Hiển thị các bài đăng có nhãn Tôn giáo : Cao Đài. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tôn giáo : Cao Đài. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 15 tháng 9, 2026

GS.Nguyển Hừu Lương ( 1924- 1991 )

Thầy Nguyễn Hữu Lương trong một tiết dạy ở Đạo Đức Học Đường năm 1950.
Thầy Lương thường gọi là ông Đốc Lương, rất nổi danh trong giáo giới miền Nam trước 1975. Thầy là con trai thứ 6 của Ngài Đầu Sư Thái Bộ Thanh. Sanh năm Giáp Tí (1924). Đậu bằng Thành Chung ở Cần Thơ, thạo tiếng Nhựt và Pháp. Về dạy học tại Đạo Đức Học Đường. Từ đó suốt hơn 30 năm, thầy phụng sự cho nền giáo dục Cao Đài, đào tạo nhơn tài cho Đạo và quốc gia.
Thầy kết thân với bà Hồ Kim Quang (ái nữ Ngài Hồ Bảo Đạo, sau thọ Hiền Tài Ban Thế Đạo). Sanh đặng 8 người con.
Có thời gian thầy vào chiến khu theo chi đội 7 và 8 tham gia kháng chiến chống Pháp lúc Đạo tham gia mặt trận Việt Minh.
Thọ phong Lễ Sanh phái Ngọc năm 1946 khi mới 23 tuổi. Lãnh phận sự Thừa Quyền Phụ Thống Học Viện, Giám Đốc Đạo Đức Học Đường rồi Hiệu trưởng trường Trung Học Lê Văn Trung. Sau thăng Giáo Hữu, lãnh Thanh Tra Đạo Đức Học Đường.
Năm 1957, học trò của thầy là ông Mười Thương (tức đại tá Phan Văn Điền, sau là Trưởng ban Tôn giáo tỉnh Tây Ninh, kiêm Phó trưởng ban Dân vận Tỉnh ủy) ám sát Tổng Thống Ngô Đình Diệm khi kinh lý Ban Mê Thuộc. Chánh quyền tìm thấy thẻ học sinh trường Lê Văn Trung có chữ ký hiệu trưởng của thầy nên thầy bị liên lụy. Tỉnh trưởng Tây Ninh Nguyễn Văn Vàng mua chuộc thầy phản Đức Hộ Pháp không được nên chánh quyền Ngô Đình Diệm bắt giam thầy ba năm 1957-1959.
Năm 1963, thầy gởi chức Giáo Hữu lại cho Hội Thánh để ra tham chánh. Đắc cử dân biểu quốc hội VNCH khóa III.
Năm 1966, đắc cử dân biểu quốc hội lập hiến.
Năm 1967, đắc cử Nghị sĩ Thượng Nghị Viện.
Sau 30/04/1975, thầy bị tù đày ở miền Bắc gần 9 năm. Sau khi được phóng thích thầy sang Bỉ định cư sum họp với gia đình.
Ngày 6 tháng 8 năm Tân Mùi (dl. 13-09-1991) thầy qui vị tại Bỉ. Được truy điệu chèo hầu tại Báo Ân Từ.
Ngày mùng 4 tháng 9 năm Tân Mùi, di linh cửu về Việt Nam để hành lễ đạo táng ở Báo Ân Từ. Nhưng Giáo Sư Thượng Tám Thanh (Nguyễn Thành Tám) - từ hàn Hội Đồng Chưởng Quản, Cải Trạng Lê Minh Khuyên - đặc trách nghi lễ Đạo và Giáo Sư Ngọc Minh Thanh, Trưởng ban nghi lễ Đền Thánh gây khó khăn cho tang quyến, lấy lý do đã truy điệu bắt phải an táng liền. Nhờ Tiếp Dẫn Đạo Nhơn Nguyễn Văn Hợi can thiệp mới được hành lễ tang tại Báo Ân Từ và an táng tại Cực Lạc Thái Bình.

(Copy từ FB.Sử Kiến Nguyên ) 

Thứ Ba, 4 tháng 8, 2026

HỒI ỨC VỀ CƠ SỞ PHẠM-NGHIỆP (1929)


 
HỒI ỨC VỀ CƠ SỞ PHẠM-NGHIỆP (1929)


Trong dòng chảy lịch sử của vùng Thánh Địa Tây Ninh, cơ sở Phạm Nghiệp mang một dấu ấn đặc biệt về tinh thần kiến thiết, tự lực tự cường và sự gắn bó của một cộng đồng sơ khai.
⏰Bắt đầu vào năm Kỷ Tỵ (1929) tại xóm Trường Đua, thuộc xã Hiệp Ninh, Châu Thành, tỉnh Tây Ninh (nay là phường Thanh Điền, tỉnh Tây Ninh). Ban đầu, Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc đã sang lại một phần đất và giao cho ông Lễ Sanh Thượng Ngươn Thanh đứng ra dựng một ngôi nhà đơn sơ bằng cột cây, lợp tranh. Rất nhiều người có tâm đạo đã tự nguyện tìm đến chung tay góp sức. Từ một công trình nhỏ, nơi đây dần trở thành điểm tựa tinh thần, thu hút ngày càng đông người đến để học hỏi và sinh hoạt chung.
✨Khi nhân số ngày một đông, đến năm Canh Ngọ (1930), một hệ thống tổ chức rõ ràng hơn được thiết lập. Những ai muốn chính thức gắn bó trọn đời tại Phạm Môn đều phải lập "Tờ Hiến Thân". Quá trình này mang tính minh bạch và tôn trọng nền tảng gia đình rất cao, đòi hỏi phải có sự đồng thuận, ký tên từ cha mẹ, người phối ngẫu và sự chứng kiến của Đầu Họ Đạo.
🌻Cộng đồng lúc bấy giờ sinh hoạt theo một nề nếp lao động nghiêm ngặt: mỗi tháng làm việc 27 ngày, chỉ nghỉ 3 ngày (vào mùng 1, 20 và 30 hoặc 29 nếu tháng thiếu). Điều này cho thấy một lối sống đề cao tính kỷ luật, trách nhiệm và sự cống hiến cho tập thể.
Bài toán lương thực bắt đầu nảy sinh khi cộng đồng mở rộng. Thay vì trông chờ, những người đi trước đã thể hiện sự nhạy bén và bám sát đời sống thực tế bằng cách tự phân công lao động.
Nhóm kỹ thuật: Những người lớn tuổi, có tay nghề đảm nhận việc cưa cây, làm mộc để hoàn thiện trang trí cơ sở.
Nhóm nông nghiệp: Tổ chức đi khai hoang, làm rẫy.
Họ đã mướn sở đất tại Bến Sỏi để canh tác. Với sự giúp sức về trâu cày và lúa giống từ những người dân tại Ninh Điền, Trà Siêm, một mô hình nông nghiệp tự cung tự cấp đã hình thành. Đó là bức tranh đẹp về sự hòa hợp, lao động chân chính và sống nương tựa vào thiên nhiên.
🌅Khi ngôi nhà hoàn thiện với hai trụ cửa ngõ khang trang, tấm bảng mang tên "Phạm-Nghiệp" được treo lên cùng đôi câu đối đúc kết triết lý nhân sinh mộc mạc nhưng sâu sắc:
"梵 業 承 閒 利 祿 功 名 無 所 用
Phạm Nghiệp thừa nhàn lợi lộc công danh vô sở dụng
門 關 積 道 精 神 法 寶 有 箕 裘
Môn Quan tích Đạo tinh thần pháp bửu hữu cơ cầu"
Tạm hiểu: Nơi đây là chốn thanh nhàn, những thứ công danh lợi lộc thế gian đều không có chỗ dùng; Cửa đạo chỉ tích lũy những giá trị tinh thần và đạo pháp cốt lõi để lưu truyền cho thế hệ sau.
Cùng với những thăng trầm của thời cuộc, cơ sở Phạm Nghiệp đã trải qua nhiều thay đổi về công năng sử dụng. Sau năm 1975, khu vực này được chính quyền tiếp quản và chuyển đổi thành Trung Tâm Bảo Trợ Xã Hội tỉnh Tây Ninh cho đến ngày nay. Dù vai trò hiện tại đã thay đổi, nơi đây vẫn là một mảnh ghép quan trọng, nhắc nhớ về một giai đoạn lịch sử đầy tính nhân văn và tinh thần kiến tạo của người dân Tây Ninh xưa.

Thứ Hai, 12 tháng 1, 2026

Họp mặt Hiền tài và Thân hữu, tất niên 2025 - Khánh Dũng Hồ

Sáng ngày 11/1/2026, lúc 8g30  tại quán Chí Thanh, cửa số 10 nội ô Toà Thánh. Ban Hiền Tài, Hiệp Thiên Đài, tổ chức họp mặt HT và thân hữu mừng Tất niên 2025, có gần 60 người tham dự. 
Trong   đó thầy Nguyễn Văn Thảnh, Cao Khắc Vĩnh, hơn 90 tuổi   
Một số người từ nước ngoài: anh Huỳnh Văn Bớt, chị Kim Phụng….. 
              Đặc biệt, anh Đào Văn Thạo, tức ĐYS Cảnh Thiên, lần đầu tiên về VN, cũng đến tham dự.
Trong không khí nồng ấm tình đồng đạo, đồng môn, buổi tiệc vui tươi, kết thúc lúc 11g cùng ngày

Thứ Hai, 6 tháng 10, 2025

Hội Yến Diêu Trì Cung - Đại Lễ Lớn Nhất Toà Thánh Cao Đài Tây Ninh






Đoc Trên Các Báo
 

Tây Ninh tổ chức đại lễ lớn nhất của đạo Cao Đài vào Rằm tháng Tám

* Mai Xuân Thanh Có Thơ Mừng Đai Lễ Hội Yến Diêu Trì Cung


Diêu Trì Cung, Hội Yến…hoa đăng
 Thần, Thánh, Tiên, Phàm, Phật Mẫu thăng…
 Mở tiệc Bàn Đào nơi hạ giới
Dâng hương tam bảo, cõi sao băng
 Trung Thu bánh trái trên nhiều loại
 Tết Trẻ nhi đồng dưới ánh trăng
 Tiếng trống múa lân, Ông Địa quạt…!
 Lồng đèn đám rước đón Cô Hằng…

 MAI XUÂN THANH
 Silicone Valley, October 03, 2025

Thứ Sáu, 19 tháng 9, 2025

THÁNH THẤT CAO ĐÀI - Thơ Xướng Họa


 THÁNH THẤT CAO ĐÀI (Nguyên bản) 

Vãng lai Thánh Thất học Cao Đài 
Nét Việt Nam văn hoá khá dài 
Tín nữ đa năng chân thiện mỹ
Thiện nam bá tánh bậc nhân tài 
Nhập môn minh thệ luôn tuân thủ 
Trọng Đạo Tôn Sư mãi miệt mài 
Tân Luật, Thánh Ngôn nền giáo lý 
Bách niên kỷ niệm Đạo hoằng khai… (*)

(Mai Xuân Thanh) 
Silicon Valley

9/16/25 

  Thơ Họa :

THÁNH THẤT CAO ĐÀI (Họa) 

Thánh thất Cao Đài, thánh giáo đài (*)

Trăm năm tín ngưỡng phước lâu dài (*) 

Tam kỳ phổ độ từ Thiên Nhãn

Đại đạo hoằng dương tới thiện tài

Trai tịnh dưỡng sanh, năng huấn luyện

Hiền lương dưỡng tánh, khuyến dồi mài

Thánh Thần Tiên Phật, nơi thờ phượng

Giáo lý thành thơ, chốn triển khai… 

(Phan Thượng Hải)

9/18/25 

 

(*) Chú thích:

Đài = Temple.

Đạo Cao Đài chính thức thành lập từ năm 1926. 

Đạo Cao Đài thành lập từ nhóm Cao Phạm gồm vợ chồng ông Cao Quỳnh Cư và bà Nguyễn Thị Hiếu (gọi là Hương Hiếu), ông Cao Hoài Sang (cháu kêu ông Cao Quỳnh Cư bằng chú) và ông Phạm Công Tắc.  Sau đó Nhóm nầy mời ông Lê Văn Trung tham gia.  Ngày 7-10-1926, 26 tín đồ cao nhứt gửi bản khai đạo cho Thống Đốc Nam Kỳ Le Fol chính thức sáng lập Đạo Cao Đài.  

Đạo Cao Đài trải qua sự lãnh đạo của Thượng Đầu Sư Lê Văn Trung (1926-1934), Hộ Pháp Phạm Công Tắc (1934-1959) và Thượng Sanh Cao Hoài Sang (1959-1971) …  Đạo cũng có những tín đồ nổi tiếng như Bác sĩ Lê Văn Hoạch (Thủ Tướng Nam Kỳ Quốc 1946-1947), Kỹ sư Phan Khắc Sửu (Quốc Trưởng VNCH 1964-1965) và Luật sư Nguyễn Văn Lộc (Thủ Tướng VNCH 1967-1968).

Đạo Cao Đài là tôn giáo lớn thứ 3 ở Việt Nam hiện nay (Sau Phật Giáo và Công Giáo). 

 Ước lượng có 2.4 triệu tín đồ ở Việt Nam (theo chính phủ VN) và 5 triệu theo hội đạo kể cả ở ngoại quốc (?).  Đạo Cao Đài ngày nay có ở Mỹ, Âu và Úc châu (chính thức có 30,000 tín đồ). 

💚💚💚 (Theo 1 thống kê 2015 )

 HỌA : ĐẠO - ĐỜI.

Hoa,nến kính dâng trước Phật Đài
Đức ngời tỏa sáng, thiện tâm khai
Con, người trần tục xin bày lộc
Ngài,thánh thiên Linh nhận đón tài.
Nhân ái,vị tha luôn học hỏi
Bao dung, tương trợ mãi dồi mài
Đạo soi dẫn lối không mê mụi
Đời đẹp tâm an tuổi thọ dài.

LAN.
(18/09/2025).




Xem Thêm :
Đây là những trích đoạn của bài “Thơ và Sử Việt - Đạo Cao Đài và Đạo Hòa Hảo” (Bs Phan Thượng Hải) đăng trong phanthuonghai.com

 



Thứ Sáu, 5 tháng 9, 2025

TIN BUỒN VÀ PHÂN ƯU : Cựu Phó Trị Sư Nguyễn Công Trận Qui Vị )

   


Chúng tôi vừa nhận tin buồn:

                          Cựu Phó Trị Sự NGUYỄN CÔNG TRẬN                                         

             Đã qui vị vào lúc 11 giờ 49 phút, sáng ngày 29 tháng 6 năm Ất Tỵ (DL: 22-8-2025) tại Thành phố Houston, Tiểu bang Texas- Hoa Kỳ.

                                  Hưởng thọ: 77 tuổi

       Chúng tôi xin thành thật chia buồn cùng thân bằng quyến thuộc và tang gia hiếu quyến.

      Cầu nguyện Đức CHÍ TÔN, Đức PHẬT MẪU và các Đấng Thiêng liêng độ dẫn Chơn linh Cố Cựu Phó Trị Sự NGUYỄN CÔNG TRẬN được siêu thăng tịnh độ, sớm về nơi Cõi Thiêng liêng hằng sống.

                                     THÀNH KÍNH CHIA BUỒN

       San Jose, ngày 13 tháng 7 năm Tân Sửu 

                      (DL: 04-9-2025)

      Hiền Tài Hồ văn Xưa, vợ và các con.

 


Thứ Hai, 25 tháng 8, 2025

TÌM HIỂU TÀI LIỆU ĐẠO CAO ĐÀI

     

  TÀI LIỆU LỊCH SỬ ĐẠO CAO ĐÀI

                                           “Chỗ Cha ta đến là SƠN LÂM...’’

                                                       ___________________                                               

        Lời Bà Nữ Đầu Sư Hương Hiếu có kể lại rằng: Sau ngày Đền Thánh được Khánh Thành (năm 1955) ít lâu thì có một vị Linh Mục người Tây Phương, có cấp bằng Tiến sĩ Thần học, biết 6 thứ tiếng trên thế giới, lại biết nói, viết rành tiếng Việt và tiếng Trung hoa, nhưng Bà lại quên tên vị Linh Mục này. Khi vị Linh mục viếng Đền Thánh, quan sát bên ngoài lẫn bên trong Đền, xong rồi Ông ra ngoài - bên hông Đền Thánh - đoạn quì xuống lạy vô Đền (lạy và quì theo kiểu người Công giáo). Có người Đạo thấy vậy mới đến mời ông vào lạy bên trong Đền, trước Bửu Điện mới đúng qui cách Cao Đài.

       Vị Linh Mục liền trả lời: “Tôi lạy đây là lạy chỗ Cha ta đến. Rồi lát nữa tôi vào bên trong Đền Thánh mà lạy nơi Cha ta ngự”.

       Người kia hơi thắc mắc hỏi tiếp: Ông nói thêm cho rõ hơn được không?

       Vị Linh Mục nói tiếp: Trong Thánh Kinh Tân Ước nói Đức Chúa Jésus-Christ có tiên tri “Trong 2.000 năm, Cha ta sẽ đến các ngươi một lần nữa, chỗ Cha ta đến là SƠN LÂM, xung quanh nhiều CON MẮT. Các ngươi muốn thấy Cha ta, đầu óc các ngươi phải minh mẫn và sáng suốt, tâm hồn các người phải có lòng Thành khẩn và Tín ngưỡng hiệp lại mới thấy Cha ta”. Từ lâu đã có nhiều người đi tìm chỗ Cha ta đến, họ lên Hy-Mã-Lạp-Sơn, lên non cao rừng thẳm mà tìm không thấy; còn nơi Cha ta ngự là một “con vật linh động”, “xung quanh có nhiều CON MẮT”. Nghĩ rằng phải tìm ra con quái vật, nên họ bỏ luôn không đi tìm nữa. Nhưng…

       Ngày nay thì tôi đã tìm thấy “chỗ Cha Ta đến” rồi. Chỗ Cha ta đến là Đền Thánh đây, còn nơi Cha ta ngự là bên trong Đền Thánh tại Quả Càn Khôn đó. Ông nói xong, ngồi xuống lấy một cái que vạch lên đất; vừa gạch vừa giải thích: Đền Thánh là một nét dài ở giữa, Đông lang và Tây lang là nét ngắn hai bên, Hậu điện là một nét ngang sau cùng làm thành chữ SƠN 山 (Sơn là núi). Hai đám rừng thiên nhiên trước Đền Thánh là chữ LÂM 林 Tức nhiên mỗi một chữ MỘC 木 là cây tượng cho một khu rừng, hai chữ đứng ngang nhau thành chữ LÂM là thế. Như vậy, tôi đã tìm thấy chỗ Cha ta đến là Đền Thánh, còn “bên trong là chỗ Cha ta ngự”. Đền Thánh nếu nhìn ngang giống như Con Long Mã quì, nhưng nếu nhìn từ phía trước nhìn tới, thì thấy con Long Mã đang múa (Rõ là con vật linh động). Xung quanh có nhiều CON MẮT tức nhiên là chung quanh Đền theo những ô cửa sổ có trang trí hình Con Mắt tức là THIÊN NHÃN THẦY vậy.

        Vị Linh Mục nói tiếp: Đền Thánh là cái mình Con Long Mã: Hiệp Thiên Đài có lầu chuông và lầu trống cao vút lên là hai cái sừng của Long Mã. Nghinh Phong Đài nơi phần trên của  Cửu Trùng Đài: ở giữa có Quả địa cầu, trên quả Địa cầu có hình Long Mã chạy từ Đông sang Tây mang Hàm Ấn (Lạc Thư- Hà Đồ) mà con Long Mã mang trên lưng gọi là LONG MÃ PHỤ HÀ ĐỒ. Trên nóc Bát Quái-Đài có một cái lầu 8 góc (Bát giác). Trên nóc Bát Quái Đài là ba vị Phật ngự tượng cái đuôi của Long Mã. Nóc Đền Thánh giả lợp bằng ngói móc (ngói vảy cá) tượng vảy của con Long Mã. Xung quanh Đền Thánh có nhiều Thiên Nhãn tức là “Con vật linh động xung quanh có nhiều Con Mắt”. Đền Thánh nhìn ngang sẽ thấy dáng Long Mã đang quì, đầu thấp, mông cao. Nếu nhìn từ phía trước, như thấy Long Mã đang múa, miệng hả ra (đây là một sự hình dung, tưởng tượng, chứ Đền Thánh vẫn là bằng xi măng và vôi cát) điều ấy ứng vào câu của Chúa nói: “Các ngươi muốn thấy Cha ta, đầu óc các ngươi phải minh mẫn và sáng suốt, tâm hồn các người phải có lòng Thành khẩn và Tín ngưỡng hiệp lại mới thấy cha ta. Đền Thánh nhìn từ phía trước: Trước là Hiệp Thiên Đài có lầu chuông, lầu trống là cặp sừng của Long Mã. Đền Thánh chỉ có một cửa vào là miệng của Long Mã (khác với nhà thờ hay chùa chiền thì có ba cửa vào). Trên có bao lơn là hàm trên của Long Mã, dưới có 5 bậc thềm là hàm dưới của Long Mã có râu. Hai chữ NHƠN NGHĨA trên đầu có hai câu Liễn là cặp mắt của Long Mã. Đức Phật Di-Lạc ngồi trên nóc Hiệp-Thiên-Đài là cái đầu con Long Mã. Vào bên trong Đền Thánh, muốn đến Bát-Quái Đài phải qua Hiệp Thiên Đài (nơi Hiệp-Thiên-Đài có ngai với Thất đầu Xà của Hộ-Pháp.

       Qua Hiệp-Thiên-Đài rồi, phải đi lên 9 cấp của Cửu Trùng Đài là Cửu Phẩm Thần Tiên mới đến Bát Quái Đài. Trong Bát Quái Đài có Quả Càn Khôn, trên Quả Càn Khôn thờ Thiên Nhãn, tượng trưng ngôi thờ Đức CHÍ TÔN, chính là Đức Chúa Cha, hay là Đức Chúa Trời mà người Công Giáo quan niệm. Đức Thượng Đế cho biết đây là “Nhãn thị chủ Tâm, Lưỡng quang chủ tể, Quang thị Thần, Thần thị Thiên, Thiên giả ngã dã”. Cũng có câu Hoàng Thiên Hữu Thần. Đức CHÍ TÔN là Đấng vô hình, thế nên dưới mắt nhiều nhà Tôn giáo, tùy theo suy luận mà tạo nên nhiều biểu tượng khác nhau để mà thờ phượng, ví như thờ Thần Mặt Trời là ngôi Thượng Đế, có nơi thờ bằng tấm vải điều cũng có ý nghĩa Trời. Vị Linh Mục nói tiếp: Đạo Công giáo, Đức Chúa Jésus Christ chỉ vào trái Tim của Ngài mà nói: Các ngươi hãy thờ Lương Tâm của các ngươi, mà thờ Lương Tâm tức là thờ Đức tin, mà thờ Đức tin tức là thờ Đức Chúa Trời đó vậy. Đạo Cao Đài lấy CON MẮT làm biểu tượng thờ Lương Tâm. Đạo Công Giáo lấy quả tim làm biểu tượng thờ Lương Tâm chỉ là MỘT. Như vậy Bát Quái Đài trong Đền Thánh là nơi Cha Ta ngự, không còn chỗ nào khác.

        Vị Linh Mục ấy giải thích xong rồi nói: Tôi sẽ thông báo cho toàn nhân loại trên Quả Địa cầu này biết rằng: Tôi đã tìm thấy “CHỖ CHA TA ĐẾN VÀ NƠI CHA TA NGỰ” như lời tiên tri của Đức Chúa Jésus Christ trong Thánh Kinh Tân Ước của Công giáo: là Đền Thánh của Đạo Cao Đài, là TÒA THÁNH TÂY NINH.

                                                 *

        Trích Quyển Đạo Sử của Bà Nữ Đầu Sư HƯƠNG HIẾU

        (Tài liệu do Hiền Tài Hồ Xưa sưu tầm, trình bày và phổ biến)

Thứ Sáu, 22 tháng 8, 2025

Ý NGHĨA 10 NGÀY CHAY TRONG THÁNG

 


  Ý NGHĨA MƯỜI NGÀY ĂN CHAY TRONG THÁNG

                                   ____________________________

         Đức Chí Tôn có dạy tín đồ theo Đạo Cao Đài như sau:

        “Kẻ nào đặng trai giới mười ngày trở lên, thọ bửu pháp đặng. Chư môn đệ phải trai giới. Vì tại sao? Chẳng phải Thầy còn buộc theo cựu luật, song luật ấy rất nên quý báu, không giữ chẳng hề thành Tiên, Phật đặng”. Theo lời dạy đó, tức là: “Phải có một thân phàm tinh khiết mới xuất chơn thần tinh khiết. Nếu các con ăn mặn luyện đạo rủi có ấn chứng thì làm sao mà giải tán cho đặng. Vì vậy, Thầy buộc các con phải trường trai mới đặng luyện đạo”.     

        Tân luật của Đạo Cao Đài cũng qui định rõ ở điều thứ mười hai: 

       “Trong hàng tín đồ có hai bực: Một bực còn ở thế, có vợ chồng làm ăn như người thường, song buộc phải giữ trai kỳ, hoặc 6 hoặc 10 ngày trong tháng, phải giữ Ngũ giới cấm và phải tuân theo Thế luật của Đại Đạo truyền bá. Bực này được gọi là người giữ Đạo mà thôi; vào phẩm Hạ thừa.

        Một bực đã giữ trường trai, giới sát và Tứ đại điều qui, gọi là phẩm Thượng thừa”. Và: “Trong hàng Hạ thừa, ai giữ trai kỳ từ 10 ngày sắp lên, được thọ truyền Bửu pháp, vào Tịnh Thất có người chỉ luyện Đạo.”(Điều thứ mười ba)

        Như vậy, khi đã trở thành tín đồ của Đạo Cao Đài, việc ăn chay là một qui định bắt buộc. Mới nhập môn chưa quen ăn chay thì người tín đồ chỉ tập ăn chay mỗi tháng 6 ngày, gọi là Lục Trai, gồm các ngày mùng 01, mùng 8, ngày 14, 15, 23 và 30 Âm lịch. Trải qua 6 tháng quen rồi, người tín đồ cần phải tiến lên một nấc cao hơn là ăn chay mỗi tháng 10 ngày, gọi là Thập Trai, gồm các ngày: mùng 1, 8, 14, 15, 18, 23, 24, 28, 29 và 30 Âm Lịch. Tháng nào thiếu (không có ngày 30) thì ăn chay ngày 27 thế vào cho đủ 10 ngày chay. Khi giữ được 10 ngày chay quen rồi, nên tiến lên một nấc thang cao hơn nữa là ăn chay suốt trong 3 tháng Âm Lịch. Trong đó,  Tháng Giêng (Thượng Nguơn), tháng Bảy (Trung Nguơn), tháng Tám (Hạ Nguơn) là 3 tháng nên giữ chay lạt suốt tháng. Khi tiến lên bậc Thượng thừa thì giữ chay lạt luôn gọi là Trường Trai, như các Chức sắc hàng phẩm Giáo Hữu hay tương đương trở lên bắt buộc phải giữ Trường trai vì đã thuộc vào hàng Thánh thể. (Điều thứ mười bốn Tân Luật)     

       Việc ăn chay trong Đạo Cao Đài là vô cùng quan trọng, ăn chay là thể hiện lòng từ bi, thương yêu và tôn trọng sự sống của muôn loài vạn vật, ăn chay sẽ giúp cho tâm hồn được thanh khiết không có vướng bận quá nhiều trược khí và sau khi chết đi sẽ dễ dàng thăng về chín tầng Trời và quy hồi về nơi Bạch Ngọc Kinh. Đặc biệt, ăn chay là nhằm giữ điều thứ nhất của Ngũ giới cấm là“bất sát sanh”. Có nhiều thắc mắc muốn biết: Tại sao chọn các ngày 1, 8, 14, 15, 18, 23, 24, 28, 29 và 30 Âm Lịch là ngày cần giữ Trai giới 10 ngày mà không phải các ngày khác?

       Theo nghiên cứu, việc giữ chay lạt vào các ngày trên có truyền thống ý nghĩa từ Giáo thuyết của Phật giáo nguyên thủy.

       Lịch sử Phật giáo còn ghi: Hằng tháng vào những ngày trăng rằm và đầu tháng (mùng 1 và 15 âm lịch) gọi là ngày Bố Tát (tiếng Phạn gọi là Uposatha hay Upavasatha), là ngày định kỳ để thuyết giới, cùng nhắc nhở nhau về giới pháp để tu hành. Về sau được các nhà Phật học Đại thừa Trung Quốc dịch là ngày trai giới (zh:齋) và Việt Nam dịch là ăn chay từ chữ “trai” đó.

Lục trai là ăn chay mỗi tháng 6 ngày, đạo Tiên gọi là Nguơn Thủy Lục Trai, do Đức Nguơn Thủy lập ra. Sáu ngày chay qui định trong tháng âm lịch là: 1, 8, 14, 15, 23, 30.

        Nếu tháng âm lịch thiếu, không có ngày 30 thì ăn chay ngày 29 thế vào cho đủ 6 ngày chay. Thập Trai là ăn chay mỗi tháng 10 ngày: Mùng 1, 8, 14, 15, 18, 23, 24, 28, 29 và 30 Âm Lịch, đạo Phật gọi là Chuẩn Đề Thập Trai, do Đức Phật Chuẩn Đề lập ra.

       Đấy cũng là phương pháp gieo nhân lành, tránh nghiệp sát để kiếp sau khỏi phải trả nợ máu cho chúng sinh. Được biết, truyền thống này cũng được các Phật tử tại Ấn Độ thời Đức Phật còn tại thế đã thực hiện tu tập Bát Quan Trai Giới. Theo đó thì lý do chọn đã được luận giải như sau:

Ngày mùng 1: Là ngày của các vị Trời Tứ Thiên Vương (gồm tứ vị Thái Tử: Đông Phương Tri Quốc Thiên Vương, Nam Phương Tăng Trưởng Thiên Vương, Tây Phương Quảng Mục Thiên Vương và Bắc Phương Đa Văn Thiên Vương) giáng trần tuần tra khắp thế gian, để dò xét việc thiện, ác của con người hầu phán xét và quyết định “Lành được thăng, Ác phải bị đọa”.

Ngày mùng 8:  Là ngày vị Trời Đại Tự Tại Thiên Vương tuần tra thế gian, xem việc lành dữ của con người.

Ngày 14: Ngày vị ở Từng Trời Đại Tự Tại Thiên Vương giáng trần tuần tra việc thiện, ác.

Ngày 15: Thái Tử của từng Trời Tứ Thiên Vương xuống trần tuần tra việc thiện, ác của nhân gian. Người trần thế ăn chay tụng kinh và niệm danh Đức A Di Đà Phật để linh hồn được ban ân tứ hưởng phước.

Ngày 18: Cũng là ngày xuống trần thanh tra của Thái Tử từng Trời Tứ Thiên Vương. Người thế gian phải ăn chay, tụng kinh và niệm Phật Địa Tạng Vương Bồ Tát để xin cứu độ cho những người chết và cầu xin ban ân cho nhân loại.

Ngày 23: Vị Đại Tự Tại Thiên Vương giáng trần. Ăn chay niệm Phật và niệm danh Bồ Tát Đại Thế Chí ban ân phúc và điều thiện.

Ngày 24: Thái Tử của từng Trời Tứ Thiên Vương giáng trần. Nhơn sanh phải ăn chay, niệm Phật. Khi niệm kêu chính danh Đức Phật Lô Xá Na để xin tránh được phiền não, tăng sáng trí tuệ để có cuộc sống bình an, hạnh phước.

Ngày 29: Ngày vị Đại Tự Tại Thiên Vương giáng trần tuần tra việc thiện ác của thế gian để làm sao cho ác tiêu, tệ giảm và thiện sanh. Phải thành tâm cúng và tụng niệm xin ân.

Ngày 30: Vị Tứ Thiên Vương sai sứ giả xuống trần giám sát việc thiện ác. Nhơn sanh bá tánh phải ăn chay niệm Phật. Khi niệm phải thành khẩn xin Đức Thích Ca Mâu Ni Phật ban ân lành tăng phúc lợi hầu sớm thành tựu âm chất Bồ đề đạt Đạo. Riêng các ngày mùng 1, 8, 15 và 23 là các ngày cầu quốc thới dân an.

       (Trích các phần trên theo tài liệu Phật giáo-Buddhismtoday)

        Do đó, sáu (6) ngày hay mười (10) ngày qui định trong tháng để ăn chay có ý nghĩa vô cùng linh thiêng vì là ngày các vị Phật ở cõi Trời xuống thế gian để tuần tra phán xét việc thiện ác của người trần. Nhân đó mà người có Đạo phải giữ chay lạt vào các ngày xuống trần của các vị Phật hay Bồ Tát từ các cõi Trời cầu xin cho tinh khiết thân xác, trí não để được phúc lành hầu sớm đạt Đạo như lòng hoài bảo, tâm ý nguyện mãn. Đó là lý do của các ngày phải ăn chay./-

Tài liệu do Hiền Tài Hồ Xưa sưu tầm và phổ biến____________________


Thứ Hai, 18 tháng 8, 2025

THUYẾT ĐẠO CỦA ĐỨC HỘ PHÁP (29 Giêng/MậuTý-1948 )


 KHI VÔ ÐỀN THÁNH PHẢI BỎ HẾT PHÀM TÂM.

                                        ĐỨC HỘ PHÁP THUYẾT ĐẠO

 

Hôm nay, Qua lên giảng giải là do đêm trước Truyền Trạng Ngọ đã giảng trong khi lãnh trách nhiệm thay quyền Tiếp Lễ Nhạc Quân, đứng trên ngó xuống thấy mấy em có cử chỉ không được chững chạc và đúng theo nghiêm luật của Hội Thánh, nhưng đó chỉ là bề ngoài chẳng nói chi, trọng hệ hơn hết là cái huyền vi bí mật của Tòa Thánh này, buộc lòng Qua phải lên giảng.

        Mấy em có biết tương lai nền Chơn Giáo nầy của mấy em là tạo đại nghiệp gia đình cho một sắc dân gọi là Tân Dân của Chí Tôn để nơi mặt thế này, là Thần Thông Nhơn. Mấy em kiếm hiểu hai tiếng Thần Thông, dầu không thấu lý mà nghe nói tiếng ấy cũng hiểu sự quan hệ của nó ra sao.
       Ấy vậy, muốn tạo tinh thần tới Thần Thông cho sắc dân Tân Dân của Chí Tôn đem đến mặt địa cầu nầy, do trong mấy em hiện tượng ra mà. Mấy em không tầm cái giống Thần Thông thì làm sao tạo Tân Dân ấy cho được. Cả huyền vi bí pháp của Chí Tôn để tạo Thần Thông Nhơn ấy, mắt mấy em nhìn thấy không biết hình ảnh thì làm sao đạt thành được .
        Mấy em sẽ làm Cha làm Mẹ của đám Thần Thông Nhơn ấy mà không có hột giống làm sao tạo hình cho đặng. Còn như Qua đây là Hộ Pháp khi lên Ngai đứng có mấy công chuyện mà quên trước quên sau, đó là buổi mới khai Ðạo. Còn mấy em dầu khó khăn đi nữa, nay Ðạo đã 22 năm mà còn quên không biết nói làm sao đặng.
       Mấy em có thấy đâu khi vô Ðền Thánh, đền này gọi là Ðền Thánh thì thế nào mấy em phải hiểu. Qua đứng trên Ngai lấy hết tư tưởng của mấy em, cái giọng của mấy em cầu kinh, Qua ôm hết dâng lên cho Đức Chí Tôn, dâng đây không phải là tiếng thường, ấy là cái thiên thiều, Ngài hưởng rồi Ngài trả lại cho mấy em cái thiên tinh. Có như vậy thì địa cầu này mới an tịnh, mới thái bình được. Mấy em ôi! Nếu cúng mà đọc giọng thô bỉ, không đồng một nhịp nhàng thì mong gì cái thiều quang của Càn Khôn Vũ Trụ đềm tỉnh đặng an hưởng.
       Qua đứng trên Ngai, ngó thấy trên Nê Hoàn Cung của mấy em, nếu định tâm, thì có một hào quang xung lên đều đều, mọi người đều có hào quang đó, có một vị Phật ôm hết vào Bát Quái Đài, hiệp với đạo hào quang trong quả Càn Khôn, đoạn đem trở ra bao trùm chỗ ngồi của mấy em, mà mấy em không thấy được, cho nên khi mấy em hầu lễ, nếu biết hưởng cái ơn Thiêng Liêng ban cho đó, thì tinh thần được an tịnh, hạnh phúc biết bao, nếu biết thọ hưởng cái hồng ân đó, cũng như lúc mấy em đói rồi có ai liệng đồ cho ăn, mà không biết hưởng, thì làm sao no đặng, tức phải đói.
       Đáng lẽ khi bước vô Bửu Điện, đi ngang qua Hiệp Thiên Đài thấy toàn màu đỏ, màu đỏ thuộc về xác thịt, vậy đi qua rồi phải tịnh tâm. Qua không nói ai, vì trước mỗi bửa đều tắm rửa, vô đó dầu hình thễ mấy em có nhơ nhớp, thúi hôi, cùi đày mà cái tâm của mấy em trong sạch đó là tâm vô tội. Dầu kẻ nào tội tình ưu lự thể mấy mà bước vô Đền Thánh rồi, cũng phải tập tánh cho thanh khiết, bỏ cả những tư tưởng phàm tục, để tâm nhút nguyện mới có sự hưởng ứng, mấy em đem mấy cái hình xác vào Đền Thánh, nhưng là cái xác vô tội, đặng hiến cho Chí Tôn. Nếu không vậy, thì có vào Đền Thánh, kẻ ngồi chỗ này kẻ ngồi chỗ kia mà trong óc không niệm thì vào Đền Thánh có ích gì? Đi cúng đều trọng yếu nhứt là tinh thần, cái huyền vi bí pháp tinh thần ở đấy là CỬU TRÙNG ÐÀI rồi BÁT QUÁI ĐÀI thuộc về Chơn Linh, ấy là linh tâm xuất hiện, nếu mấy em có cảm mới có ứng, mà nếu có ứng mấy em mới hưởng được, thảng không hưởng được là lổi tại mấy em không trọn tâm thành kính .
       Thỉnh Thoảng rồi Qua sẽ giảng bí pháp của Hộ Pháp đứng trên Ngai là gì? Mấy em không thấy cũng đáng trách. Vậy từ đây về sau, Qua chỉ xin mấy em một điều là hể bước chân vô Ðền Thánh, là bỏ hết phàm tâm, thì hạnh phúc sẽ to lớn, bằng chẳng vậy đừng đi cúng, không những không hưởng được đặc ân, mà còn mang tội thêm mà chớ!

. HỘ PHÁP PHẠM CÔNG TẮC

                                  (Trích tài liệu Thuyết Đạo của ĐỨC HỘ PHÁP)


Thứ Bảy, 2 tháng 8, 2025

CHIA BUỒN CỐ ĐẠO HỮU NGÔ THỊ THU CÚC (Qui vị 25/7/2025 tại Hoa Kỳ )


  CHIA BUỒN

               Chúng tôi vừa nhận tin buồn:

        ĐẠO HỮU NGÔ THỊ THU CÚC (ELAINE NGO)

       Bào Muội, Bào Tỷ của Nhị Hiền Đệ Ngô Thành Thảo và Ngô Thiện Đức

      Qui vị lúc 5:13 pm, Ngày Mùng 01 tháng 6 Nhuận, năm Ất Tỵ (DL: 25-7-2025)

                                           Tại Nam California, Hoa kỳ.

                                      Hưởng Thọ: 67 tuổi.

            Chúng tôi xin thành thật chia buồn cùng Hiền Đệ Ngô Thành Thảo và Ngô Thiện Đức cùng tang gia, quý quyến.

       Cầu nguyện Đức CHÍ TÔN, Đức PHẬT MẪU và các Đấng Thiêng liêng độ dẫn Chơn linh Cố Đạo Hữu NGÔ THỊ  THU CÚC được siêu thăng tịnh độ.

                                   THÀNH KÍNH CHIA BUỒN

      San Jose, ngày 08 tháng 6 Nhuận năm Ất Tỵ

                 (DL: 01-8-2025)

      HT.Hồ văn Xưa, vợ và gia đình các con.

Thứ Hai, 30 tháng 6, 2025

CHIA BUỒN : Đao Hửu,CGC.HỒ THỊ ĐẬM Qui Vị 26/6/ 2025 Kentucky,Hoa Kỳ

 

  CHIA BUỒN

        Chúng tôi vừa nhận tin buồn:

                                             Đạo Hữu HỒ THỊ ĐẬM

                                                Cựu Giáo Chức Tỉnh Tây Ninh

                                       Thân mẫu của cháu Phan Quang Trường

   Đã quy vị vào ngày Mùng 02 tháng 6 năm Ất Tỵ (DL: 26-6-2025) tại Louisville, Tiểu bang Kentucky, Hoa Kỳ.

                                        Hưởng Thượng Thọ: 88 tuổi

          Chúng tôi xin thành kính chia buồn cùng cháu Phan quang Trường và gia đình, tang gia hiếu quyến.

         Thành tâm cầu nguyện Đức CHÍ TÔN, Đức PHẬT MẪU và các Đấng Thiêng liêng độ dẫn Chơn linh Cố Đạo Hữu HỒ THỊ ĐẬM được siêu thăng tịnh độ.

                                               THÀNH KÍNH CHIA BUỒN

                                                   Mùng 5 tháng 6 năm Ất Tỵ (DL: 29-6-2025) 

                                                      Hiền Tài.Hồ văn Xưa, vợ và các con


Mời Xem Lại :NHỮNG TẤM LÒNG VÀNG - Bài Cảm Ơn Của Nhà Giáo Hồ Thị Đậm

Một chuyến về VN - Hồ thị Đậm

KÍNH MỜI XEM và HỌA (NẾU THÍCH) THƠ TRĂNG THU của HỒ NGUYỄN

TRĂNG THU Mây buồn kéo đám bám che trăng, Cuội ngóng chờ trông bóng chị Hằng. Chim mất tổ sầu kêu thảm thiết, Lá buông cành chiếc rớt tung ...