Hiển thị bài đăng được sắp xếp theo ngày cho truy vấn Vương Xương Linh. Sắp xếp theo mức độ liên quan Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị bài đăng được sắp xếp theo ngày cho truy vấn Vương Xương Linh. Sắp xếp theo mức độ liên quan Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 16 tháng 8, 2025

Tạp Ghi và Phiếm Luận : Chữ TƯỚNG (Đỗ Chiêu Đức)

 Tạp Ghi và Phiếm Luận :

                      Chữ TƯỚNG  
          
                                                           

       Hai chữ TƯƠNG 相 là "với nhau" và TƯƠNG 將 là "Sắp, sẽ" theo phép Giả tá của "Chữ Nho... Dễ học" còn có thể đọc là TƯỚNG. Ta sẽ lần lượt tìm hiểu và phiếm về hai chữ TƯỚNG 相, 將 nầy nhé !

       TƯỚNG 相 là từ chỉ cái dáng vẻ, cái dung mạo bên ngoài của con người; nên ta có từ đầu tiên là TƯỚNG MẠO 相 貌. TƯỚNG là cái hình dáng mà ta trông thấy bằng mắt, nên các thầy Tướng Số lại bày ra các trò xem TƯỚNG của Tai, Mắt, Mũi, Miệng, gọi là NHĨ TƯỚNG 耳 相, NHỠN TƯỚNG 眼 相, TỊ TƯỚNG 鼻 相, KHẨU TƯỚNG 口 相 và gọi chung hình dáng của khuôn mặt là DIỆN TƯỚNG 面 相 hay là MẠO TƯỚNG 貌 相 như trong Tăng Quảng Hiền Văn có câu:

        凡 人 不 可 貌 相,    
Phàm nhân bất khả MẠO TƯỚNG,
       海 水 不 可 斗 量。    
Hải thủy bất khả đấu lượng.
        Có nghĩa :
              - Phàm con người thì không thể trông vào diện mạo (để phân biệt người đó là người tốt hay người xấu được), cũng như...
              - Nước biển thì không thể dùng đấu để đong đo được.
        Lòng người thâm hiểm khó lường, không thể "Trông mặt mà bắt hình dong" được, cũng như nước biển mênh mông làm sao có thể dùng đấu dùng thùng để đong đo cho hết được. 
 
       TƯỚNG là Tướng Mạo 相 貌 nên thầy xem tướng mạo gọi là Thầy Tướng Số. Trong Truyện Kiều cụ Nguyễn Du gọi là Thầy TƯỚNG SĨ 相 士, khi Thúy Kiều tâm tình với Kim Trọng trong ngày đầu tiên hẹn ước:

                    Nhớ từ năm hãy thơ ngây,
              Có người TƯỚNG SĨ đoán ngay một lời:
                   Anh hoa phát tiết ra ngoài,
               Nghìn thu bạc mệnh một đời tài hoa.

    ... và bản thân Thúy KIều cũng là một "Bà thầy Tướng Số" khi chỉ "liếc nhìn" Kim Trọng thôi thì đã đánh giá:
      Nàng rằng: “Trộm liếc DUNG QUANG,
  Chẳng sân Ngọc bội cũng phường Kim Môn.

       DUNG QUANG là Dung mạo 容 貌 và Quang Thái 光 彩, là cái vẻ sáng sủa bên ngoài của một con người. Thay vì nói Thúy Kiều thì phải nói là chính cụ Nguyễn Du mới là một thầy Tướng Sĩ đại tài. Ta hãy xem cụ chỉ chấm phá vài nét là con người nhân vật mà cụ định diễn tả hiện ra một cách rõ nét như ở trước mắt. Hình tượng ăn chơi của một gả đàn ông trung niên Mã Giám Sinh hiện ra dưới...
                      Quá niên trạc ngoại tứ tuần,
                  Mày râu nhẵn nhụi áo quần bảnh bao .
      
 Còn mụ Tú Bà thì...
                    Thoát trông nhờn nhợt màu da,
                    Ăn gì cao lớn đẫy đà làm sao !

       Đến tên Sở Khanh chuyên dùng ngoại hình thư sinh giả tạo để gạt gẫm các cô gái nhẹ dạ thì...
                    Một chàng vừa trạc thanh xuân,
                 Hình dong chải chuốt áo khăn dịu dàng.

        Kịp đến anh hùng Từ Hải thì...
                    Râu hùm hàm én mày ngài,
               Vai năm tấc rộng thân mười thước cao.
                    Đường đường một đấng anh hào,
               Côn quyền hơn sức, lược thao gồm tài !
               

                           Các nhân vật trong Truyện kiều

       TƯỚNG khi là Danh từ thì có nghĩa là TƯỚNG MẠO; còn khi là Động từ thì có nghĩa là "Xem Tướng" và không phải chỉ xem tướng cho người thôi, mà còn xem tướng cả cho ngựa nữa. Ta có thành ngữ BÁ LẠC TƯỚNG MÃ 伯 樂 相 馬 là "Ông Bá Lạc chuyên xem tướng cho ngựa" có xuất xứ như sau:
       Theo "Hàn Thi Ngọai Truyện" của Hàn Anh đời Hán 漢 代 韓 嬰《韓 詩 外 傳》: 
       Trong truyền thuyết dân gian, người chuyên chăn dắt và muôi dưỡng ngựa ở trên trời là Thiên tướng Bá Lạc 伯 樂. nên trong đời sống thường ngày, ai giỏi về xem tướng ngựa, biết được ngựa nào giỏi ngựạ nào dở thì đều được gọi là BÁ LẠC.
       Người được gọi là Bá Lạc đầu tiên tên là Tôn Dương 孫 陽, là người nước Sở thời Chiến Quốc. Ông được vua nước Sở phái đi các nước để tìm môt con Thiên lý mã, là ngựa tốt có thể ngày đi cả ngàn dặm đường. Ông đi qua rất nhiều nước, kể cả các nước Yên nước Triệu là nơi nổi tiếng với nhiều hiệp khách và ngựa tốt, đều không tìm thấy con thiên lý mã nào vừa ý cả. Một hôm, trên đường từ nước Tề trở về Sở, ông trông thấy một con ngựa ốm yếu đang ì ạch kéo một xe chở muối đi lên dốc một cách nặng nhọc. Theo thói quen quan tâm đến ngựa, Bá Lạc bước đến ngắm nhìn chú ngựa tội nghiệp nầy. Nào ngờ ngựa thấy ông bèn dựng đứng hai vó trước lên và hí to một tiếng như chào mừng. Nghe tiếng ngựa hí như tiếng chuông ngân và điệu bộ hùng dũng khi dựng hai vó lên, Bá Lạc nhận ra đây là một con thiên lý mã hiếm có chỉ vì không được chăm sóc đàng hoàng mà thôi. Ông bèn hỏi chủ nhân và ra giá cao để mua lại con ngựa gầy ốm nầy, rồi trực chỉ về thẳng nước Sở để giao lại ngựa cho Sở Vương. Nghe tiếng ngựa hí vang trước cổng, Sở Vương mừng rỡ chạy vội ra xem. Trông thấy chỉ là một chú ngựa gầy gò bình thường thì lại vô cùng thất vọng. Bá Lạc phải giải thích cho Sở Vương biết về tướng mạo và giọng hí của ngựa, đoạn ông tự nguyện phụ trách chăm sóc và nuôi dưỡng ngựa theo phương pháp riêng của mình. Chỉ hơn tháng sau là con ngựa đã trở nên cao lớn mạnh mẽ trông hùng dũng vô cùng. Sở Vương rất đẹp ý bèn thắng yên cương nhảy lên cưỡi thử. Con ngựa cất cao bốn vó phi như bay về phía trước. Sở Vương nghe hai bên tai gió nổi vù vù, cây cỏ hai bên đường như đang vùn vụt lùi về phía sau. Nhà vua vô cùng đẹp ý và con Thiên Lý Mã nầy về sau đã nhiều lần giúp Sở Vương bôn ba sa trường tranh phong cùng các chư hầu lập nên rất nhiều chiến công hiển hách.
      Trong bài "Tạp Thuyết" của Hàn Dũ, một trong Đường Tống Bát Đại Gia đời Đường 唐· 韓 愈《雜 說》có câu: "Trên đời có BÁ LẠC, nhiên hậu mới có Thiên Lý Mã. Thiên Lý Mã thì thường có được chứ Bá Lạc thì không thường có được đâu". Ý là: "Người tài thì có rất nhiều, nhưng cái người mà nhận biết được người tài thì chẳng có bao nhiêu!" 
                           

                 BÁ LẠC TƯỚNG MÃ 伯 樂 相 馬

       TƯỚNG 相 còn có nghĩa Lựa, Chọn. Đọc "Tam Quốc Chí" hay các Truyện Tàu do nhà xuất bản "Tín Đức Thư Xã" xuất bản bán đầy khắp Nam Kỳ Lục Tỉnh khoảng thập niên 50-60 của Thế kỷ trước; ta hay gặp câu nói sau đây :"良 禽 相 木 而 棲, 賢 臣 擇 主 而 事 Lương cầm TƯỚNG mộc nhi thê, hiền thần trạch chủ nhi sự" có nghĩa: "Chim khôn CHỌN cây lành mà đậu, Tôi hiền tìm chúa thánh mà thờ".

      TƯỚNG 相 còn có nghĩa là Giúp đỡ, Phò trợ.
 Trong《Tả Truyện.Tuyên Công Tam Niên 左 傳· 宣 公 三 年》có câu : CÁT NHÂN THIÊN TƯỚNG 吉 人 天 相. có nghĩa: Người hiền lành tốt bụng thì Trời sẽ phù hộ phò trợ cho người đó. Câu nói nầy thường dùng để khuyên những người gặp nạn hay bệnh tật hành hạ: "Cát nhân tự hữu Thiên Tướng, bạn rán tịnh dưỡng thì bệnh sẽ chóng qua khỏi thôi!"

      TƯỚNG PHU GIÁO TỬ 相 夫 教 子 là Phò trợ giúp đỡ cho chồng và nuôi dạy con cái. Có phải vì thế mà các bà vợ ngày xưa hay gọi các "Ông chồng" là TƯỚNG CÔNG  相 公 đó chăng. Tức là người mà mình phải luôn luôn phò trợ giúp đỡ.

                 

      Giúp đỡ phò trợ cho chồng thì gọi là TƯỚNG PHU 相 夫, còn giúp đỡ và phò trợ cho đất nước, quốc gia thì gọi là TƯỚNG QUỐC 相 國. Ngày xưa là hai người hai bên tả hữu giúp đỡ và phò trợ cho nhà vua, gọi là TẢ THỪA TƯỚNG 左 丞 相 và HỮU THỪA TƯỚNG 右 丞 相. Vậy Tả Thừa Tướng và Hữu Thừa Tướng ai có quyền hành lớn hơn ai ?
      Theo Chiến Quốc Sách, chức vụ THỪA TƯỚNG có từ năm thứ 2 đời Tần Vũ Vương . Lúc đầu là Sư Lý Tật 樗 里 疾 và Cam Mậu 甘 茂 làm Tả Hữu Thừa Tướng; Sau lại phong thêm chức TƯỚNG BANG 相 邦 cao hơn chức Thừa Tướng một chút, như TƯỚNG BANG Lã Bất Vi chẳng hạn. Nhưng khi Tần thống nhất đất nước rồi thì chỉ còn có Tả Hữu Thừa Tướng mà thôi. Trong đời Tần Hán thì Hữu Thừa Tướng cao hơn Tả Thừa Tướng, nhưng từ đời Ngụy Tấn về sau thì ngược lại. 
      Ngoài chức vụ Thừa Tướng ra, ta còn thường nghe chức TỂ TƯỚNG 宰 相. Thực ra, Tể Tướng không phải là CHỨC VỤ mà chỉ là một cách gọi những quan viên cao cấp đứng đầu trong triều đình (như các Bộ Trưởng hiện nay). Cho nên những quan lớn ngày xưa đều có thể gọi là TỂ TƯỚNG được cả. Như trong Truyện Kiều cụ Nguyễn Du đã gọi cha của Hoạn Thư là “TRỦNG TỂ” 冢 宰 có nghĩa là người đứng đầu trăm quan. Khi Khuyển Ưng bắt Thuý Kiều về giao nạp cho Hoạn Bà, nàng không biết là phủ đệ nhà ai, mà...
             Ngước trông toà rộng, dãy dài,
   “THIÊN QUAN TRỦNG TỂ”, có bài treo trên.
              Ban ngày, sáp thắp hai bên,
    Giữa giường thất bảo, ngồi trên một bà...

       Nhắc đến THỪA TƯỚNG thì mọi người nghĩ ngay đến Khổng Minh Gia Cát Lượng, mặc dù ông chỉ làm Thừa Tướng có hai đời vua nước Tây Thục mà thôi, nhưng có lẽ vì ngòi bút của La Quán Trung quá xuất sắc viết nên tác phẩm Tam Quốc Chí với kế hoạch "Tam phân thiên hạ" của ông, nên mọi người đời sau đều nhớ đến ông. Cả Thi Thánh Đỗ Phủ 杜 甫 cũng có bài ca ngợi THỤC TƯỚNG 蜀 相 rất hay như sau:
    
                 丞 相 祠 堂 何 處 尋。   
      THỪA TƯỚNG từ đường hà xứ tầm,
                 錦 官 城 外 柏 森 森。   
      Cẩm quan thành ngoại bách sâm sâm.
                 映 階 碧 草 自 春 色。   
     Ánh giai bích thảo tự xuân sắc,
                 隔 葉 黃 鸝 空 好 音。   
     Cách diệp hoàng li không hảo âm.
                 三 顧 頻 煩 天 下 計。   
    Tam cố tần phiền thiên hạ kế,
                 兩 朝 開 濟 老 臣 心。   
    Lưỡng triều khai tế lão thần tâm.
                 出 師 未 捷 身 先 死。   
    Xuất sư vị tiệp thân tiên tử,
                 長 使 英 雄 淚 滿 襟。  
    Trường sử anh hùng lệ mãn khâm !
        Có nghĩa :
           Từ đường THỪA TƯỚNG tìm đâu,
           Bên ngoài thành Cẩm rầu rầu cỏ cây.
           Sắc xuân thềm biếc mọc đầy,
          Oanh vàng khéo hót đâu đây vắng người. 
          Thảo Lư Tam Cố đâu rồi ?
          Hai triều hưng phế bề tôi hết lòng .
         Xuất sư hai lượt thân vong,
         Anh hùng lệ ướt cho lòng xót xa !
              


       Còn THỪA TƯỚNG đầu tiên nổi tiếng nhất của Việt Nam ta là ai ? Đó là...
       Thừa Tướng LỮ GIA 呂 嘉 (191–110 TCN), tên hiệu là Bảo Công 保 公, ông là Thừa Tướng của ba đời vua nhà Triệu nước Nam Việt, là người nắm chính trường nước Nam Việt những năm cuối và cuối cùng thất bại trước cuộc xâm lăng Nam Việt của nhà Hán. Ông mất ngày 25 tháng 3, các đời sau họ Lữ và họ Lã ở miền Bắc Việt Nam còn tổ chức làm giỗ Tổ vào ngày 25 tháng 3 âm lịch hằng năm.
      Tên của Lữ Gia cũng đã và đang được đặt cho một số đường phố tại Hà Nội, Thành phố Sài Gòn, một đường phố lớn ở trung tâm thành phố Nam Định và một con đường ở Đà Lạt, Lâm Đồng. Cư xá Lữ Gia Sài Gòn (Quận 11) Trước đây là Cư xá Sĩ Quan Quân Đội, hiện nay là một trong những cư xá lớn nhất và đông dân cư nhất tại TP.HCM, trường THCS Lữ Gia (Quận 11), Lữ Gia Plaza – nơi đặt trụ sở của phần lớn các công ty Internet lớn nhất tại Việt Nam. "Lữ Gia Plaza" (Quận 11) còn được xem như là "Silicon Valley thu nhỏ" của Việt Nam ta.

           

            Thừa Tướng LỮ GIA 呂嘉 (191–110 TCN)
 
       THỪA TƯỚNG là chức vụ dưới một người mà trên vạn người, vì quyền hành quá lớn nên còn được gọi là QUYỀN TƯỚNG 權 相; Nhất là những ông Thừa Tướng già từ đời trước còn giữ chức Thừa Tướng đến đời sau, nên được các "Vua con" mới lên ngôi gọi xưng tặng là TƯỚNG PHỤ 相 父 (kính trọng như Cha). Vì nắm trọn quyền hành nên Thừa Tướng cũng có tốt có xấu. Như :
       - Thừa Tướng tốt là Hiền Tướng 賢 相, Lương Tướng 良 相, Chính Tướng 正 相...
       - Thừa Tướng xấu là Gian Tướng 奸 相, Phản Tướng 反 相, Ác Tướng 惡 相...
         (Các từ trên cũng dùng để chỉ Tướng Mạo của con người nữa)

       Chức vụ tương đương với Thừa Tướng trong xã hội hiện nay là THỦ TƯỚNG. THỦ TƯỚNG là người đứng đầu nội các chính phủ của một nước. Vị Thủ Tướng đầu tiên của nước Việt Nam ta là Lệ Thần Trần Trọng Kim (1945). Ông là nhà Chính trị, nhà Văn hóa, nhà Sử học, Nho học... để đời với nhiều tác phẩm nổi tiếng như : Việt Nam Sử Lược, Việt Nam Văn phạm, Nho giáo...

           

                 Chính phủ Trần Trọng Kim 1945

       Sang qua chữ TƯỚNG 將 là Tướng Sĩ Tượng 將 仕 相 (đỏ) và Soái Sĩ Tượng 帥 士 象 (xanh). Ai biết đánh Tứ Sắc 四 色 (Bài bốn màu) và Cờ Tướng thì chắc chắn sẽ biết 7 mặt bài và quân cờ: TƯỚNG SĨ TƯỢNG, XE PHÁO NGỰA (車 炮 馬) và CHỐT (兵,卒). 
       TƯỚNG SOÁI 將 帥 là các Tướng lãnh được phong chức Nguyên soái, là người đứng đầu và chỉ huy quân đội. Còn TƯỚNG SĨ 將 士 nói chung là Tướng lãnh và Binh sĩ, là những người cùng nhau sát vai chiến đấu ngoài sa trường để cùng bảo vệ non sông đất nước, là những chàng trai hào hùng trong Chinh Phụ Ngâm Khúc của nữ sĩ Đoàn Thị Điểm, là...
                  ... Những người chinh chiến bấy lâu,
                      Nhẹ xem tính mệnh như màu cỏ cây... 

       Trong phép đánh cờ và đánh trận, ta có một câu ngạn ngữ rất hay là :
       棋 逢 敵 手,   Kỳ phùng địch thủ,
       將 遇 良 才。   Tướng ngộ lương tài.
         Có nghĩa :
                    Cờ gặp phải tay địch thủ, còn...
                    Tướng thì gặp phải người tài giỏi. 
Ý chỉ...
       Kẻ nửa cân, người tám lạng; ngang tài ngang sức với nhau, không ai hơn ai kém cả !    

       Người đánh cờ được gọi là Kỳ Thủ; đánh cờ giỏi thì được gọi là Kỳ Vương . Còn Tướng đánh trận thì được gọi là TƯỚNG QUÂN 將 軍, tướng đánh trận giỏi thì gọi là MÃNH TƯỚNG 猛 將, DŨNG TƯỚNG 勇 將, HỔ TƯỚNG 虎 將, PHI TƯỚNG 飛 將... Phi Tướng là Tướng Quân giỏi xông xáo ngoài sa trường như mây bay gió cuốn, là danh xưng của DANH TƯỚNG 名 將 :
        LÝ QUẢNG (187-119 TCN) người đất Lũng Tây, võ tướng đời Tây Hán . Cả đời ông trấn thủ biên cương, đánh với Hung Nô trên 40 năm, trên dưới 70 trận, người Hung Nô sợ sự anh dũng của ông, nên xưng tụng là PHI TƯỚNG QUÂN 飛 將 軍. Trong bài tứ tuyệt "Xuất Tái" của Vương Xương Linh nổi tiếng với 2 câu cuối là:
                  但 使 龍 城 飛 將 在,    
       Đản sử Long thành PHI TƯỚNG tại,
                  不 教 胡 馬 度 陰 山.     
      Bất giáo Hồ mã độ Âm san !
        Có nghĩa :
               - Chỉ cần có Phi Tướng Quân trấn thủ tại Long thành, thì...
               - Không bao giờ ngựa của Rợ Hồ qua khỏi được núi Âm Sơn cả !

                     Long thành PHI TƯỚNG hãy còn,
                    Rợ Hồ chớ tưởng vượt miền Âm Sơn .
                    

                    PHI TƯỚNG QUÂN   LÝ QUẢNG 

       Tướng giỏi thời Tam Quốc còn có Quan Vân Trường (Quan Công) với tích: "Quan Công phò nhị tẩu" và "Qúa Ngũ Quan Trảm Lục Tướng" là "Phò tá hai chị dâu là vợ của Lưu Bị đi qua năm cửa ải và chém chết sáu tướng của Tào Tháo, khiến cho mọi người đều phải khâm phục.

       Trai thì gọi là Tướng Quân 將 軍, là Hùng Tướng 雄 將; Còn nữ mà giỏi đánh trận cũng được gọi là Nữ Tướng Quân 女 將 軍. Những NỮ TƯỚNG 女 將 nổi tiếng trong văn học Trung Hoa như Hoa Mộc Lan, Tôn Phu Nhân, Lương Hồng Ngọc... của Việt Nam ta như Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Bùi Thị Xuân...đều là những Cân Quắc Anh Thư 巾 幗 英 雌.

       Ta có các thành ngữ chỉ về đường binh nghiệp của các ông TƯỚNG ngày xưa như : 
        - Điều binh Khiển Tướng 調 兵 遣 將 là Điều động các tướng đánh trận và binh lính. 
        - Tướng Dũng Binh Hùng 將 勇 兵 雄. Ta nói là Binh hùng Tướng mạnh.
        - Tinh Binh Cường Tướng 精 兵 強 將 là Lính thì tinh nhuệ, Tướng thì giỏi giang.
        - Đăng Đàn Bái Tướng 登 壇 拜 將. Lễ sắc phong cho các tướng soái sắp ra trận.
        - Trảm Tướng Đoạt Thành 斬 將 奪 城 là Chém tướng địch cướp thành trì .
        - Bái Tướng Phong Hầu 拜 將 封 侯. Khi thắng trận trở về được thăng quan tiến chức.
      Khi thua trận thì :
        - Tổn Binh Chiết Tướng 損 兵 折 將. Ta nói là Hao Binh Tổn Tướng 耗 兵 損 將.
        - Tàn Binh Bại Tướng 殘 兵 敗 將 Ta nói ngược lại là Tướng Bại Binh Tàn .
        - Binh Bại Tướng Vong 兵 敗 將 亡 là Lính thì thua, Tướng thì chết.

      Các ngạn ngữ về TƯỚNG mà ta thường nghe thấy nhất là :
        - Tướng Môn Vô Khuyển Tử 將 門 無 犬 子 có nghĩa: Trong cửa nhà tướng, không có con hèn như chó. Ý là : Con của nhà tướng thì cũng dũng mãnh như tướng vậy .
        - Cường Tướng Chi Hạ Vô Nhược Binh 強 將 之 下 無 弱 兵  có nghĩa : Dưới tay tướng mạnh không có binh yếu.  
        - Nhất Tướng Công Thành Vạn Cốt Khô 一 將 功 成 萬 骨 枯 có nghĩa: Một tướng thành công nên danh thì có cả vạn nắm xương khô rồi. Ý nói: Một người khi đã nổi tiếng là danh tướng thì đã có hàng vạn binh sĩ phải hy sinh để tạo nên tiếng tăm cho ông ta rồi. "Cái vinh quang của một người được tạo nên bằng cái chết của cả vạn người". Không đánh nhiều trận, không có hàng vạn binh sĩ phải hy sinh trong các trận đánh đó, thì làm sao nổi danh là tướng giỏi cho được!

                      

                Nhất Tướng Công Thành Vạn Cốt Khô

       Đó là ngày xưa, còn ngày nay đi lính mà muốn lên tới cấp Tướng là điều không tưởng, vì từ Binh nhì đến Thống Tướng phải trải qua gần 20 cấp. Chỉ riêng cấp Tướng thôi cũng đã có đến 5 bậc rồi: Chuẩn Tướng, Thiếu Tướng, Trung Tướng, Đại Tướng, và Thống Tướng. Riêng chế độ quân hàm của miền Bắc còn có thêm cấp Thượng Tướng nữa mới nhiêu khê đó chứ! Nói chung, bất cứ theo quy chế hệ thống của quân đội nào thì một sĩ quan muốn lên đến cấp tướng thì không phải là chuyện dễ dàng gì!
      Có một điều rất lý thú mà ít ai nghĩ đến, đó là học VĂN mà lên đến cấp Tướng là THỪA TƯỚNG 丞 相 hay THỦ TƯỚNG 首 相 (như hiện nay) thì sẽ có quyền lực cao hơn là học VÕ mà lên đến cấp Tướng là ĐẠI TƯỚNG 大 將 hay THỐNG TƯỚNG 統 將. Ông THỪA TƯỚNG (THỦ TƯỚNG) chỉ ở trong triều, ở trong văn phòng đưa ra quyết định (Hoà hay Chiến) thì ông ĐẠI TƯỚNG ngoài biên cương hay THỐNG TƯỚNG ở Bộ Tư Lệnh phải thi hành theo răm rắp mà thôi. Nên chi, các ông TƯỚNG 將 ngoài biên cương rất đố kỵ với các ông TƯỚNG 相 ở trong triều: Mình vất vả trãi gió dầm sương ngoài sa trường với cái sống chết cận kề mà phải chịu thua, phải nghe lời của những tên hủ Nho ăn ngon ngủ kỷ ở trong triều sao ?! Điều nầy đưa đến một thành ngữ TƯỚNG TƯỚNG BẤT HÒA 將 相 不 和. có nghĩa : Ông Tướng ngoài biên cương và ông Tướng ở trong triều luôn luôn bất hòa. Thành ngữ nầy có xuất xứ từ《Sử Ký. Liêm Pha Lạn Tương Như liệt truyện 史 記· 廉 颇 藺 相 如 列 傳》như sau:
        LIÊM PHA 廉 颇 là Đại Tướng kiệt xuất của nước Triệu. Năm Triêu Huệ Văn Vương thứ 16, ông đã đem binh đánh bại nước Tề, chiếm được đất Tấn Dương, uy danh lừng lẫy khắp chư hầu. Ông được phong là Tả Thượng Khanh, tương đương như chức Tả Thừa Tướng vậy.
        LẠN TƯƠNG NHƯ 藺 相 如 là môn khách của Hoạn quan Mục Hiền đã giúp vua Triệu giữ vững được thể diện trước vua Tần ở Hội nghị Mẫn Trì và nhất là đã giúp "Hoàn Bích Quy Triệu 完 璧歸 趙" là đem ngọc bích nguyên vẹn về cho vua Triệu, nên được phong làm Hữu Thượng Khanh, tương đương như chức Hữu Thừa Tướng vậy.
        Liêm Pha rất bất mãn vì mình là đại tướng đã nhiều phen sống chết ở sa trường mà chức vụ lại thấp hơn gả thư sinh chỉ biết sử dụng có ba tất lưỡi, nên dọa rằng sẽ làm nhục Lạn Tương Như trước mặt đồng liêu. Lạn Tương Như nghe thế nên luôn tìm cách tránh mặt Liêm Pha. Một hôm khi kiệu của ông đang đi trên đường phố Hàm Đan, bỗng gặp phải xe ngựa của Liêm Pha từ đầu kia đi đến, ông bèn ra lệnh cho các Kiệu phu tránh vào trong hẽm, đợi xe ngựa của Liêm Pha qua khỏi rồi mới ra đường lớn về nhà. Các môn khách của ông rất bất mãn mà nói với ông rằng: "Chúng tôi theo phò tá ông là vì thấy ông là người dũng cảm và có đạo đức tốt, nay ông và Liêm Pha chức vụ tương đương nhau mà ông ta chỉ dọa một câu là ông đã sợ đến nỗi không dám đối diện, thế thì chúng tôi còn trông mong gì vào ông nữa. Xin cho cáo biệt". Lạn Tương Như ngăn lại hỏi rằng: "Liêm Pha với Tần Vương ai đáng sợ hơn ai?" Môn khách đáp: "Dĩ nhiên là Tần Vương đáng sợ hơn". Lạn Tương Như bèn nói rằng: "Tần Vương uy vũ là thế, nhưng trước mặt vua Tần và các quần thần tôi cũng đã dám quắt mắt lớn tiếng khiển trách và giữ vững ngọc bích mang về cho Triệu vương. Lạn Tương Như tôi mặc dù tài mọn, nhưng há lại sợ gì Liêm Pha tướng quân hay sao? Chẳng qua, tôi nghĩ rằng: Nước Tần sở dĩ úy kỵ nước Triệu ta là vì có tôi và Liêm Pha tướng quân, một văn một võ cùng nhau phò trợ, nếu nay văn võ bất hòa, xào xáo chống chọi lẫn nhau, không chung lòng giữ nước, há chẳng là dịp tốt cho nước Tần dòm ngó để xâm lấn hay sao?!" Các môn khách nghe thế đều bái phục cho sự biết nhường nhịn vì đại cuộc của Lạn Tương Như. 
      Tin đưa đến tai Liêm Pha. Liêm Pha bèn cởi áo đưa lưng ra, rồi vác một cái cây đầy gai góc trên lưng, nhờ người đưa đến quỳ trước cửa nhà Lạn Tương Như mà xin lỗi rằng: "Tôi là người thô lổ, xin Tướng quốc rộng lượng mà bỏ qua cho". Từ đó về sau, hai người thân thiết nhau như là một cặp sinh tử chi giao, và nước Tần nghe tin, càng không dám có ý đồ gì với nước Triệu nữa cả! 
         Và ta lại có một thành ngữ mới chỉ có 3 chữ mà thôi "TƯỚNG TƯỚNG HÒA 將 相 和" là "TƯỚNG QUỐC và TƯỚNG QUÂN; THỦ TƯỚNG và ĐẠI TƯỚNG hòa thuận nhau" Ý chỉ : Hai thành phần nồng cốt của một đoàn thể, một tổ chức biết hòa hợp nhau thì sẽ cho ra sức mạnh vô địch. 
         
            

          TƯỚNG TƯỚNG HÒA 將 相 和       
                       
       Cuối cùng, ta thường thấy trong văn học cổ gọi những người thành đạt trong quan trường là Công, Hầu, Khanh, Tướng. TƯỚNG ở đây chỉ cả Thừa Tướng và Tướng Quân. Nói chung là chỉ những người thành đạt, cao sang quyền quý. Trong Tăng Quảng Hiền Văn có một câu nói rất hay là :
                將 相 胸 前 堪 走 馬,   
     TƯỚNG TƯỚNG hung tiền kham tẩu mã,
                公 侯 肚 裡 好 撐 船。    
    Công hầu đổ lý hảo sanh thuyền !
     Có nghĩa :
        - Trước lồng ngực của TƯỚNG QUÂN và THỪA TƯỚNG có thể chạy ngựa được.
        - Trong bụng dạ của Công Hầu có thể chống thuyền đi được ở trong đó.
      Ý muốn nói :
          Những người thành đạt như Công, Hầu, Khanh, Tướng thì nên có bụng dạ rộng rãi: Lồng ngực (Hung 胸) rộng đến có thể cưởi ngựa chạy trong đó được; và bụng dạ (Đổ 肚) rộng đến có thể chống xuồng đi trong đó được. Tức là muốn khuyên đã thành đạt rồi thì nên có lòng khoan dung rộng rãi của một kẻ cả; Xí xóa tha thứ mọi lỗi lầm không cần thiết của những người chung quanh. Trong cuộc sống thường ngày cũng vậy, ta luôn luôn phải biết:

   責 人 之 心 責 己 Trách nhân chi tâm trách kỷ,
   恕 己 之 心 恕 人。    Thứ kỷ chi tâm thứ nhân.
       Có nghĩa :
              - Lấy cái lòng mình trách người ta để trách mình, và...
              - Lấy cái lòng mình tha thứ mình để tha thứ cho người khác !
      


       Mong rằng tất cả mọi người đều sống với lòng vị tha hỉ xả, mặc dù chúng ta chỉ là những người bình thường chớ không phải là Công, Hầu, Khanh, Tướng gì cả !
       Mong lắm thay !
                                                                                                                      杜 紹 德                                                                                                            Đỗ Chiêu Đức
Mời Xem :

Chủ Nhật, 3 tháng 8, 2025

Tạp Ghi và Phiếm Luận : Chữ TƯƠNG (Đỗ Chiêu Đức)

 Tạp Ghi và Phiếm Luận : 

                                   Chữ TƯƠNG
   
               
                      

       Nói đến chữ TƯƠNG là người ta nghĩ ngay đến TƯƠNG TƯ 相 思 là Nhớ nhau; và hễ nói đến TƯƠNG TƯ là người ta cũng nghĩ ngay đến trai gái hai bên thương yêu và nhớ nhau đến sinh bệnh, gọi là BỆNH TƯƠNG TƯ, là một cái bệnh trầm kha, nên thơ, đáng yêu, và dai dẳng đến không có một lương y nào có thể chửa khỏi được cả! Nhưng nếu chỉ có một bên thương nhớ phía bên kia; Nam thương nhớ nữ hay nữ thương nhớ nam thì là ĐƠN TƯ 單 思, chớ không thể nói là TƯƠNG TƯ được. Vì Theo "Chữ Nho... Dễ Học" TƯƠNG 相 có nghĩa là "Nhau", như : Tương Thân, là Thân nhau; Tương Ái là Yêu nhau; Tương Tư là Nhớ nhau... nên phải cả hai bên cùng thương yêu tưởng nhớ đến nhau thì mới gọi là TƯƠNG TƯ được ! Nhưng trong "Tập quán Ngôn ngữ" theo thói quen sử dụng hằng ngày mà mọi người đều chấp nhận; Hễ thương nhớ ai thì đều có thể nói là TƯƠNG TƯ người đó được cả, như : 
          - Hắn đang "Tương Tư" nàng nào đó.      
          - Bộ mày đang "Tương Tư" ai hả ?
          - Chàng ta đã "Tương Tư" cô ả đó rồi ! 

      Không phải chỉ có giới bình dân, mà cả trong văn chương thơ phú cũng đã quen dùng từ TƯƠNG TƯ để chỉ sự nhớ nhung đến người mình yêu dấu, như thi sĩ nổi tiếng thời Tiền chiến Nguyễn Bính đã viết:
                       Thôn đoài ngồi nhớ thôn đông,
                Một người chín nhớ mười mong một người.
                         Gió mưa là bệnh của Trời,
                  TƯƠNG TƯ là bệnh của tôi yêu nàng !
                      


     ... và thi sĩ Xuân Diệu với hai câu thơ toàn thanh bằng trong bài thơ Nhị Hồ là:
                   Sương ngưng theo trăng ngừng lưng trời,
                       TƯƠNG TƯ nâng hồn lên chơi vơi !...
                   
       Ngay cả trong văn học cổ, trong Đường Thi cũng thế. Dưới đây là bốn câu thơ trong bài "Trường Tương Tư" của Thi Tiên Lý Thái Bạch :

           ...香 亦 竟 不 滅, ...Hương diệc cánh bất diệt,
              人 亦 竟 不 来。    Nhân diệc cánh bất lai.
              相 思 黄 葉 落,    Tương Tư hoàng diệp lạc,
              白 露 點 青 苔。    Bạch lộ điểm thanh đài !
        Có nghĩa :
                ... Mùi hương chẳng dứt mãi còn,
                    Người đi biền biệt mỏi mòn ngóng trông.
                    Tương Tư lá rụng đầy sân,
                    Sương đêm nhẹ điểm trắng ngần rêu xanh !

     ... và hai câu rất hay trong bài "Thu Phong Từ" cũng của Thi Tiên Lý Bạch là:

    相 思 相 見 知 何 日,   Tương Tư Tương Kiến tri hà nhật,
    此 時 此 夜 難 為 情。   Thử thời thử dạ nan vi tình.
         Có nghĩa : 
                       Nhớ nhau, gặp nhau biết ngày nào
                       Đêm nay là lúc nao nao hàm tình !... 
                     
            
       Ở cuối truyện Thần Điêu Hiệp Lữ của Kim Dung, người đọc thấy tội nghiệp cho Quách Tương nữ hiệp nhìn theo bóng dáng của Thần Điêu Đại Hiệp Dương Quá và Tiểu Long Nữ đi xuống núi Hoa Sơn trong cảnh lá thu rơi rụng rạt rào mà nước mắt lưng tròng và miệng thì lẫm nhẫm ngâm câu: "Tương Tư Tương Kiến tri hà nhật... 

       TƯƠNG TƯ 相 思 là Nhớ đến nhau; TƯƠNG KIẾN 相 見 là Thấy nhau, là Gặp nhau. TƯƠNG VẤN 相 問 là Hỏi thăm nhau, như hai câu thơ rất nổi tiếng trong bài "Phù Dung Lâu Tống Tân Tiệm" của Vươg Xương Linh:
          洛 陽 親 友 如 相 問,   
Lạc Dương thân hữu như TƯƠNG VẤN,
         一 片 冰 心 在 玉 壺.    
Nhất phiến băng tâm tại ngọc hồ.
          Có nghĩa :
                        Thân hữu Lạc Dương như có hỏi,
                        Bình ngọc tuyết băng một tấm lòng.

       Thi vị hơn nữa là nhóm từ TƯƠNG ÁNH HỒNG 相 映 紅, chỉ hoa đào và mặt của người đẹp như cùng soi rọi nhau và cùng hồng lên một cách đáng yêu trong vườn hoa đào, như trong bài "Đề Đô Thành Nam Trang" của chàng Thôi Hộ :

  去 年 今 日 此 門 中,  Khứ niên kim nhật thử môn trung,
  人 面 桃 花 相 映 红。  Nhân diện đào hoa tương ánh hồng.
  人 面 不 知 何 處 去,  Nhân diện bất tri hà xứ khứ ?
  桃 花 依 舊 笑 東 風。  Đào hoa y cựu tiếu đông phong.
        Có nghĩa :
                        Năm ngoái hôm nay cũng cửa này,
                        Mặt người hoa đẹp má hây hây,
                        Mặt người nay biết về đâu nhỉ ?
                        Như trước hoa đào vẫn nở đây !

       Trong Truyện Kiều, sau khi hộ tang chú ở Liêu Dương, Kim Trọng trở lại vườn Thúy tìm Kiều, thì "Nhìn phong cảnh cũ nay đà khác xưa"... và...             
                    Trước sau nào thấy mặt người,
                 Hoa Đào Năm Ngoái còn cười gió đông.

     
                      (Bấm vào link dưới đây để nghe nhạc)
                          https://www.youtube.com/watch?v=w78w4zdI4VY

       TƯƠNG NGỘ 相 遇 là Gặp nhau; TƯƠNG KIẾN 相 見 là Thấy nhau, TƯƠNG THỨC 相 識 là Quen biết nhau, nên BẤT TƯƠNG THỨC 不 相 識 là không quen biết nhau, như trong bài "Hồi Hương Ngẫu Thư" của Hạ Tri Chương, một trong Ẩm Trung Bát Tiên, là các bạn rượu của Thi Tiên Lý Bạch:

      少 小 離 家 老 大 回,   Thiếu tiểu ly gia lão đại hồi,
      鄉 音 無 改 鬢 毛 衰。   Hương âm vô cải mấn mao suy.
      兒 童 相 見 不 相 識, Nhi đồng Tương Kiến bất Tương Thức
      笑 問 客 從 何 處 來?    Tiếu vấn khách tòng hà xứ lai ?
       Có nghĩa :
                    Trẻ nhỏ xa nhà, già trở lại,
                    Giọng quê còn đó, tóc như mây.
                    Nhi đồng gặp gỡ không quen biết,
                    Cười hỏi nơi nào khách đến đây ?

        TƯƠNG TRI 相 知 là Hiểu nhau, là biết rõ lòng dạ của nhau một cách sâu sắc; như Thúy Kiều và Kim Trọng hiểu rõ lòng dạ của nhau mà "Đem tình cầm sắc đổi ra cầm kỳ" khi "Kim Kiều tái họp" vậy: 
                            Mấy lời tâm phúc ruột rà, 
                   TƯƠNG TRI dường ấy mới là TƯƠNG TRI.
                           Chở che đùm bọc thiếu gì...
                    Trăm năm danh tiết cũng vì đêm nay !

       TƯƠNG PHÙNG là gặp gỡ nhau. Nhớ hồi nhỏ, hay nghe bà con lối xóm nói... Nho chơi với nhau là: 
                  Hữu duyên thiên lý... ăn Tương Hột,
                  Vô duyên đối diện... bát Tương Tàu !
       Đến khi đi học chữ Nho với ông Thầy Thừng ở trong chùa rồi, mới biết đó là hai câu:
                 有 緣 千 里 能 相 遇,  
      Hữu duyên thiên lý năng TƯƠNG NGỘ,
                 無 緣 對 面 不 相 逢。  
      Vô duyên đối diện bất TƯƠNG PHÙNG !
    Có nghĩa :
         - Nếu có duyên thì ngàn dặm cũng đưa đẩy để gặp nhau được, còn nếu...
         - Không có duyên với nhau thì dù cho có ở ngang mặt nhau vẫn không thể gặp gỡ nhau được.
                       Có duyên, ngàn dặm gặp nhau,
                  Không duyên, đối diện khó chào nhau luôn !

      Năm Thiên Bảo thứ 8 đời Đường Huyển Tông, thi nhân Sầm Tham 岑 参 phụng chỉ ra miền Tây vực để làm Mạc phủ cho Tiết Độ Sứ Tây An. Trên đường ra ải Dương Quan để đến vùng biên tái, tình cờ gặp được sứ giả hồi kinh là bạn đồng liêu. Nỗi mừng biết lấy chi cân, bèn làm bài thơ tứ tuyệt 逢 入 京 使 PHÙNG NHẬP KINH SỨ (Gặp sứ giả trở về Kinh sư) sau đây để gởi về thăm gia đình:
              
     故 園 東 望 路 漫 漫,   Cố viên đông vọng lộ man man,
     雙 袖 龍 鐘 淚 不 乾。   Song tụ long chung lệ bất can.  
     馬 上 相 逢 無 紙 筆,   Mã thượng tương phùng vô chỉ bút,
     憑 君 傳 語 報 平 安.    Bằng quân truyền ngữ báo bình an !
     Có nghĩa :
                   Vườn xưa diệu dợi mỏi mòn trông,
                   Lụm cụm khôn ngăn lệ nhỏ ròng.
                   Trên ngựa gặp nhau không giấy viết,
                  "Bình an" nhờ báo kẻo nhà mong !

       Mã Thượng Tương Phùng 馬 上 相 逢 là gặp nhau trên lưng ngựa, nên không có giấy viết gì cả, chỉ nhờ bạn báo lại cho người nhà biết là mình vẫn "Bình An" mà thôi!
                       
                    

                  逢 入 京 使 PHÙNG NHẬP KINH SỨ

       Trên đây là những chữ TƯƠNG vui buồn lẫn lộn, nhưng lại đầy thi vị với tình người một cách nên thơ. Còn có những chữ TƯƠNG lạnh lùng sắt máu... như Huynh đệ TƯƠNG HẠI 兄 弟相 害 (Anh em hại nhau), Cốt nhục TƯƠNG TÀN 骨 肉 相 殘 (Ruột thịt mà tàn sát lẫn nhau)... Như anh em của Tào Phi và Tào Thực con của Tào Tháo...
         Sau khi lên ngôi là Ngụy Văn Đế, nhưng vẫn còn ganh tài của người em, Tào Phi mới nói với Tào Thực rằng: "Ai cũng bảo là văn tài của nhà ngươi giỏi hơn ta, vậy ta hạn cho ngươi trong vòng bảy bước phải làm xong một bài thơ, nếu không được, sẽ trị tôị khi quân. Tào Thực xin đề, thì Tào Phi bảo là: Nói về Anh Em mà không được dùng từ anh em trong bài thơ. Đoạn bắt đầu bước đi và đếm, khi vừa đúng 7 bước thì Tào Thực cũng vừa cất tiếng ngâm :

              煮 豆 燃 豆 萁,      Chữ đậu nhiên đậu cơ,
              豆 在 釜 中 泣.      Đậu tại phủ trung khấp.
              本 是 同 根 生,    Bổn thị đồng căn sanh,
              相 煎 何 太 急 ?!   TƯƠNG TIỄN hà thái cấp ?!
Có nghĩa :
        - Lấy vỏ đậu làm củi để nấu đậu. Nên ...
        - Đậu mới than khóc ở trong nồi. Rằng...
        - Vốn dĩ chúng ta cùng chung một gốc rễ sinh ra.
        - Đốt nấu lẫn nhau (TƯƠNG TIỄN), sao mà nhẫn tâm làm vậy ? !
                          Củi đậu đem nấu đậu,
                          Đậu than khóc trong nồi,
                          Cũng cùng chung một gốc,
                          Nấu nhau đành hỡi ôi !

       Tào Phi nghe xong bài thơ, rất xúc động, từ đó về sau, không còn có ý muốn giết hại em mình nữa!

                                     
                 Bài thơ 7 bước ( Thất bộ Thi 七步詩 ) của Tào Thực

       Tương tự, trong văn học sử Việt Nam ta cũng có câu truyện như sau :
       Dưới thời Tự Đức, Nguyễn Phúc Hồng Bảo 阮 福 洪 保 (1825-1854), hay Hường Bảo; là con trưởng vua Thiệu Trị, nhưng không được truyền ngôi. Sau hai lần mưu sự (1851 và 1854) để giành lại ngôi vị không thành, ông bị giam và chết thảm trong ngục. Người đương thời cho là vua Tự Đức có ý giết anh để trừ hậu hoạn. Sau đó, nhân một buổi ngự thiện với quần thần, Tự Đức đang dùng cơm vô ý cắn phải lưỡi, bèn nổi hứng lấy đầu đề "Răng cắn Lưỡi" ra cho đình thần làm thơ, nhưng trong thơ không được dùng chữ "Răng" chữ "Lưỡi". Nguyễn Hàm Ninh 阮 咸 寧 ( 1808-1867) là một danh sĩ trong lịch sử Văn học Việt Nam thời nhà Nguyễn, dâng lên một bài tứ tuyệt như sau:

   Sinh ngã chi sơ, nhĩ vị sinh,              生 我 之 初 爾 未 生,
   Nhĩ sinh chi hậu, ngã vi huynh.        爾 生 之 後 我 為 兄。
   Như kim cộng hưởng trân cam vị,    如 今 共 享 珍 甘 味,
   Hà nhẫn TƯƠNG THƯƠNG cốt nhục tình? 何 忍 相 傷 骨 肉                                                                                   情?
      Có nghĩa :
                     "Lưỡi nói với Răng" rằng : 

                        Khi ta sinh ra mi chưa sinh,
                        Mi sinh sau ta, ta là huynh.
                        Nay cùng chung hưởng đồ ngon ngọt,
                        Sao nở tổn thương cốt nhục tình ?! 

       "Hà nhẫn TƯƠNG THƯƠNG 相 傷 cốt nhục tình ?" Có nghĩa: "Sao nở nhẫn tâm làm Tổn Thương tình cốt nhục làm vậy?". Vua Tự Đức xem thơ xong, khen hay, thưởng cho mỗi câu một lạng vàng vì lời thơ qúa hay, nhưng lại phạt mỗi câu một roi vì ý thơ có ẩn ý xỏ xiên phạm thượng (Không chém đầu là may lắm rồi !).
 
                            
       Vua Tự Đức và Bia mộ của danh sĩ Nguyễn Hàm Ninh

       Ngoài các từ TƯƠNG trên đây, trong cuộc sống hằng ngày ta còn thường gặp  các từ TƯƠNG có nghĩa :
       * Giống nhau như : TƯƠNG ĐỒNG 相 同 (như nhau), TƯƠNG ĐƯƠNG 相 當 (ngang nhau), TƯƠNG TỰ 相似 (giống nhau)...       
       * Khác nhau như : TƯƠNG PHẢN 相 反 (ngược nhau), TƯƠNG SAI 相 差 ( Xê xích nhau), TƯƠNG DỊ 相 異 (khác biệt nhau)...
       * Bằng nhau như : TƯƠNG ĐẲNG 相 等 (ngang bằng nhau), TƯƠNG ĐỐI 相 對 (ngang ngửa nhau), TƯƠNG TỈ 相 比 (so sánh nhau)...

       TƯƠNG TRUYỀN 相 傳 là những điều được truyền tụng nhau trong dân gian. Và nếu chữ TƯƠNG 相 được chấm thêm 3 chấm Thủy 氵thành 湘 thì sẽ là giòng TƯƠNG GIANG 湘 江 (sông Tương) nổi tiếng trong văn học với các câu :

                 君 在 湘 江 頭,   Quân tại Tương Giang đầu,
                 妾 在 湘 江 尾。   Thiếp tại Tương Giang vĩ.
                 相 思 不 相 見,   Tương tư bất tương kiến,
                 同 飲 湘 江 水。   Đồng ẩm Tương giang thủy.
       Có nghĩa :
                  Chàng ở đầu sông Tương,
                  Thiếp ở cuối sông Tương.
                  Cùng nhớ nhau mà cùng chẳng gặp được nhau, mặc dù...
                  Hai ta cùng uống chung một dòng nước của sông Tương.
       Diễn Nôm :
                     Đầu sông Tương ngẩn ngơ chàng đợi,
                     Cuối sông Tương mòn mỏi thiếp trông.
                     Nhớ nhau lòng ngẩn ngơ lòng,
                     Đều cùng uống nước bên dòng sông Tương...

       Đi vào văn học cổ Việt Nam ta thì SÔNG TƯƠNG là biểu tượng của một dòng sông thương nhớ nhau, chớ không phải là một dòng sông có thật. Như khi đã cùng nhau hẹn ước, nhưng lại không có dịp để gặp gỡ nhau, cụ Nguyễn Du đã diễn tả tình trạng thương nhớ nhau của Kim Kiều như sau:
                    SÔNG TƯƠNG một dãi nông sờ,
                 Bên trông đầu nọ bên chờ cuối kia.
          
      

    ... Và SÔNG TƯƠNG lại đi vào dòng tân nhạc thời Tiền Chiến với ca khúc nhớ thương lãng mạn bất hủ "AI VỀ SÔNG TƯƠNG" rất nổi tiếng của nhạc sĩ Thông Đạt (Văn Giảng) với lời ca trữ tình gợi cảm:

                    Ai có về bên bến SÔNG TƯƠNG...
                    Nhắn người duyên dáng tôi thương...
                    Bao ngày ôm mối tơ vương...
                     (Bấm vào link dưới đây để nghe nhạc) :
              https://www.youtube.com/watch?v=IwfFZh0FEZM

       Trên đây là TƯƠNG trong văn chương âm nhạc, còn trong dân gian thì TƯƠNG là TƯƠNG CHAO. TƯƠNG 醬 là món ăn bình dân được làm và ủ bằng đậu nành, thành một chất sền sệt vừa mặn vừa ngon vừa rẻ, lại không có dầu mỡ nên những người ăn chay ăn lạt đều thông dụng, và từ ĂN CHAY còn được gọi thế thân là ĂN TƯƠNG. "Hôm nay tôi ĂN TƯƠNG, có nghĩa là Hôm nay tôi ĂN CHAY đó !" Vì là món ăn mặn để ăn cơm, nên TƯƠNG không thể thiếu ở những bữa cơm nhà nghèo kèm với các loại dưa leo, rau lang, rau quế, rau muống... Nhớ năm xưa, lúc còn học lớp Đồng Ấu thầy giáo đã cho học một bài Học Thuộc Lòng (dường như là của nhà thơ Á Nam Trần Tuấn Khải ?!) như sau :   
      

                   Rau muống mọc ở hồ ao,
                   Tuy thân hèn mọn tự hào rằng hay.
                   Quanh năm cung phụng món nầy,
                   Cho nhà nghèo khó bữa rày bữa mai.
                   Nhà giàu thịt cá ăn hoài,
                   Nghèo thì rau muống cũng hai bữa thường.
                   Giàu thì mỹ vị cao lương,
                   Nghèo thì ra muống chấm TƯƠNG kém gì !?...

       Như trên đã nói TƯƠNG 醬 là chất lỏng sền sệt, khi là chất lỏng đậm đặc thì chữ TƯƠNG 漿 được đổi thành Bộ Thủy 水 bên dưới, nên QUỲNH TƯƠNG 瓊漿 là một loại chất lỏng đậm đặc có màu sắc lóng lánh như ngọc QUỲNH, và QUỲNH TƯƠNG TỬU 瓊 漿 酒  là một loại rượu được ủ bằng các loại trái cây lên men mà thành, là rượu "cóc-tai" (cocktail) nên vừa đậm đặc, vừa lóng lánh màu sắc, vừa thơm ngon... mà ngày xưa chỉ có các nhà quyền quý và thần tiên mới thường uống mà thôi. Như trong truyện "Bùi Hàng gặp Tiên với tích Lam Kiều" như sau:
                     
            

                 Thái Bình Quảng Ký 太 平 廣 記 và Bùi Hàng 裴 航

      Theo sách Thái Bình Quảng Ký 太 平 廣 記, quyển 50: Đời Đường Mục Tông (795-824), năm Trường Khánh có Tú tài Bùi Hàng 裴 航 lai kinh ứng thí, nhưng thi rớt. Buồn vì vô tích sự nên định đi du ngoạn Tương Dương một chuyến để giải khuây. Khi đến bến để thuê thuyền thì chỉ còn một khoang thuyền nhỏ, khoang chính của thuyền đã có một phu nhân thuê rồi. Mặc dù có rèm sáo che chắn, nhưng vì ở chung trên một chiếc thuyền, lúc lên xuống ra vào, khi gió động rèm châu, Bùi Hàng cũng lén ngắm nhìn dung nhan của vị phu nhân chung thuyền. Chàng chợt ngẩn người ra và mê mẫn trước sắc đẹp như tiên giáng thế của vị phu nhân mà ngày thường chỉ nghe tiếng nói thanh tao như ngọc của nàng qua bức rèm châu. Hỏi thăm thị nữ theo hầu thì được biết đó là Phàn Phu Nhân. Chàng bèn làm một bài thơ tỏ tình ái mộ của mình, rồi nhờ thị nữ chuyển đến cho phu nhân bài thơ sau đây :

  同 舟 胡 越 猶 懷 想,   Đồng chu Hồ Việt do hoài tưởng.
  況 遇 天 仙 隔 錦 屏。   Huống ngộ thiên tiên cách cẩm bình.
  倘 若 玉 京 朝 會 去,   Thảng nhược Ngọc kinh triều hội khứ,
  願 隨 鸞 鶴 入 青 雲。   Nguyện tùy loan hạc nhập thanh vân.
       Có nghĩa :
                Cùng thuyền Hồ Việt cũng thương nhau,
                Huống gặp người tiên cách sáo rào.
                Nếu đó Ngọc Kinh về phó hội,
                Nguyện cùng chắp cánh vút trời cao !

       Phàn phu nhân xem xong mỉm cười nói thầm: Rõ khéo đa tình, rất tiếc ta không phải là đối tượng của chàng! Bèn lấy ra một mảnh hoa tiên, cất bút đề thơ hồi âm:

                一 飲 瓊 漿 百 感 生,   
      Nhất ẩm QUỲNH TƯƠNG bách cảm sanh,
                玄 霜 搗 盡 見 雲 英。   
      Huyền sương đão tận kiến Vân Anh.
                藍 橋 便 是 神 仙 窟,  
      Lam Kiều tiện thị thần tiên quật.
                何 必 崎 嶇 上 玉 京?   
     Hà tất khi khu thướng Ngọc Kinh ?
       Có nghĩa :
                  Một chén QUỲNH TƯƠNG trăm cảm sanh,
                  Chày sương giã thuốc gặp Vân Anh.
                  Lam Kiều chốn ấy thần tiên ngụ,
                  Sao phải gập ghềnh đến Ngọc Kinh ?!

        Bùi Hàng đọc thơ mà không hiểu ngụ ý của Phu nhân muốn nói chi. Huyền sương là cái gì và Vân Anh là ai, sao lại ở trong thần tiên quật (hang động của thần tiên). Chàng cứ ngẩn ngơ suy nghĩ mãi không hiểu nàng muốn ám chỉ việc gì. Chừng định hồn lại thì phu nhân và thị nữ đã lên bờ đi mất. Dò la mãi cũng không biết được mãi mai tin tức gì. Buồn lòng, chàng bèn quay trở lại Trường an định chờ khoa thi tới. Khi về đến Lam Kiều Dịch, xa xa trông thấy có mấy mái nhà tranh thật nên thơ, sẵn đang khát nước chàng bèn ghé lại xin chén nước uống. Sau khi hỏi xin bà lão đang ngồi quay tơ trứơc cửa, thì bà lão gọi vói vào trong nhà : "Vân Anh, bưng nước ra mời khách !". Bùi Hàng ngẩn người ra nhớ lại bài thơ của Phàn phu nhân có nhắc đến Vân Anh. Chàng hồi hộp nhìn vào bên trong bình phong, quả nhiên một người con gái khoảng mười lăm mười sáu tuổi đẹp như tiên nga bưng nước ra mời khách. Chàng uống cạn ly nước mát ngọt lịm tận tim gan. Tuy nàng đã lui vào bên trong mà hương thừa vẫn còn phảng phất đâu đây. Chàng lấy cớ là đi đường người mệt ngựa mỏi mà nấn ná xin ở lại nghỉ ngơi.
       Sau khi làm quen và trao đổi hàn huyên với bà lão, Bùi Hàng mới khẩn khoản ngỏ ý muốn hỏi cưới Vân Anh, thì bà lão bảo rằng: " Đó là cháu gái của lão, bà cháu sống nương tựa lẫn nhau, nếu muốn cưới nó thì phải giúp lão giả xong thang thuốc Huyền Sương, vì là thuốc của tiên ban nên phải giả bằng chày ngọc cối ngọc. Nếu trong một trăm ngày mà chàng tìm được chày ngọc cối ngọc đến đây giả thuốc cho ta, thì ta sẽ gả nó cho chàng". Bùi Hàng vui mừng hớn hở từ biệt bà lão để ra đi tìm chày ngọc cối ngọc.
      Chàng lang thang suốt hơn hai tháng trường, bỏ cả khoa thi để quyết chí tìm chày cối ngọc. Nhưng vẫn biền biệt không tìm đâu ra cả. Buồn lòng và lo lắng, gặp ai cũng chỉ hỏi có chày ngọc cối ngọc mà thôi. Một hôm đang lang thang để hỏi thăm tin tức ở kinh thành, tình cờ gặp được người buôn ngọc cho chàng biết là có người đang rao bán chày cối ngọc, nhưng lại đòi đến hai ngàn lượng bạc. Chàng đành phải bán cả hành trang, cả ngựa và cả tên gia đồng theo hầu mới đổi được chày ngọc cối ngọc mang về Lam Kiều cho bà lão. Bà lại bảo chàng phải ở lại Lam Kiều để giã thuốc Huyền Sương cho đúng một trăm ngày nữa. 
  
        

                               Bùi Hàng dâng thuốc    
  
         Khi thuốc đã giã xong và khi bà lão đã uống xong thuốc, bèn dẫn Vân Anh ra đi và bảo chàng hãy nán đợi. Hôm sau, có đoàn ngựa xe từ đâu đến đón chàng đi đến một nơi mây mù vần vũ, lầu các nguy nga, tòa rộng dãy dài, tiêu thiều nhạc sáo vang vang, trúc tơ dìu dặc như tiên cảnh. Bà lão không còn nghèo nàn như trước mà hiện ra như một lão Phật gia trong cung tiên, cô dâu Vân Anh đẹp rực rỡ với "Hoa quan chấp chới hà y rỡ ràng" được thị tì hai bên đở ra để làm lễ tơ hồng. Bùi Hàng bàng hoàng ngây ngất, sung sướng đê mê bên cô dâu thơm phức và đẹp như … tiên !                   
       Sau khi cử hành hôn lễ, bà lão còn đưa hai vợ chồng đến ra mắt một tiên nương chị của cô dâu Vân Anh là Vân Kiều. Bùi Hàng mới giật mình nhận ra đây là Phàn phu nhân đi cùng thuyền với mình lúc trước. Thì ra Vân Kiều Phàn phu nhân đã báo trước mối duyên giã thuốc của mình với Vân Anh ở Lam Kiều rồi, mà trước đây mình đâu có biết. Sau những năm tháng sống vui vẻ bên nhau, vợ chồng Bùi Hàng cũng cùng tu và cùng đắc đạo thành tiên cả.
                      
                    
       Đây cũng là câu chuyện xung đột giữa đạo Nho và đạo Lão. Vì chuyện của Bùi Hàng mà một số Nho sinh bỏ Nho theo Lão để tu tiên, vừa có vợ đẹp vừa có cuộc sống thoải mái như… tiên. Không bị ràng buộc bởi công danh phiền toái mà còn phải biết a dua nịnh bợ với cấp trên và cũng chưa chắc đã được yên thân trong quan trường đầy hiễm họa.

       TƯƠNG 將 còn có nghĩa là Sẽ, là Sắp. Như TƯƠNG LAI 將來 là Sắp đến, Sẽ đến, thường dùng để chỉ thời gian và hoàn cảnh sắp diễn ra, có thể tốt có thể xấu, như:
         - TƯƠNG LAI xán lạn, rực rỡ...
         - TƯƠNG LAI đen tối, mờ mịt...
      Tùy theo ngữ cảnh, khi nói lên những "mơ ước về sau" thì TƯƠNG LAI tự nó đã có nghĩa là tốt rồi, vì đâu có ai mơ ước những chuyện xấu bao giờ, như lời cha mẹ khuyên con cái, thầy giáo khuyên học trò:
         - Rán học giỏi thì mới có TƯƠNG LAI.
         - Biếng nhác quá thì làm sao có TƯƠNG LAI cho được !

      TƯƠNG 將 là sắp, là Sẽ; Nên TƯƠNG YẾU 將 要 (Sẽ phải), TƯƠNG DỤC 將 欲 (Sắp muốn) là những từ dùng để nhấn mạnh thêm những sự việc sắp xảy ra mà thôi, như bài thơ "Tặng Uông Luân 贈 汪 倫" của Lý Bạch sau đây :

  李 白 乘 舟 將 欲 行,   Lý Bạch thừa chu TƯƠNG DỤC hành,
  忽 聞 岸 上 踏 歌 聲。   Hốt văn ngạn thượng đạp ca thanh.
  桃 花 潭 水 深 千 尺,   Đào hoa đàm thủy thâm thiên xích,
 不 及 汪 倫 送 我 情。   Bất cập Uông Luân tống ngã tình ! 
       Có nghĩa : 
                       Lên thuyền Lý Bạch toan rời,
                   Bỗng nghe trên bến tiếng người nhịp ca. 
                       Sâu ngàn thước, đầm Đào hoa,
                   Uông Luân tình bạn tiễn ta hơn nhiều !

      Nhắc đến Thi Tiên Lý Bạch thì không thể không nhắc đến bài TƯƠNG TIẾN TỬU  將 進 酒 nổi tiếng của ông. TƯƠNG 將 ở đây có nghĩa là Mời; TƯƠNG TIẾN TỬU có nghĩa là "Mời Uống Rượu; Mời Cạn Ly". Bài thơ bất hủ với những câu như:

   ... 會 須 一 飲 三 百 杯, Hội tu nhất ẩm tam bách bôi.
      và...
  ... 與 爾 同 銷 萬 古 愁! Dữ nhĩ đồng tiêu vạn cổ sầu !
      Có nghĩa :
                   Ba trăm ly uống hả hê...
               Mối sầu vạn cổ trả về thiên thu !...  
               


       TƯƠNG 將 còn có nghĩa là Đem, là Lấy ; như trong các thành ngữ TƯƠNG CÔNG THỤC TỘI 將 功 贖 罪 là "Lấy Công Chuộc Tội", TƯƠNG KẾ TỰU KẾ 將 計 就 計 là "Đem kế (của người ta) làm kế (của  mình) để đối phó lại với đối phương... Theo như tích trong "Tam Quốc Chí" sau đây:     
      Sau khi Tào Tháo lấy ít thắng nhiều ở trận chiến Quan Độ, bèn xua Tám mươi ba vạn quân với khí thế hừng hực tiến chiếm Kinh Châu và Đông Ngô. Hai bên dàn quân ở hai bên bờ Hạ Khẩu của sông Trường Giang. TƯỞNG CÁN 蔣 幹 tự là Tử Dực, một mưu sĩ dưới trướng của Tào Tháo, xin với Tháo cho mình qua sông làm thuyết khách để chiêu hàng Chu Du vì mình là bạn đồng song với Chu Du thuở trước. Chu Du là Đô đốc của Đông Ngô đang lo lắng vì sau khi Tào Tháo chiếm Kinh Châu thì 2 tướng Thủy quân Đề Đốc là Thái Mạo và Trương Doãn đã đầu hàng Tào Tháo và hiện đang giúp Tào Tháo chấn chỉnh thao luyện thủy binh. Chu Du nghe tin Tưởng Cán đến bèn cùng các tướng bàn bạc, TƯƠNG KẾ TỰU KẾ niềm nở tiếp đón bạn học cũ Tưởng Cán và bày ra tiệc "Quần Anh Hội" để mừng bạn và quy định trong tiệc chỉ hàn huyên tình cố cựu mà không được nói đến việc quân cơ. Sau tiệc rượu lại giả say mà mời bạn cùng ngủ chung giường với mình. Tưởng Cán rất buồn vì không nói được lời chiêu hàng nào cả. Nằm trằn trọc không ngủ được, thấy trên án thư có rất nhiều thư từ qua lại, trong đó có thư của hai tướng Thái Mạo và Trương Doãn, nói rằng mình chỉ bất đắc dĩ mới đầu hàng Tào Tháo mà thôi, sẽ lừa dịp mà giết chết và dâng đầu Tào Tháo trong nay mai. Tưởng Cán cả mừng bèn dấu thư đó vào tay áo, rồi giả đò nằm ngủ, lúc trời gần sáng, lại nghe có người đến gọi Chu Du dậy và thì thầm chuyện gì đó như có tin bên quân trại của Tào Tháo đưa qua mà có chắc đến 2 tên Thái Mạo và Trương Doãn. Khi trời sáng, thấy Chu Du vẫn còn say ngủ, bèn lẻn ra lấy thuyền sang sông về dinh Tào Tháo, trình thư đầu hàng Đông Ngô của 2 tướng Thái Mạo và Trương Doãn lên và kể lại mọi điều nghe thấy. Tào Tháo xem thư và nghe kể xong, bèn cả giận, truyền lệnh cho quân sĩ bắt hai tướng lại và chém đầu trước ngọ môn. Khi đao phủ thủ dâng đầu của hai tướng Thái Mạo và Trương Doãn lên, thì Tào Tháo mới chợt tỉnh ngộ biết rằng mình đã trúng kế phản gián của đối phương, nhưng vì tự ái đành phải ngậm bồ hòn làm ngọt mà khen thưởng cho Tưởng Cán. Riêng cái anh chàng hủ nho Tưởng Cán vẫn dương dương tự đắc tưởng rằng mình đã lập công to, nào có biết đâu rằng mình đã trúng cái "TƯƠNG KẾ TỰU KẾ" của ông bạn Đô Đốc Chu Du ranh mảnh. 

       

      TƯƠNG 將 còn có nghĩa là giúp đỡ phù trợ, như bài thơ Cù Mộc trong chương Chu Nam của Kinh Thi 詩 經.周 南·樛 木 :

                   南 有 樛 木,     Nam hữu cù mộc,
                   葛 藟 荒 之。     Cát lũy hoang chi.
                   樂 只 君 子,     Lạc chỉ quân tử,
                   福 履 將 之。     Phúc lý TƯƠNG chi.
        Có nghĩa :
                        Núi nam cù mộc một cây,
                   Cóc kèn bìm bịt phủ đầy lên trên.
                        Vui vì quân tử được nên,
                   Phúc đức theo gót đến liền chung vui.

        Đây là bài ca dao đời Tây Chu thường để chúc tụng cho cô dâu chú rể trong hôn lễ được vui vẻ và hạnh phúc; cô dâu tìm được chỗ dựa vững vàng. Có thuyết cho là bài thơ ca tụng bà Hậu Phi ở trong cung không đố kỵ với các phi tần bên dưới, nên mong cho phúc đức sẽ phù trợ bà.

        TƯƠNG 將 còn có nghĩa là Tiễn đưa, bảo vệ. Trong bài thơ Thước Sào trong chương Thiệu Nam Quốc Phong trong Kinh Thi 詩 經.國 風.召 南.鵲 巢 :

                  維 鵲 有 巢,    Duy thước hữu sào,
                  維 鳩 方 之。    Duy cưu phương chi.
                  之 子 于 歸,    Chi tử vu quy,
                  百 兩 將 之。    Bách lượng tương chi.
        Có nghĩa :
                       Chim khách có ổ có nơi,
                   Chim cu bay đến suốt đời ở chung.
                       Cô kia đi về nhà chồng,
                   Trăm xe ngựa kéo nối dòng đưa đi.

       Đưa dâu có đến cả trăm xe ngựa kéo, thì quả là đám cưới của hàng quý tộc chứ không phải hạng thường dân. Từ bài Kinh Thi nầy đã hình thành một thành ngữ còn thông dụng cho đến hiện nay; đó là 4 chữ "CHI TỬ VU QUY 之 子 于 歸" chỉ các cô gái "về" nhà chồng có cưới gả hẵn hoi, chứ không phải "cuốn gói theo trai" như nàng Trác Văn Quân của Tư Mã Tương Như vậy.
                 

                          Duy thước hữu sào... Chi tử vu quy.

      "TƯƠNG... TƯƠNG..." là Liên từ, có nghĩa như : "Vừa... Vừa..." như trong thành ngữ "TƯƠNG TÍN TƯƠNG NGHI 將信 將 疑" là "Vừa tin vừa ngờ", có nghĩa như thành ngữ "BÁN TÍN BÁN NGHI 半 信 半 疑" là "Nửa tin nửa ngờ" để chỉ chuyện gì đó còn chưa chắc chắn vậy.

      TƯƠNG TƯƠNG 將 相 là : "Sẽ... nhau". là "Chỉ còn có nước..." Như một câu ngạn ngữ trong dân gian được ghi trong Tăng Quảng Hiền Văn là :

                 三 十 不 豪,         Tam thập bất hào,
                 四 十 不 富,         Tứ thập bất phú,
                 五 十 將 相 尋 死 路。 Ngũ thập TƯƠNG TƯƠNG                                                                 tầm  tử lộ !
       Có nghĩa :
              - Ba mươi tuổi chẳng hào sảng (dễ chịu, khá giả),
              - Bốn mươi tuổi chẳng phú túc (giàu sang đầy đủ), thì...
              - Năm mươi tuổi SẼ chờ NHAU để tìm đường chết. Ý là : 
                Chỉ Còn Có Nước đi tìm đường chết mà thôi !

       Theo quan niệm xưa: Tam thập nhi lập. Ba mươi tuổi là phải lập thân lập nghiệp, ít nhất là phải có gia đình và nghề nghiệp hẵn hoi. Chớ ba mươi tuổi mà còn long bong chưa có việc làm, chưa có nghề nghiệp vững chắc, đến bốn mươi tuổi mà còn chưa ổn định, chưa khá giả giàu có... thì khi đã năm mươi tuổi, là tuổi Tri Thiên Mệnh rồi thì chỉ còn có nước chờ chết mà thôi, chớ khó mà có dịp trở mình để làm quan làm giàu được nữa. Đó là nói theo quan niệm của Thế kỷ 19-20 khi tuổi thọ trung bình của con người chỉ từ 60-65. Với quan niệm "60 năm cuộc đời" như bài hát trước đây của dân Sài Gòn:
                Em ơi, có bao nhiêu... 60 năm cuộc đời !
                20 năm đầu, sung sướng không bao lâu,
                20 năm sau sầu tư cao vời vợi,
                20 năm cuối là bao !...
                 (Bấm vào link dưới đây để nghe nhạc)

       Còn Thế kỷ 21 bây giờ, tuổi thọ trung bình trên thế giới hiện nay là từ 70-80 tuổi, nên 50 tuổi mới là tuổi chín chắn để làm nên sự nghiệp: Nghề nghiệp đã ổn định, kinh nghiệm sống và tín dụng đã đầy đủ, cơ sở vật chất cũng đã vững chắc... Nên, 50 tuổi là tuổi dễ phất lên và làm giàu nhất trong thời buổi hiện nay. Chớ không phải "TƯƠNG TƯƠNG tầm tử lộ" như ông bà xưa đã nói đâu !
       Mong rằng mọi người, mọi giới, mọi ngành, mọi nghề... tất cả đều HỖ TƯƠNG 互 相 giúp đỡ lẫn nhau để cùng hướng đến TƯƠNG LAI 將 來 huy hoàng rực rỡ đang chờ đón phía trước mặt. 

        Hẹn bài viết tới :
                                   Chữ TƯỚNG
                                                           杜 紹 德
                                                       Đỗ Chiêu Đức


Mời Xem Lại :

Trang Thơ Ngô Kế Đang ( T.4/2026. 1 ) : LƠI NGUYỀN, GƯỜI GIÀU LẠI NỢ , ẤU XƯA LUÂN HỒI

  LỜI NGUYỀN Sống kiếp hưu cố mà nhịn nhục Đời còn gì ? Sống chút tạm thôi ! Ngày ngày tìm lấy niềm vui Bên hoa , cá , kiểng , chim thời dễ...