hơn 5-6% lượng calo tiêu thụ hàng ngày.
Ngoài ra, một cảnh báo với những người thích ăn gan và thận động vật là các loại nội tạng đó có thể chứa độc tố nếu con vật đó bị nhiễm chất độc từ thức ăn hoặc môi trường.
Nhiều chuyên gia dinh dưỡng còn lên tiếng rằng một số bộ phận nội tạng động vật không chứa nhiều chất độc nhưng cũng gây ra nhiều nguy cơ rủi ro khác.
Ruột, nếu không được chế biến sạch và nấu chín (nấu trong thời gian dài), có thể mang theo nhiều loại vi khuẩn nguy hiểm, ký sinh và gây bệnh cho người.
Còn món ăn được chế biến từ não động vật cũng có thể liên quan đến việc truyền những bệnh hiếm, điển hình là bệnh bò điên ở người.
Trong số các loại cơ quan nội tạng, tim là bộ phận mang lại khá nhiều lợi ích sức khoẻ với rủi ro tương đối thấp (ngoài việc chứa nhiều cholesterol). Bạn có thể sử dụng tim như một loại thịt hoặc có thể xay và trộn cùng với thịt để chế biến món ăn.
Hầu hết nội tạng động vật đều an toàn nếu bạn sử dụng với tần suất thấp. Nhưng với những ai thường xuyên ăn gan, thận, lòng…. từ động vật, coi đó là món ăn hàng ngày thì nên cân nhắc về các nguy cơ sức khỏe.
Lưu ý khi ăn nội tạng động vật:
Những người bị bệnh tim mạch, tiểu đường, gout, béo phì nên hạn chế ăn vì nội tạng chứa nhiều cholesterol.
– Nên sơ chế sạch và nấu kỹ trước khi ăn
– Chọn các loại nội tạng đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng, uy tín.
* Theo FoxNews