Thứ Ba, 31 tháng 3, 2026

BẢY BÓ -Thơ Anh Khờ và Thơ Họa


bảy bó (II)

bảy bó nào ai dám bảo gìà!
ăn chơi "rộng rãi"… chút hào hoa
ngâm nga suốt sáng thừa thư thả...
nhảy nhót thâu đêm đủ thiết tha?
"dzợ" đã "ra đi" nơi xứ lạ…
con thì ở lại chốn làng xa
ngồi không trí não mau tàn tạ
hoạt động yêu đời... khỏe lắm nha!

anh khờ


Thơ Họa:


KHÔNG DẠI NHA!

Bảy bó sờ sờ chả phải giả,
Gieo vần vẩy bút rõ tài hoa!
Nhìn ai đố kỵ lòng buông thả,
Thấy kẻ gian tà ý chẳng tha.
Thích thú ngao du thăm chốn lạ,
Ham vui ngoạn cảnh đến nơi xa.
Tinh thần sáng suốt không điêu tạ (*)
Dám bảo anh khờ, không dại nha!

Đỗ Quang Vinh
28-3-2026

Chú thích

(*) 凋謝 điêu tạ = héo tàn, suy sụp


TRƯỚC LÚC GIÀ


Diễm tuyệt thời gian trước lúc già
Cõi trần bay bổng, trẻ thăng hoa
Diều thênh cánh gió chiều êm ả
Én vút đường mây sáng thướt tha
Náo nức tao phùng nhiều mới lạ
Tưng bừng hạnh ngộ lắm vui xa
Thanh xuân khoáng đãng rồi từ tạ
Lão hạc quy hồi bước nhẩn nha

Lý Đức Quỳnh
29/3/2026

hỷ thi gởi Anh Khờ

khoác vai bát thập phải đâu già
"bẩy bó" xem chừng mới chớm hoa
tửu đế mềm môi chưa dễ bỏ
thi gàn bén bút khó buông tha?
bạc tiền?...phận mỏng khôn xem trọng
danh lợi?...tài hèn sớm lánh xa "!"
tri âm,bằng hữu vui đàm đạo
ngọc thể khang cường ! đủ khoái nha?!

nguyễn huy khôi
30-3-2026


TỰ LỪA
      "Tự do sướng nhất trên đời
Tự lừa còn sướng gấp mười tự do"
                        Nguyễn Bảo Sinh
                              (Hoán vận)

Khôn đâu đến trẻ, khỏe "hù già"
An ủi "tự lừa" cũng thú nha "?"
Tay bám gậy tre  "ham" leo núi
Mắt lòa chân kính "khoái" xem hoa"?"
Răng long cam chịu  "khinh" hàm giả
Gối lỏng  khôn lường  "kỵ"  mát xa"?"
Bà xã "hồi xuân"  chòng "xí xớn"...
Cúi đầu - cầu khẩn - vái - "XIN THA" "???"

                                 Nguyễn Huy Khôi


GIÀ MỚI TRỌN VUI !


Ai bảo chán sao lúc tuổi già
Riêng tôi, thấy sướng lắm à nha !
Không còn vướng bận, lòng thanh thản
Hết phải so kè, dạ thứ tha
Chiều sắp cờ chơi, vui với bạn
Sáng quanh vườn dạo, thỏa cùng hoa
Bốn phương kết nối tình thi hữu
Xướng họa vui vầy khắp chốn xa.

Sông Thu
( 30/03/2026 )


U BẢY.

Bảy chục, thời nay chửa có già 
Tập gym,bơi lội thả ga nha
Sáng đi dạo bộ ngời thong thả
Chiều đến rong chơi rạng thướt tha
Thưởng thức cà phê ra quán cận
Nhâm nhi trà sữa ngắm trời xa
Bạn hiền tề tựu vui ca hát
Nhảy nhót cho đời đẹp dáng hoa.

LAN.
(30/03/2026).


VUI HỌA: TUỔI VỀ GIÀ


Ai đâu bảy bó gọi mình già?
Già lại thích nhìn đắm đuối hoa.
Hoa nở nụ bồng neo sắc thả,
Thả hồn thắm thía kéo thê tha!
Tha thân một thuở còn như lạ,
Lạ dạ quen dần dễ lạc xa.
Xa bến bờ mau quên chốn tạm,
Tạm nơi phải nhớ gốc nhà nha!
*
Nha nhả nhanh già chốc vút qua!

HỒ NGUYỄN (30-3-2026)


KÍNH HỌA : TUỔI ĐÃ GIÀ.


Bảy sáu Xuân xanh tuổi đã già
Một thời bay nhảy chốn phồn hoa
Vô thường cõi tạm nào thong thả?...
Chẳng biết ngày mai không thiết tha.
Cuộc sống nữa đời nơi chốn lạ
Giàu sang sự nghiệp đã dần xa
Lao đao sự Thế đời tàn tạ
Buông xã Vị tha An lạc nha...

Mỹ Nga, 01/04/2026 ÂL, 13/02/ Bính Ngọ

CHẲNG THẤY GIÀ

Đã vượt bảy mươi chẳng thấy già
Thân còn háo hức mặt như hoa
Thi thơ đều đặn nào câu cạn
Xướng họa nhịp nhàng chẳng tứ tha
Sớm chửng lên phây đọc mãi miết
Tối mờ lướt mạng chát gần xa
Niềm vui tuổi lão gì hơn thế
Trí thản tâm bình tuyệt quá nha!

Mai Vân-VTT, 31/3/26.


HỎI ĐƯỜNG (Nguyễn Ngọc Tư) .


Những ngày lang thang trên đất lạ, với tấm bản đồ rách rã, đôi khi tôi phải dừng lại hỏi đường
Ông ơi, lối đi này dẫn tới đâu, cháu muốn tới những thung sâu, những bãi cỏ buổi sáng từng là chợ, họ bán mấy rau và tặng mấy hẹn hò,
ông già im lặng và ngón tay gầy quắt, vẽ cho tôi một con đường
Những ngày hoang mang trên đất lạ, tôi hỏi những em bé gầy gò, lem luốc
em ơi, đi lối nào tôi sẽ đến đỉnh ngọn núi kia, để nhìn dòng sông kẻ một chân mày nơi đáy vực,
Những em bé ngó nhau, lời ngọng nghịu trên môi, vạch cho tôi một con đường.
Những ngày phiêu lưu trên đất lạ, tôi hỏi những cô gái tỉa bắp bên đường,
chị ơi, ngã nào thì tới cánh đồng, bầy dê nhỏ vùi mặt vào cỏ rối, bên lối đi nhiều hoa dại, lúa xỏ mầm qua đất, xanh non.
Những cô gái gạt mồ hôi, ánh mắt cười lung linh trao cho tôi một con đường.
Những ngày rong ruổi trên đất lạ, tôi một lần dừng chân lại hỏi con đường, lối nào sẽ dẫn đến người,
Đường im lặng đi lên đồi mải miết, người ngốc ơi, chỉ cần dừng chân lại, sẽ thấy người...

(Nguyên tác từ blog saurieng năm 2007, và trong tập thơ "Chấm" bài thơ còn được dịch sang tiếng Anh bởi Jason Gibbs) 

Thứ Hai, 30 tháng 3, 2026

CÕI TRĂNG - Thơ Sông Thu Và Thơ Họa




CÕI TRĂNG


Ánh trăng vằng vặc khắp không gian
Vầng sáng lung linh phủ ngập tràn
Vài sợi mây vàng trôi lững thững
Một dòng nhũ bạc chảy miên man
Mong manh sương tỏa dường tơ trải
Dìu dặt gió về tựa nhạc ngân
Ao ước một lần lên cõi nguyệt
Trên cao nhìn xuống chốn dương trần.

Sông Thu
( 06/10/2025 )


Thơ Họa :

GHẸO NGUYỆT.

Trăng vàng soi rực rỡ dương gian
Ánh sáng lung linh rọi tỏa tràn
Lấp lánh, nên đêm thêm huyễn ảo
Long lanh, khiến cảnh đẹp mê man
Mây trôi lờ lững êm đềm lượn
Gió thổi xì xào réo rắt ngân
Ta đã thì thầm cùng với Nguyệt
Nàng ơi!xin hãy xuống hồng trần.

LAN.
(06/10/2025).


MỘT CÕI TRĂNG VUI.

Nàng Thơ chẳng ngại cụ Thời Gian
Hăm dọa nay mai đổ lệ tràn
Khinh thị Xuân xanh bao mộng mị
Coi thường Thu biếc bấy mê man
Điển hình chú Cuội vin cành Quế
Đại để cô Nga rỡn sóng Ngân
Nguyệt Lão lạnh lùng “ Trăng Vĩnh Cửu “
Ông Tơ cười nhạt : “ Khách Hồng Trần “

Rancho Palos Verdes 7 - 10 - 2025
CAO MỴ NHÂN


Kính Họa Vận : TRĂNG SOI VẲNG VẶC…

Vẳng vặc trăng soi khắp thế gian
Lung linh ánh Nguyệt phủ lan tràn
Mây bay về núi, trôi lơ lửng
Gió thổi qua sông gợn nhẹ nhàng
Sương lạnh rừng cây xuân nắng ấm
Gió ru điệu nhạc tiếng đàn ngân
Hằng Nga ngó xuống xa xôi đất
Chú Cuội nhìn lên cách trở trần…!

MAI XUÂN THANH
Silicone Valley March 23, 2026



AN NHIÊN CÙNG NGƯỠNG LÃO

Hãy giữ riêng mình những chuyện vui
Và san sẻ ngọt sớt chia bùi
Con đường lão tuổi dần dà kết
Chặng cuối ngưỡng đời hối hả lui
Chớ có lưu tâm làm trí đoảng
Càng không để bụng khiến thân ngùi
An nhiên chấp nhận điều hay phải
Tự tại ắt đời sống khỏe vui…

Mai Vân-VTT, 31/3/26



LA QUÁN TRUNG

 La Quán Trung (sống vào khoảng năm 1330 – 1400) xuất thân từ một gia đình quý tộc. Tuổi thanh niên ông nuôi chí phò vua giúp nước; song lúc đó, triều đình nhà Nguyên đang suy tàn, ông bỏ đi phiêu lãng nên có biệt hiệu là Hồ Hải tản nhân. 


La Quán Trung là tác giả của cuốn tiểu thuyết “Tam quốc diễn nghĩa”, và còn có thuyết cho rằng La Quán Trung cũng là một người tham gia soạn và chỉnh biên tác phẩm “Thủy hử”, đó là hai cuốn tiểu thuyết trong “Tứ đại danh tác” – bốn tác phẩm nổi tiếng nhất trong văn học cổ điển Trung Hoa. 

Nhiều sử gia không chắc chắn rằng hai người này là một, hay là tên Thi Nại Am được dùng làm bút danh của “Thủy hử” vì tác giả không muốn bị dính líu vào việc chống chính phủ như trong tác phẩm này. Ông là người đóng góp xuất sắc cho trường phái tiểu thuyết lịch sử đời Minh-Thanh.

Thi Nại Am leo lên cây để quan sát hổ

Thi Nại Am (sống vào khoảng năm 1296 – 1370) là một tiểu thuyết gia thời cuối Nguyên đầu Minh. Khi soạn bản thảo Thuỷ Hử, vì cần phải viết về nhiều cảnh đánh hổ nhưng ông chưa bao giờ nhìn thấy một con hổ thực sự, chưa nắm rõ về thói quen và khả năng săn mồi của loài hổ, chỉ dựa vào truyền thuyết và trí tưởng tượng, với sự hiểu biết chung chung, chưa từng thấy cảnh anh hùng đánh hổ thì làm sao thể hiện được sức mạnh siêu phàm của người anh hùng đánh hổ?

image.png

Để bổ sung cho chỗ thiếu sót này, có một hôm, ông một mình đơn độc chạy đến vùng núi non trùng điệp thường có hổ qua lại, trèo lên một cái cây to, ngồi trên cành cây rồi lẳng lặng quan sát bốn bề. Đột nhiên, một con hươu chạy “xoạt” ngang qua trước mắt ông, sau đó một tiếng hổ gầm vang như sấm, từ trong rừng nhảy ra một con hổ lớn. Bỗng nhiên trường cảnh đầy máu với một con hổ đói săn mồi và con hươu sợ hãi bỏ chạy hiện ra trước mắt. 

Thi Nại Am ngẩn nhìn, mãi đến khi con hổ đi xa rồi ông mới từ trên cây nhảy xuống; ông còn đi đến những nơi khác quan sát hổ hoặc tìm những người thợ săn giàu kinh nghiệm để tìm hiểu cách họ săn hổ hoặc đọ sức với lũ hổ.

Nhờ thế, sau này khi Thi Nại Am tả những cảnh như anh em họ Giải săn hổ, Lý Quỳ giết hổ hay Võ Tòng đánh hổ trên đồi Cảnh Dương thì đều lột tả hết sức chân thực và sinh động.

La Quán Trung vẫn thường nhập mê khi viết sách 

La Quán Trung là ông tổ của tiểu thuyết thể loại chương hồi Trung Quốc. Khi ông soạn thảo truyện “Tam quốc diễn nghĩa” thường tập trung tinh thần cao độ, đến mức quên ăn quên ngủ, nhiều lần nhập mê.

Một buổi sáng nọ, phu nhân của La Quán Trung đi chợ và dặn ông nhớ đóng cổng lớn lại. Ông vẫn đáp lời bà nhưng lại chuyên tâm vào viết, quên cả việc đóng cổng. Một lúc sau có một tên trộm đi ngang qua nhà ông, hắn làm ra vẻ đáng thương và nói: 
- “Quý ngài tốt bụng ơi, xin hãy làm ơn làm phước! Đã mấy ngày nay tôi chưa được ăn gì, xin ông hãy bố thí cho tôi chút thức ăn!” 
Lúc này La Quán Trung đang chỉnh sửa chương “Hội quần anh, Tưởng Cán trúng kế”, trong đầu ông toàn những cảnh như Chu Du dẫn Tưởng Cán đến sau trại xem lương thực chất chồng như núi, chợt nghe có người nói đến hai chữ “lương thực”, La Quán Trung thuận miệng đáp lại: 
- “Lương thực trong trại chất cao như núi, anh cứ đến lấy đi!” 
Tên trộm nghe xong bỗng ngẩn ra, hắn nhìn La Quán Trung nghĩ:
- “Người này không ngẩng đầu lên, đang tập trung viết sách”, liền lấy can đảm rón rén bước vào nhà trong, gom lương thực và những đồ có giá trị trong nhà La Quán Trung nhét đầy hai cái bao to rồi rời đi.
image.png
Khi phu nhân của La Quán Trung đi chợ về thấy lương thực trong nhà đã bị trộm bèn quay sang nói với ông: 
- “Lương thực trong nhà đã bị trộm khoắng sạch, giờ chẳng còn gì nữa, ông muốn cả nhà chết đói hết hay sao?” 
Lúc này La Quán Trung đang chỉnh sửa chương “Ra Lũng Thượng, Gia Cát giả Thần”, nghe phu nhân nói “không có gì để ăn”, “chết đói” bèn vội đáp: 
- “Bây giờ lúa ngoài đồng chín cả rồi, sao không đi gặt?”

Phu nhân nghe xong biết là ông viết sách đến mức nhập thần, không giống người sống nữa. Quả thật bà không biết nên cười hay nên khóc.

Đến ngày mùa, lúa chín gặt về nhà chất thành đống, lũ chuột thường kéo cả đàn cả lũ đến ăn trộm thóc, phu nhân mới nhờ La Quán Trung tìm cách xử lý lũ chuột. Lúc này La Quán Trung đang viết đến chương “Gia Cát Lượng hoả thiêu Tân Dã” nên cũng không để ý đến lời bà. Phu nhân bèn giật lấy cây bút của La Quán Trung, khiến ông nổi giận đùng đùng quăng cả ngọn đèn, vừa chạy vào trong vừa hét lên: 
- “Mau dùng hoả công, dùng hoả mà thắng!” 
Vô tình ngọn đèn làm cháy cái vách sậy, ngọn lửa nhanh chóng lan ra!
Phu nhân la lớn: 
- “Cháy rồi! Cháy rồi! Dập lửa mau!” 
Hàng xóm nghe tiếng kêu vội chạy đến, mọi người cùng nhau dập tắt ngọn lửa. Sau đó mọi người hỏi La Quán Trung: 
-“Có chuyện gì vậy?” 
Lúc này ông mới quay đầu lại, nhưng lại nhớ ngay đến “cẩm nang diệu kế, Triệu Vân cứu chúa” trong phần “Muốn lui quân Đông Ngô, phải cầu người Đông Ngô” liền quỳ xuống dưới chân phu phân, không ngừng dập đầu cầu xin: 
- “Tôn phu nhân! Tôn phu nhân! Ngàn lần sai, vạn lần sai, tất cả là do Lưu Huyền Đức ta đã sai! Xin hãy niệm tình phu thê mà tha lỗi cho ta một lần này!”

Mọi người (những người đến giúp dập lửa) đều bị hành động của La Quán Trung làm kinh ngạc đến sững sờ. Sau khi được phu nhân của La Quán Trung giải thích, tất cả mới hiểu ra: Thì ra là ông ấy đang viết tiểu thuyết Tam quốc diễn nghĩa, giờ đã nhập mê rồi!

(Theo Uyên giám loại hàm của tác giả Trương Anh triều Thanh)

TQĐ chuyển

Chủ Nhật, 29 tháng 3, 2026

Trang Thơ Hà Đặng ; ( T.3.2026. 2 ) GIỮ NGUYÊN ,YÊU AI , BÓNG NẮNG ,TÌM GÌ ĐÂY???🌹 TA CHỜ ĐỢI NHAU🌹

 


GIỮ NGUYÊN

🌹
Tôi không là thi sĩ
Chỉ viết theo suy nghĩ
Để gởi lại cho đời
Những lời thơ nhung nhớ
Dù biết tình trắc trở
Ta chẳng ở bên nhau
Nhưng câu hứa đã trao
Ngàn sau không thay đỗi
Đưa tay mình viết vội
Những câu nói hôm nào
Đem vào trong kỉ niệm
Ấp ủ ở trong tim
Tôi vẫn muốn viết thêm
Nỗi nhớ đọng môi mềm
Cuộc tình ai trao đó
Xin làn gió giữ nguyên
HĐ 12/03/26

2./
YÊU AI
🌹
Anh yêu ai được cứ yêu
Chỉ xin hãy nhớ mỗi điều nầy thôi...
...Là lời hứa vội cùng tôi
Thề muôn triệu kiếp bên tôi chẳng rời
Anh yêu ai cứ thời yêu
Chỉ xin hãy nhớ mỗi điều hứa nhau...
...Cho dù đã lỡ trầu cau
Nhưng xin giữ lại lời giao ban đầu
HĐ 15/03/26
BÓNG NẮNG
Lung linh trong bóng nắng
Nghe sâu lắng trong tim
Kỉ niệm chợt như chìm
Một niềm đau muôn kiếp
Ngày quen nhau đâu biết
Ta lại phải chia xa
Tình như cơn gió lạ
Bay bỏ ta một mình
Câu thương nhớ ân tình
Luôn quanh mình vương vãi
Nhìn những làn nắng chảy
Nghe tình thật phôi phai
Xin trọn kiếp yêu ai
Ôm giữ mãi trọn đời
Mai dầu có xa rời
Ngàn năm không thay đỗi
HĐ 15/03/26

TÌM GÌ ĐÂY???🌹

Muốn tìm lại chút hương xưa
Sao nghe trong gió đong đưa giọt sầu
Tình giờ biết gởi về đâu?
Để ta còn được tròn câu đá vàng
Muốn tình lại tiếng Tình Lang
Mà ai đã gởi bên đàng hôm nao
Muốn ôm giữ mãi ngọt ngào
Lời thương nỗi nhớ vẹn Tào nghĩa Khang
Cho dù mai cách quan san
Mong ai chớ có phụ phàng tình nhau
Cuộc đời như giấc chiêm bao
Tình yêu thuở ấy giờ vào thời gian
Đưa tay giữ lại cung đàn
Mà nghe nỗi nhớ ngập tràn trong tim
Tình mình như áng bóng chim
Người về cuối biển ta tìm gì đây???
HĐ 16/03/26

TA CHỜ ĐỢI NHAU🌹

Tôi đi tìm bóng nắng chiều
Nắng rơi chở nỗi cô liêu cuộc tình
Chỉ xin mình chớ quên mình
Để ta còn thấy bóng hình của nhau
Cuộc đời có được là bao
Gió đưa lá rụng lao xao cuối trời
Người ơi! Xin chớ đỗi dời
Thời gian còn lại...ta chờ đợi nhau
HĐ 29/03/26

Giai Thoại Văn Chương : MÁ HỒNG ĐỔI NGỰA TRUY PHONG - (Đỗ Chiêu Đức)

 Giai Thoại Văn Chương :   

      MÁ HỒNG ĐỔI NGỰA TRUY PHONG
         (Hồng Phấn Hoán Truy Phong 紅 粉 換 追 風)
             
              Tô Đông Pha và Vương Phất qua điện ảnh

       Năm Hi Ninh thứ 8 đời Tống Thần Tông (1075) Tô Đông Pha 蘇 東 坡 đã 40 tuổi, đang là Tri huyện Mật Châu (Sơn Đông). Ngày 20 tháng giêng năm đó, ông nằm mơ thấy người vợ đã mất 10 năm trước của mình. Khi tỉnh giấc ông đã làm một bài "điếu vong từ" nổi tiếng thiên cổ với tên từ khúc là: Giang Thành Tử 江 城 子 như sau:

 十 年 生 死 两 茫 茫, Thập niên sinh tử lưỡng mang mang,
 不 思 量,自 難 忘。   Bất tư lương, nan tự vương.
 千 里 孤 墳,無 處 話 凄 凉, Thiên lý cô phần, vô xứ thoại thê                                                        lương.
 縱 使 相 逢 應 不 識, Túng sử tương phùng ưng bất thức,
 塵 满 面,鬓 如 霜。   Trần mãn diện, Mấn như sương!

 夜 来 幽 梦 忽 還 鄉,  Dạ lai u mộng hốt hoàn hương,
 小 軒 窗,正 梳 妆。    Tiểu hiên song, chính sơ trang.
 相 顧 無 言,惟 有 泪 千 行。Tương cố vô ngôn, duy hữu lệ                                                               thiên hàng.
 料 得 年 年 腸 斷 處,  Liệu đắc niên niên trường đoạn xứ,
 明 月 夜,短 松 崗。    Minh nguyệt dạ, Đoản tùng cương.
    Có nghĩa :
                    Mười năm sống chết hai nơi,
                    Không cần nghĩ ngợi khó thời khó quên.
                    Dặm ngàn nấm mộ chênh vênh,
                    Thê lương biết nói sao nên lòng nầy.
                    Gặp nhau biết có nhận ngay,
                    Phong trần đầy mặt tóc dài như sương !

                    Đêm qua chợt mộng hoàn hương,
                    bên hiên song nhỏ nàng đương chải đầu.
                    Nhìn nhau luống những nghẹn ngào,
                    Muôn hàng lệ nhỏ thêm sầu lòng đây.
                    Năm năm ruột đứt nơi nầy,
                    Dưới vầng trăng sáng thông gầy đồi xa !
                     
      
                              Vương Nhuận Chi qua điện ảnh

       Bài Từ nhớ vợ bi thương là thế, xót xa là thế; Mỗi hàng mỗi chữ đều như là những dòng lệ nhớ thương vô tận. Đó chính là nàng Vương Phất 王 弗 ái nữ của Tiến sĩ Vương Phương là thầy dạy học của Tô Đông Pha từ vỡ lòng cho đến lớn. Nàng là người con gái nết na, tri thư đạt lễ, kết hôn với Tô năm nàng 17 tuổi và Tô 19 tuổi. Vợ chồng trẻ yêu thương rất mực, ân ái mặn nồng. Nhưng chỉ 11 năm sau nàng nhuốm bệnh và qua đời ở tuổi 27. Tô đau lòng đứt ruột, thơ thẩn vào ra chỉ nhớ tới bóng dáng của vợ hiền. Ba năm sau, Tô lại cưới cô em họ của vợ là Vương Nhuận Chi 王 閏 之, cô nầy tánh tình hiền thục, sống yên phận nên ít có dấu ấn trong văn thơ của Tô. Nhưng đến năm 46 tuổi thì cũng lại nhuốm bệnh qua đời khi Tô đã 58 tuổi rồi. Ngoài hai chị em họ Vương ra, năm 38 tuổi Tô Đông Pha đã từ lầu xanh chuộc về một cô bé 12 tuổi cũng họ Vương tên là Triêu Vân 王 朝 雲, giỏi cả cầm kỳ thi họa, khi lớn lên đã được Tô nạp làm ái thiếp và theo hầu cận Tô suốt con đường hoạn lộ. Nhưng hồng nhan bạc mệnh, năm 34 tuổi Vương Triêu Vân cũng nhuốm bệnh mà qua đời. Tô rất bi thương, soạn mộ chí và điếu từ, làm bài thơ "Điếu Triêu Vân 悼 朝 雲" và bài Từ "Tây Giang Nguyệt. Mai Hoa 西 江月· 梅 花" ví Triêu Vân như là Mai Hoa cao khiết đã về với cõi tiên: 

 玉 骨 那 愁 瘴 霧,      Ngọc cốt nả sầu chướng vụ,
 冰 姿 自 有 仙 風。      Băng tư tự hữu tiên phong.
 海 仙 時 遣 探 芳 叢。 Hải tiên thì khiển thám phương tùng.
 倒 掛 綠 毛 幺 鳳。      Đảo quải lục mao yêu phụng.

 素 面 翻 嫌 粉 涴,      Tố diện phiên hiềm phấn uyển,
 洗 妝 不 褪 脣 紅。      Tẩy trang bất thối thần hồng.
 高 情 已 逐 曉 雲 空。 Cao tình dĩ trục hiểu vân không.
 不 與 梨 花 同 夢。      Bất dữ lê hoa đồng mộng !

      Có nghĩa :
                   Cành ngọc nào ngại mù sương,
                   Phong tư yểu điệu tợ dường tiên nga.
                   Cỏi tiên sứ gỉa lân la,
                   Chim xanh phụng biếc hộ hoa bao ngày.

                   Mặt ngọc chê phấn son phai,
                   Môi son vẫn đỏ hơn dày điểm trang.
                   Tình nồng mây sớm mênh mang,
                   Lê hoa cũng chịu mơ màng nhớ nhung !

                               
                   Vương Triêu Vân qua điện ảnh

       Ngoài ba người phu nhân họ Vương ra, trong đời của Tô Đông Pha còn có rất nhiều thê thiếp mà ông từng sủng ái; Trong số đó có một người ái thiếp tên là Xuân Nương 春 娘. Xuân Nương là người nơi nào, sanh năm nào, gia cảnh ra sao thì không ai biết được, vì chỉ theo lời kể của văn học gia Phùng Mộng Long 馮 夢 龍 đời nhà Minh kể lại trong tác phẩm 《Tình Sử Loại Liệt 情 史 類 略》truyện "Hồng Phấn Hoán Truy Phong 紅 粉 換 追風" như sau:
      Năm Nguyên Phong thứ 3 đời Tống Thần Tông (1080), vì vụ "Ô Đài Thi Án" Tô Đông Pha bị biếm đi làm Đoàn Luyện Phó Sứ ở Hoàng Châu. Khi sắp lên đường, có công tử họ Tưởng đến để tiễn hành. Tô vô cùng cảm động bèn cho người thiếp trẻ đẹp là Xuân Nương ra chuốc rượu mời khách. Thấy Xuân Nương trẻ đẹp lại giỏi văn thơ ứng đối, Tưởng công tử mới động lòng bèn hỏi Tô rằng: Ngài đi đến xứ Hoàng Châu xa xôi, định an trí người đẹp như thế nào đây? Tô đáp: Đưa nàng về quê với cha mẹ ruột. Nghe thế Tưởng công tử bèn đưa ra một đề nghị thật hoang đường là: Ta có thể dùng một con bạch mã truy phong giúp cho Ngài ngày đi ngàn dặm để đổi lấy Xuân Nương hay không? Tô Đông Pha nghe thế bèn nghĩ rằng, từ đây đến Hoàng Châu xa xôi ngàn dặm lại núi non cách trở, có được con ngựa đỡ chân cũng là điều rất tốt, bèn không kịp nghĩ gì đến cảm nhận của Xuân Nương mà vui vẻ ưng thuận "Đổi Người lấy Ngựa". Họ Tưởng có được người đẹp, bèn rất đắc ý mà ngâm 4 câu thơ như sau:

  不 惜 霜 毛 雨 雪 蹄,  Bất tích sương mao vũ tuyết đề,
  等 閒 分 付 贖 娥 眉。  Đẳng nhàn phân phó thục nga mi.
  雖 無 金 勒 嘶 明 月,  Tuy vô kim lặc tê minh nguyệt,
  却 有 佳 人 捧 玉 卮。  Khước hữu giai nhân phủng ngọc chi!
      Có nghĩa :
                  Truy phong bạch mã chi mà tiếc,
                  Đổi được nga mi cũng thỏa tâm.
                  Tuy chẳng cương vàng phi dưới nguyệt,
                  Lại vui chén ngọc với giai nhân.

      Cùng là giới bút mực với nhau, nên Tô Đông Pha cũng đáp lễ lại bằng 4 câu thơ rằng:

 春 娘 此 去 太 匆 匆,   Xuân Nương thử khứ thái thông thông,
 不 敢 啼 聲 在 恨 中。   Bất cảm đề thanh tại hận trung.
 只 為 山 行 多 險 阻,   Chỉ vị sơn hành đa hiểm trở,
 故 將 紅 粉 換 追 風。   Cố tương hồng phấn hoán truy phong.
      Có nghĩa :
                 Xuân Nương đem đổi qủa là ngông,
                 Chẳng dám than van oán ngập lòng.
                 Chỉ tại núi non đường hiểm trở,
                 Mới đem má phấn đổi truy phong !

      "Chỉ tại núi non đường hiểm trở, Mới đem má phấn đổi truy phong!" Qủa là một cái cớ vụng về tàn nhẫn của kẻ bạc tình, nên vừa nghe xong Xuân Nương đã lòng lạnh như tiền, bước đến che mặt nói rằng: "Thiếp nghe nói khi xưa Tề Cảnh Công muốn chém người giữ chuồng ngựa khi để chuồng ngựa bị cháy. Án Tử mới can rằng: Khi chuồng ngựa cháy, Khổng Tử chỉ hỏi "Người có sao không, mà không hỏi Ngựa có sao không" Ấy là qúy người hơn là súc vật. Nay Học sĩ lại đem người để đổi ngựa, là qúy súc vật hơn là qúy người". Nói xong bèn đọc 4 câu thơ rằng:

  為 人 莫 作 婦 人 身,   Vị nhân mạc tác phụ nhân thân,
  百 般 苦 樂 在 他 人。   Bách ban khổ lạc tại tha nhân.
  今 日 始 知 人 賤 畜,   Kim nhật thủy tri nhân tiện súc,
  此 生 苟 活 怨 誰 嗔?    Thử sinh cẩu hoạt oán thùy sân ?
     Có nghĩa :
                 Làm người chớ chọn làm thân gái,
                 Cay đắng sướng vui chỉ tại ai.
                 Nay biết người không bằng súc vật,
                 Sống thừa một kiếp oán ai đây ?!
                 
                      
                        Hồng Phấn Hoán Truy Phong

      Đọc thơ xong, che mặt khóc lớn, rồi chạy xuống dưới thềm, va đầu vào cây hòe mà chết. Tô Đông Pha đã tỏ ra vô cùng hối hận về sự việc nầy. Ông chỉ muốn tìm cho Xuân Nương một chốn yên thân, không ngờ nàng lại qúa chung tình với ông mà tìm đến cái chết. Có thuyết còn cho rằng vì Xuân Nương đang mang thai con của ông nên nàng càng uất ức... làm cho câu truyện càng trở nên bạc bẽo và nhẫn tâm hơn đối với Tô Đông Pha. Nhưng...

      Câu truyện trên đây có phải là một câu truyện có thực hay không thì còn đang tranh cải; Vì truyện được kể bởi một nhà biên kịch, một kịch tác gia đời nhà Minh là Phùng Mộng Long 馮 夢 龍 chớ không phải của một nhà chuyên viết sử chân chính. Phùng Mộng Long là nhà chuyên viết về Tiểu thuyết, Kịch bản của các Hí khúc, Dân Ca, và Truyện cười dân gian... thường kết hợp những thực tế của cuộc sống mà hư cấu sáng tác nên những tác phẩm như Dụ Thế Minh Ngôn《喻 世 明 言》、Cảnh Thế Thông Ngôn《警 世 通 言》、Tỉnh Thế Hằng Ngôn《醒 世 恒 言》Hợp xưng là TAM NGÔN ... Vả lại...

                     
                         Phùng Mộng Long qua điện ảnh

       Trong chính sử ghi chép, không tìm đâu ra lý lịch của nàng Xuân Nương, cũng như không tìm thấy Tưởng Công Tử là nhân vật như thế nào, thân thế ra làm sao... nên, câu truyện "Hồng Phấn Hoán Truy Phong 紅 粉 換 追 風" đa phần là do Phùng Mộng Long hư cấu gán ghép mà nên. Nhưng...
       Trong cái xã hội phong kiến đời Đường Tống, việc trọng nam khinh nữ là việc thường tình ở trong cuộc sống. Trai năm thê bảy thiếp là chuyện bình thường; Qua bài viết nầy ta cũng đã biết Tô Đông Pha cũng chẳng đã tam thê tứ thiếp hay sao. Hơn nữa, việc tặng một người tì thiếp cho một người bạn thơ tri kỷ cũng là môt chuyện thường tình, như truyện của ông Tư Không Lý Thân 司 空 李 紳 đời Đường chỉ vì hai câu thơ của Lưu Vũ Tích là "Tư Không kiến quán hồn nhàn sự, Đoạn tận Tô Châu Thứ Sử trường 司 空 見 慣 渾 閒 事,斷 盡 蘇 州 刺 史 腸!" có nghĩa: "Tư Không quen mắt không cho lạ, Thứ Sử Tô Châu ruột đứt rồi!" mà tặng luôn nàng ca kỹ "cung dạng trang (ăn mặc như cung nữ trong cung vua)" cho Lưu Vũ Tích để cho ông ta đừng có "đứt ruột" nữa! (Xem "Bài Thơ Mẫn Nông Thứ Ba?" của ĐCĐ).
       Khi quan trường bất đắc chí, bị đàn hạch và bị biếm đến Hoàng Châu xa xôi, Tô Đông Pha đang lúc tâm thần bấn loạn, gia đạo rối ren, khí tiết của kẻ sĩ đang đi xuống, nên cũng khó mà giữ được cái phong độ và tiết tháo của một bậc đại phu, mà có những quyết định sai lầm, hồ đồ đến nổi đem người tì thiếp yêu dấu đang có mang của mình để đổi lấy con bạch mã truy phong...
      Thầy Mạnh Tử dạy rằng :“Phú qúy bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất, thử chi vị Đại Trượng Phu 富贵 不 能 淫,贫 贱 不 能 移,威 武 不 能 屈,此 之 谓 大 丈 夫”. Nhưng ở đời, có mấy ai đã làm được "Đại Trượng Phu" như lời thầy  Mạnh Tử đã dạy đâu, nhất là ở vào các hoàn cảnh khó khăn, éo le, nghèo nàn, thất bại và bất đắc chí về mọi mặt !

                 
  Tô Đông Pha qua Điện Ảnh

      
 Hẹn bài viết tới !

                                                               杜 紹 德
                                                            Đỗ Chiêu Đức



BẢY BÓ -Thơ Anh Khờ và Thơ Họa

bảy bó (II) bảy bó nào ai dám bảo gìà! ăn chơi "rộng rãi"… chút hào hoa ngâm nga suốt sáng thừa thư thả... nhảy nhót thâu đêm đủ ...