Thứ Năm, 21 tháng 11, 2019

Góc Đường Thi : Thơ TRƯƠNG DUYỆT

 

TRƯƠNG DUYỆT 張說 (667-730) : Đại thần đời Đường. Tự là Đạo Tế, một tự nữa là Duyệt Chi. Người đất Lạc Dương. Đời Võ Tắc Thiên được phong làm Thái Tử Hiệu Thư, đời Đường Trung Tông giữ chức Hoàng Môn Thị Lang, đời Tuấn Tông được phong chức Trung Thư Môn Hạ Bình Chương Sự, đến đời Huyền Tông thì giữ chức Trung Thư Lệnh, rồi được truy phong Yến Quốc Công. Ông giỏi về văn từ nên được giao cho soạn thảo hầu hết các văn kiện quan trọng trong triều đình lúc bấy giờ. Thơ của ông thường làm lúc ngẫu hứng. Sau đây là những bài thơ của ông làm khi bị biếm làm Thứ Sử đất Nhạc Dương.

1. Bài thơ Tống Lương Lục Tự Động Đình Sơn Tác :

                Inline image


             送梁六自洞庭山作 TỐNG LƯƠNG LỤC TỰ ĐỘNG ĐÌNH SƠN TÁC

              巴陵一望洞庭秋,   Ba Lăng nhất vọng Động Đình Thu,
              日見孤峰水上浮。   Nhựt kiến cô phong thủy thượng phù.
              聞道神仙不可接,   Văn đạo thần tiên bất khả tiếp,
              心隨湖水共悠悠.    Tâm tùy hồ thủy cộng du du !
                             張說                               Trương Duyệt  
               
* Chú thích :
   - Lương Lục 梁六 : Tức Lương Tri Vi, Thứ sử Đàm Châu, nhân về kinh đi ngang qua Nhạc Dương, nên Trương Duyệt lúc bấy giờ là Thứ sử Nhạc Dương mới đưa bạn đi qua hồ Động Đình.
   - Động Đình Sơn 洞庭山 : Còn gọi là Quân Sơn, nằm trong Động Đình Hồ về phía tây nam của thành phố Nhạc Dương. Nơi có phong cảnh đẹp đẽ hữu tình.
   - Ba Lăng 巴陵 : Tên Quận của Nhạc Châu, thuộc Nhạc Dương trong tỉnh Hồ Nam.
   - Cô Phong 孤峰 : Đỉnh núi cô độc, chỉ đỉnh Quân Sơn lẻ loi ở giữa hồ Động Đình.
   - Văn Đạo 闻道 : Nghe nói rằng, Nghe đồn rằng...
   - Thần Tiên 神仙 : ở đây chỉ Tương Quân và Tương Phu Nhân hai tiên nhân đắc đạo ở núi Động Đình nầy, nên núi còn có tên Quân Sơn là vì thế. Theo Thập Di Ký 《拾遗记》 của Vương Gia đời Đông Tấn thì có đến tám tiên đảo trôi nổi trên mặt sông hồ biển cả, trong số đó có Quân Sơn. Tương truyền dưới núi Quân Sơn có đến mấy trăm gian nhà vàng tráng lệ để cho các tiên đồng ngọc nữ ở trong đó, suốt ngày luôn có tiếng tiêu thiều tơ trúc vang lừng các khúc nhạc tiên vẳng đến cả trên đỉnh núi. Nhưng không mấy ai gặp được thần tiên trên núi đó.
   - Du Du 悠悠 : là Dài lâu, là Dằng dặc lơ lửng mãi không thôi.

* Nghĩa bài thơ :
                          Làm Khi Đưa LƯƠNG LỤC Từ Núi Động Đình.
      Từ đất Ba Lăng ta nhìn theo bạn đến mút con mắt trên hồ Động Đình khi trời đã vào thu; dưới ánh nắng lắp lánh ta thấy ngọn núi Quân Sơn cô độc như trôi nổi trên hồ Động Đình (tựa như núi Bồng lai ); Nghe nói thần tiên rất khó mà gặp được để tiếp xúc, nên lòng ta cũng như nước hồ trôi nổi tận xa xăm !
* Diễn Nôm :
               CẢM TÁC KHI ĐƯA LƯƠNG LỤC TỪ ĐỘNG ĐÌNH SƠN

                Inline image

                  Ba lăng tiễn bạn Động Đình Hồ,
                  Dưới nắng Quân Sơn tựa lửng lơ.
                  Nghe nói thần tiên không dễ gặp,
                  Lòng theo hồ nước cũng dật dờ ! 
   Lục bát :
                  Ba Lăng thu ngắm Động Đình,
                  Núi côi như nổi xinh xinh giữa hồ.
                  Thần tiên há dễ gặp cơ ?!
                  Lòng ta theo nước dật dờ xa xa !
                                              Đỗ Chiêu Đức

        Bài thơ nầy đã được thân phụ của Công Tử Bạc Liêu cho người viết và cẩn xà cừ treo trong phòng khách trên lầu bên cạnh hai câu đối chính. Ta thấy nội dung bài thơ diễn tả lại tâm lý tự nhiên của con người trước cảnh chia tay, trước thiên nhiên trời nước bao la của hồ Động Đình, trước sự nhỏ bé của núi Quân Sơn như đang trôi nổi trên mặt hồ như tiên đảo Bồng lai; làm cho lòng người cũng lắng đọng xuống muốn đi tu tiên để sống cảnh sống thanh nhàn của thần tiên, không xô bồ xô bộn như cuộc đời thực tế đang diễn ra trước mắt. Nếu chịu lắng lòng với bài thơ nầy, thì chắc Công Tử Bạc Liêu cũng sẽ bớt ăn chơi hơn. Tiếc thay !...

2. Bài thơ Thục Đạo Hậu Kỳ :

     Inline image

 蜀道后期          THỤC ĐẠO HẬU KỲ
客心争日月,   Khách tâm tranh nhật nguyệt,
来往预期程。   Lai vãng dự kỳ trình.
秋風不相待,   Thu phong bất tương đãi,
先至洛陽城。   Tiên chí Lạc Dương thành.
       張說                   Trương Duyệt

     Giữa những năm Tiên Thụ của triều Võ Tắc Thiên (690-692), lúc đó Trương Duyệt đang giữ chức Hiêu Thư Lang, hai lần được cử đi sứ xứ Tây Thục. Các chuyến đi đều đã được dự tính sẵn ngày về, nhưng vì công vụ trễ nãi nên phải về muộn. Vì thế nên mới có bài thơ nầy.

* Chú thích :
    - Thục Đạo 蜀道 : THỤC là đất Thục thuộc một vùng của tỉnh Tứ Xuyên ngày nay. Thục Đạo là đường đến nước Thục, vì là vùng cao nguyên với các núi non hiễm trỡ nên đường đi lại khó khăn, như trong bài Thục Đạo Nan của Lý Bạch có câu 蜀道之难,难于上青天!Thục đạo chi nan, nan vu thướng thanh thiên ! Có nghĩa : Đường đi đến đất Thục khó khăn, gian nan như đường đi lên trời xanh !
   - Tranh Nhựt Nguyệt 争日月 :  là Tranh thủ với ngày tháng.
   - Dự Kỳ Trình 预期程 : là Dự tính cả hành trình ngày đi lẫn ngày về.
   - Bất Tương Đãi 不相待 : là Không chờ đợi nhau.
   - Lạc Dương 洛陽 : là Kinh đô của Võ Tắc Thiên lúc bấy giờ.

* Nghĩa bài thơ :
                     ĐƯỜNG THỤC HẸN SAU (Trễ Hẹn)
        Lòng của kẻ đi đến nơi đất khách xa nhà luôn luôn tranh thủ từng ngày từng tháng, cả chuyến đi lẫn chuyến về đều đã dự tính trước cả rồi.( Nhưng vì đường xá khó khăn và công vụ cho nên trễ hẹn ). Còn ngọn gió thu se sắt thì không chờ đợi ai cả, cứ đến kỳ là thổi vụt vù về đến Lạc Dương thành trước ngay (trong khi ta vẫn còn ở đất Thục chưa kịp quay về !).

* Diễn Nôm :
                  
                THỤC ĐẠO HẬU KỲ

         Inline image


              Lòng khách tranh ngày tháng,
              Đi về đúng lịch trình.
              Gió thu không chờ đợi,
              Đến trước Lạc Dương thành.
  Lục bát :
              Tính ngày tính tháng người đi,
              Vãng lai đúng hẹn quy kỳ khích khao.
              Gió thu chẳng đợi ai nào,
              Một mình phe phẩy thổi vào Lạc Dương.
                                           Đỗ Chiêu Đức

3. Bài thơ Ung Hồ Sơn Tự :

   Inline image

   灉湖山寺               UNG HỒ SƠN TỰ
空山寂歷道心生,    Không sơn tịch lịch đạo tâm sanh,
虛谷迢遙野鳥聲。    Hư cốc điều diêu dã điểu thanh.
禪室從來塵外賞,    Thiền thất tòng lai trần ngoại thưởng,
香臺豈是世中情。    Hương đài khởi thị thế trung tình.
雲間東嶺千尋出,    Vân gian đông lãnh thiên tầm xuất,
樹裏南湖一片明。    Thọ lý nam hồ nhất phiến minh.
若使巢由知此意,    Nhược sử Sào Do tri thử ý,
不將蘿薜易簪纓。    Bất tương la bệ dị trâm anh.
           張說                       Trương Duyệt

* Chú thích :
    - UNG HỒ 灉湖 : Còn có tên là Nam Hồ, nằm ở phía nam thành phố Nhạc Dương.
    - ĐIỀU DIÊU 迢遙 : là Xa xôi diệu dợi.
    - THIÊN TẦM 千尋 : Theo hệ thống đo đạc ngày xưa, cứ 8 thước vô 1 tầm, nên Thiên Tầm là Một Ngàn Tầm, chỉ khoảng cách rất cao rất xa.
    - SÀO DO 巢由 : là Sào Phủ và Hứa Do, hai ẩn sĩ cao nhã ngày xưa. Theo Cao Sĩ Truyện : Hứa Do tự là Võ Trọng. Vua Nghiêu nghe tiếng định nhường ngôi cho. Do thoái ẩn bên bờ sông Dĩnh Thủy ở Trung Nhạc dưới núi Cơ Sơn. Vua Nghiêu lại cho triệu ra làm Cửu Châu Trưởng (Người đứng đầu Cửu Châu). Hứa Do không muốn nghe lời triệu đó, nên ra bờ sông Dĩnh Thủy để rửa tai. Nhằm lúc Sào Phủ đang dắt một con nghé con ra bờ sông uống nước, thấy Do đang rửa tai, mới hỏi rõ nguyên nhân , Do đáp :"Vua Nghiêu muốn triệu tôi ra làm Cửu Châu Trưởng, những lời nói về công danh đó làm dơ tai của tôi, nên mới ra đây mà rửa tai." Sào Phủ đáp rằng :"Nếu ông ẩn cư nơi thâm sơn cùng cốc, không người qua lại, thì ai còn gặp được ông mà mời !? Đằng nầy ông ở cạnh bờ sông, là lòng ông còn muốn nghe lời mời mọc của lợi danh. Như thế sẽ làm cho dơ miệng con nghé của ta." Nói đoạn, bèn dắt con nghé lên trên thượng lưu mà uống nước, không cho uống nước mà Hứa Do đã rửa tai, sợ làm cho ô uế miệng con nghé.
   - LA BỆ 蘿薜 : hay Bệ La cũng thế, là hai giống dây leo BỆ LỆ và NỮ LA 薜荔和女萝 thường sống chùm gởi vào thân cây khác hay các vách nhà hàng rào. Thường dùng để chỉ quần áo hoặc nơi ở của các cao sĩ ẩn cư nơi thâm sơn cùng cốc.

* Nghĩa Bài Thơ :
                               CHÙA TRÊN NÚI UNG HỒ
       Núi non vắng vẻ dàn trải ra trước mắt, khiến cho lòng người cũng nảy sinh ra lòng mộ đạo. Trong sơn cốc trống vắng xa xôi nầy luôn có tiếng chim rừng kêu hót. Thiền thất xưa nay vốn dĩ để cho người ngoài trần thế, và đài niệm hương đâu phải là nơi cỏi tục thế tình. Ngọn núi phía đông cao vút ngàn tầm trong mây trắng, và mặt hồ phía nam in bóng rõ rệt của một dãy cây dài. Nếu như Sào Phủ Hứa Do mà biết được ý của ta muốn quy ẩn nơi nầy, thì chắc cũng sẽ không đem la bệ mà đổi lấy trâm anh ( Có nghĩa : Thà ở ẩn nơi nầy còn hơn là ra làm quan ). 

* Diễn Nôm :
                        UNG HỒ SƠN TỰ

                Inline image

                  Núi vắng trải dài sanh mộ đạo,
                  Cốc không chim núi hót bên tai.
                  Phòng thiền vốn của người trong đạo
                  Đài niệm không là khách ngoại lai.
                  Đông lãnh ngàn tầm mây lẫn khuất
                  Nam hồ một dãy bóng cây dài.
                  Hứa Do Sào Phủ đều cao sĩ,
                  Chẳng đổi sô gai lấy mủ đai.
  Lục bát :
                 Trải dài núi vắng đạo sanh,
                 Hư không sơn cốc mặc tình chim ca.
                 Phòng thiền là chốn ta bà,
                 Hương đài đâu phải la cà thế nhân.
                 Nghìn tầm mây vút núi đông,
                 Nam hồ in bóng cây lồng nước mây.
                 Sào Do nếu biết lòng này,
                 Chẳng đem áo vải đổi thay công hầu.

                                                         Đỗ Chiêu Đức   


4. Bài thơ U CHÂU DẠ ẨM :

 Inline image


 幽州夜飲           U CHÂU DẠ ẨM

涼風吹夜雨,    Lương phong xuy dạ vũ,
蕭瑟動寒林。    Tiêu sắc động hàn lâm.
正有高堂宴,    Chính hữu cao đường yến,
能忘遲暮心?    Năng vong trì mộ tâm ?
軍中宜劍舞,    Quân trung nghi kiếm vũ,
塞上重笳音。    Tái thượng trọng già âm.
不作邊城將,    Bất tác biên thành tướng,
誰知恩遇深!    Thùy tri ân ngộ thâm !
       張說                     Trương Duyệt

* Chú thích :
   - U CHÂU 幽州 : Tễn của một châu ngày xưa, gồm có Bắc Kinh, Hà Bắc , Kế huyện của ngày nay.
   - CAO ĐƯỜNG YẾN 高堂宴 : Yến tiệc được bày ở nơi nhà cao cửa rộng. 
   - TRÌ MỘ TÂM 遲暮心 : Cái lòng của buổi chiều đến chậm. Có nghĩa là : Cái lòng ảm đạm thê lương của người già nua trong buổi chiều xế bóng.
   - KIẾM VŨ 劍舞 : là Múa kiếm giúp vui trong tiệc rượu.
   - GÌA 笳 : là Cây kèn được cuốn bằng lá của người Hồ hay thổi.
   - BIÊN THÀNH TƯỚNG 邊城將 : Tướng giữ thành ngoài biên ải. Tác giả tự chỉ mình.
   - ÂN NGỘ 恩遇 : Chỉ cái ân tri ngộ của nhà vua.

* Nghĩa Bài Thơ :
                          ĐÊM DỰ TIỆC RƯỢU Ở U CHÂU
       Trong đêm mưa tối ở U Châu nầy, gió lạnh thổi rít từng cơn qua rừng cây lá lạnh lẽo xạc xào lay động. May thay cũng là lúc trong quân đang có buổi tiệc lớn để ủy lạo tướng sĩ. Nhưng lòng ta sao có thể quên được nỗi thê lương buồn thảm của tuổi già trong buổi chiều xế bóng. Trong tiệc quân thì lấy múa kiếm làm vui, còn ngoài biên tái thì lại trân trọng tiếng kèn lá của người Hồ thổi nghe mà não nuột. Nếu không có làm tướng trấn thủ ngoài biên thành thì sẽ không biết được cái ân tri ngộ của nhà vua dành cho quân tướng ngoài biên ải sâu đậm biết chừng nào !
       Năm đầu Khai Nguyên của Đường Huyền Tông (713-741), Trương Duyệt đang là Trung Thư Lệnh, vì bất hòa với Tễ Tướng Diêu Nguyên Sùng, nên bị biếm làm Thứ Sử Tương Châu, rồi Án Sát sứ Hà Bắc. Sau chuyển làm Hữu Vũ Lâm Tướng Quân Kiểm Hiệu U Châu Đô Đốc. Bài thơ nầy được làm ở Kế Huyện trong phủ Đô Đốc ở U Châu, tả lại tình hình của một buổi dạ tiệc trong quân ngũ, lời thơ bi tráng của một tướng ở biên thành ẩn ức những nỗi bất mãn ngấm ngầm của việc bị biếm ra ngoài  biên ải. 

* Diễn Nôm :
                  U CHÂU DẠ ẨM
       
        Inline image


               Lạnh lẽo đêm mưa gió,
               Xạc xào rừng lá reo.
               Đúng lúc bày diên yến,
               Khó quên lúc xế chiều.
               Trong quân vui múa kiếm,
               Trên ải kèn thay tiêu.
               Chẳng phải biên thành tướng,
               Ân vua thấm thía nhiều !
  Lục bát :
               Vụt vù gió lạnh đêm mưa,
               Rừng cây lạnh lẽo gió đưa xạc xào.
               Tiệc bày thành lũy lầu cao,
               Lòng sao quên được mối sầu chiều rơi.
               Trong quân múa kiếm làm vui,
               Ngoài biên tái vẳng kèn xuôi đất Hồ
               Biên thành tướng ở xa đô,
               Ân vua tri ngộ bao giờ cho nguôi !

                                                Đỗ Chiêu Đức

Tiểu hòa thượng bán đá và bài học về giá trị trong cuộc đời.

“Chính mình” là gốc rễ của mọi vấn đề. Để thay đổi mọi thứ, trước tiên phải thay đổi chính mình! Học hỏi là nền tảng để thay đổi bản thân.

Một ngày nọ, một tiểu hòa thượng chạy đến và hỏi Thiền sư: “Thưa Thầy, giá trị lớn nhất trong cuộc sống của con là gì ạ?”.
Thiền sư trả lời: “Con đi ra khu vườn sau nhặt một hòn đá và mang nó ra chợ bán. Nếu có ai hỏi giá, con không cần nói gì, chỉ giơ hai ngón tay. Nếu người ta đồng ý mua, con đừng bán, chạy về đây, thầy sẽ nói cho con biết rốt cục giá trị lớn nhất trong cuộc đời là gì”.
Sáng sớm hôm sau, tiểu hòa thượng mang tảng đá đến chợ bán.
Ở chợ người qua lại rất nhiều, mọi người đều rất tò mò, một bà nội trợ đến hỏi: “Tảng đá giá bao nhiêu tiền?”.
Hòa thượng giơ hai ngón tay ra, bà nội trợ hỏi: “Hai đồng à?”. Tiểu hòa thượng lắc đầu, bà nội trợ lại hỏi: “Vậy là 20 đồng à? Được, tôi mua, tôi đang cần nó để nén dưa”.
Tiểu hòa thượng nghĩ: “Một hòn đá không có chút giá trị nào mà có thể bán được 20 đồng! Trên núi chẳng phải đầy sao”.
Ảnh minh họa: Eva.

Nhớ lời Thiền sư, tiểu hòa thượng không bán, vui vẻ chạy về gặp Thiền sư: “Thưa Thầy, hôm nay có một bà sẵn sàng trả 20 đồng để mua tảng đá đó, bây giờ thầy có thể cho con biết, giá trị lớn nhất trong cuộc sống của con là gì được không?”.
Thiền sư chậm rãi nói: “Chà, đừng vội, sáng mai con hãy mang hòn đá này tới viện bảo tàng. Nếu ai hỏi giá, con vẫn giơ hai ngón tay ra. Nếu có người muốn mua, con cũng đừng bán, mang nó về đây, chúng ta lại nói chuyện”.
Sáng hôm sau, trong bảo tàng, một nhóm người tò mò theo dõi và thắc mắc không biết tảng đá của tiểu hòa thượng có giá trị gì. Nhiều người đoán: “Vì viên đá này đặt trong bảo tàng, chắc hẳn nó phải có giá trị, chỉ là chúng ta chưa biết mà thôi”.
Lúc này, một người bước ra khỏi đám đông và nói to: “Tiểu hòa thượng, hòn đá anh bán bao nhiêu?”.
Tiểu hòa thượng không nói gì, chỉ giơ hai ngón tay ra. Người đàn ông hỏi: “200 đồng?”. Tiểu hòa thượng lắc đầu. Người đàn ông lại trả giá: “2.000 đồng đi, tôi đang cần để khắc một bức tượng”.
Tiểu hòa thượng nghe thấy điều này lùi lại một bước, vô cùng kinh ngạc!
Cậu vẫn nghe theo lời dặn của Thiền sư, bê tảng đá chạy một mạch lên núi, đến gặp Thiền sư: “Thưa Thầy, hôm nay có người trả 2.000 đồng để mua tảng đá của con. Thầy nói cho con đi, con muốn biết giá trị lớn nhất của cuộc sống là gì?”.
Thiền sư cười và nói: “Ngày mai con lại mang tảng đá ra cửa hàng đồ cổ để bán, sau đó, vẫn như mọi lần con lại mang về đây. Lần này nhất định ta sẽ cho con biết giá trị lớn nhất của cuộc sống là gì”.
Vào ngày thứ ba, tiểu hòa thượng mang tảng đá đến cửa hàng đồ cổ. Một số người tò mò đến xem. Một số người đến hỏi: “Đây là hòn đá gì? Nó được khai quật ở đâu? Triều đại nào? Và để làm gì?”.
Cuối cùng, có người đến hỏi giá: “Tiểu hòa thượng, tảng đá của anh bán bao nhiêu?”.
Tiểu hòa thượng vẫn giữ im lặng và giơ lên hai ngón tay.
“20.000 đồng?”. Tiểu hòa thượng mắt chữ O, miệng chữ A, hét lên vì ngạc nhiên: “A?!”.
Vị khách nghĩ rằng anh ta đã trả giá quá thấp khiến tiểu hòa thượng nổi điên, nên vội vàng sửa lại: “Không! Không! Không! Tôi sai, tôi sẽ trả 200.000 đồng!”.
“200.000 đồng!”. Tiểu hòa thượng nghe vậy, ngay lập tức bê hòn đá lên, chạy một mạch về núi gặp Sư phụ. Cậu thở hổn hển và nói: “Sư phụ, sư phụ, chúng ta phát tài rồi, hôm nay có người đã trả 200.000 đồng để mua tảng đá của chúng ta! Thầy có thể cho con biết giá trị lớn nhất của cuộc đời là gì không ạ?”.

Ảnh minh họa: YouTube.
Thiền sư xoa đầu tiểu hòa thượng, nhẹ nhàng nói:
“Con à, giá trị lớn nhất của cuộc đời con giống như hòn đá này. Nếu con đặt nó ở chợ, con chỉ có giá trị 20 đồng; nếu con đặt nó vào bảo tàng, con sẽ có giá trị 2.000 đồng; nếu con đặt mình vào một cửa hàng đồ cổ, con trị giá 200.000 đồng! Các nền tảng khác nhau, vị trí khác nhau, giá trị của cuộc sống sẽ hoàn toàn khác nhau! Không sợ người khác coi thường con, chỉ sợ con coi thường chính mình. Ai nói con không có giá trị? Không ai có thể định nghĩa cho cuộc đời của con, trừ khi con tự coi mình như một hòn đá vỡ trong bùn. Con đường con chọn sẽ quyết định cuộc sống của con.
“Chính mình” là gốc rễ của mọi vấn đề. Một người không biết bơi, có thay bao nhiêu bể bơi cũng không thể bơi được. Một người không có năng lực, dù thay đổi công việc nào đi nữa cũng không thể cải thiện được khả năng của người đó. Một người không hiểu về tình yêu, dù có đổi bao nhiêu người yêu cũng vẫn vậy. Một người không biết quý trọng gia đình, thay đổi bạn đời không thể giải quyết vấn đề. Một ông chủ không học hỏi sẽ không bao giờ thành công.
Vậy nên, để thay đổi mọi thứ, trước tiên con phải thay đổi chính mình! Học hỏi là nền tảng để thay đổi bản thân.
Trong thực tế, người con yêu là do chính con, những gì con thích cũng ở chính con. Những gì con yêu, những gì con ghét đều chính con quyết định. Khi con thay đổi, mọi thứ sẽ thay đổi.
Thế giới của con là do con tạo ra. Con là Mặt Trời, thế giới của con sẽ tràn ngập ánh nắng. Con là tình yêu, con sẽ sống trong bầu không khí của tình yêu. Con vui vẻ, cuộc sống của con sẽ tràn ngập tiếng cười.
Còn nếu mỗi ngày con đều phàn nàn, kén chọn, đổ lỗi, oán giận, con sẽ sống trong địa ngục. Một niệm lên thiên đàng, một niệm xuống địa ngục. Tốt hay xấu, tất cả ở một niệm ấy. Tâm con ở đâu thì con sẽ ở đó”.
Lời dạy của vị Thiền sư đối với tiểu hòa thượng thật đáng để chúng ta phải suy ngẫm.

(Hoa Huỳnh chuyển)

Vùng 'tam giác chết' trên mặt

Nặn mụn, nhổ lông mũi trên vùng khu vực từ đầu mũi đến các góc của miệng có thể gây nhiễm trùng nguy hiểm, tê liệt mặt hoặc tử vong.
Tiến sĩ Amesh A. Adalja, Trung tâm An ninh Sức khỏe Johns Hopkins tại Pennsylvania, Mỹ, cho biết, vùng "tam giác chết" là thuật ngữ chỉ khu vực bao gồm cả sống mũi đến các góc của miệng, tạo thành một hình tam giác. 
Khu vực này có rất nhiều tĩnh mạch nối các dây thần kinh khu vực xương sọ giúp vận chuyển máu đến não. Các tĩnh mạch thông thường đều có van để ngăn máu chảy ngược chiều, tuy nhiên tĩnh mạch ở khu vực này đều là loại không van. 
Nếu khu vực tam giác bị viêm nhiễm có thể gây viêm nhiễm lên não bộ, dẫn đến suy giảm thị lực, viêm màng não, liệt cơ vùng mặt, nhiễm trùng, thậm chí tử vong. Những người có hệ miễn dịch yếu hơn dễ có nguy cơ nhiễm trùng cao hơn. 
"Nhiễm tụ cầu khuẩn là một trong những loại nhiễm trùng phổ biến nhất ở vùng này của cơ thể", ông Adalja nói.
Vùng tam giác được đánh giá là tam giác tử thần trên khuôn mặt.
Vùng tam giác được đánh giá là "tam giác tử thần" trên khuôn mặt. Ảnh: QTimes

Heather Free, phát ngôn viên của Hiệp hội Dược sĩ Mỹ cho biết khu vực này có 4 dây thần kinh chính kết nối với não điều khiển các chức năng trong và xung quanh khuôn mặt. Tùy thuộc vào các dây thần kinh nào bị nhiễm trùng mà bạn có thể bị liệt ở một số vùng trên khuôn mặt, bao gồm mí mắt và miệng, chức năng vận động cũng có thể bị suy giảm.
Nếu bạn có một mụn viêm ở khu vực này, nó sẽ ở rất gần các khoang xoang. Tình trạng gọi là huyết khối xoang có thể phát triển trong khoang xoang do nhiễm trùng. Tình trạng này có thể dẫn đến nguy cơ hình thành các cục máu đông, làm tăng nguy cơ đột quỵ và tử vong.
Việc phòng ngừa các triệu chứng nhiễm trùng nghiêm trọng hoàn toàn có thể làm được, nếu tuân thủ nguyên tắc không nặn mụn, không gây nhiễm trùng hoặc tạo ra vết thương hở khiến sự viêm nhiễm lây lan ra xung quanh. 
Khi nhận thấy có dấu hiệu nhiễm trùng như vết mụn sưng, u nang ở khu vực này, bạn nên đến cơ sở y tế để bác sĩ thăm khám hoặc dùng những liệu pháp bằng thuốc như serum chấm mụn đặc trị, để diệt khuẩn và làm dịu các vết sưng đỏ. Bên cạnh đó, bạn cũng không nên nhổ lông mũi hoặc ngoáy mũi mạnh tay. Thói quen này có thể gây rách niêm mạc, chảy máu cam, gây nhiễm trùng... 
 
Cẩm Anh (Theo Healthline 
(Dam Ho chuyển )

Thứ Tư, 20 tháng 11, 2019

Sự tàn bạo của Lực lượng Mãnh Hổ ở Việt Nam


Nguồn: Michael Sallah, “The Tiger Force Atrocities”, The New York Times, 26/09/2017.
Biên dịch: Nguyễn Thị Kim Phụng-Nghiên Cứu Quốc Tế

Ký ức ấy ám ảnh Bill Carpenter tận 50 năm sau khi ông hoàn thành nghĩa vụ quân sự ở Việt Nam. Chập tối, một lão nông mặc áo trắng vừa lùa đàn vịt qua sông Vệ thì bất ngờ gặp phải trung đội của Carpenter – đơn vị được biết đến với cái tên Mãnh Hổ (Tiger Force). Ông già sợ hãi la lên. Những gã lính giận dữ quát ông im miệng, nhưng ông không thể.
Phát súng khiến ông lão ngã xuống là thứ đến giờ vẫn khiến Carpenter choàng tỉnh lúc nửa đêm.
Trong một cuộc phỏng vấn gần đây, Carpenter, cựu chuyên gia Lục quân Hoa kỳ, thú nhận, “Chẳng có lý do gì để giết ông ấy cả.”
Đó chỉ là một trong hàng chục vụ tấn công của lực lượng Mãnh Hổ trong năm 1967 nhắm vào các thường dân không có vũ trang, gồm nhiều vụ hãm hiếp và tra tấn, trong chuỗi các vụ bạo lực mà Lầu Năm Góc đã cố gắng tìm cách che đậy nhưng cuối cùng cũng bị vạch trần trong loạt bài báo đăng trên The Toledo Blade năm 2003. Các hồ sơ cho thấy đơn vị trực thuộc Sư đoàn Dù 101 đã thực hiện những gì được cho là chuỗi tội ác dài nhất gây ra bởi một trung đội trong chiến tranh. Họ ném lựu đạn vào những boong ke có phụ nữ và trẻ em đang trú ẩn, bắn chết nhiều tù nhân, sau đó cắt tai và da đầu giữ làm chiến lợi phẩm, giết hại dân làng chẳng bởi lý do gì rồi bỏ lại họ trong các ngôi mộ tập thể.
Nghiên cứu trường hợp của Mãnh Hổ, các chuyên gia quân sự cho rằng động cơ khiến các binh sĩ hành động như vậy là sự giận dữ trước cái chết của đồng đội, thất vọng vì phải đối đầu với kẻ thù ma mãnh, và lo sợ cho sự an toàn của chính mình. Thế nhưng, nhiều năm sau đó, một số binh sĩ đã tiết lộ về các mệnh lệnh yêu cầu họ coi dân thường như kẻ thù, cho phép họ sử dụng vũ khí mà không cần lý do rõ ràng và đo lường thành công của họ bằng chính số lượng xác chết – con số thương vong được liệt kê của kẻ thù có lẽ bao gồm bất cứ ai bị lính Mỹ giết chết .
Như với Thảm sát Mỹ Lai năm 1968, trong đó quân Mỹ đã giết chết hàng trăm phụ nữ, trẻ em và người già ở các thôn nằm gần khu vực hoạt động của Mãnh Hổ, các chỉ huy đóng vai trò trực tiếp, hoặc trong việc kích động, hoặc trong việc che đậy những gì đã xảy ra.
Hồ sơ cho thấy các thành viên của Mãnh Hổ đã bắn hoặc đâm trọng thương ít nhất 81 thường dân một cách trái luật quân sự. Nhưng theo cuộc phỏng vấn của The Blade với các cựu quân nhân và thường dân Việt Nam, trung đội này đã giết chết hàng trăm người dân không vũ trang ở Tây Nguyên trong khoảng thời gian từ tháng 05 đến tháng 11/1967.
“Chúng tôi còn chẳng buồn đếm,” cựu binh Ken Kerney nói vào năm 2003. “Tôi biết điều đó là sai, nhưng nó là một hành động có thể chấp nhận.”
Mãi đến năm 1971, Quân đội Mỹ mới tổ chức một cuộc điều tra về Mãnh Hổ. Nó kéo dài bốn năm và kết quả là khuyến nghị buộc tội giết người, tấn công và xao nhãng nhiệm vụ đối với 18 binh sĩ. Nhưng cuối cùng vẫn không có cái tên nào bị truy tố, và vụ việc được giấu kín trong kho lưu trữ của Quân đội suốt ba thập niên tiếp theo.
“Họ đã chôn vùi mọi thứ,” trích lời cựu bác sĩ cứu thương của trung đội, Rion Causey.
Mãnh Hổ được thành lập vào năm 1965 như một đơn vị tinh nhuệ với mục tiêu đánh bại kẻ thù hoạt động trong các đường hầm dưới lòng đất, đặt các bẫy treo chết người và nhanh chóng biến mất vào rừng sâu khi bị phản công. 45 thành viên trực thuộc trung đội này được kỳ vọng đủ khả năng sống sót nhiều tuần liền trong rừng rậm khi họ tìm kiếm căn cứ của kẻ thù và yêu cầu không kích viện trợ.
Bước sang tháng 05/1967, khi các chỉ huy Mỹ ngày càng bức bối bởi cuộc chiến nơi kẻ thù có thể lẩn trốn trong dân chúng, Mãnh Hổ đã được gửi đến tỉnh Quảng Ngãi để chuyển dân thường vào các khu tái định cư, khiến nông dân không thể trồng lúa, từ đó khiến kẻ thù mất đi một nguồn cung thực phẩm quan trọng.
Thay vì giáp mặt chiến đấu với binh sĩ kẻ thù, họ lại hủy hoại cuộc sống của thường dân, buộc những con người ấy phải rời khỏi quê nhà. Đó là một công việc đáng ghét, và có đến cả tá cựu binh Mãnh Hổ chia sẻ với The Blade rằng điều đó đã khiến họ trở nên tàn bạo hơn và bắt đầu gây hấn với cả những người mà đáng lẽ ra họ phải bảo vệ. Đầu tiên trung đội chỉ giết tù nhân, nhưng chẳng bao lâu sau, họ đã xả súng vào dân thường không được phòng vệ.
Hai cựu binh nói với các nhà điều tra Quân đội rằng nhiều thành viên trong đơn vị đã uống bia suốt buổi chiều ngày 23/07/1967, khi họ gặp ông già với đàn vịt. Ông cụ là một thợ mộc, tên Dao Hue, 68 tuổi, đang trên đường về nhà. Và khi ông còn lắp bắp vì quá kinh hoàng, một trung sĩ đã buộc ông im lặng với một khẩu M-16.
Trong khi một bác sĩ quỳ xuống cố gắng cứu chữa cho ông già tội nghiệp, trung đội trưởng, Trung úy James Hawkins, lại xốc ông dậy và bắn thẳng vào mặt ông bằng khẩu CAR-15. Carpenter đã cố gắng ngăn chặn hành động của Hawkins, nhưng chỉ huy đe dọa sẽ bắn cả ông vì dám can thiệp.
Cháu gái của Dao Hue, Tam Hau, nói với The Blade rằng bà và một dân làng khác đã kéo xác chú mình khỏi bãi cỏ vào sáng hôm sau.
“Dù 30 năm đã trôi qua, vẫn còn đau lắm,” Tam nói. “Tôi cứ tự hỏi tại sao chú tôi phải chết.”
Hawkins, 76 tuổi, người đã rời ngũ vào năm 1978 với hàm thiếu tá, đã không bị kết tội. Nhưng trong cuộc phỏng vấn với The Blade năm 2003, ông ta nói rằng mình bắn người thợ mộc cao tuổi vì ông cụ “quá ồn ào. Tôi phải loại bỏ điều đó ngay lập tức.”
Trong những tuần tiếp theo, thêm nhiều thường dân khác bị lính Mãnh Hổ hành quyết trong chuỗi tội ác tàn bạo đã mãi mãi thay đổi Thung lũng Sông Vệ, những người sống sót nói với The Blade.
Các thành viên trung đội đã bắn chết bốn nông dân lớn tuổi trên đồng lúa khi họ chạy trốn. Sau đó, toán lính còn dẫn hai người gần như mù được tìm thấy đang lang thang trong thung lũng đến khúc quanh của dòng sông và bắn họ.
Một nông dân, Nguyen Dam, nhớ lại cái mùi nồng nặc tử khí ấy. “Chúng tôi đã không thể chôn cất từng người một, mà phải chôn tất cả mọi người trong một ngôi mộ chung.”
Một số thành viên trung đội sau đó còn bắt đầu một “nghi thức” được ghi lại bởi nhóm điều tra: cắt tai người chết và biến chúng thành dây chuyền.
Chỉ huy cao nhất của trung đội, Trung tá Gerald Morse, từng đặt biệt hiệu cho ba đại đội của tiểu đoàn là A, B và C tương ứng với Assassin (Sát thủ), Barbarians (Mọi rợ) và Cutthroats (Cắt cổ), viết trên tấm bảng hiệu treo ngay tại trụ sở chỉ huy tiểu đoàn.
Lính Mãnh Hổ sẵn sàng xả súng vào dân thường kể từ khi nhận được lệnh giết bất cứ thứ gì di chuyển, nhóm cựu binh nói với các nhà điều tra, nhưng còn có một bộ luật ngầm khác. Các chỉ huy bảo tôi rằng, “Chuyện gì xảy ra ở đây, ở lại đây,” Kerney nói với The Blade.
Sự bạo tàn của Mãnh Hổ lên đến đỉnh điểm khi họ đụng độ dữ dội với quân Bắc Việt ở một tỉnh lân cận vào tháng 9. Trong vòng 18 ngày, năm thành viên trung đội đã thiệt mạng và 12 người khác bị thương.
Những người sống sót trở nên căm thù và giận dữ, Causey hồi tưởng. 33 ngày sau đó, ông cho biết, Mãnh Hổ đã càn quét khắp tỉnh.
“Ai nấy đều giận dữ,” ông nói trong một cuộc phỏng vấn. “Họ đơn giản đến đó và quét sạch dân thường.”
Các chỉ huy của trung đội đã nói với các binh sĩ, và các phóng viên của The Blade sau này, rằng những vụ xả súng là được phép bởi họ đang ở trong vùng bắn phá tự do, nơi mà quân đội Mỹ ở Việt Nam có thể dùng súng theo ý muốn mà không cần sự chấp thuận của chỉ huy, một cách tiếp cận dẫn đến thương vong của dân thường trên khắp Nam Việt Nam. Dù vậy, chính sách đó không cho phép bắn vào dân thường không vũ trang, theo lời chuyên gia quân sự.
Nhiều thành viên trung đội cho biết các cuộc tấn công vào thường dân đã kết thúc khi Mãnh Hổ buộc phải ra mặt chiến đấu với kẻ địch trong đợt Mậu Thân 1968 và sau đó được bổ sung thêm thành viên mới.
Lục quân bắt đầu điều tra Mãnh Hổ sau khi một binh sĩ từ một đơn vị khác nói với các quan chức rằng một người lính thuộc lực lượng này đã chặt đầu một đứa trẻ. Bản tóm tắt cuộc điều tra, bao gồm hàng chục lời tuyên thệ của các cựu thành viên trung đội, đã được gửi đến Nhà Trắng và Văn phòng Bộ trưởng Lục quân trong giai đoạn 1971 – 1973. Báo cáo cuối cùng được nộp vào năm 1975, nhưng không có thông báo công khai nào được đưa ra.
Trả lời các câu hỏi gần đây về Lực lượng Mãnh Hổ, Lục quân Mỹ đã ra tuyên bố cho biết họ đang triển khai các chương trình đào tạo đặc biệt để thay đổi văn hóa của quân đội và khắc phục các sự cố xảy ra ở Việt Nam.
Dov Schwartz, phát ngôn viên Lục quân Hoa Kỳ cho biết, “Quân đội hiện đại đã nhạy cảm hơn nhiều trước mức độ nghiêm trọng của những vấn đề này, cũng như có khả năng hơn và sẵn sàng giải quyết vấn đề một cách ngay lập tức và phù hợp.”
Quân đội Mỹ ở Iraq và Afghanistan cũng gây ra tội ác chiến tranh, trong đó có các vụ lạm dụng tại nhà tù Abu Ghraib năm 2004. Chính phủ gọi đó là một sự cố đơn lẻ, không điển hình cho hành vi của nhân viên quân đội Mỹ trong chiến tranh. Nhưng một số tổ chức nhân quyền, bao gồm cả Hội Chữ thập Đỏ, nhận định đây là một phần trong quá trình tra tấn và lạm dụng còn lớn hơn nhiều, mà các nhân viên quân đội Mỹ áp dụng tại các trung tâm giam giữ ở Iraq, Afghanistan và nhiều nơi khác.
Causey, người đã lấy bằng tiến sĩ kỹ thuật hạt nhân sau Chiến tranh Việt Nam, cho biết cải cách lâu dài trong Lục quân đòi hỏi phải trả lại công bằng cho các nạn nhân của tội ác chiến tranh, ngay cả khi vụ việc đã xảy ra từ nhiều thập niên trước. Các chỉ huy của Mãnh Hổ đã chẳng bao giờ phải chịu trách nhiệm cho những gì đã xảy ra, bất chấp việc có những bằng chứng thuyết phục, ông nói.
“Đi điều tra những sự kiện thời bấy giờ nhưng lại không buộc cấp chỉ huy phải chịu trách nhiệm, điều ấy sẽ gửi đi thông điệp sai lệch cho mọi người ngày hôm nay.”
“Chúng ta phải chịu trách nhiệm cho những gì đã xảy ra,” ông nói. “Chúng ta phải ngăn chặn chúng tái diễn”.
Michael Sallah là phóng viên điều tra của tờ USA Today, người đã giành Giải Pulitzer năm 2004, cùng với hai phóng viên khác, cho loạt bài viết của The Toledo Blade về Lực lượng Mãnh Hổ.

KHI CẦM BÚT - Thu Hà



KHI CẦM BÚT
Khi cầm bút viết lên lời tự sự
Là xem như câu chữ ấy từ tim
Chứ đâu ai mang cả những nỗi niềm
Của thiên hạ mà tìm về một mối
Khi cầm bút viết vần thơ lời nói
Phải dặn lòng đừng mang cả tình trong
Của người ta mà góp nhặt cho mình
Làm như thế sao mang danh người viết
Khi cầm viết là ta nên phải biết
Bởi lời thơ tiếng nói của đợi chờ
Bởi lời thơ tiếng nói của con tim
Luôn xuất phát trong nỗi niềm người viết
Xin hãy nhớ và hãy nên phân biệt
Đâu đạo văn đâu riêng biệt của mình
Để cho người khi viết áng thơ sinh
Sẽ cảm thấy an bình trong câu chữ...
 Thu Hà

Góc Đường Thi : Thơ TRƯƠNG DUYỆT

  TRƯƠNG DUYỆT 張說 (667-730) : Đại thần đời Đường. Tự là Đạo Tế, một tự nữa là Duyệt Chi. Người đất Lạc Dương. Đời Võ Tắc Thiên được ph...