Thứ Ba, 25 tháng 8, 2026

' THU SANG ' Thơ Hưng Quốc và Thơ Họa

THU SANG


Sáng nay nghe tiếng chim quang quác

Cảm giác thu sang dường dịu mát

Nắng trốn  mây lùa  gió hắt hiu

Hoa trôi nước cuốn sương bàng bạc

Hươu nai thong thả ngắm bầu trời 

Én nhạn lượn lờ soi bóng thác

Cảnh sắc tuyệt vời dạ ngẩn ngơ 

Thiên thai hạ giới đâu nào khác


Hưng Quốc 

Texas 8-22-2026

 Thơ Họa ;


NGÀY MỚI
 ( thơ vận trắc - họa 4 vận)

Vừa mới hừng đông gà cục tác
Giựt mình choàng dậy trời se mát
Ngoài sân vắng vẻ …gió hiu hiu
Đầu ngõ im lìm…sương rây bạc
Thoáng thấy vầng dương khuất ngọn cây
Vừa trông mạch suối theo dòng thác
Bình minh ló dạng lòng khoan thai
Chắc đón tương lai…đời sẽ khác

songquang 
20260822


KHÓM TRÚC BÊN HIÊN
Hoạ 4 vần

Sau ngày trùng cữu may ra mát
Máy lạnh ngày đêm rền tiếng khạc
Nguyệt quế hoa rơi ngập trắng sân
Ngọc Lan lá rụng theo mây bạc
Đôi chim cu đất gáy cuckoo
Đàn vịt trời bơi kêu quác quác
Khóm trúc bên hiên bướm nhởn nhơ
Như quen cái nóng… không gì khác !

Kiều Mộng Hà
Aug.22.2026


NHỘN NHỊP CHIM MUÔNG

Ngỗng đùa ầm ĩ miệng la quác
Vịt giỡn trong hồ ao nước mát
Cò trắng khoe màu cánh trắng phau
Hạc hồng phô sắc lông hồng bạc
Lượn lờ én liệng giữa khung trời
Duyên dáng công xòe bên ngọn thác
Gà gáy vang lừng rộn xóm thôn
Bồ câu gù bạn, lời khang khác.

Sông Thu
( 23/08/2026 )



          CHUNG HÒA CẢNH SẮC
                       (vận trắc)

Chim Lợn thình lình kêu tiếng quác,
Heo may lành lạnh trời hiu mát,
Ngợp tràn hoa mộng nở bông vàng,
Lóng lánh sương cườm treo lắc bạc,
Núi thẳm xanh  trời biếc lẫn mây,
Non xòa trắng nước ào theo thác,
Hồn Nhân  thơ thới cùng chung hòa
Cảnh sắc thu sang bao đổi khác.

                            Nguyễn Huy Khôi
                                   23-8-2026
                          

NIỀM VUI THÔN DÃ.

Thả chuồng bầy ngỗng mừng vui quác
Trưa nóng lùa trâu ra tắm mát 
Lúa sữa thơm lừng ,sắc trắng ngà 
Mặt sông yên ả ,màu xanh bạc 
Bầu trời xèn xẹt ánh sao băng 
Dòng nước mơn man triền dốc thác 
Mấy chú nai vàng gặm cỏ non 
Tung tăng cá lội sang nơi khác.

LAN.
(23/08/2026).
 

BẢN   LÀNG  BỪNG  SÁNG

Rời ổ đẻ xong gà mái quác
Bản làng bừng sáng hừng đông mát.
Trong cây rộn rã tiếng chim hồng
Dưới suối trong veo hòn đá bạc.
Xào xạc nứa tre vẳng lũng đồi
Ì  ầm cột nước vang chân thác
Nhớ hoài Buôn Hô Bạn Mê Thuộc
Cảnh vật thầm mơ đừng đổi khác.

Mailoc
08-23-2026


KHI TRỞ TRỜI .

Mới sáng ra, nghe vang tiếng quát
Khiến xem hoa, chẳng còn tươi mát
Bước vô nhà , kiếm thơ thầm thì
Nghĩ tới người, thương đời phụ bạc
Thấy nhớ thời xuân vương tóc mây
Lại vui tuổi trẻ tràn dòng thác
Nay ngồi diện bích , bực vu vơ
Năm tháng quạnh hiu chờ đổi khác …

Hawthorne 23 - 8 - 2026
CAO MỴ NHÂN


HÍNH HỌA : CẢNH QUÊ.

Sáng sớm  đàn gà  kêu quác... quác...
Cảnh quê sương phủ còn nghe mát.
Trước sân giàn Lý hoa bung xòa ...,
Thiên Lý́ mùi hương tõa bát ngát
Thanh thản Tâm hồn đón gió Trời.
Chim Oanh hót líu lo bên Thác,
Vườn hoa nở rộ đẹp như mơ,
An lạ̣c cảnh Tiên nào có khác./.

Mỹ Nga, 23/08/2026  ÂL, 11/07/ Bính Ngọ.


GIÀNH BÓNG MÁT
(Họa 4 vần, tá vận)

Chó mèo xua vịt gà oang oác
Bởi chúng tranh nhau giành bóng mát
Dưới đã khô rồi ao nước trong
Trên chưa dịu xuống làn mây bạc
Con người chẳng nỡ đứng chờ toi
Thú vật răng đành nằm đợi thác
Cứ rứa loài to dí nhỏ hoài
Yếu thời quờ quạng tìm nơi khác

Lý Đức Quỳnh
   24/8/2026


TẨM QUẤT

Phố đêm bỗng có tiếng rao “quác”,
Kẻ đứng trên lầu vội xuống ngoắt.
Đấm bóp lẹ làng trông nhịp nhàng,
Vuốt xoa nhanh nhẹn làm thoăn thoắt.
Giãn xương gân cốt nghe êm êm,
Bẻ cổ tay chân kêu rắc rắc.
Mình mẩy không còn đau đã ghê!
Hắn mù nhưng phải nói tài nhất!

Đỗ Quang Vinh
phụng hoạ 
24-8-2026


Kính Họa Vận : THU SANG

Hừng đông gà ngỗng kêu vang…quác
Sáng sớm mưa ngâu thời tiết mát 
Phượng vỹ cành trơ lá, rụng bông
Học sinh thơ ấu ca bài hát
Nai vàng hai mắt ngó chân mây
Vân cẩu mấy chòm nghe tiếng thác
Cảnh vật hữu tình khách ngất ngây
Địa đàng, hạ giới không hề khác ?

MAI XUÂN THANH 
Silicone Valley August 24, 2026

NGÔN NGỮ VÙNG MIỀN. .(FB. Xuân Hồng )


 NGÔN NGỮ VÙNG MIỀN.

.Ai là dân Saigon cũng biết SG có hai trường nữ công lập lớn và rất nổi tiếng là Trưng Vương và Gia Long. Nữ sinh Trưng Vương thì hết 90% là dân gốc Bắc di cư. Còn bên Gia Long thì 90% là dân Nam, gốc Sài Gòn hoặc từ các tỉnh lên Sài Gòn ăn học. Tỷ lệ thi vào hai trường nầy rất khó khăn. Riêng bên Gia Long, mỗi năm có khoảng 10,000 thí sinh từ các quận ở SG và từ miền Tây, miền Trung vô Sài Gòn thi, mà trường chỉ tuyển có 600 em.
Chuyện có thật nầy được kể từ một cựu nữ sinh Gia Long, là đàn chị của người viết :
Ai đã từng học Gia Long, phần lớn đều biết thầy Hoàng Huyên, giáo sư dạy Toán. Ông lúc mới vào trường dạy còn trẻ măng, nên các nữ sinh còn gọi là "giáo sư babylac". Ông là người Bắc, tướng tá cao ráo, phong độ và rất đẹp "giai" ! Ông đi dạy cũng với phong cách rất "lãng tử", không bao giờ xách cặp da như những giáo sư khác, lúc nào cũng "kẹp" trên tay quyển sách toán, hai tay nhiều lúc còn dính dơ, chưa kịp rửa, vì cứ mải mê lo đánh bóng bàn ở sân thể thao, tới gần giờ dạy mới "tà tà" đi lên lớp !
Hôm đó, ông có giờ dạy một lớp 12 ban B. Vừa vào lớp, ông "tá hỏa" vì trên bàn giáo sư bày sẵn 3 chén chè và một bó nhang. Ông chưa kịp hiểu chuyện gì thì chị trưởng lớp đã đứng lên nói rất trịnh trọng : " Thưa thầy, cuối năm nay tụi em đi thi. Xin thầy thay mặt chúng em, thắp nhang van vái trời phật phù hộ cho cả lớp đều được đậu !"
Ông thầy trợn mắt, kinh hãi trước trò "quái đản" của đám học sinh. Chưa biết trả lời sao thì 60 cái miệng "Nam kỳ rặc"cùng đồng loạt hô to : "dái" thầy, "dái" thầy, "dái" đi thầy.... làm ổng càng hoảng hơn ! Nhưng ngay sau đó thì thầy cũng lấy lại được bình tĩnh và từ tốn nói : "Biết "khấn" gì bây giờ !"
Sau chữ KHẤN phát ra từ miệng ông thầy người Bắc, đám nữ sinh Nam kỳ mới nhận ra là tụi mình "vô diên" dễ sợ. Đứa nào cũng thẹn thùng đỏ mặt, không ai dám lên tiếng nói năng, thiếu điều muốn "độn thổ" vì mắc cở ... Khi tôi học với thầy Huyên, có lần nghe thầy nói : "Thầy thích chữ "mắc cở" của người Nam, nghe dễ thương hơn chữ "xấu hổ" của người Bắc !.....Dĩ nhiên là sau đó dọn dẹp bàn giáo sư cho thầy giảng bài như thường lệ, không có khấn vái gì hết !
Mỗi vùng miền có những từ ngữ và cách phát âm không giống nhau.
Ỡ miền quê trong Nam hay nói: "Bắt con cá Gô bỏ vô Gổ".
Dân quê miền Bắc vẫn nói lẫn lộn giữa chữ L và N : lo lắng thành "no nắng".
Chúng ta không thể nào sửa đổi âm giọng hay từ ngữ địa phương, nhưng khi đã qua hết bậc tiểu học thì bắt buộc phải viết đúng chánh tả. Tuy có phát âm sai, ngọng, nhưng không thể nói sao viết vậy. Thời nay ở Việt Nam xảy ra nhan nhản trên các bảng thương hiệu, biểu ngữ, thậm chí là trong sách giáo khoa (con dơi thì viết là con rơi !)
Còn các từ ngữ lai căng, vô nghĩa và ngớ ngẩn như : bức xúc, sự cố...thì cần phải dẹp bỏ vì đó không phải là ngôn ngữ Việt thuần túy và trong sáng của ngày xưa !
Tác giả : Oanh Nguyễn
Trang: "BẢO TỒN TIẾNG VIỆT TRONG SÁNG"

Thứ Hai, 24 tháng 8, 2026

NGOÀI SONG -Thơ Kiều Mộng Hà và Thơ Họa


NGOÀI SONG

Hôm nay
Trời bỗng ngoan hiền
Gió đang thiền toạ
Vành khuyên ngậm lời

Nắng chờ
Chuyển kiếp luân hổi
Ta ngồi khơi lửa…
Nguội đời tro than

Trăng không
Là nguyệt… trăng tàn
Ta không là kẻ
Tham vàng vô tâm

Một đời
Tìm mãi tri âm
Niềm tin khánh tận
Vết bầm… mủ nung

Đất trời
Có chắc thuỷ chung?
Con chim nào hót
Điên khùng ngoài song

Kiều Mộng Hà
Aug .19.2026


Thơ Họa:



NGOÀI HIÊN

Sáng nay
Nắng mới thật hiền
Đường xưa mây trắng
Chim Khuyên ríu lời

Hàng ba
Gió thoảng đôi hồi
Bếp không củi đốt
Tro đời nguội than

Chiều lên
Giăng mắc huy tàn
Chợt xe tơ óng
Dệt vàng lụa tâm

Đêm về
Nghe hải triều âm
Nhớ xưa khổ hận
Mãi bầm dập nung

Thời gian
Vô thủy vô chung
Ta như ngọn cỏ
Khật khùng ngoài hiên

Lý Đức Quỳnh
20/8/2026


CHƯA NGUÔI

Em xa
Guốc mộc khua hiền
Không gian tĩnh lặng
Như khuyên kiệm lời

Cuối hè
Ve khóc… bồi hồi
Tôi ngồi bất động
Thấy đời dấu than !!!

Vườn thiu
Cỏ úa hoa tàn
Vài con bướm lượn
Nhuỵ vàng thương tâm

Bóng ai
Như thể người âm
Vết đau sao mãi
Tím bầm… lửa nung

Chiều ngang
Văng vẳng hồng chung
Nửa đời say xỉn …
Cơn khùng chưa nguôi

TRẦN T ĐỨC
8.20.2026


CHIỀU NẮNG VÀNG BÊN SONG CỬA

Nắng vàng
nhẹ chiếu chiều hiên
Làn mây bên cửa
thoáng nghiêng không lời

Lòng ta…
cảm thấy bồi hồi…
Sao còn lắm kẻ
cõi đời lầm than !

Thời gian
rồi sẽ phai tàn
Sao không thưởng thức
nắng vàng vào tâm ?

Cả đời
tìm kiếm thanh âm
Của người tri kỷ
tim bầm nấu nung

Con người..
vì miếng đỉnh chung
Nên thân khổ lụy
khật khùng mà thôi!

songquang
20260820

( một chiều ngồi bên song cửa thấy nắng vàng nhạt mà nghĩ đến thân mình)



BÂNG KHUÂNG MÙA THU


Thướt tha 

thục nữ ngoan hiền

Trâm cài thêm nét 

đôi khuyên thêm lời


Tâm tư 

rung động vô hồi

Dáng em gợi cảm 

cho  đời sầu than


Như trăng 

soi sáng đêm tàn

Là hương dạ lý 

sắc vàng rung tâm


Tiếng cười 

tựa thể dư âm

Nửa rung thành quách 

nửa bầm ruột nung


Vui đời 

có thuỷ có chung

Kẻ đi bắt bóng 

giống khùng dựa song


Hưng Quốc 

Texas 8-21-2026



BÊN THỀM

Kìa nàng
Thiếu phụ dịu hiền,
Khoe quần lá tọa (1)
Hồn nhiên nhẹ lời.

Nàng chờ 
Nấu phở thêm hổi, (2)
Ngồi bên bếp lửa… 
Que đời khều than, (3)

Ngồi không
Đợi lửa nguội tàn,
Thịt nhừ nàng mới 
Hoàn toàn an tâm.

Cả đời
Nhung nhớ tri âm,
Chàng về khổ tận, 
Thỏa niềm nấu nung.

Có trời 
Chứng giám thủy chung.
Rác sầu quét hót,
Tiệc mừng
Song song.

(1) loại quần được thắt bằng dây ở bên ngoài, phần cạp có thể xòe, xoã xuống, là loại trang phục thuyền thống. Trong bộ trang phục áo bà ba, các cụ thường mặc kèm với quần lá toạ
(2) hồi là hoa đại hồi, quen gọi là cánh hồi, có tinh dầu thơm đặc trưng, thường dùng làm gia vị nấu phở
(3) quê đời là thanh củi dùng để khêu than cho lửa dễ cháy

Đỗ Quang Vinh
phụng họa 

Kính Họa: TÌNH NGƯỜI.

Đêm nay,
Thật lạ Trời hiền
Chì̀m trong thinh lặng
Hạ đi không lời

Mưa Thu,
Không dứt bồi hồi
Tâm tư xao độ̣ng
Tình người thở than.

Tình nhân,
hờ hửng Nguyệt tàn.
Đau lòng nhân nghĩa
Khóc người vô tâm.

Tình người ,
Viễn xứ tri âm.
Tâm cang hờn giận
Một đời nhớ nhung.

Người xưa ,
Nào có thủy chung,
Tình xa ngàn dặm ,
Đứng ngoài cửa song...

Mỹ Nga, 22/08/2026 ÂL,12/07/ Bính Ngọ.

KÍNH MỜI XEM và HỌA (NẾU THÍCH BÀI THƠ “NHỚ DÁNG XƯA' của HỒ NGUYỄN

 


NHỚ DÁNG XƯA

Xưa nhớ da em trắng nõn nà,
Môi hồng mắt biếc dáng kiêu sa.
Tóc dài lơi lã ôm vai xõa,
Ngực nổi bồng bềnh kéo thướt tha.
Ngây ngất lung lơ chân nhẹ bước,
Khoe bung tê tái giọng tình ca.
Bao năm xa cách giờ trông lạ,
Mi hốc da nhăn bụng xệ xà.
                             *
Còn gì kéo níu quyện hồn ta?
HỒ NGUYỄN (21-8-2026)

Thơ Họa 

TÌNH LỠ.

Anh ơi! Hứa hẹn lắm chi nà 
Để ngóng trông mong,lệ cứ sa 
Đợi mãi tâm rầu, người ốm yếu 
Nhớ hoài hình bóng,tiếng đàn ca 
Nếu đà chẳng thích đừng đeo đuổi 
Còn đã không thương chớ cợt xà 
Tình lỡ trao lầm phường giả dối 
Nhưng nào oán trách, thứ và tha.

LAN.
(22/08/2026).


KÍNH HỌA: HÌNH BÓNG KHÓ QUA

Nữ nhi da trắng mịn nỏn nà!
Kéo dạ anh hùng đắm đuối sa.!
Mắt biếc tóc dài vai níu xõa,
Dáng lung linh ẻo lả lê tha.
Em bung từng bước lê từng bước,
Ai nhói hộp hồi vọng tiếng ca.
Nhớ mãi bóng hồng tim vẫn nhịp,
Ngày qua tháng lại vẫn neo xà.
*
Hình này luôn nhói lụn hồn ta.

JULIE DUNG TRƯƠNG (22-8-2026)


EM ĐỔI THAY

Khi xưa em đẹp khiến chim sa
Da trắng như bông dáng bạch xà
Mắt biếc môi son cười nũng nịu
Nói năng nhũn nhặn điệu tình ca
Bây giờ béo tốt thêm màu mỡ
Mủm mỉm tròn quay giống vịt già
Anh vẫn một lòng thương mến mãi
Dù cho biến mất vóc non nà!

THIÊN LÝ


HOÀI NIỆM BUỒN

Nhớ thuở "Bé xưa" dáng nuột nà,
Trang đài huyền diệu tựa "Tiên sa"!
Tình nồng si đắm trao đằm thắm,
Nghĩa nặng yêu thương ngỏ thiết tha!
Cỏ kết vành đan bền hạnh ngộ,
Non thề biển nguyện sóng hòa ca!
Ai ngờ phận hẩm duyên không đặng,
Rẽ gả đôi nơi  tẻ nguyệt xà?!

  Nguyễn Huy Khôi-23-8-2026

 
  KÍNH HỌA:  DÁNG XƯA.

Nàng đẹp như Tiên xinh quá nà...
Má hồng môi đỏ khiến hồn sa...
Lã lơi mái tóc bồng bềnh xõa
Vọng Nguyệt Hằng Nga dáng thướt tha.
Ngất ngưỡng Trai làng theo đuổi bước...
Chim sa cá lụy bản tình ca.
Nàng Tiên thuở nọ còn xinh Lão.
Tóc bạc da mồi vẫn đẹp mà...

Mỹ Nga, 23/08/2026  ÂL,12/07/ Bính Ngọ.





Vú Mên - Nguyễn Vĩnh Nguyên



Vú Mên



Không thể nói tác giả tìm được cách viết gì mới, thậm chí còn khá cổ, nhưng truyện lại khơi được dòng xúc cảm sẵn có trong lòng người đọc nhờ sự thành thực của người viết. Sự thành thực khiêm nhường đã khiến truyện ngắn này gần như một tự truyện.

Ngày trước, nhà nội tôi thuộc vào hạng thương gia có của ăn của để ở phố Khâm Thiên, Hà Nội. Ông bà chỉ có hai người con trai: Bác Lữ và bố tôi. Cuộc sống của họ khá bình yên và sung túc. Ăn rồi chỉ lo học, không phải làm lụng bất cứ việc gì. Việc nhà từ trong ra ngoài, nặng nhẹ đều có bọn con ở lo hết.

Từ khi bác Lữ ra đời, đã có mặt vú Mên. Vú bỏ quê Thái Bình lên Hà thành làm con ở cho ông bà từ năm mười lăm tuổi. Bà bảo vú là người mát tay, đảm đang và trung thành nhất trong nhóm người giúp việc nhà. Cũng phải, ngoài trách nhiệm của con ở ra, vú còn là kẻ hàm ơn ông nội rất lớn. Tôi nghe kể lại, ngày ấy, trong một chuyến buôn vật liệu về Thái Bình, ông đã gặp cô bé Mên trong cảnh thảm thương. Nạn đói năm 1945, gia đình của bé Mên đã lần lượt ra đi. Cô bé mười lăm tuổi chơ vơ bên bố mẹ - hai tử thi không một manh chiếu chôn cất mà khóc vật vã, khóc đến cạn nước mắt. Trong cái cảnh đời tối tăm u ám ấy, bàn tay của một thương gia giàu có đã nâng đỡ cô bé Mên đứng dậy. Đó là ông nội tôi. Ông bỏ tiền ra mua ván thiên, lo chôn cất hai cái tử thi đã tới ngày dậy mùi và đưa cô bé Mên lên Hà Nội cho giúp việc trong nhà mình.

Từ đó, vú Mên bám theo chân ông lớn lên.

° ° °

Trong nhà nội, vú Mên thương bố tôi hơn bác Lữ, vì bố hiền lành và biết chuyện hơn. Ngược lại, bác Lữ là người bẳn tính, hay la rầy đám con ở trong nhà và đôi lúc còn cãi lại ông bà nội. Phận làm con ở cam chịu và lặng lẽ đã làm cho vú quên khuấy tuổi xuân của mình đến và đi tự bao giờ... Vú không biết mình có thời con gái, lòng vú không có chỗ cho khát khao mơ ước thiếu nữ trỗi dậy. Chưa bao giờ vú dám nghĩ đến chuyện lập gia đình riêng với ai đó. Vú lo sợ. Nỗi ám ảnh quá khứ như một vết thương cứ nhói đau, day dứt khi lòng người lắng dịu. Công việc lặt vặt làm cho vú quên đi nhiều điều đáng quên và nhiều điều lẽ ra không có quyền được quên. Tuổi xuân lặng lẽ trôi đi... Cứ nhìn vú lúc già thì biết ngày trẻ cũng không đến nỗi nào. Vú có cái duyên hương đồng gió nội nào thua chị kém em ở cái đất Hà thành phồn hoa này. Nhưng vú thiết chi gương lược. Ngày đêm cứ cung cúc làm lụng như một chiếc bóng. ẹt nói và hiền hậu. Cam chịu và nhẫn nại. Có lần ông nội định gả vú cho chú Hậu - người kề cận ông trong những chuyến đi lấy hàng xa. Nghe nói, dạo ấy chú Hậu mê vú lắm. Nhưng ông bà vừa nhắc đến chuyện ấy vú đã oà khóc:

- Con chỉ còn ông bà làm nơi nương tựa. Thời buổi này ông bà gả con đi, con sợ lắm. Ông bà thương tình cho con ở đây hầu hạ được ngày nào hay ngày đó. Con có lỗi gì ông bà cứ đánh, cứ đập như con trâu con chó chứ đừng gả con đi. Cho con ở đây trả hết cái ơn, cái đức ông bà dành cho bố mẹ con...

Ông bà nghẹn ngào xót thương cho phận đời bé mọn và cơ cực của vú. Từ đó về sau, cái thiện chí mai mối lấy chồng cho vú không được ông bà nhắc lại nữa vì nghĩ đến một lúc nào đó vú sẽ tìm được người để gắn bó suốt đời, biết đâu lại chẳng nôn nóng trốn nhà mà đi...

Cuộc sống của vú Mên là một chuỗi ngày dài không nỗi buồn cũng chẳng niềm vui. Cho đến khi việc làm ăn của ông nội ngày càng thua kém, đám con ở lần lượt ra đi thì chỉ mình vú Mên neo lại. Sự ở lại của vú Mên khiến cho bác Lữ nghĩ chẳng khác gì cảnh huống một con chim đã quen lồng nên sợ hãi và nhút nhát trước vòm trời rộng. Bác Lữ càng khinh miệt vú ra mặt. Vú chỉ lặng lẽ, không nói. Cũng chẳng ai thấy vú khóc. Sự tồn tại của vú trong nhà nội bây giờ chỉ là chiếc bóng. Một chiếc bóng vật vờ...

Từ lúc làm con ở cho nhà nội cho đến mãi sau này, trong túi vú Mên không bén chút hơi đồng. Vú không biết xài tiền hay mua sắm gì cho riêng mình. Một năm có hai bộ đồ bà nội cắt may cho, vú không đòi hỏi gì thêm. Sự giản dị lắm lúc làm cho con người ta dễ dàng bằng lòng và cam chịu. Bản thân vú ở Hà Nội mười mấy năm rồi thế mà mấy gã lái buôn bạn ông nội cứ loóc léc như mèo trông thấy mỡ: "Con bé nhà quê ấy tìm đâu khéo thế...". Gã khác lại xuýt xoa: "Cho nó về nhà tôi đi, tôi sống độc thân, dễ tính...". Ông nội tảng lờ sang chuyện khác. Nhưng nghe thấy, vú buồn lắm. Thể nào cũng lo lắng đến vài đêm mất ngủ... Bà nội cứ chê vú khờ. Vú không nói gì. Có ai đời tiền đi chợ, thừa một xu cũng đưa về trình bà. Đổi lại cái đám con ở trong nhà dạo trước, cứ mua bớt mua xén dồn làm của riêng. Được cái thật thà đến khờ dại. Vì thế bà thương vú như con.

Bác Lữ lấy vợ tận Sài Gòn - Gia Định rồi theo gia đình vợ vào tận trong ấy. Gia đình nội lại vắng. Bà đau yếu luôn. Ông cũng có tuổi, không đủ sức rong ruổi theo những chuyến hàng xa dài ngày. Cơ nghiệp chỉ trông chờ vào của ăn của để tích trữ từ trước. Gia đình cũng không đến nỗi túng bấn ngặt nghèo. Nhưng đến bây giờ ông bà nội vẫn còn day dứt một điều đó là chưa tìm được nơi nương tựa cho vú Mên. Phụ nữ vẫn là phụ nữ. Cái quyền được làm vợ, làm mẹ người đàn bà nào chẳng được ông trời kia ban phát, dù ít dù nhiều. Nhất là khi ở vào độ tuổi "hồi xuân", sự cần thiết phải có một gia đình đối với người phụ nữ là thực sự quan trọng. Dù đối với vú, mùa xuân nào có đến để ra đi hay trở lại!...

Ngày bố tôi lấy mẹ tôi. Bà nội đút vào tay vú Mên năm khoanh vàng, nghẹn lời...

- Vú cầm số vàng này về quê tìm người thân thích tựa nương. Dù sao, máu mủ vẫn hơn. Vợ chồng tôi ơn vú nhiều. Giờ già cả, con cái đứa nào cũng có chỗ có nơi... Chúng tôi sống sao cũng được, chỉ lo cho vú chôn chân ở đây cả đời, khổ sở...

Vú Mên nuốt nước mắt:

- Bà đuổi con thì con đi, nhưng ngần này con biết đi đâu, về đâu hả ông bà... con chỉ còn nơi này là nhà cửa...

- Thì tôi bảo thế - ông trầm ngâm - vú đi về tìm bà con xem có ai. Nếu không phiền thì cứ quay lại đây rau cháo qua bữa với vợ chồng già chúng tôi...

Năm ấy, vú Mên cầm năm khâu vàng ra khỏi nhà nội. Nhìn dáng vú lẻ loi nhỏ bé khuất giữa dòng người bề bộn, bà tôi chỉ biết đổ vào vai ông mà khóc.

... Nhưng rồi không lâu... chừng một tuần sau, vú Mên mệt mỏi xách nón tìm về nhà nội. Cái khuôn mặt hốc hác ấy khóc tức tưởi:

- Bà ơi, bà thương con, cho con ở lại, con không còn ai thân thích cả. Cũng không nhận ra xóm làng nhà cửa mình ở đâu nữa. Không ai còn nhớ con cả bà ơi. May mà còn tìm thấy mộ bố mẹ, thắp cho các ngài thẻ nhang... Con chỉ còn ông bà thân thích. Con không biết về đâu nữa rồi bà ơi...

Bà nội nước mắt lưng tròng:

- Thế tiền tàu xe tôi gửi vú có đủ không?

- Dạ,... dạ, con nào dám xài... Còn cả đấy bà ạ! Con giả bà, bà thương cho con ở lại giúp việc nhà... - Nói rồi vú móc túi áo nâu lấy ra đúng năm khoanh vàng được gói kỹ lưỡng đưa lại cho bà - con không mua gì cả. Con sợ phí của ông bà. Hôm nọ ông cho con mười hào về tàu lửa con trót xài hết... bà đừng giận con...

Tôi được nghe kể lại mẹ tôi sinh khó, bà qua đời sau tiếng khóc đầu tiên tôi cất lên. Bố tôi lả đi trong nỗi đau mất vợ...Õ thế rồi từ đấy tôi lớn lên trong tình thương của vú Mên. Năm 5 tuổi, tôi mới gọi vú là vú. Trước đó mọi người dạy tôi gọi vú là mẹ. Đối với một đứa bé, ngày nó nhận ra sự mất mát ấy là ngày tuổi thơ khủng khiếp nhất. Đối với tôi, đó cũng là ngày tuổi thơ ra đi.

Đến năm bố dẫn tôi vào Nam lập nghiệp và tục huyền tôi lại mất thêm một người mẹ trong cuộc đời này.... Tôi sẽ có người khác chăm sóc thay vú Mên đó là dì tôi. Nhưng tôi đã đủ khôn để biết mình đã bỏ lại những ngày ấu thơ ở phố Khâm Thiên, nơi tôi có người mẹ đã khuất và một người vú mỏi mòn già nua. Ngày đi, tôi hỏi bố:

- Bố ơi, sao không dẫn mẹ Mên đi cùng...

Bố tôi ngửa mặt lên trời, câm lặng...

Đó là mùa thu. Hương cốm dần lan trong gió vỉa hè. Đường phố dài xao xác lá vàng. Gió mịn màng thổi không đủ làm khô giọt nước mắt trên gò má hanh hao nham nhở những vết nhăn của mẹ Mên.

- Ta không phải là mẹ con. Ta già nua, xấu xí. Ta là vú nuôi con thôi...

Cả vòm trời đang sầm sập gió và lất phất mưa, Những hạt mưa thu bay chéo, lạnh buốt...Từ dạo bố tôi vào Nam đâm làm ăn thua lỗ, ông thất chí, rượu chè say xỉn luôn. Kể ra, hồi mới vào đây, của nả còn khấm khá, cách đối xử giữa dì và bố khác. Còn bây giờ, bao nhiêu giận dữ, bao nhiêu hẹp hòi ích kỷ dì trút cả vào tôi. Bởi vì tôi là món nợ của dì. Dì không cho bố đứa con nào. Bố là người đàn ông khổ sở và đáng thương sống bên dì khác nào trong nấm mồ. Dì cũng có nỗi khổ của dì. Tôi nào trách gì được. Tôi không muốn nghĩ đến câu "Mẹ gà con vịt chít chiu...". Bởi dì không phải là dạng dì ghẻ gắt gỏng quá đáng. Tôi mang ơn dì, một sự hàm ơn không kính phục... Tôi xin dì:

- Dì ơi, còn muốn về Hà Nội...

- Bố con anh đòi hỏi tôi hơi nhiều đấy. Nhìn ông bố anh thấy phát chán kìa. Anh bảo tôi còn trả cái nợ đời này đến bao giờ.

- Nhưng con xin về với bác Lữ...

- Mặc xác anh! Kéo cả ông bố anh về càng tốt. Anh có ăn học cũng biết phụ nữ thời buổi này không chấp nhận loại đàn ông vô tích sự...

- Dì không được nói xấu bố con!

- Chứ ổng có gì tốt nào? Thất nghiệp, nằm vểnh râu, trắng da dài tóc, cái nhà này một tay tôi lo. Thế đấy! Dì ném cái bĩu môi dài thườn thượt rồi ngoảy đi.

° ° °

Cho đến năm kia, khi trở lại đất Hà thành này, tôi chẳng còn ai thân thích nữa. Tôi quỳ trước bốn nấm đất xanh cỏ giữa nghĩa trang, thổn thức. Suốt mấy ngày liền về đây, bố tôi không nói năng gì. Ông lặng câm, lầm lì. Nhưng hôm nay, quỳ trước mộ mẹ, ông bà và vú Mên, bố đã oà khóc. Tiếng khóc thoát lên từ bao nỗi âm u. Tôi nhìn bố run run cắm nhang lên từng nấm đất, miệng lấm rấm nguyện cầu, chợt nghe lòng chua xót.

Trên mộ phần của vú Mên, những cụm hoa kèn nở rộ, tím ngát như màu trời chiều nghĩa trang. Những cụm hoa ấy đổ bóng sang chỗ nằm của ông bà tôi.

Lặng lẽ...

Ngu
yễn Vĩnh Nguyên

Chủ Nhật, 23 tháng 8, 2026

QUÊ NHÀ -Thơ Phượng Hồng và Thơ Họa


QUÊ NHÀ

Quay lại Ban mê tháng cuối hè
Ráng chiều rực sắc thoáng đê mê
Bồi hồi cảnh trí xao chân bước
Bối rối tơ lòng xuyến gót về ,
Kỷ niệm cũ lung linh mắt biếc
Quê nhà xưa lấp lánh sao khuê
Bao năm rồi mỏi mòn trông ngóng
Giờ thoả ý mong ,hết não nề !

PHƯỢNG HỒNG


Thơ Họa:


THĂM TRƯỜNG CŨ


Trường cũ đến thăm buổi sáng hè
Lặng thầm hoài niệm thuở đam mê
Đường mây những tưởng thênh thang bước
Lối gió ngờ đâu lủi thủi về
Xót kẻ tìm trầm nơi đất khách
Thương người ngậm ngải chốn phòng khuê
Dở dang thề hẹn lời non nước
Khắc khoải tâm tư mãi nặng nề

Lý Đức Quỳnh
21/8/2026


THĂM QUÊ
( họa 4 vận)

Nhà cũ ghé thăm mỗi dịp hè
Mẹ Cha gặp lại thích say mê
Đường làng trải nhựa …xôn xao bước 
Ngõ xã đổ  xi *…quyến luyến về
Đằm thắm vườn cau thơm vị đất 
Nồng nàn ruộng lúa ngát hương quê
Bao lần khao khát hằng mong đợi
Nay thỏa lòng ta …giữ nếp nề

songquang 
20260821


HỌA: NHỚ HÈ XƯA

Nghe ve than thở biết sang hè,
Nhớ bóng sân trường dạ đắm mê.
Nhớ ánh phượng hồng trò nhảy nhót,
Nhớ hai đứa bạn chở xe về,
Nhớ thầy cô đứng bên hiên lớp,
Nhớ mắt môi trề liếc nắng khuê.
Nhớ mấy mươi năm giờ tuổi hạc,
Hè sang nhớ nữa não nao nề.
*
Thâm tình bè bạn nhớ tim tê.

HỒ NGUYỄN (21-8-2026


THU VỀ NƠI PHỐ CỔ

Thấm thoát đà qua mấy tháng hè
Ve sầu ngưng điệu hát say mê
Chang chang ánh nắng dần suy giảm
Dìu dịu heo may đã trở về
Bãng lãng bầu trời nơi phố vắng
Bâng khuâng thiếu phụ chốn phòng khuê
Lá vàng lác đác rơi ngoài cửa
Tiếng bước chân ai dẫm nặng nề.

Sông Thu
( 21/08/2026 )


GỢI NHỚ CAO NGUYÊN

Ban Mê Thuột nổi tiếng cà-phê
Thức uống thân quen mình thích mê.
Nhấp ngụm quê hương, lòng tưởng đến
Xoay ly viễn xứ, ý tìm về.
Mùi thơm vương vấn nơi sơn cước
Vị chát ngỡ ngàng chốn các khuê.
Gợi nhớ cao nguyên vùng đất đỏ
Thời trai chinh chiến, có chi nề!

DUY ANH
08/21/2026


Kính Họa: TRƯỜNG CỦ QUÊ XƯA.


Trời đang nóng rực những ngày hè
Nắng ráng chiều tàn sau rặng tre.
Trường củ quê xưa thay đổi mới
Ngày thơ kỷ niệm bổng tràn về...
Ve sầu trổi nhac trưa thanh vắng,
Phượng đỏ sân trường nở thắm khoe.
Bạn hữu tứ phương nơi Hải Ngoại
Quê nhà nhớ bạn hảy quay về.

Mỹ Nga, 21/08/2026 ÂL, 10/07/ Bính Ngọ.


   TIỄN HẠ -ĐÓN THU.

Cái nóng dường thêu mấy tháng hè 
Nào đâu thích thú chẳng đam mê 
Ước mau qua lẹ cho Thu đến 
Cầu chóng vụt nhanh tiễn Hạ về 
Gió mát,dòng xanh lồng bóng nguyệt 
Trời trong , mây trắng lộng sao khuê 
Thấy lòng rộn rã và thư thái 
Tâm trạng hân hoan hết nặng nề.

LAN.
(22/08/2026).


ĐỔI THAY THỜI THẾ

Trong mơ vẫn nhớ những mùa hè,
Mẹ vẫn không rời cái nón mê.
Sáng sớm mò cua rồi trở lại,
Buổi trưa mót lúa mới quay về.
Ngày nay mạ thuộc hàng dân dã,
Thuở trước bà dòng dõi ngọc khuê. (*)
Chân lấm tay bùn vì cuộc sống,
Đổ thay thời thế ắt không nề.

Đỗ Quang Vinh
phụng họa 
21-8-2026

(*) Khuê, chữ Hán viết 圭, vốn là tên một loại ngọc quý thời xưa. Loại ngọc dùng trong nghi lễ̃ của thiên tử và chư hầu, mang ý nghĩa cao quý và thanh khiết. Trong văn hoá cổ đại, biểu tương cho phẩm hạnh và lễ nghi truyền thông
Nguyễn Huy Tự trong Hoa Tiên Ký có đoạn viết:

“Nẩy tài nhả NGỌC phun KHUÊ,
Nhẹ nhàng vây sóng, lập loè cánh mây.
Đất bằng một tiếng sấm bay,
Hai sinh đều dự một ngày nguy khoa.”
(Nguyễn Huy Tự)


NẮNG HÈ DALLAS 


Dallas năm nay nóng rực hè 

Héo tàn hoa lá hết say mê

Mong anh nắng hạ nhanh chân vọt

Để chị mưa thu lẹ cẳng về

Tưới thấm ruộng vườn tươi ốc đảo

Nhuộm xanh đồng cỏ mát cung khuê

Sịch sình máy lạnh hai tư tiếng

Dạ thấy âu lo chút nặng nề


Hưng Quốc 

Texas 8 21-2026




                HỒI HƯƠNG

Hồi Hương xốn dạ nhạc ve hè,
Nguồn cội linh huyền!...tỉnh bến mê?
Quê đổi khai đường vui nẻo đến,
Mùa thơm dẫn lối ấm ngày về!
Nôn nao hồi ức bờ tre lũy,
Thổn thức riêng niềm ánh nguyệt khuê?!
Chân chạm ngõ nhà!...thầm nhớ Mẹ!...
Sầu vương hương quyện...lặng...ê nề!

                              Nguyễn Huy Khôi
                                     23-8-2026

Thứ Bảy, 22 tháng 8, 2026

Chuyện Dài Dài Về Phượng Vàng.

 

Chuyện Dài Dài
Về Phượng Vàng.

Chiều ngày 20/8/2026 . Một cơn mưa giông , lốc xoáy đã tràn qua Bảo lộc, có nhiều cây ngã đổ. Tôi được tin từ anh Văn Sĩ Điểm tại trường Dạy Nghề Tân Tiến Bảo lộc cho biết có cây ngã, tiếc nhất là cây Phượng vàng bắt đầu ra hoa năm vừa rồi.
Như vậy là tại Bảo lộc đã có 04 cây bị lốc xoáy làm ngã đổ : Cây mẹ tai Lộc Sơn 2007, cây tại chùa Phước Huệ 2012. Cây tại trường Thăng long 2015 và lần naỳ 2026 tại trường Tân Tiến. Tạm thời ghi nhận những cây bị ngã là do gió mạnh làm gảy thân chứ không bật rễ lên, diều này chứng tỏ là bộ rễ của phượng vàng bám đất khá chắc dù thân tàng rất to, lưu ý đây là những cây dược trồng từ cây con cao 1-2 mét , sự phát triển thân, rễ tự nhiên sẽ vững chắc hơn những cây trồng khi dược bứng những cây cao to

' THU SANG ' Thơ Hưng Quốc và Thơ Họa

THU SANG Sáng nay nghe tiếng chim quang quác Cảm giác thu sang dường dịu mát Nắng trốn  mây lùa  gió hắt hiu Hoa trôi nước cuốn sương bàng b...