Hiển thị các bài đăng có nhãn bài st từ mạng. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn bài st từ mạng. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 27 tháng 9, 2026

Thanh Hà: Chiếc bánh In Ngày Ấy (T.Vấn & Bạn Hữu )

 

                                  Ảnh (Nguồn: laodong.vn)

Đó là những chiếc bánh có màu trắng đục chứ không trắng tinh, hình tròn kích thước từ 5cm, 7cm đến 9cm. Mặt bánh trang trí hình hoa hướng dương nhưng vì bột không mịn nên các góc cạnh của cánh hoa xù xì chứ không rõ nét như bánh mua từ chợ.
Nó được ép ra từ hai bàn tay thô kệch xương xẩu quanh năm quen với công việc nặng nhọc hết ruộng đồng thì quay qua xúc tép câu cá, nhổ rau muống rau ngổ của bà ngoại tôi. Từ bàn tay chai sạn vì cầm kéo cắt vải, kim may của má tôi. Từ bàn tay non nớt chỉ biết sách bút của chúng tôi.
Về hình thức nó có vẻ đẹp của cô thôn nữ chất phác đơn sơ so với sự mặn mà sắc sảo cô gái thị thành của bánh chợ qua bàn tay người thợ chuyên nghiệp nhào nặn.

Nhưng với tôi–tự ngày xa xưa ấy cho mãi tận bây giờ–đó là những chiếc bánh in ngon nhất cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng chưa có bánh nào đánh bại để giành ngôi.
Với tôi, nó vô giá. Mãi mãi!

Từ nhiều năm rồi tôi không có dịp sử dụng cuốn lịch có ngày âm nữa, mà chỉ xem ngày tháng theo dương lịch thôi. Vì vậy những lễ lớn đối với người Việt như Tết Nguyên Đán, rằm tháng giêng, Phật Đản, Vu Lan, Tết Trung Thu… tôi chỉ đoán mò hoặc nghe các bạn báo thì mới biết chính xác ngày. Lúc ấy có khi nó đã trôi qua rồi.

Chỉ mấy năm sau nầy nhân dịp tết nguyên đán tôi có mua các loại trái cây cho vào cái dĩa to chưng lên trước bàn thờ Đức Phật (là tấm hình Đức Phật Thích Ca được tôi đóng khung treo trang trọng trên vách) phía dưới là ảnh ông bà ngoại, ba má, chồng và em gái tôi. Các bức hình được tôi lồng vào chung một tấm kính lớn, đặt trên cái bàn dùng cho văn phòng mà ta hay gọi tắt là bureau.
Thế là Phật Chúa cùng ở cạnh nhau hoà bình êm ả.


Chồng tôi đạo Thiên Chúa. Nhưng mấy chục năm sống chung chả bao giờ tôi thấy anh ấy đi lễ nhà thờ cả. Tuy vậy các bài thánh kinh anh ấy đều thuộc làu. Tôi cũng quên không hỏi vì sao anh không đi lễ, chỉ nghe kể lúc nhỏ ba mẹ chồng tôi gởi anh vào học trường dòng với các bà Sœurs. Mà các bà nghiêm khắc quá đáng, chỉ cần một lỗi nhỏ là phạt học trò bằng những hình phạt thể xác đau đớn, có lẽ vì thế khi lớn lên anh khó gần gũi với nhà thờ chăng?

Bây giờ là tháng 9 bắt đầu vào thu, tức nhằm tháng 8 âm lịch. Tự dưng nửa đêm thức giấc nhớ ra: A, tháng 8 âm lịch có Tết Trung Thu. Mà Tết Trung Thu là có bánh trung thu, bánh in, bánh pía, bánh dẻo… khiến tôi nhớ những chiếc bánh in do chính bàn tay của bà ngoại, má và chị em tôi làm mà gần 40 năm qua không còn được ăn nữa.
Ngày nay thức ăn thừa mứa, quần áo đầy tủ, trẻ con được hưởng mọi thứ nên chúng không thèm muốn ao ước gì. Cha mẹ còn phải năn nỉ hứa hẹn nếu chúng “chịu ăn, chịu mặc” thì sẽ cho phép chúng chơi game hay mua món đồ gì đó (mà chúng chỉ chơi chừng dăm phút rồi vất bỏ lăn lóc) chứ không như thời chúng tôi mỗi năm chỉ vào dịp tết và tựu trường mới được may quần áo mới, ăn bánh tét, mứt, hạt dưa…Tết Trung Thu mới có bánh đặc biệt dành cho mùa trung thu, đốt đèn lồng xanh đỏ xách đi chơi vòng vòng trong xóm.
Vì vậy ngày xưa, mỗi một phong tục tập quán đều mang ý nghĩa thiêng liêng. Nhà nhà người người đều chờ đợi chào đón ngày lễ đến với sự chuẩn bị chu đáo trân trọng. Nhất là bọn trẻ con thì náo nức đếm ngược ngày, mong cho nó mau tới để được vui hưởng.

Tối qua, tự dưng tôi nhớ “như in” những chiếc bánh in mà ngày xưa mỗi dịp trung thu chúng tôi tự làm, lòng thấy bâng khuâng gì đâu!
Tôi nhớ “như in” cái hương vị ngọt thơm của nếp–cũng do chính bàn tay của ông bà ngoại tôi trồng cây lúa-nếp–của nước cốt dừa của đường. Vì thế mà bánh in của chúng tôi mới ngon dẻo thơm đặc biệt. Có lẽ do cái tâm trạng hoài cổ đó mà đến bây giờ tôi vẫn còn mê

bánh in (nhưng không phải bất cứ bánh in nào). Mỗi lần có dịp vào chợ VN đi ngang quầy bánh in, tôi thường hay tần ngần đứng lại ngắm nhìn rồi tắc lưỡi bỏ đi, nhớ lại hoá chất họ tẩm trong bánh mà mấy lần tôi mua về ăn thử, cắn một miếng liền nhả ra vì không sao chịu được cái mùi hương giả tạo. Cô bạn tôi ngạc nhiên nói:
–Không hiểu sao bồ lại thích cái bánh đó, bột khô ăn mắc nghẹn cổ họng chứ có ngon gì đâu. Mà thích sao không mua vậy?
Tôi chối:
–Thích hồi nào đâu? Ai nói ta thích?
–Cha, cái mặt hớn hở nhìn bánh không nháy mắt ai mà không đoán ra được.
Bị bắt trúng tim đen tôi cười khúc khích, bạn tôi cũng cười nói thêm:
–Tao thương mầy là vì vậy. Cái tính của mầy đôi lúc ngây thơ giống con nít quá.
–Tại ta nhớ lại những cái bánh in ngày xưa ngoại với má làm chớ bộ. Tôi chống chế.

Đúng vậy, đã nhiều năm rồi tôi không hề ăn bánh in mặc dù tôi rất thích, vì tôi biết chín phần mười mình sẽ thất vọng khi mua. Những chiếc bánh do ngoại, má tôi làm thì khác biệt. Đó là những chiếc bánh “cây nhà lá vườn” mà bây giờ ta gọi là bio hay organic, cách làm cũng hoàn toàn thủ công.

Dạo đó mỗi lần Tết Trung Thu đến, trừ ít bánh trung thu, bánh in, bánh dẻo ngoại mua để cúng ông bà thì ngoại và má thường làm thêm vài ký bánh in cho chị em tôi ăn dần.(Bà ngoại tôi rất khéo tay và siêng năng, cứ vài ba ngày là ngoại làm bánh mỗi lần mỗi khác nhau cho cả nhà thưởng thức).
Bánh đựng trong mấy cái keo bằng thuỷ tinh lớn. Để càng lâu thì bánh càng thấm chất đường, đậu xanh, nước cốt dừa càng ngon dẻo béo. Đặc biệt là chị em chúng tôi được quyền tự lấy ăn mỗi khi thèm chứ không đợi cho phép như thói quen–vì là tết nhi đồng chúng tôi cơ mà.

Tôi vẫn còn hình dung ra được cảnh trước lễ vài tuần, tối tối chị hai chị ba sau khi ở trường về (trường Nguyễn Trung Trực), cơm nước xong xuôi thì các chị lôi cái thau đựng nếp mà bà ngoại tôi đã rang sẵn. Bắt “ghế một” ra ngồi cạnh cái cối đá nặng nề để xay bột. Tôi và em gái kế cũng xà vào. Không phải công việc xay bột lôi cuốn tôi mà mục đích chính là để hóng chuyện chị hai chị ba kể với nhau.



Cối được đục từ đá thiên nhiên nguyên khối, gồm hai phần thớt tròn chồng lên nhau. Thớt trên có đục lỗ đường kính chừng 3 cm để đổ gạo, đậu, hạt…vào. Hai bên hông có hai tai vuông gắn thanh gỗ để người xay bột nắm quay cho khối thớt chuyển động vòng tròn. Nhờ sự cọ sát với thớt đá nằm dưới có rạch nhiều rãnh sẽ nghiền nát gạo thành bột mịn.
Một chị lấy cái muỗng ăn canh múc phân nửa nếp rang cho vào lỗ cối, rồi mỗi người dùng một bàn tay nắm cái thanh gỗ tròn cắm bên hông cối mà quay từ từ nhẹ nhàng đều đặn nhiều vòng cho hạt nếp nát vụng rơi xuống rãnh cối dưới, làm dôi ra như máng xối hứng nước mưa, rồi múc nửa muỗng nếp khác cho vào quay tiếp. Hai bàn tay mềm mại nhỏ nhắn xoay tròn cái cối không có vẻ gì mệt nhọc mà giống như một trò giải trí cởi ngựa xem hoa vì mỗi đêm hai chị chỉ xay chừng non chén nếp là… ngưng, tối hôm sau mới lại tiếp tục.

Hai người vừa làm vừa thì thầm kể chuyện. Mặt mày rạng rỡ, đôi môi hàm tiếu cười duyên dáng mỗi khi đến đoạn thích thú.
Những câu chuyện của “người mới lớn” xem chừng thu hút cái đứa tôi 13 tuổi hơn là em gái tôi. Vì vậy thường thì nó ngồi một lúc là lỉnh vào giường ngủ mất, chỉ có tôi lúc nào cũng nấn ná bên cạnh hai chị, nuốt từng lời chị hai kể cho chị ba nghe và ngược lại. Những chuyện về trường lớp thầy cô, ông giám thị, bạn bè nam nữ–hấp dẫn nhất là chuyện các anh lớp lớn, hay các ông sĩ quan theo tán tỉnh hai chị v..v…Hai người chỉ lợi dụng lúc cùng làm việc bếp núc chung, rửa chén… khi không có sự hiện diện của ông bà ngoại, ba má thì mới có cơ hội kể chuyện thầm kín. Tôi biết tỏng như thế nên hễ được dịp là nhảy lại nghe ké.
Có một ngày kia, tôi nghe chị hai nói với chị ba mà gương mặt lo âu nghiêm trọng:

–Chết rồi B.T ơi, chắc chị có bầu rồi!
– Cái gì? Làm sao? Sao mà chị có được? Chị ba cũng xanh mặt.
–Hồi sáng đi học thầy giám thị kêu buổi trưa ở lại trường lên văn phòng tiếp cộng sổ điểm tháng cùng với anh Nam (cái anh học lớp đệ nhất vẫn hay theo tán tỉnh chị). Lúc thầy đi ra ngoài thì anh Nam nắm tay chị, chị giật lại mà ảnh cứ nắm chặt hồi lâu không chịu buông. Tới chừng nghe tiếng chân thầy lúc đó ảnh mới chịu tha ra. Chết rồi, chắc thế nào chị cũng có bầu.

Chị ba lúc đầu cũng giựt mình nhưng vì là người ngoại cuộc nên mau lấy lại bình tĩnh sáng suốt hơn, trấn an chị hai:
– Chắc không có đâu, hổng lẽ bị con trai nắm tay là có bầu. Nếu như vậy thì khi mình đi sinh hoạt picnic toàn trường nam nữ cùng nắm tay nhau hát các bài du ca cũng có bầu hết sao.
Tuy vậy, hai chị tôi cũng hồi hộp mà đâu dám hỏi ý kiến người lớn, vì còn ngây thơ cho rằng lúc nắm tay bạn trai học chung lớp là cái nắm tay tự nhiên trong sáng nó khác với người có ý nghĩ vẩn đục mờ ám trong đầu. Tôi kinh hoàng với ý nghĩ nếu như là sự thật thì không biết ba má sẽ “xử tội” chị hai thế nào, dù bình thường ba má rất nghiêm khắc không hề dùng bạo lực với con cái, nhưng chúng tôi rất sợ mỗi khi phạm lỗi.
Phải chờ vài tuần khi thấy “những ngày tế nhị” của con gái xuất hiện thì chị mới hoàn toàn yên tâm thoát nạn.
Thế đấy. Ngày xưa thanh niên thiếu nữ 15, 16 mà ngây thơ khờ dại đến độ. Chả bù với thời đại nầy, trẻ ranh 5,6 tuổi đã biết chút chút nầy nọ rồi.



Độ 4,5 ngày trước tết trung thu mới đến giai đoạn ép bánh thì tôi được tham gia vào cùng với ngoại, má.
Bà ngoại cho dầu, đường, nước cốt dừa vắt thật kẹo hoà tan xong rây bột lên nhồi trộn thật lâu cho thấm đều. Nhà có ba cái khuôn, tôi giành làm cái khuôn nhỏ nhất.

Đầu tiên ngoại cho bột vào đáy san phẳng đều, kế tiếp cho đậu xanh ngào đường vào chính giữa, lại phủ lớp bột nếp lên trên cùng xong dùng khuôn có khắc hoa hướng dương ụp vào



ép thật mạnh để bột bánh kết dính vào nhau. Dùng hai ngón tay cái vịn vào mặt gỗ đẩy xuống trong khi các ngón còn lại thì kéo cái khung kim loại bao quanh bánh ngược lên. Thế là cái bánh in hoa hướng dương xinh xắn xuất hiện trước mắt như thể phép lạ. Tôi rộn lên vì thích thú với kết quả. Tưởng tượng mình là cô tiên có thể biến hoá khối bột thành cái bánh in nhỏ nhắn diệu kỳ. Chúng tôi đặt bánh lên những tờ giấy pelure trắng tinh đã được cắt thành hình tròn vừa với mẫu. Chất vào keo chờ vài hôm cho bột nếp thấm đường cũng kịp tới rằm trung thu mang ra thưởng thức là vừa. Ôi, nó thơm tho ngon dẻo làm sao! Tôi cắn miếng bánh bằng cả sự trân trọng hạnh phúc vì do chính tay mình tạo ra.

Một kỷ niệm khác về mùa trăng mà đến nay tôi còn nhớ mãi. Là có một năm tôi khoảng 10 tuổi, sau khi đốt đèn lồng đi vòng vòng trong xóm, ăn bánh xong chúng tôi đi ngủ. Đến nửa khuya ngoại ba má đánh thức chúng tôi:
–Mấy đứa dậy nhanh nhanh chạy ra ruộng lượm trăng về kìa kẻo nó lặn mất.
Đang mắt nhắm mắt mở nghe nói trăng rụng chúng tôi tỉnh hẳn. Tốc mùng chạy ra.
Từ ngoài sân, chúng tôi nhìn về phía ruộng toạ lạc phía sau hè.
Ô kìa, một mặt trăng tròn lớn vành vạnh, sáng vằng vặc nằm sát chân trời. Phía trên đầu tôi là mấy nhánh dừa buông lả lơi theo làn gió nhẹ mát. Có cảm tưởng như trăng treo đầu cành.
Ông bà ngoại, ba má cười bảo:
–Thấy trăng tròn đẹp không? Các con ra lượm mang về nhanh đi, kẻo nó lặn mất.
Trong trí óc non nớt, tôi tin là trăng rụng thật. Nhưng vì sợ ma không dám ra ruộng một mình nên đành chỉ đứng nhìn nàng trăng từ từ lặn xuống. Tôi ngơ ngẩn tiếc nuối vô cùng. Lớn lên, biết ngoại và ba má nói đùa nhưng tôi vẫn ao ước tại sao câu chuyện thần tiên ấy không là sự thật.
Đến năm 1977 trở về sau thì chúng tôi không còn được ăn những chiếc bánh in tự làm nữa. Năm ấy chúng tôi bị đuổi ra khỏi căn nhà đầy ắp tình yêu thương đoàn kết bốn thế hệ quây quần. Mọi vật dụng từ giá trị lẫn thông thường đều bị tước đoạt tất tần tật, kể cả chiếc cối đá quết bánh phồng, cối đá xay bột…Từ đó bà ngoại hết còn làm bánh in nữa.

Những chiếc bánh in ngày xưa trở thành vô giá bởi sự ngon thơm đã đành, mà còn bởi chắt chiu từ những bàn tay chăm chút của ngoại của má, sự vụng về của chị em tôi. Và kèm theo nó, còn là cả một chuỗi kỷ niệm êm đềm thời niên thiếu sẽ còn theo tôi mãi đến cuối đường đời.

Thanh Hà

Mùa Trung Thu 2026

Thứ Ba, 22 tháng 9, 2026

BÀI THƠ HÀI HƯỚC MỪNG TRUNG THU



BÀI THƠ HÀI HƯỚC 
MỪNG TRUNG THU

Trung Thu là Tết thiếu nhi
Cớ sao người lớn lại đi la cà.
Người lớn là trẻ em...già
Chỉ khác trẻ nhỏ đó là có ...râu

Trung Thu là Tết thiếu nhi
Hỏi sao người lớn lại đi chơi nhiều.
Đi chơi họ lại làm liều
Làm liều nên mới ra nhiều thiếu nhi.

Nếu mà người lớn không đi.
Làm sao lại có thiếu nhi hả trời.
Đó là qui luật muôn đời
Trung Thu là tết mọi người đấy thôi

CHÚC MỌI NGƯỜI TRUNG THU VUI VẺ !

(trích trong tinnhanvui.mobi)

(Lưu Khâm Hưng .Blog ) 


Mời  Xem



MỜI CUỘI XUỐNG CHƠI - Thơ Đông A và Thơ Họa

Thứ Bảy, 19 tháng 9, 2026

: GIANG..VÀ NHỮNG TÔ PHỞ KHÔNG KỂ HẾT CHUYỆN ĐỜI

 

Ở Westminster, California, có những con đường mà chỉ cần chạy xe ngang qua, người Việt đã thấy như mình đang trở về một nơi nào đó rất xa.

Trên đường Bushard, những bảng hiệu tiếng Việt chen nhau giữa những cửa tiệm, nhà hàng, tiệm tóc, chợ và quán ăn.Trong một tiệm phở có cái tên nghe rất Mỹ, Phở Holic. Giang làm việc mỗi ngày.

Giang không phải chủ tiệm.

Cũng chẳng phải người nổi tiếng.

Chỉ là một người đứng phía sau quầy, bưng phở, dọn bàn, tính tiền, đôi khi phụ bếp khi khách đông.

Nhưng Giang có một thứ mà không phải ai cũng có.

Đó là khả năng nhìn người.

Giang từng nói:

— Ở đây, nhìn người ta ăn một tô phở là biết được nhiều chuyện lắm.

Người ta tưởng Giang nói đùa.

Không. Giang nói thật. Bởi mỗi ngày, Giang gặp hàng trăm người Việt.

Có người bước vào quán với bộ quần áo sang trọng, đồng hồ đắt tiền, nói chuyện điện thoại bằng tiếng Anh.

Có người đi chiếc xe cũ, ngồi một mình ở góc bàn, gọi đúng một tô phở nhỏ.

Có những ông già ngồi hàng giờ bên ly trà đá, không ăn gì thêm.

Có những bà cụ đi với con cháu, nhưng cả buổi chẳng nói một câu.

Và cũng có những người cứ mỗi lần bước vào quán là kể lại một chuyện cũ.

Một chuyện đã xảy ra cách đây mấy chục năm.

Như thể thời gian chưa từng trôi.

Có người thành công.

Giang nhớ một ông khách khoảng ngoài sáu mươi. Ông thường đến vào buổi trưa. Áo sơ mi bỏ trong quần, giày bóng, nói chuyện điện thoại toàn tiếng Anh.

Một hôm, ông vừa ngồi xuống đã gọi:

— Cho tôi tô tái nạm. Ít bánh. Nhiều rau.

Giang mang phở ra.

Ông ăn rất chậm. Điện thoại reo.

— Yes, I’m coming tomorrow. The meeting is at nine.

Nói xong, ông tắt máy.

Giang hỏi:

— Chú làm ăn lớn lắm hả chú?

Ông cười:

— Cũng đủ sống.

Một câu trả lời rất Mỹ.

Nhưng sau vài lần gặp, ông mới kể.

Ngày xưa ông đến Mỹ chẳng có gì.

Không tiền.

Không tiếng Anh.

Không nghề nghiệp.

Ban ngày đi làm.

Ban đêm đi học.

Có thời gian ông ngủ ngay trong xe.

Sau này ông mở được công ty. Mua nhà. Con cái học đại học. Bây giờ người ta gọi ông là thành công.

Nhưng một hôm ông nói với Giang:

— Con biết không, cái khó nhất không phải là nghèo. Cái khó nhất là lúc mình có tất cả rồi mà chẳng biết mình đang tìm cái gì nữa.

Giang đứng im.

Ông cúi xuống tô phở.

— Hồi nhỏ, chỉ cần có một tô phở nóng là vui. Bây giờ muốn ăn tô phở như hồi nhỏ cũng không tìm lại được.

Giang nhìn ông. Có lẽ ông không thiếu tiền. Ông chỉ thiếu một thời đã mất.

Có người thất bại Rồi có một người đàn ông khác. Ông thường đến vào buổi chiều.

Một mình. Áo khoác cũ. Tóc bạc. Lúc nào cũng chọn cái bàn sát cửa sổ.

Ông gọi:

— Một tô đặc biệt.

Giang mang ra.

Có lần Giang thấy ông đếm từng tờ tiền trước khi trả.

Không đủ tiền.

Giang nói:

— Thôi chú, lần sau trả cũng được.

Ông lắc đầu.

— Không. Để tôi trả.

Giang không hỏi nữa.

Nhưng một hôm ông tự kể. Ông từng có nhà.

Có vợ.

Có con.

Có công việc tốt.

Rồi làm ăn thất bại.

Nợ nần. Ly dị. Con cái không còn nói chuyện. Nhà bán. Xe bán. Cuối cùng ông thuê một căn phòng nhỏ.

Ông nói:

— Người ta thường hỏi tôi tại sao thất bại.

Ông cười buồn.

— Chẳng ai hỏi tôi đã cô đơn bao lâu.

Giang nghe mà thấy nghẹn.

Bởi thất bại ở Mỹ đôi khi không phải là không có tiền.

Mà là một ngày thức dậy, phát hiện chẳng còn ai gọi mình bằng hai tiếng:

Ba ơi.

Có người sống bằng hoài niệm. Nhưng có những người đến quán không phải để ăn.

Họ đến để nhớ. Một nhóm các ông già thường ngồi với nhau vào sáng Chủ Nhật.

Họ gọi phở. Gọi cà phê. Rồi nói chuyện Việt Nam.

Sài Gòn.

Đà Lạt.

Huế.

Nha Trang.

Những con đường cũ.

Những người bạn không còn gặp.

Những người đã nằm lại ở một nơi nào đó mà họ không thể trở về.

Giang nghe mãi thành quen.

Có ông nói:

— Hồi đó, Sài Gòn đẹp lắm.

Ông khác cãi:

— Đẹp gì mà đẹp. Tao nhớ nhất là cái nóng.

Người thứ ba cười:

— Tao nhớ nhất là mấy cô nữ sinh.

Cả bàn cười vang. Nhưng sau tiếng cười ấy thường là một khoảng im lặng.

Bởi ai cũng biết: Có những thứ chỉ có thể nhớ. Không thể quay lại.

Một ông khách từng nói với Giang:

— Tụi chú không sống bằng hiện tại đâu con.

Giang hỏi:

— Vậy sống bằng gì?

Ông nhìn ra ngoài cửa kính.

— Sống bằng ký ức.

Và có người muốn quên. Nhưng cũng có một nhóm người khác. Họ rất ít khi nói chuyện Việt Nam. Một thanh niên khoảng ngoài ba mươi, sinh ra ở Mỹ.

Một lần Giang hỏi:

— Ba mẹ em người Việt hả?

Anh trả lời:

— Yes.

— Em có nói tiếng Việt không?

— Một chút.

Rồi thôi. Không nói thêm.

Giang không hỏi nữa. Nhưng một lần khác, anh đi cùng cha.

Người cha gọi phở bằng giọng miền Nam rất rõ. Còn người con ngồi đối diện, nhìn điện thoại suốt bữa ăn. Hai cha con gần như không nói chuyện.

Đến lúc tính tiền, người cha đứng lên.

Ông nói:

— Ba đi trước.

Người con đáp:

— Okay.

Chỉ một chữ.

Giang nhìn theo hai người.

Một người mang theo cả Việt Nam trong lòng.

Một người dường như muốn để Việt Nam lại phía sau.

Nhưng Giang nghĩ:

Có những thứ mình muốn quên chưa chắc đã quên được.

Bởi chỉ cần một ngày nghe lại một bài hát cũ… Ngửi thấy mùi nước mắm… Hay bất chợt ăn một tô phở giống tô phở mẹ từng nấu…

Ký ức có thể quay về.

Không cần xin phép.

Mỗi tô phở là một câu chuyện. Giang dần hiểu rằng mình không chỉ bán phở.

Giang đang đứng giữa một dòng người Việt đi qua lịch sử.

Có người rời Việt Nam khi còn trẻ.

Có người vượt biển.

Có người sang Mỹ bằng máy bay.

Có người sinh ra ở Mỹ nhưng vẫn nói tiếng Việt.

Có người giàu lên.

Có người nghèo xuống.

Có người giữ được gia đình.

Có người mất cả gia đình.

Có người muốn con mình nhớ quê hương.

Có người lại sợ con mình nhớ quá nhiều.

Có người kể chuyện Việt Nam suốt ngày.

Có người nghe hai chữ “Việt Nam” là muốn đổi đề tài.

Nhưng cuối cùng… Tất cả đều có lúc ngồi xuống trước một tô phở. Khói phở bay lên. Mùi hành ngò. Mùi thịt bò.

Tiếng muỗng chạm vào thành tô. Một thứ rất bình thường. Nhưng đôi khi, chính những thứ bình thường ấy lại kéo người ta về với những năm tháng tưởng đã mất.

Một buổi tối, quán vắng.

Giang lau bàn. Ngoài đường, xe chạy qua. Ánh đèn neon phản chiếu trên mặt kính.

Một ông cụ bước vào. Ông ngồi xuống chiếc bàn quen thuộc.

Giang hỏi:

— Hôm nay chú ăn gì?

Ông đáp:

— Như cũ.

Giang cười:

— Phở tái nạm?

Ông lắc đầu.

— Không.

Giang ngạc nhiên.

Ông nhìn Giang rồi nói:

— Hôm nay cho chú tô phở giống hồi còn nhỏ.

Giang đứng yên.

— Hồi còn nhỏ chú ăn phở ở đâu?

Ông cụ nhìn ra ngoài.

Rất lâu mới trả lời:

— Ở Sài Gòn. Với má chú.

Giang không hỏi thêm.

Anh quay vào bếp. Nước phở vẫn sôi. Hành vẫn xanh. Bánh phở vẫn trắng. Thịt vẫn mềm.

Mọi thứ chẳng có gì khác.

Chỉ có người ngồi trước tô phở là đã đi qua gần cả một đời người.

Giang đặt tô phở xuống. Ông cụ chắp hai tay trước mặt.

Không ăn ngay. Ông chỉ nhìn.

Rồi nói rất nhỏ:

— Má ơi…

Giang quay đi.

Anh giả vờ bận rộn. Bởi có những lúc, người đứng phục vụ cũng cần giữ cho mình một khoảng im lặng.

Đêm đó, khi đóng cửa quán, Giang đứng ngoài nhìn bảng hiệu. Anh chợt hiểu:

Westminster không chỉ là nơi người Việt đến để ăn phở.

Đó còn là nơi người Việt mang theo quá khứ của mình.

Người thành công mang theo những ngày nghèo khó.

Người thất bại mang theo những ngày từng hy vọng.

Người già mang theo quê hương.

Người trẻ mang theo một quê hương mà đôi khi chính họ chưa từng biết.

Và những người muốn quên…

cũng mang theo một phần ký ức mà họ tưởng mình đã bỏ lại.

Giang chỉ là người đứng trong một tiệm phở. Nhưng mỗi ngày, anh nhìn thấy cả một cộng đồng đi ngang qua đời mình.

Họ đến. Gọi một tô phở. Ngồi xuống. Ăn. Rồi đứng lên. Ra về.

Có người để lại tiền tip.

Có người để lại một câu chuyện.

Có người chẳng để lại gì.

Nhưng Giang biết…

Mỗi người bước ra khỏi cánh cửa ấy đều mang theo một câu chuyện riêng.

Và có những câu chuyện…

cả đời họ cũng không thể kể hết.

Phạm Sơn Liêm

Hoa Huỳnh   chuyển

Thứ Tư, 9 tháng 9, 2026

Thai Ly: XE LAM (T.Vấn Và Bạn Hửu )


              Xe Lam Ngày Xưa (Ảnh: Tác Giả gởi)

Hôm qua. Đến một TTTM, chợt thèm món quê, ghé quầy “đậu hũ”. Ha…ha…đậu hũ lại trưng bày trên chiếc Xe Lam. Thế rồi… con trai chụp ảnh, con gái đăng hình, còn kèm hai câu thơ quá là tự do:

      “Em không chê anh nghèo thì ngồi lên đây anh đèo

        Băng qua phố phường nhiều vấn vương, băng qua một mùa dài yêu thương”.

            Câu chuyện cũ chợt tái hiện. Kể nghe nhen. 

          Chúng tôi biết nhau từ năm 1968. Chỉ là “mày đưa mắt liếc” theo kiểu học trò… thời gian dài tiếp theo, đường ai nấy đi, thỉnh thoảng vẫn gặp lại nhau theo kiểu: chào hỏi bâng quơ. Chuyện tình của người ta, tôi biết. Chuyện bè bạn của tôi, họ cũng biết. Ấy vậy rồi không hiểu sao, năm 1978 người ấy lại quay về quê tôi công tác. Cuối tuần, vẫn gặp nhau, cơ bản là anh ta chỉ chơi với các em và Bà Nội tôi… lân la vậy, kể như thân thiết. Những khi gặp nhau, toàn nói chuyện mênh mông… Sau đó, tôi nhớ, nói chuyện tào lao hoài cũng chán. Tôi, khó lòng nói chuyện mà không có “cười”. Người gì mà vừa khô, mình đùa mà cứ “im re”, vừa khờ, mình chọc cũng chỉ im lặng. Nên tôi buồn bèn bày ra chuyện “bói bài”.   Vậy là anh ấy lân la xin “một quẻ”. Lòng mừng khấp khởi, sắp có chuyện vui đây. Bộ bài được đem ra, thầy xóc trước, rồi chìa bài, người xem quẻ xóc tiếp và “kinh”. Thầy xếp bài chuẩn bị “phán”. Ô hô, thật không phải lúc, khách đến, mà khách lại là “má ổng”. Đi đâu vậy trời? Là tìm má tôi. Quen mà. Vậy là tan chuyện bói bài. Nhưng dụ tôi:

                – Đàng nào anh cũng đi dạy. Để sáng anh qua chở em ra bến xe rồi anh đi lên trường, khỏi mất công tụi nhỏ. (Khi ấy, tôi xuống trường bằng xe lam, xe cất kỹ vì… không có xăng đi, mua chợ đen mắc đã đành, tôi không ngại nhưng bị góp ý là “tiểu tư sản” nên… ghét).

           Tôi hơi ngần ngừ rồi cũng gật đầu đồng ý. Chở được hai lần chớ mấy, tới hôm ấy sao là lạ. Đường cũng khá xa, mà cứ cắm cổ đạp, không nói gì. Buổi sáng, trời yên gió, đâu đến nổi “mệt” mà nói không ra hơi? Tôi cũng im luôn. Để xem “con tạo xoay vần đến đâu”(câu này của cụ Nguyễn Du, cho con mượn nghe). Ra đến bến xe lam, tắp xe đạp vào đuôi xe, chỗ để hành khách leo lên, tôi leo lên, đã ngồi yên vị nhưng… ủa, sao chưa chịu đạp xe đi cà? Tôi hơi lạ, chưa kịp nói gì, thì thấy tay “ảnh” run run rút từ túi áo một phong bì, dúi lẹ vào tay tôi giọng nói lại càng run hơn:

                   – Anh gửi em. Trả lời anh nghe. 

             Tôi hơi ngần ngại, nhưng cũng cầm, miệng còn nói thêm:

                  – Gì mà nghiêm trọng vậy? Mấy bữa nay sao không nói? Gặp hoài…

              Vậy rồi, trường ai nấy về. Hihi… tôi thật sự rất tò mò, không biết chuyện gì, nhưng xe đã đủ khách, sắp chạy. Xuống trường thì lo mà dạy… Trưa mới thoả dạ tò mò. Ha…ha…buồn cười quá. Chưa từng “tỏ tình”, chưa nói “yêu thương”, mà lại viết “thơ cầu hôn” còn dặn “…em trả lời sớm để anh lo liệu”. Mấy dzụ này mà biểu tui viết thơ thì kể như “ngàn năm mây bay”. Cho đến cuối tuần mới lại gặp nhau. “Ảnh” nhìn tôi chờ đợi. Tôi mở máy tốc hành: 

                  – Anh làm gì “ớn” vậy? Gặp hoài sao không nói, bày đặt viết thơ còn chờ ra bến xe lam mới đưa nữa. Đưa thơ mà cũng “run”. Còn hối trả lời gấp là sao? Gấp gì mà gấp, chưa nói gì mà biểu người ta ưng?

              Mắc cười, ảnh ngớ người, khai thiệt:

                  – Em nhớ hôm em bói bài cho anh không? Anh định “nắm tay” em “tỏ tình” thì bà già anh tới, sao nói nữa? Nên anh nghĩ viết thơ dễ hơn.

              Tôi trêu thêm:

                  – Vậy nếu bị trắc trở xem như tại má anh. Hôn nhân toại nguyện là nhờ chiếc xe lam?

             Trời ơi. Cũng chỉ đáp lại là sự “im lặng”. Sao đây ta? Người thì thích đùa, người thì không những không đùa mà cũng không biết đùa luôn. Nếu  kết hợp sẽ ra sao?

Thứ Ba, 8 tháng 9, 2026

Thanh Hà: Mùa Thu Bí Ngô (T.Vấn Và Bạn Hửu )

 




Ảnh (Tác Giả gởi)





Trong bốn mùa, mùa nào cũng có nét đẹp riêng của nó cả.

Xuân là tiết giao thời từ giá lạnh sang tươi vui. Cây bắt đầu chuyển mình nhú lộc non mơn mởn. Là tết Nguyên Đán nhà nhà người người rộn ràng chào đón cầu mong năm mới sẽ còn hạnh phúc may mắn hơn năm cũ.

Hạ ấm áp, ngàn hoa khoe hương sắc, ong bướm lượn la đà. Học trò kết thúc niên học náo nức về những ngày nghỉ được rong chơi thoả thích. Người lớn cũng mong có những ngày nắng ấm để tạm gác lại công việc đơn điệu nhàm chán thường nhật, ra nô đùa cùng sóng biển.

Đông giá lạnh, gió bấc tái tê, tuyết phủ trùm lên vạn vật một màu trắng tinh khôi đến loá mắt. Những người thích thể thao cục cựa mở nhà kho mang đôi giày trượt ski và quần áo giữ ấm sẵn sàng cho các chuyến lên núi. Là mùa ông già Noel sẽ cỡi con tuần lộc mang quà phân phát cho mọi trẻ con trên thế giới.

Nhưng hình như mùa thu mới là đề tài bất tận cho các thi, văn, nhạc sĩ viết về nhiều nhất. Các nhiếp ảnh gia chuyên nghiệp lẫn nghiệp dư săn lùng các phong cảnh đẹp quyến rũ mê hồn.

Là mùa của rừng phong lá đỏ, trong truyện Kiều thi hào Nguyễn Du có nhắc:

Rừng phong thu đã nhuốm màu quan san

…Vầng trăng ai xẻ làm đôi

Nửa in gối chiếc, nửa soi dặm trường

Là mùa của lá vàng xào xạc rơi:

Em không nghe mùa thu/ Lá thu kêu xào xạc

Con nai vàng ngơ ngác/ Đạp trên lá vàng khô

(Tiếng Thu, Lưu Trọng Lư)

Là mùa của những tâm hồn mơ mộng tìm đến nhau trên lối đi bộ dọc theo hai bên bờ sông Seine. Lác đác vài nhóm nhỏ tụ họp lại mang nhạc cụ ra chơi, từng đôi nhịp nhàng dìu nhau theo âm thanh dìu dặt của điệu valse, tango, slow…

Khách qua đường đứng lại lặng nhìn, rồi chừng như không cưỡng lại được tiếng nhạc du dương mời mọc, cũng hoà vào không khí lãng mạn. Ánh nắng chiều vàng mùa thu xuyên qua kẻ lá chiếu xuống các thân hình uyển chuyển xoay tròn theo điệu luân vũ, làm tôi nhớ đến mấy câu thơ của thi-sĩ-tình-yêu Nguyên Sa:

Mai tôi đi dù hôm nay đang vào thu

Giòng sông Seine đang mặc áo sương mù

Đang nhìn tôi mà khoe nước biếc

Khoe lá vàng lộng lẫy lối đi xưa (Paris, Nguyên Sa)

Là mùa gây xao xuyến cho những trái tim nhạy cảm:

Ô hay buồn vương cây ngô đồng

Vàng rơi! vàng rơi! thu mênh mông (Tỳ Bà, Bích Khê)

Hoặc ngậm ngùi cho sự từ ly của hai người yêu (hay vợ chồng):

Ta ngắt đi một cụm hoa thạch thảo

Em nhớ cho mùa thu đã chết rồi

….Đôi chúng ta sẽ chẳng còn nhìn nhau nữa

Trên cõi đời nầy…

Từ nay mãi mãi không thấy nhau…

(Mùa Thu Chết, nhạc ngoại, lời Việt Phạm Duy)

Mùa thu không chỉ có màu vàng và đỏ, mà còn có cả một bầu trời sương phủ:

Em ra đi mùa thu/ Mùa thu không trở lại

Em ra đi mùa thu/ Sương mờ giăng âm u

(Mùa thu không trở lại, Phạm Trọng)

Nhưng đặc biệt vùng cao nguyên nơi tôi sống, bầu trời mùa thu xanh một màu thăm thẳm đến khó rời ánh mắt, dõi tìm xem đâu là Vô Tận, Vô Biên trong cái Vô Cùng.

Anh mong chờ mùa thu

Trời đất kia ngả màu xanh lơ…

…Anh mong chờ mùa thu

Tà áo xanh nào về với giấc mơ

Màu áo xanh là màu anh trót yêu

Người mơ không đến bao giờ

(Thu Quyến Rũ, Đoàn Chuẩn)

Tôi thích thơ thẩn xuyên qua các cánh đồng xanh mà ngọn cỏ hơi úa vàng chứ không còn mơn mởn như dạo tiết hè. Hoặc lang thang vào rừng lá đã rụng gần hết chỉ còn trơ gốc cành khẳng khiu, hoà vào sự tĩnh lặng của không gian. Thỉnh thoảng nghe vài tiếng chim chuyền cành hót gọi bạn, gió hiu hiu thổi nhẹ cho vài chiếc lá còn sót lại rì rào xao động.

Hoặc leo lên dốc đồi thấp mà dọc theo lối mòn có những băng ghế gỗ, từ đó ngồi ngắm nhìn quang cảnh thành phố phía dưới. Xe cộ như những con ốc tí hon bò chậm chạp theo con đường giờ chỉ còn là một vệt loang loáng nhựa ngoằn ngoèo. Phóng tầm mắt qua ngọn đồi đối diện, nơi các ngôi nhà nằm lác đác. Nghĩ về những người sống bên trong, giờ nầy họ làm gì? Đang bình thản uống cà phê nghe điệu nhạc folklore vùng núi Alpes (dân ca Thuỵ Sĩ) phát ra từ chiếc radio đời cổ hay đang săn sóc các chị bò sữa, hay chải lông cho bầy ngựa?

Cuộc đời người nông dân ở đây tuy cũng làm những công việc đồng áng nặng nề nhưng sao họ an nhiên hạnh phúc thế.

Nơi tôi sống cũng được gọi là thành phố, nhưng là một thành phố nhỏ. Tôi có thể mượn lời một bài thơ để diễn tả:

Phố núi cao, phố núi trời gần

Phố không xa nên có tình thân

Đi dăm phút đã về chốn cũ…

(Một Chút Gì Để Nhớ, thơ Vũ Hữu Định)

Mở cửa ra đường, tôi đứng ngay trung tâm phố phường nhốn nháo. Nhưng chỉ vài bước chân là tôi đã hoà nhập vào thiên nhiên: Đồng ruộng, rừng thông, đồi dốc.

Ở đây dân tình rất thân thiện gần gũi. Người xứ khác đến cũng cùng nhận xét. Đó là lý do vì sao mà tôi không bỏ nơi nầy để di dời qua chốn khác. Những ai quen nhộn nhịp cho rằng ở đây tuy đẹp nhưng quá buồn, còn tôi thì thích cảnh bình yên tĩnh lặng.Tôi cũng yêu mùa thu. Với trời xanh không một gợn mây, với nắng vàng nhàn nhạt, với lá vàng lá đỏ vương đầy mặt đất. Với màu vàng tươi của các trái bí ngô.

Với màu vàng ươm tươm ra từ con gà tây to kềnh trong lò nướng.

Khi các quầy hàng rau cải trong siêu thị hay ngoài chợ trời bày những trái bí dưới mọi kích thước tròn dài to nhỏ cho khách tha hồ chọn lựa thì đó là báo hiệu mùa lễ Halloween.

Lễ Tạ Ơn, một tập tục đáng khích lệ ở Bắc Mỹ vào tháng 10 tôi được tham dự ba lần ở Vancouver nhân sang bên ấy: nhà em trai, nhà chị vợ của em trai và nhà bạn học mà dòng đời đưa đẩy được gặp lại sau hơn 40 năm rời trường.

Cũng cùng lễ Tạ Ơn nhưng dân Canada lại không tổ chức cùng ngày với dân Mỹ mà diễn ra sớm hơn cả tháng.

Ở châu Âu sao không có tập tục nầy nhỉ? Chắc vì họ là dân chính gốc, đất nước là của tổ tiên ông bà họ từ nhiều ngàn năm dựng lên chứ họ không phải là những di dân đi tìm đất mới nên họ không thấy có bổn phận hay trách nhiệm tạ ơn ai hết chăng?

Nhưng lễ Halloween thì năm nào đến ngày, mới chập tối là chuông cửa nhà tôi đã reng. Các bé trai gái mặc y phục đen hoá trang vẽ mặt mày thành các con ma dễ thương đến xin kẹo bánh.

Có câu chuyện cười về ma do cô cháu gởi, tôi chộp lại nguyên văn cho mọi người cùng đọc:

“Một cô gái rất sợ ma, phải đi học thêm buổi tối mà đường đi có đoạn rất vắng vẻ. Cô mong có người đi cùng cho bớt sợ.

“ Một hôm có chàng trai đạp xe chạy cùng chiều với mình, mừng quá cô chạy lên đi chung. Sau lúc trò chuyện, cô gái nói:

–Em vốn sợ ma lắm, mà đi đoạn đường nầy vắng em rất sợ, may là có anh đi chung.

“Chàng trai mỉm cười trìu mến nhìn cô gái, nói:

–Hồi còn sống anh cũng thế“

Lúc nhỏ tôi sợ ma kinh khủng. Theo thời gian thì tôi nhận ra “quỉ-người” mới đáng ghê tởm hơn nhiều.

Tôi có may mắn được tham dự nhiều lễ hội dân gian khá thú vị. Thí dụ như kỳ festival pumpkin gọi là Harvest Hullabaloo ở Spokane thuộc tiểu bang Washington tháng 9 vừa qua.

Hôm ấy là một ngày đầy mây xám, trắng:

Trời không nắng cũng không mưa

Chỉ hiu hiu rét cho vừa nhớ thương

(Mùa Thu Năm Ngoái, thơ Hồ Dzếnh).

Trên khoảnh đất rộng người ta bầy ra rất nhiều trái bí ngô–còn gọi trái bí đỏ–cho công chúng đến nhìn ngắm, hay leo lên ngồi chễm chệ để chụp hình kỷ niệm và…bán (tất nhiên). Mỗi chủ nhân dựng lều riêng, mỗi lều bán món hàng đặc biệt của mình. Ở khu thức ăn uống tôi thấy một hàng dàinăm bảy chục người sắp hàng chờ. Nhóm chúng tôi bốn người cũng sáp lại gần để xem có gì đặc biệt mà người ta kiên nhẫn chờ lâu thế. Thì ra là họ bán pumpkin donuts, tức là bánh bí đỏ.

Hai vợ chồng người bạn kêu em gái cứ đưa tôi đi vòng vòng xem thiên hạ trong lúc họ sắp hàng chờ mua cho tôi ăn thử cái donut bí đỏ chỉ mùa thu mới có bán.

Bánh nướng tại chỗ chín đến đâu bán đến đấy, mà người mua lại đông nên phải chờ hơn tiếng sau mới đến phiên.Tôi ăn một miếng để không phụ tấm lòng người mua đãi khách. Trời ơi nó ngọt sao là ngọt, gắt cổ họng chịu hết nổi. Cố gắng ăn gần nửa cái donut rồi đành đầu hàng.

Chuyến đi chơi Seattle chỉ là bất ngờ nhưng nhờ đó tôi mới biết nơi đây có cơ quan đầu não của Microsoft, Amazone, Boeing, quán cà phê đầu tiên khi Starbucks dựng

và nhất là đội banh bầu dục Seahawks nữa.

Tôi khám phá thêm vùng đất khác của Hoa Kỳ. Với tôi, điều thú vị không phải nằm ở chỗ các nhà chọc trời, những công trình nhân tạo ngoại hạng hay những cám dỗ loé mắt mà là được ngắm nhìn phong cảnh thiên nhiên hoang dại, những cánh đồng lúa mì mênh mông gặt xong còn trơ gốc rạ vàng đến ngút mắt, vườn táo các loại dòn ngọt, lễ hội dân gian gắn liền với đất đai, cây cỏ.

Đi một ngày đàng học một sàng khôn, lời người xưa nói không sai.

Thanh Hà

Thứ Hai, 31 tháng 8, 2026

Bàn Tay Mẹ Tuyệt Vời

Bàn Tay Mẹ Tuyệt Vời     

                Thơ Trần Quốc Bảo

 

Bàn Tay Mẹ Tuyệt Vời     

 

Kể từ Mẹ sinh con ra,

Khi con vừa khóc oa oa chào đời…

Hai tay Mẹ đón con rồi,

Vuốt ve, ấp ủ vào người ấm êm!

 

Dòng sữa Mẹ, tuổi thần tiên,

Luôn tay bồng bế, hằng đêm ru hời.

Tươi cười, ngoan ngoãn… à ơi…

Ru con khai trí, bằng lời ca dao.

 

Trên tay Mẹ, con lớn mau,

Nâng niu dìu dắt, trước sau chẳng rời.

Dạy con từng bước vào đời,

Biết điều phải trái, biết lời yêu thương!

 

Mỗi lần vấp ngã đau thương,

Vịn tay mẹ, lại can trường đứng lên!

Đời con, sóng gió triền miên,

Nhờ bàn tay Mẹ, bình yên trở về!

 

Nuôi con vất vả trăm bề,

Một sương hai nắng, chẳng nề khó khăn!

Việc đồng ruộng việc nấu ăn…

Bàn tay Từ Mẫu, ráp nhăn sần sùi!

 

Ôi! bàn tay Mẹ tuyệt vời!

Con dâng kính Mẹ ngàn lời vàng son!

Dù nay Mẹ đã chẳng còn,

Hai bàn tay Mẹ, dìu con suốt đời!

 

           Trần Quốc Bảo

                   Richmond, Virginia

             Địa chỉ điện thư của tác giả:

           quocbao_30@yahoo.com


 

Thứ Tư, 26 tháng 8, 2026

MÙA VU LAN - NHỚ MẠ VÀ NHỮNG CHIẾC OM ĐẤT ! (FB.. Hanh Nhân )

 MÙA VU LAN - NHỚ MẠ VÀ NHỮNG CHIẾC OM ĐẤT !

Nhân mùa Vu Lan, tôi lại nhớ về Mạ và mấy chiếc om đất (nồi đất nhỏ) mà Mạ mang theo từ Sịa lên Huế sinh sống. Mạ thường gọi những chiếc nồi đất ấy là cái trách, có trách to, trách nhỏ. Trách to để nấu cơm, nấu canh, nấu nước chè; trách nhỏ thì dùng để kho cá.
Tôi nhớ Mạ giữ gìn những chiếc om đất ấy rất kỹ lưỡng. Dùng xong, Mạ rửa thật sạch rồi gác lên giàn bếp. Tôi mê nhất món cá trê đồng kho khô trong cái om nhỏ ấy. Mỗi lần đi học về, vừa vào cửa ngõ đã nghe mùi cá kho của Mạ thơm nức mũi, quyện với mùi khói củi ,cái mùi ấy đến bây giờ tôi cũng không tài nào tìm lại được. Một phần có lẽ vì cá trê bây giờ phần nhiều là cá nuôi, làm chi còn cái vị cá đồng ngày xưa nữa.
Xã hội dần phát triển, người ta chuyển sang dùng nồi đồng, nồi nhôm để nấu nướng nhưng Mạ tôi vẫn giữ mấy chiếc om đất như báu vật. Những chiếc om ấy càng nấu càng láng, càng dùng lâu càng bóng lên bởi thời gian .Có lẽ chính những chiếc nồi đất mộc mạc ấy đã tạo nên linh hồn cho những bữa cơm đạm bạc mà vô cùng ấm áp của gia đình tôi.
Tôi khoái nhất là miếng cơm cháy vàng lướt dưới đáy om - vừa giòn giòn, vừa mềm mềm - chấm với nước mắm mỡ... Ôi, ngày xưa ấy ,đối với tôi, đó là cả một thiên đường!
Người Huế mình gọi cái nồi đất là cái om, trong khi ngoài Bắc thường gọi là cái niêu. Vì vậy, với người Huế xưa, “cơm om” hay cơm nấu trong om đất nghe thân thương và đúng với ký ức quê nhà hơn là cách gọi “cơm niêu”.
Cơm nấu bằng om đất có một mùi vị rất riêng ,mùi của đất và lửa ! Cơm nấu trong om giữ được nóng lâu, làm cho hạt cơm chín thơm và đậm đà hơn. Mùa đông ở Huế lạnh buốt, một chén cơm nóng nấu từ om đất, ăn cùng chén mắm dưa hay chút cá kho, đối với nhiều người Huế gốc, là một ký ức khó quên.
Ngày nay, bếp ga, bếp điện và những chiếc nồi kim loại hiện đại đã dần thay thế bếp củi và om đất. Nhưng những chiếc om của Mạ tôi ngày nào, cùng những món ăn được nấu trong đó, vẫn sống trong ký ức của tôi ,như một nét văn hóa ẩm thực mộc mạc, và đáng tự hào của người Cố đô.
Mùa Vu Lan, giữa bao nhiêu bộn bề của cuộc sống, tôi lại nhớ Mạ!
Nhớ đôi bàn tay Mạ tự rửa từng chiếc om, gác lên giàn bếp. Nhớ mùi khói củi. Nhớ nồi cá trê đồng kho khô.Nhớ miếng cơm cháy vàng dưới đáy om. Và nhớ một thời nghèo khó mà ấm áp biết bao...
Có những thứ tưởng như rất nhỏ bé, đến khi người thương không còn nữa, ta mới hiểu rằng đó chính là những báu vật của một đời người.
Mạ ơi, mùa Vu Lan này con lại nhớ Mạ ! 🙏❤️
Vu Lan 2026
HN

Thứ Ba, 25 tháng 8, 2026

NGÔN NGỮ VÙNG MIỀN. .(FB. Xuân Hồng )


 NGÔN NGỮ VÙNG MIỀN.

.Ai là dân Saigon cũng biết SG có hai trường nữ công lập lớn và rất nổi tiếng là Trưng Vương và Gia Long. Nữ sinh Trưng Vương thì hết 90% là dân gốc Bắc di cư. Còn bên Gia Long thì 90% là dân Nam, gốc Sài Gòn hoặc từ các tỉnh lên Sài Gòn ăn học. Tỷ lệ thi vào hai trường nầy rất khó khăn. Riêng bên Gia Long, mỗi năm có khoảng 10,000 thí sinh từ các quận ở SG và từ miền Tây, miền Trung vô Sài Gòn thi, mà trường chỉ tuyển có 600 em.
Chuyện có thật nầy được kể từ một cựu nữ sinh Gia Long, là đàn chị của người viết :
Ai đã từng học Gia Long, phần lớn đều biết thầy Hoàng Huyên, giáo sư dạy Toán. Ông lúc mới vào trường dạy còn trẻ măng, nên các nữ sinh còn gọi là "giáo sư babylac". Ông là người Bắc, tướng tá cao ráo, phong độ và rất đẹp "giai" ! Ông đi dạy cũng với phong cách rất "lãng tử", không bao giờ xách cặp da như những giáo sư khác, lúc nào cũng "kẹp" trên tay quyển sách toán, hai tay nhiều lúc còn dính dơ, chưa kịp rửa, vì cứ mải mê lo đánh bóng bàn ở sân thể thao, tới gần giờ dạy mới "tà tà" đi lên lớp !
Hôm đó, ông có giờ dạy một lớp 12 ban B. Vừa vào lớp, ông "tá hỏa" vì trên bàn giáo sư bày sẵn 3 chén chè và một bó nhang. Ông chưa kịp hiểu chuyện gì thì chị trưởng lớp đã đứng lên nói rất trịnh trọng : " Thưa thầy, cuối năm nay tụi em đi thi. Xin thầy thay mặt chúng em, thắp nhang van vái trời phật phù hộ cho cả lớp đều được đậu !"
Ông thầy trợn mắt, kinh hãi trước trò "quái đản" của đám học sinh. Chưa biết trả lời sao thì 60 cái miệng "Nam kỳ rặc"cùng đồng loạt hô to : "dái" thầy, "dái" thầy, "dái" đi thầy.... làm ổng càng hoảng hơn ! Nhưng ngay sau đó thì thầy cũng lấy lại được bình tĩnh và từ tốn nói : "Biết "khấn" gì bây giờ !"
Sau chữ KHẤN phát ra từ miệng ông thầy người Bắc, đám nữ sinh Nam kỳ mới nhận ra là tụi mình "vô diên" dễ sợ. Đứa nào cũng thẹn thùng đỏ mặt, không ai dám lên tiếng nói năng, thiếu điều muốn "độn thổ" vì mắc cở ... Khi tôi học với thầy Huyên, có lần nghe thầy nói : "Thầy thích chữ "mắc cở" của người Nam, nghe dễ thương hơn chữ "xấu hổ" của người Bắc !.....Dĩ nhiên là sau đó dọn dẹp bàn giáo sư cho thầy giảng bài như thường lệ, không có khấn vái gì hết !
Mỗi vùng miền có những từ ngữ và cách phát âm không giống nhau.
Ỡ miền quê trong Nam hay nói: "Bắt con cá Gô bỏ vô Gổ".
Dân quê miền Bắc vẫn nói lẫn lộn giữa chữ L và N : lo lắng thành "no nắng".
Chúng ta không thể nào sửa đổi âm giọng hay từ ngữ địa phương, nhưng khi đã qua hết bậc tiểu học thì bắt buộc phải viết đúng chánh tả. Tuy có phát âm sai, ngọng, nhưng không thể nói sao viết vậy. Thời nay ở Việt Nam xảy ra nhan nhản trên các bảng thương hiệu, biểu ngữ, thậm chí là trong sách giáo khoa (con dơi thì viết là con rơi !)
Còn các từ ngữ lai căng, vô nghĩa và ngớ ngẩn như : bức xúc, sự cố...thì cần phải dẹp bỏ vì đó không phải là ngôn ngữ Việt thuần túy và trong sáng của ngày xưa !
Tác giả : Oanh Nguyễn
Trang: "BẢO TỒN TIẾNG VIỆT TRONG SÁNG"

Thứ Hai, 24 tháng 8, 2026

Vú Mên - Nguyễn Vĩnh Nguyên



Vú Mên



Không thể nói tác giả tìm được cách viết gì mới, thậm chí còn khá cổ, nhưng truyện lại khơi được dòng xúc cảm sẵn có trong lòng người đọc nhờ sự thành thực của người viết. Sự thành thực khiêm nhường đã khiến truyện ngắn này gần như một tự truyện.

Ngày trước, nhà nội tôi thuộc vào hạng thương gia có của ăn của để ở phố Khâm Thiên, Hà Nội. Ông bà chỉ có hai người con trai: Bác Lữ và bố tôi. Cuộc sống của họ khá bình yên và sung túc. Ăn rồi chỉ lo học, không phải làm lụng bất cứ việc gì. Việc nhà từ trong ra ngoài, nặng nhẹ đều có bọn con ở lo hết.

Từ khi bác Lữ ra đời, đã có mặt vú Mên. Vú bỏ quê Thái Bình lên Hà thành làm con ở cho ông bà từ năm mười lăm tuổi. Bà bảo vú là người mát tay, đảm đang và trung thành nhất trong nhóm người giúp việc nhà. Cũng phải, ngoài trách nhiệm của con ở ra, vú còn là kẻ hàm ơn ông nội rất lớn. Tôi nghe kể lại, ngày ấy, trong một chuyến buôn vật liệu về Thái Bình, ông đã gặp cô bé Mên trong cảnh thảm thương. Nạn đói năm 1945, gia đình của bé Mên đã lần lượt ra đi. Cô bé mười lăm tuổi chơ vơ bên bố mẹ - hai tử thi không một manh chiếu chôn cất mà khóc vật vã, khóc đến cạn nước mắt. Trong cái cảnh đời tối tăm u ám ấy, bàn tay của một thương gia giàu có đã nâng đỡ cô bé Mên đứng dậy. Đó là ông nội tôi. Ông bỏ tiền ra mua ván thiên, lo chôn cất hai cái tử thi đã tới ngày dậy mùi và đưa cô bé Mên lên Hà Nội cho giúp việc trong nhà mình.

Từ đó, vú Mên bám theo chân ông lớn lên.

° ° °

Trong nhà nội, vú Mên thương bố tôi hơn bác Lữ, vì bố hiền lành và biết chuyện hơn. Ngược lại, bác Lữ là người bẳn tính, hay la rầy đám con ở trong nhà và đôi lúc còn cãi lại ông bà nội. Phận làm con ở cam chịu và lặng lẽ đã làm cho vú quên khuấy tuổi xuân của mình đến và đi tự bao giờ... Vú không biết mình có thời con gái, lòng vú không có chỗ cho khát khao mơ ước thiếu nữ trỗi dậy. Chưa bao giờ vú dám nghĩ đến chuyện lập gia đình riêng với ai đó. Vú lo sợ. Nỗi ám ảnh quá khứ như một vết thương cứ nhói đau, day dứt khi lòng người lắng dịu. Công việc lặt vặt làm cho vú quên đi nhiều điều đáng quên và nhiều điều lẽ ra không có quyền được quên. Tuổi xuân lặng lẽ trôi đi... Cứ nhìn vú lúc già thì biết ngày trẻ cũng không đến nỗi nào. Vú có cái duyên hương đồng gió nội nào thua chị kém em ở cái đất Hà thành phồn hoa này. Nhưng vú thiết chi gương lược. Ngày đêm cứ cung cúc làm lụng như một chiếc bóng. ẹt nói và hiền hậu. Cam chịu và nhẫn nại. Có lần ông nội định gả vú cho chú Hậu - người kề cận ông trong những chuyến đi lấy hàng xa. Nghe nói, dạo ấy chú Hậu mê vú lắm. Nhưng ông bà vừa nhắc đến chuyện ấy vú đã oà khóc:

- Con chỉ còn ông bà làm nơi nương tựa. Thời buổi này ông bà gả con đi, con sợ lắm. Ông bà thương tình cho con ở đây hầu hạ được ngày nào hay ngày đó. Con có lỗi gì ông bà cứ đánh, cứ đập như con trâu con chó chứ đừng gả con đi. Cho con ở đây trả hết cái ơn, cái đức ông bà dành cho bố mẹ con...

Ông bà nghẹn ngào xót thương cho phận đời bé mọn và cơ cực của vú. Từ đó về sau, cái thiện chí mai mối lấy chồng cho vú không được ông bà nhắc lại nữa vì nghĩ đến một lúc nào đó vú sẽ tìm được người để gắn bó suốt đời, biết đâu lại chẳng nôn nóng trốn nhà mà đi...

Cuộc sống của vú Mên là một chuỗi ngày dài không nỗi buồn cũng chẳng niềm vui. Cho đến khi việc làm ăn của ông nội ngày càng thua kém, đám con ở lần lượt ra đi thì chỉ mình vú Mên neo lại. Sự ở lại của vú Mên khiến cho bác Lữ nghĩ chẳng khác gì cảnh huống một con chim đã quen lồng nên sợ hãi và nhút nhát trước vòm trời rộng. Bác Lữ càng khinh miệt vú ra mặt. Vú chỉ lặng lẽ, không nói. Cũng chẳng ai thấy vú khóc. Sự tồn tại của vú trong nhà nội bây giờ chỉ là chiếc bóng. Một chiếc bóng vật vờ...

Từ lúc làm con ở cho nhà nội cho đến mãi sau này, trong túi vú Mên không bén chút hơi đồng. Vú không biết xài tiền hay mua sắm gì cho riêng mình. Một năm có hai bộ đồ bà nội cắt may cho, vú không đòi hỏi gì thêm. Sự giản dị lắm lúc làm cho con người ta dễ dàng bằng lòng và cam chịu. Bản thân vú ở Hà Nội mười mấy năm rồi thế mà mấy gã lái buôn bạn ông nội cứ loóc léc như mèo trông thấy mỡ: "Con bé nhà quê ấy tìm đâu khéo thế...". Gã khác lại xuýt xoa: "Cho nó về nhà tôi đi, tôi sống độc thân, dễ tính...". Ông nội tảng lờ sang chuyện khác. Nhưng nghe thấy, vú buồn lắm. Thể nào cũng lo lắng đến vài đêm mất ngủ... Bà nội cứ chê vú khờ. Vú không nói gì. Có ai đời tiền đi chợ, thừa một xu cũng đưa về trình bà. Đổi lại cái đám con ở trong nhà dạo trước, cứ mua bớt mua xén dồn làm của riêng. Được cái thật thà đến khờ dại. Vì thế bà thương vú như con.

Bác Lữ lấy vợ tận Sài Gòn - Gia Định rồi theo gia đình vợ vào tận trong ấy. Gia đình nội lại vắng. Bà đau yếu luôn. Ông cũng có tuổi, không đủ sức rong ruổi theo những chuyến hàng xa dài ngày. Cơ nghiệp chỉ trông chờ vào của ăn của để tích trữ từ trước. Gia đình cũng không đến nỗi túng bấn ngặt nghèo. Nhưng đến bây giờ ông bà nội vẫn còn day dứt một điều đó là chưa tìm được nơi nương tựa cho vú Mên. Phụ nữ vẫn là phụ nữ. Cái quyền được làm vợ, làm mẹ người đàn bà nào chẳng được ông trời kia ban phát, dù ít dù nhiều. Nhất là khi ở vào độ tuổi "hồi xuân", sự cần thiết phải có một gia đình đối với người phụ nữ là thực sự quan trọng. Dù đối với vú, mùa xuân nào có đến để ra đi hay trở lại!...

Ngày bố tôi lấy mẹ tôi. Bà nội đút vào tay vú Mên năm khoanh vàng, nghẹn lời...

- Vú cầm số vàng này về quê tìm người thân thích tựa nương. Dù sao, máu mủ vẫn hơn. Vợ chồng tôi ơn vú nhiều. Giờ già cả, con cái đứa nào cũng có chỗ có nơi... Chúng tôi sống sao cũng được, chỉ lo cho vú chôn chân ở đây cả đời, khổ sở...

Vú Mên nuốt nước mắt:

- Bà đuổi con thì con đi, nhưng ngần này con biết đi đâu, về đâu hả ông bà... con chỉ còn nơi này là nhà cửa...

- Thì tôi bảo thế - ông trầm ngâm - vú đi về tìm bà con xem có ai. Nếu không phiền thì cứ quay lại đây rau cháo qua bữa với vợ chồng già chúng tôi...

Năm ấy, vú Mên cầm năm khâu vàng ra khỏi nhà nội. Nhìn dáng vú lẻ loi nhỏ bé khuất giữa dòng người bề bộn, bà tôi chỉ biết đổ vào vai ông mà khóc.

... Nhưng rồi không lâu... chừng một tuần sau, vú Mên mệt mỏi xách nón tìm về nhà nội. Cái khuôn mặt hốc hác ấy khóc tức tưởi:

- Bà ơi, bà thương con, cho con ở lại, con không còn ai thân thích cả. Cũng không nhận ra xóm làng nhà cửa mình ở đâu nữa. Không ai còn nhớ con cả bà ơi. May mà còn tìm thấy mộ bố mẹ, thắp cho các ngài thẻ nhang... Con chỉ còn ông bà thân thích. Con không biết về đâu nữa rồi bà ơi...

Bà nội nước mắt lưng tròng:

- Thế tiền tàu xe tôi gửi vú có đủ không?

- Dạ,... dạ, con nào dám xài... Còn cả đấy bà ạ! Con giả bà, bà thương cho con ở lại giúp việc nhà... - Nói rồi vú móc túi áo nâu lấy ra đúng năm khoanh vàng được gói kỹ lưỡng đưa lại cho bà - con không mua gì cả. Con sợ phí của ông bà. Hôm nọ ông cho con mười hào về tàu lửa con trót xài hết... bà đừng giận con...

Tôi được nghe kể lại mẹ tôi sinh khó, bà qua đời sau tiếng khóc đầu tiên tôi cất lên. Bố tôi lả đi trong nỗi đau mất vợ...Õ thế rồi từ đấy tôi lớn lên trong tình thương của vú Mên. Năm 5 tuổi, tôi mới gọi vú là vú. Trước đó mọi người dạy tôi gọi vú là mẹ. Đối với một đứa bé, ngày nó nhận ra sự mất mát ấy là ngày tuổi thơ khủng khiếp nhất. Đối với tôi, đó cũng là ngày tuổi thơ ra đi.

Đến năm bố dẫn tôi vào Nam lập nghiệp và tục huyền tôi lại mất thêm một người mẹ trong cuộc đời này.... Tôi sẽ có người khác chăm sóc thay vú Mên đó là dì tôi. Nhưng tôi đã đủ khôn để biết mình đã bỏ lại những ngày ấu thơ ở phố Khâm Thiên, nơi tôi có người mẹ đã khuất và một người vú mỏi mòn già nua. Ngày đi, tôi hỏi bố:

- Bố ơi, sao không dẫn mẹ Mên đi cùng...

Bố tôi ngửa mặt lên trời, câm lặng...

Đó là mùa thu. Hương cốm dần lan trong gió vỉa hè. Đường phố dài xao xác lá vàng. Gió mịn màng thổi không đủ làm khô giọt nước mắt trên gò má hanh hao nham nhở những vết nhăn của mẹ Mên.

- Ta không phải là mẹ con. Ta già nua, xấu xí. Ta là vú nuôi con thôi...

Cả vòm trời đang sầm sập gió và lất phất mưa, Những hạt mưa thu bay chéo, lạnh buốt...Từ dạo bố tôi vào Nam đâm làm ăn thua lỗ, ông thất chí, rượu chè say xỉn luôn. Kể ra, hồi mới vào đây, của nả còn khấm khá, cách đối xử giữa dì và bố khác. Còn bây giờ, bao nhiêu giận dữ, bao nhiêu hẹp hòi ích kỷ dì trút cả vào tôi. Bởi vì tôi là món nợ của dì. Dì không cho bố đứa con nào. Bố là người đàn ông khổ sở và đáng thương sống bên dì khác nào trong nấm mồ. Dì cũng có nỗi khổ của dì. Tôi nào trách gì được. Tôi không muốn nghĩ đến câu "Mẹ gà con vịt chít chiu...". Bởi dì không phải là dạng dì ghẻ gắt gỏng quá đáng. Tôi mang ơn dì, một sự hàm ơn không kính phục... Tôi xin dì:

- Dì ơi, còn muốn về Hà Nội...

- Bố con anh đòi hỏi tôi hơi nhiều đấy. Nhìn ông bố anh thấy phát chán kìa. Anh bảo tôi còn trả cái nợ đời này đến bao giờ.

- Nhưng con xin về với bác Lữ...

- Mặc xác anh! Kéo cả ông bố anh về càng tốt. Anh có ăn học cũng biết phụ nữ thời buổi này không chấp nhận loại đàn ông vô tích sự...

- Dì không được nói xấu bố con!

- Chứ ổng có gì tốt nào? Thất nghiệp, nằm vểnh râu, trắng da dài tóc, cái nhà này một tay tôi lo. Thế đấy! Dì ném cái bĩu môi dài thườn thượt rồi ngoảy đi.

° ° °

Cho đến năm kia, khi trở lại đất Hà thành này, tôi chẳng còn ai thân thích nữa. Tôi quỳ trước bốn nấm đất xanh cỏ giữa nghĩa trang, thổn thức. Suốt mấy ngày liền về đây, bố tôi không nói năng gì. Ông lặng câm, lầm lì. Nhưng hôm nay, quỳ trước mộ mẹ, ông bà và vú Mên, bố đã oà khóc. Tiếng khóc thoát lên từ bao nỗi âm u. Tôi nhìn bố run run cắm nhang lên từng nấm đất, miệng lấm rấm nguyện cầu, chợt nghe lòng chua xót.

Trên mộ phần của vú Mên, những cụm hoa kèn nở rộ, tím ngát như màu trời chiều nghĩa trang. Những cụm hoa ấy đổ bóng sang chỗ nằm của ông bà tôi.

Lặng lẽ...

Ngu
yễn Vĩnh Nguyên

KÍNH MỜI XEM và HỌA (NẾU THÍCH) THƠ TRĂNG THU của HỒ NGUYỄN

TRĂNG THU Mây buồn kéo đám bám che trăng, Cuội ngóng chờ trông bóng chị Hằng. Chim mất tổ sầu kêu thảm thiết, Lá buông cành chiếc rớt tung ...