Thứ Hai, 15 tháng 6, 2026

Kính Mời Xem và Họa thơ “TÌNH YÊU” của SÔNG THU


TÌNH YÊU

Thời gian tuần tự cứ trôi qua
Thoáng chốc mà nay tuổi đã già
Hy vọng, đức tin đà sụt giảm
Niềm vui, mộng ước cũng phôi pha
Tiền tài, danh vọng đều hư ảo
Sắc đẹp, vinh quang thảy nhạt nhòa
Chỉ có tình yêu còn mãi đượm
Duy trì sức sống ở trong ta.

Sông Thu
( 13/06/2026 )


Thơ Họa ;


TẤM TÌNH



Lụa lầy chinh chiến loạn can qua,
Xuân sắc nhoàng trôi sọm xác già!
Khóe mắt nhăn nheo nhầu nắng dãi,
Mái đầu phơ phất bạc sương pha!
Mươi tờ lương cọc...rầu tâm cảm,
Mấy ký gạo đong... thấm lệ nhòa!?
Nương tựa phu - thê lần cuộc sống,

 Tấm tình còn lại ấm lòng ta!

Nguyễn Huy Khôi
13-6-2026


TÌNH YÊU VĨNH CỮU

Thiên địa tuần hoàn lần lượt qua
Xuân tàn thu hạ đuổi đông già
Công danh sự nghiệp đều thay đổi
Của cải bạc tiền cũng loãng pha
Sức khỏe tiêu hao thân yếu ớt
Dung nhan biến dạng sắc phai nhòa
Thủy chung nhất dạ duyên giai lão
Vĩnh cữu niên trường mộng ước ta

Hưng Quốc
Texas 6-13-2026


THÂN HỌA: TUỔI THỜI GIAN

Năm tháng dòng đời cứ chảy qua,
Xinh tươi dáng vẻ chóng sang già.
Môi hồng mắt biếc giờ heo hốc,
Má thắm eo còng nhạt phủi pha.
Dáng vẻ bung veo vơi gợi cảm,
Lời thanh thản vọng đã tan nhòa.
Em ơi! Tiếng gọi giờ “thưa cụ!”
Tình tứ đâu còn của chúng ta!
*
Tuổi đời chất nặng mãnh tình ta.
HỒ NGUYỄN (14-6-2026)


KÍNH HỌA: TÌNH YÊU TRÊN TẤT CẢ.

Gian nan nhìn lại đoạn đường qua
Mừng đặng an vui với tuổi già.
Họa gió Tai trời đều nếm trãi,
Như vàng thử lửa cứ xông pha...
Giàu nghèo Vinh nhục không xem trọng,
Sướng khổ vui buồn cũng xóa nhòa,
Chỉ có Tình Yêu Trên Tất Cả...
Yêu Người,Yêu Nước...Yêu Thương Ta.

Mỹ Nga, 13/06/2026 ÂL, 28/04/ Bính Ngọ.


 NỖI NIỀM TUỔI GIÀ

Năm tháng bốn mùa lặng lẽ qua
Liêu xiêu gậy trúc vấn vương già.
Buồn theo mây trắng  đàn chim lướt
Mắt dõi chiều tà nắng ráng pha.
Tri kỷ âm thầm thu lá rụng
Lòng quê mòn mõi khói sương nhoà 
Trăm duyên được mất đà buông bỏ
Thui thủi đường về chỉ có ta !

     Mailoc
06-13-2026

     THỎA TÌNH TA

Buông thời khổ tận tháng ngày qua,
Thơ thới hồn xuân chửa "chịu" già?
Tự tại tâm an chờ nắng tỏa,
Thong dong gót dạo mặc chiều pha!
Sẹo lành hối tái làn da thắm,
Thương vết dần vơi khóe mắt nhòa!
Sau trước kiên trinh lời thệ hải,
Vợ chồng hòa thuận thỏa tình ta!

                          Nguyễn Huy Khôi
                                 14-6-2026

TINH THẦN SỐNG
 
Thời gian lặng lẽ cứ dần qua
Soi bóng nhận ra đã tuổi già
Bước thẳng dần suy chân rã rệu
Đầu xanh chuyển hóa tóc sương pha
Tương lai đà hết không tươi sắc
Quá khứ trôi xa quá nhợt nhòa
Còn lại tinh thần đây vẫn sống
Giữ niềm hy vọng tận hồn ta.

CAO BỒI GIÀ
13-6-2026

  TÌNH YÊU 
     NÉT ĐAN THANH TRONG CUỘC ĐỜI 
                 
   Chưa đông, sao lại nghĩ  xuân qua
   Tuổi mới vào thu sắc lá già
   Hoa hạ thắm môi em sợ lợt 
   Tóc xanh biếc mắt mực đâu pha
   Một đời thương nhớ bao day dứt
   Tròn kiếp trông mong bấy xóa nhòa 
   Thấp thoáng thuyền về xa tít tắp
   Bóng đang trở lại nhập hình ta … 
    
   Rancho Palos Verdes  13 - 6  - 2926
                CAO MỴ NHÂN 


DẠO PHỐ

Một mình ra phố dạo đêm qua
Giữa chốn đông vui, trẻ có già
Đứng cạnh người bên đường chuyện nói
Đi cùng bóng dưới ngọn đèn pha
Chỗ cười tươi tắn đời viên mãn
Nơi bước thủi thui nẻo vắng nhòa
Những mối tương giao thầm lặng ấy
Trở thành hồn trí của riêng ta

Lý Đức Quỳnh
 14/6/2026

Hoang Tưởng  (Họa)

Lòng nghe hiu quạnh ngắm chiều qua
Bắc ghế ra xem một lão già
Thấy cảnh trời , thời gian đảo lộn
Nhìn tàu bay,  hỏa tiển xông pha
Vành đai biên giới luôn di chuyển
Lảnh hải trùng khơi bị xóa nhòa
Đất hiếm lên ngôi dầu thống trị
Tương lai nào gắn ở vai ta.
2026-06-15
Võ Ngo


DÒNG CHẢY THỜI GIAN

Ký ức như dòng cảm lắng qua
Thời luôn tiếp nối há phai nhòa
Từng gam chồng chất đà lưu dấu
Ấy quảng quyện hòa nỏ lẫn pha
Kỷ niệm chắt chiu từ tấm bé
Tình yêu ấp ủ tận khi già
Âu là lẽ sống riêng đời vậy
Chẳng thể ai người giống hệt ta …
Mai Vân-VTT, 15/6/26.














Phần 2 còn lại: Truyện ngắn Bông Cỏ May, Võ Kim Ngân & Ngân Triều

 Phần 2 còn lại: Truyện ngắn Bông Cỏ May, Võ Kim Ngân & Ngân Triều, đăng lại để tưởng niệm bạn Võ Kim Ngân, Sydney, chs Bào Trai.

Ngàn Thu vĩnh biệt! R.I.P.
***
Noãi nieàm xa xöù… (NỖI NIỀM XA XỨ)

Vào một buổi sáng, mùa Trung Thu năm 1980, vợ chồng tôi bồng bế hai đứa con nhỏ dại, rời bỏ tổ ấm thân yêu, một căn nhà trong chung cư Phú Lâm ở Saigon. Lòng lặng buồn. Lúc nào, nước mắt cũng cứ chực rơi. Dạt dào với bao nỗi buồn tê tái, miên man, tôi phải đành lòng bỏ lại một gánh càn khôn của quê mẹ sau lưng, dấn thân vào một chuyến viễn du vô định, đầy chông gai và nhiều nguy hiểm, có thể là, một đi không bao giờ trở lại.
(a) Vượt biên (Google images/ Ảnh minh họa)
Sau 7 ngày đêm vật vờ trên biển, chiếc ghe nhỏ xíu, bềnh bồng, lắc lư, nhấp nhô trên mặt biển sóng gào, khác nào như lao vào vực thẳm. Chưa bao giờ đi biển, chúng tôi bị nôn mữa, kiệm ăn, kiệm uống, chen chúc, bơ phờ trong nắng nóng, đờ đẫn…và cái chết đã đến cận kề trong đường tơ kẽ tóc. Tôi có chết thì cũng cam lòng. Trẻ thơ có tội tình gì mà phải… (Quả là tôi rất hãi hùng, không dám nghĩ đến những điều bất hạnh…). Tài công cứ nhắm thẳng hướng nam mà đi. Đến lúc kiệt sức, thắt tha thắt thẻo trong nỗi chết dần… thì may mắn thay, chúng tôi gặp được mấy người đánh cá Indonesia tốt bụng cứu giúp. Rồi họ đưa chúng tôi vào một hòn đảo nhỏ tên là Kuku để chăm sóc. Ba tuần sau, chúng tôi được đưa đến đảo Galang. Sau 4 tháng, Cao ủy LHQ đưa chúng tôi đến Singapore trong 2 tuần và cuối cùng được chuyển đến Úc.
Trong thời gian đầu ở đảo, trên xứ lạ quê người, cảnh và người đều xa lạ. Con đường phía trước mịt mờ, còn nỗi buồn nào hơn? Những nỗi nhớ thương trào dâng cuồn cuộn nao lòng. Tôi nhớ mẹ tôi, chị và em gái tôi, nhớ người thân, nhớ xóm làng, nhớ phần mộ của Ba tôi và những ngôi mộ đá đỏ của tổ tiên trên một gò cỏ may tĩnh mịch, đìu hiu.
Nhớ con đường làng ngoằn ngoèo đính những khóm bông cỏ may rải rác, quanh co, dẫn vào những lũy tre yên ắng, thanh bình; băng qua những cánh đồng lúa xanh rì, mơn mởn.
Nhớ thời gian đầy ắp những kỷ niệm tuổi thơ, giờ đã xa vời. Nhớ những cánh cò trắng rập rờn bay lượn khắp đồng ruộng, mùa mưa; những cánh diều giấy xanh đỏ phất phới tít trời cao, trong mùa gió chướng, phía sau đình làng; hình ảnh bóng trăng rằm lồng lộng ló lên ở cuối con đường làng, trên chân trời tím thẩm.
Nhớ âm thanh ríu rít, trong trẻo của những tiếng chim đồng quê quen thuộc; những tiếng ểnh ương “về…đâu…”, “buồn…thương…”,
“về…đâu…”, buồn…thương…”;
vang vọng rền trời đêm mưa hòa lẫn những tiếng sấm trầm trầm vang vọng xa xa; liên tưởng như tiếng kêu gọi trở về, hãy tở về quê mẹ, con ơi!
Đói no, có cả họ hàng,
Ai sao, tôi vậy, bỏ làng, bỏ quê?[1]
Như tiếng vọng của làng quê trong cõi u tịch, mơ hồ.
Nhớ mùi thơm thoang thoảng của hoa đồng cỏ nội, trong mỗi mùa mưa nắng; hương vị của món mắm kho với thị ba chỉ, chấm rau lá hẹ, bông súng, đặc sản miền quê, dân dã mà ngon …
Nhớ nhiều lắm! Nhớ vô cùng! Xiết bao chạnh lòng trong nỗi ly hương, để rồi những nỗi nhớ thương chập chùng ấy …cứ chập chờn trong cõi nhớ tha thiết, ngẩn ngơ…
Cuối cùng là những dòng lệ nghẹn ngào, buồn tủi cho thân phận mình vì nỗi lòng biết tỏ cùng ai?
(b) Nhớ con đường làng ngoằn ngoèo, quanh co…
(c) Bóng trăng rằm lồng lộng ló lên…
Thế rồi, khi đến xứ Úc xa lạ, con cái được đi học, cha mẹ cũng phải đi học.

Mùa đông đầu tiên ở Nam bán cầu, cái lạnh như cứa da không thể nào chịu nổi. Tôi mặc 5 bộ quần áo ấm thật dày mà vẫn cứ lạnh run. Hai lỗ tai nhức buốt, tay chân tê cóng, gần như không còn cảm giác gì … Vậy mà, ngoài giờ đi học, đi làm ở hãng, vợ chồng tôi còn phải đi làm thêm. Chúng tôi làm đủ thứ nghề, mong kiếm thêm ít tiền để dần dà ổn định cuộc sống và gởi về cho mẹ già và người thân ở quê nhà. Chúng tôi xin đi làm “tạp vụ”: quét rác, phát tờ rơi quảng cáo ở các thùng thơ ngoài cổng của các nhà dân bản xứ, làm housewife và làm công bán thời gian…chúng tôi không câu nệ, việc gì làm được, cứ làm… ròng rã và ròng rã trong 8 năm.
Khi ấy, tình cờ một vận may đã đến với tôi! Một gia đình người Úc biết khả năng chuyên môn và hoàn cảnh của tôi, liền đỡ đầu, hướng dẫn vợ chồng tôi học lại ngành y tế trong hai năm. Việc học tập rất khó khăn vì vốn tiếng Anh của chúng tôi còn yếu. Cuối cùng, với nhiều quyết tâm và cố gắng, chúng tôi mới đạt tốt nghiệp. Sau khi đã có một việc làm chính thức, khá ổn định, tôi muốn trở lại quê nhà. Diễm phúc làm sao! Tôi không ngờ mình còn có dịp trở về mái nhà xưa, thăm người mẹ già mòn mõi trông con.
Vui mừng biết bao khi gặp lại người thân và các bạn bè cũ sau 10 năm xa cách. Còn vui mừng nào hơn! Bản thân như được tái sinh! Nước mắt cứ tuôn rơi, tuôn rơi! Đó là ngôn ngữ nhạy cảm của người phụ nữ, của một người con, người thân, tưởng không bao giờ gặp nữa, vĩnh viễn mất đi mà giờ đây, nó lù lù bằng xương, bằng thịt, trở về. Chuyện tiếp theo là rất nhiều đêm, nhiều đêm trắng tâm sự, mà vẫn chưa hết chuyện.
Sau chuyến về quê hương lần đầu tiên, tôi trở qua Úc tiếp tục công việc chuyên môn tại bệnh viện. Cuộc sống và việc làm ở bên Úc, ở một thành phố lớn, thật là bận rộn. Thời gian làm việc kéo dài một hơi, từ sáng đến chiều, trưa được nghỉ ăn trưa 30 phút. Vì vậy, trước trở ngại không thuận lợi cho việc chăm sóc hai đứa con còn nhỏ, tôi có một dịp may để thử thách. Đó là mở một trung tâm y tế phục hồi chức năng cho những bệnh nhân tâm thần phân liệt ở giai đoạn cuối, để họ sẽ tái hòa nhập cùng với gia đình. Được cho phép và trợ vốn với lãi suất ưu đãi, được bạn bè hỗ trợ, động viên và nhất là ông xã đồng ý, tôi mạnh dạn đứng ra xin mở một trung tâm đó xem sao. Trung tâm tôi mới mở gồm có 12 phòng lớn với 28 bệnh nhân, chưa kể phòng quản lý. Khi bắt tay vào việc, tôi bắt đầu đối phó với những nan đề vô cùng lớn lao. Phải giải quyết những yêu cầu của bệnh nhân một cách liên tục. Họ đòi hỏi những tiện nghi rất cao, cơ sở còn thiếu, người phụ việc không đủ. Một mặt phải nâng cấp những tiện nghi, mặt khác phải chạy tìm người phục vụ để đối nội cho ổn, đối ngoại cho êm và dằn dặt trước những nỗi bực mình. Cố gắng và cố gắng, có nhiều đêm phải thức suốt. Trung bình, tôi phải tất bật làm việc trên dưới 20/24 giờ/ ngày. Ròng rã và ròng rã trong 7 năm! Biết bao mồ hôi và khổ tâm, biết bao là cay đắng buồn phiền. Tôi như người kiệt lực. Do đó, khi đã trả hết lần nợ góp cuối cùng, tôi nhẹ nhõm và xin giải tán trung tâm. Các bệnh nhân được chuyển đi nơi khác.

Quá mệt mỏi, tôi xin trở về quê hương, vừa để thanh thản tinh thần vừa thăm mẹ già, thân nhân và những bạn bè cũ. Chuyến về quê lần nầy, thật vô cùng có ý nghĩa cho tôi, vì tôi được tận tay chăm sóc mẹ già trong những ngày cuối đời. Mẹ ơi! Mẹ rất thương ba đứa con gái của mẹ, nhất là một đứa con gái xa xôi nơi “góc biển, chân trời”. Lòng mẹ bao la như biển cả, mãi mãi dạt dào, biết bao nhiêu là con sóng yêu thương! Tôi cố gắng lo cho Mẹ bằng những chăm sóc, điều trị tốt nhất để Mẹ có thể kéo dài thêm từng giây phút ở lại dương trần. Nhưng sức cùng lực kiệt, Mẹ đã vĩnh viễn ra đi một cách nhẹ nhàng, thanh thản, trong tiếng nấc nghẹn ngào và trong suối lệ hầu như khô cạn của ba chị em tôi. Từ nay, chúng tôi sẽ chẳng bao giờ còn có mẹ nữa! Chúng tôi trở thành những kẻ mồ côi, bơ vơ trên cõi đời nầy. Có gặp Mẹ chăng, chỉ là lúc cõi mộng mơ hồ! Mỗi lần nhớ đến Mẹ, ngay cả trong lúc nầy đây, tôi cũng còn đẫm lệ, thổn thức trong nhung nhớ: mất mẹ, như mất cả bầu trời thương yêu!

Buồn quá, tôi quay lại Úc với nhiều nỗi bi thương. Khi nhàn cư, nỗi buồn hiện đến dày vò. Có một người bạn giới thiệu một shop café cần nhượng lại. Tôi muốn sang shop café ấy những mong khuây khỏa và tạo việc làm cho một số người quen. Tục ngữ có câu: “Nghĩ một đằng, nó quằng một nẽo” để nói lên lý trí và cơ hội luôn mâu thuẩn nhau. Thật không sai với trường hợp của tôi! Công việc quản lý shop café của tôi, có tên chào mời ấn tượng là "Giọt Đắng", cũng khá đông khách, cũng rất tất bật và vô cùng mệt mỏi. Đó là điều mà đối với tôi rất đơn điệu, chán ngắt và bực mình. Tôi lại phải đến rất sớm, về nhà thật khuya và còn dính vào những chuyện “ phiền hà”: thiếu người pha café, thiếu người quản lý, thiếu người phục vụ, thiếu người dọn dẹp, thiếu cả thu ngân… Tôi lại phải tự làm những công việc lặt vặt 4-5 giờ/ngày. Nếu không làm, tôi phải thuê người. Như vậy, phải trả thêm tiền cho người ta và có nguy cơ hao phí, lỗ lã. Chúng tôi bàn bạc, chưa biết cách nào thoát ra, dù tôi chỉ mới khai trương có 3 tháng. Khi ấy, quả thật bất ngờ và may mắn! Một hôm có một người Châu Á (sau khi trao đổi, tôi mới biết người đó là một Việt Kiều mới qua) đến uống càfé, hỏi thăm, ngỏ ý muốn xin sang lại một shop café như shop càfé của tôi. Thoạt đầu, tôi cứ ngỡ là người đó nói giỡn chơi cho vui nhưng tôi cũng thực lòng nói rằng tôi mới làm chủ nhân vỏn vẹn được 3 tháng. Người đó cũng thực lòng muốn sang lại shop café để có điều kiện mưu sinh. Tôi hẹn ngày trả lời để còn bàn lại với nhà tôi. Rồi tôi liền nhượng lại “của nợ” ấy và buông tay, để trở về với cuộc đời mình, lúc ấy tôi đang ở tuổi 58.
Sau đó, tôi chẳng làm gì cả, chỉ sống nhờ vào các khoản trợ cấp và sống với các con của tôi.
Tôi có hai đứa con. Một đứa con gái cả và một đứa con trai út. Các con tôi, bấy giờ, đều đã học xong nguyện vọng mình, ổn định cuộc sống và đã có gia đình riêng.
Đứa con gái cả, học khoa Nha, có gia đình, có việc làm ổn định và có nhà riêng cách chúng tôi 150km. Tôi thường đến chơi với con gái, dọn dẹp, giúp đỡ con, cho nó hạnh phúc hơn. Khi mới có một đứa cháu ngoại đầu tiên, tôi vui mừng bao kể xiết! Tôi tự nguyện chăm sóc cho cháu ngoại từ A đến Z, nhưng đứa con gái “không cho”, cho dẫu tôi đã tốt nghiệp ngành y ở Việt Nam và ở Úc! Tôi phải năn nỉ hết sức, đầy lý lẽ, nó mới cho chăm sóc vài ngày trong tuần. Thôi thì vậy cũng được, còn niềm vui nào lớn hơn? Thật là hạnh phúc cho những ai được làm “Bà ngoại”! Nhìn cháu mình, tôi thấy tình cốt nhục bà-cháu dạt dào! Dĩ nhiên, nó trông giống cha mẹ nó là điều cơ bản. Khi ngắm nhìn nó, nựng nịu nó, thấy mụ bà dạy nó cười, nó hươ tay, đạp chân…tôi càng vui sướng, phát hiện nét nầy nó giống người thân nầy, người thân nọ, nét kia nó giống đứa cháu nầy, đứa cháu kia…mà vui sướng, mà thỏa lòng.
Riêng đứa con trai út, sau khi tốt nghiệp Đại Học, được du học TTL[2] tốt nghiệp Cao học Quản trị kinh doanh. Cháu đã đi làm tại 1 trong 5 công ty tiếng tăm thế giới. Vài năm sau, xin nghỉ việc và tự đứng ra lập công ty riêng. Khủng hoảng kinh tế thế giới nổ ra, cháu giải thể công ty kịp thời nên không bị lỗ lã. Sau đó, cháu lập gia đình, nối nghiệp “dì út” ở quê nhà, làm nghề “gõ đầu trẻ lớn”. Hiện cháu có một chú nhóc trai, nay được 4 tuổi. Vậy là, tôi đã lên chức Bà với hai cháu ngoại gái 9 tuổi, 6 tuổi và một cháu nội trai 4 tuổi.
- Về phần “ông nhà”, “phân nữa đời tôi”, đã ở tuổi “người xưa nay hiếm”, cũng còn tráng kiện, bình thường. Ngày ngày chúng tôi tập thể dục, bách bộ, đi bơi, chơi tennis, đi từ thiện, giao tiếp bạn bè, viết lách, truy cập Internet… và cùng ăn chay trường.
***
Boâng coû may (BÔNG CỎ MAY)
Đến đây, xin hãy trở lại vấn đề chính của truyện vừa nầy. Vì sao tôi chọn tiêu đề của truyện là Bông Cỏ May?
Như đã trình bày. Tôi có một chuyến viễn du, phiêu linh, đầy sóng gió của định mệnh, như những người đồng hội, đồng thuyền, tôi đã sống vô cùng khổ sở, vất vả và gieo neo trong những bước đầu nhập cư, trong nỗi nhớ tha thiết về Mẹ, anh chị em gia tộc, bạn bè thương yêu… Nhất là nỗi nhớ đẫm lệ, triền miên về quê hương yêu dấu xa xôi, đầy ắp những kỷ niệm đằm thắm của tuổi thơ hồn hậu thời tiểu học, nhiều kỷ niệm êm đềm…và tôi cũng không ngờ rằng số tôi còn may mắn như vậy.
Trước quyết định chẳng đặng đừng, đem cả gia đình xa cách với những người thương yêu, trong một chuyến đi đầy sóng gió, may ít, rủi nhiều, tôi đã đánh cược với số phận mình: có thể bị vùi thây nơi lòng biển lạnh, làm mồi cho cá; hoặc nếu có may mắn, sẽ là những cánh chim vô định, phiêu bạt, lạc loài, lữ thứ...mãi mãi sẽ không bao giờ được trở về xứ sở…mãi mãi sẽ là những người tự lưu đày, không có quê hương…
Trong thời gian đầu ở đảo Kuku, (Indonesia), một hôm, nhân vá lại chiếc quần dài đen sứt chỉ - chiếc quần dài đen mà tôi đã mặc lúc về từ giã mẹ tôi, gia đình hai chị em tôi và phần mộ của tổ tiên lần cuối - tôi đã phát hiện được 5 bông cỏ may đã dệt thật khéo vào bên trong cái lai quần. Năm bông cỏ may nầy đã lặng lẽ găm chặt ở phía bên trong phần lai quần của tôi, mà tôi không hề hay biết. Cũng có thể mẹ tôi và tôi đã đẫm lệ, thổn thức nhặt bỏ hết những bông cỏ may dính bên ngoài chiếc quần dài của tôi rồi và năm bông cỏ may nầy cứ thương mến tôi, trốn kỹ bên trong, âm thầm xuôi ngược theo bước chân tôi như những mảnh gợi nhớ réo rắt của hồn quê chan chứa ân tình.Tôi đã lặng người nhớ lại…
Rõ ràng, đây là 5 bông cỏ may - trên Gò Cỏ May, đất hương hỏa gia tộc, mảnh đất gia sơn (nơi tổ tiên tôi đã nghìn thu yên giấc) - đã âm thầm quyến luyến theo tôi trên những bước đường xa xứ lạc loài! Tôi tê dại trong cảm xúc dâng trào với nghẹn ngào nước mắt! Phải chăng những “ bông cỏ may” đó còn là những yêu thương nhắc nhở ngầm của tổ tiên: Tôi phải giữ vẹn truyền thống đạo lý gia tộc, một truyền thống của bản sắc Việt Nam như một ánh hào quang miên viễn, quyện chặt tâm hồn những đứa con của NGƯỜI trên những bước đường muôn nẽo, tha phương.
Cuối cùng,“bông cỏ may” chính là những kỷ niệm trân quý, không thể nào quên, chính là tấm lòng của những số phận phải lênh đênh theo dòng nước nổi trôi…với ước mong sao, sau cơn mưa, trời lại sáng.
Và điều đó chỉ là những khắc khoải của tấc lòng cố quốc tha hương riêng tư của những đóm sáng đồng điệu, trong hàng triệu tấm lòng.
Bông cỏ may! Bông cỏ may ơi!
Hồn quê dìu dặt bước chân tôi.
Phiêu linh, dù đã xa muôn dặm!
Man mác, bâng khuâng, một hướng trời [3]
Ngóng trông man mác, chơi vơi!
Giai nhân:[4] biền biệt, phương trời nhớ thương.
Ngân Triều
[4] Giai nhân: người đẹp, bóng hồng, tố nga, giai nhân…còn ẩn dụ chỉ thánh đế anh minh, quê hương hay người tri âm xa cách.
***
Ảnh minh họa:
a: Vượt biên

Mời Xem :

Chủ Nhật, 14 tháng 6, 2026

“HIỆP LỰC NGUYỆN CẦU “ thơ Hưng Quốc


HIỆP LỰC NGUYỆN CẦU

Mang chút rau xanh đến tặng anh

 Đứng nhìn cảnh vật ngó chung quanh

Bấm phone mấy bận nhưng im bặt

Gõ cửa đôi lần vẫn lặng tanh

Sau đó chuông reo lời đáp gọi

Và rồi tiếng nói giọng êm thanh

“Nhà thương cấp cứu đang điều trị”

Chóng mặt quay cuồng mau hết nhanh


Hưng Quốc 

Texas 6-11-2026



Thơ Họa 

;
     GỞI BÁC SONG QUANG

Tình cờ,...trang loát văng tên Anh,
Chắc hẳn hiu buồn...thú dạo quanh?
Lãng ngó phôn ne dè cảm lụy,
Lười rà thư tín tạm lờ tanh?
Dừng khơi câu chữ vơi liên vận,
Thưa gặp bạn bầu tẻ hiệp thanh?
Tuổi Hạc thênh thênh trời phóng lãng...
Ưa tìm"TẦU CHẬM",...ghét "TẦU NHANH""?!"

Nguyễn Huy Khôi
12-6-2026


HỌA: GÓP LỜI NGUYỆN

Nghe tin nên ráng ghé thăm anh,
Hồi hộp đứng nhìn ngó quẩn quanh.
Phone nhấn mấy lần tin chẳng thấy,
Vội vàng gõ cửa vẫn im tanh.
Giựt mình chuông thét lên..ai gọi?
Bình thản giọng người nói tiếng thanh.
“Yên chí bịnh tình đang tốt lại!”
Mừng ghê bạn đã phục hồi nhanh.

*
Song Quang, vui quá đó nghe anh!

HỒ NGUYỄN (12-6-2026)



ÀU ĐỜI RIÊNG BÓNG


tdào ký ức mãi trong tôi
Dù đã bao năm cách trở rồi
Chạm mắt lần đầu, tim loạn đập
Chia tay ngày cuối, lệ khôn vơi
Kết duyên chồng vợ, tình chan chứa
rọn đạo phu thê, nghĩa vợi vời
ay dẫu tàu đời riêng chiếc bóng

Vẫn tràn kỷ niệm khắp nơi nơi.

Sông Thu (11/06/2026)

                                                
HỌA5: TÌNH SẦU
                                                      
    
                                                                                  

                                                    Tình sầu len lén gợi hồn Tôi
 Mười sáu năm ly biệt Người rồi...
Mây xám mưa phùn rơi lất phất
Năm dài tháng rộng lệ khôn vơi...
Nhạt nhòa hình ảnh tình vời vợi,
Vật đổi sao dời người mỗi nơi.
Hồi tưởng ngày xưa say bến củ
Âm thầm chiếc bóng một mình Tôi...


Mỹ Nga (11/06/2026; ÂL: 26/04/ Bính Ngọ)

 KÍNH NGUYỆN SỨC KHOẺ THI SĨ SONG QUANG 
                  ĐƯỢC VẠN AN LÀNH .
 
 Mới thấy rong chơi đây đó anh
  Tưởng là ông vẫn dạo loanh quanh
  Nào hay đau ốm mùa khô hạn 
  Chắc hẳn đổi rời thời tiết tanh
  Cát nóng Houston như nắng trắng
  Biển yên Texas tựa trăng thanh
  Cố lên, tinh khí thần tăng tiến
  Thi sĩ SONG QUANG Bình phục nhanh … 
       Hawthorne. 12 - 6 - 2026
               CAO MỴ NHÂN 

👅👅👅👅👅👅👅

Tuyết Phan, Vu sơn, Hồ Nguyễn ,,Lý Đức Quỳnh,Sông Thu,Mỷ Nga,Cao My Nhân ......Mong anh sớm khỏe để cùng Xướng Họa 

Một bộ phận của heo được ví như '10 thang thuốc bổ' (HNPĐ )

 Dạ dày heo từ lâu được xem là món ăn bổ dưỡng giàu protein và khoáng chất, có tác dụng hỗ trợ tiêu hóa, đặc biệt phù hợp với người trung niên và cao tuổi. Điều này có thực sự đúng?

Theo Tencent News, trong dân gian có câu: "Một cái dạ dày heo bằng mười thang thuốc". Dù mang tính ví von, câu nói này phần nào phản ánh quan niệm lâu đời về giá trị dinh dưỡng của dạ dày heo đối với sức khỏe. Ngày nay, khi các vấn đề về tiêu hóa ngày càng phổ biến ở người lớn tuổi, thực phẩm này tiếp tục nhận được sự quan tâm nhờ hàm lượng dinh dưỡng đáng chú ý.



Dạ dày heo thường được chế biến thành những món ăn ngon, bổ dưỡng được nhiều người ưa chuộng. Ảnh: Huitu.

Vì sao dạ dày heo được đánh giá cao?

Theo y học cổ truyền Trung Quốc, dạ dày heo có vị ngọt, tính ấm, được cho là có tác dụng kiện tỳ, dưỡng vị và bồi bổ cơ thể. Trong cuốn Bản Thảo Cương Mục, danh y Lý Thời Trân từng ghi chép dạ dày heo là thực phẩm có thể hỗ trợ cải thiện tình trạng suy nhược và tăng cường chức năng tiêu hóa.

Mặc dù quan niệm "ăn gì bổ nấy" chưa được khoa học hiện đại chứng minh đầy đủ, nhiều chuyên gia dinh dưỡng cho rằng dạ dày heo thực sự là nguồn cung cấp protein và khoáng chất có giá trị.

Theo các dữ liệu dinh dưỡng, cứ 100 g dạ dày heo chứa khoảng 15 g protein nhưng lượng chất béo chỉ khoảng 5 g, thấp hơn nhiều so với một số phần thịt lợn khác. Bên cạnh đó, thực phẩm này còn chứa sắt, kẽm và selen - những vi chất quan trọng đối với quá trình tạo máu, miễn dịch và chống oxy hóa.

Đặc biệt, sắt trong dạ dày heo chủ yếu là sắt heme, loại sắt mà cơ thể hấp thụ hiệu quả hơn so với sắt có nguồn gốc thực vật.

Ngoài ra, dạ dày heo còn chứa một số thành phần sinh học được cho là có khả năng hỗ trợ bảo vệ niêm mạc đường tiêu hóa, giúp giảm kích ứng và thúc đẩy quá trình phục hồi các tổn thương ở dạ dày.

Hỗ trợ người lớn tuổi duy trì sức khỏe

Sau tuổi 50, chức năng tiêu hóa thường bắt đầu suy giảm. Nhiều người gặp tình trạng đầy bụng, ăn không ngon miệng, hấp thu dinh dưỡng kém hoặc dễ mệt mỏi. Trong bối cảnh đó, các món ăn từ dạ dày heo được cho là có một số lợi ích nhất định.

Hỗ trợ tiêu hóa

Protein trong dạ dày heo có cấu trúc tương đối mềm. Khi được hầm nhừ, món ăn trở nên dễ tiêu hóa hơn, giảm gánh nặng cho hệ tiêu hóa.

Bổ sung protein và duy trì khối cơ

Protein và collagen trong dạ dày heo là nguyên liệu cần thiết cho quá trình tái tạo mô và duy trì khối lượng cơ bắp, vốn có xu hướng suy giảm theo tuổi tác.

Hỗ trợ kiểm soát đường huyết

Dạ dày heo là thực phẩm ít carbohydrate, khi kết hợp hợp lý với các thực phẩm khác có thể giúp hạn chế biến động đường huyết sau ăn.

Không quá giàu chất béo

Mặc dù có chứa cholesterol, lượng chất béo trong dạ dày heo tương đối thấp. Nếu ăn với lượng vừa phải, thực phẩm này không nhất thiết làm tăng mỡ máu đáng kể ở người khỏe mạnh.

Những món ăn từ dạ dày heo

Trước khi chế biến, dạ dày heo cần được làm sạch kỹ để giúp món ăn thơm ngon và giảm mùi hôi đặc trưng:

  • Dùng bột mì và giấm chà xát nhiều lần lên mặt trong.
  • Loại bỏ lớp nhớt bám trên thành dạ dày.
  • Cắt bỏ phần mỡ thừa.
  • Rửa sạch nhiều lần với nước.

Dưới đây là một số món ăn với dạ dày heo được ưa chuộng:

Canh dạ dày heo hầm hạt sen

Đây là món ăn phổ biến trong nhiều gia đình. Hạt sen giàu chất xơ, vitamin và khoáng chất, kết hợp với dạ dày heo tạo nên món canh có vị thanh ngọt, thích hợp cho người lớn tuổi hoặc người mới ốm dậy.

Canh dạ dày heo hầm tiêu trắng

Tiêu trắng có tính ấm và hương vị cay nhẹ. Khi nấu cùng dạ dày heo, món ăn tạo cảm giác ấm bụng, thích hợp cho những người thường xuyên bị lạnh bụng, khó tiêu hoặc đau dạ dày.

Canh "Tứ thần" hầm dạ dày heo

Món ăn này gồm dạ dày heo kết hợp với bốn nguyên liệu quen thuộc trong y học cổ truyền gồm phục linh, sơn dược, hạt sen và khiếm thực. Theo Đông y, đây là sự kết hợp giúp hỗ trợ tiêu hóa, kiện tỳ và giảm cảm giác nặng nề trong cơ thể, phù hợp với những người thường xuyên mệt mỏi hoặc ăn uống kém.



Dạ dày heo cần được làm sạch kỹ để giúp món ăn thơm ngon và giảm mùi hôi đặc trưng. Ảnh: Baidu.

Cần lưu ý điều gì khi ăn dạ dày heo?

Dù giàu dinh dưỡng, dạ dày heo không phải thực phẩm có thể ăn quá nhiều. Theo các dữ liệu dinh dưỡng, 100 g dạ dày heo chứa khoảng 158-165 mg cholesterol. Vì vậy, người bị rối loạn mỡ máu, bệnh tim mạch hoặc đang phải kiểm soát cholesterol nên sử dụng với lượng vừa phải.

Ngoài ra, hàm lượng purin trong dạ dày heo ở mức tương đối cao. Người mắc bệnh gout hoặc có nồng độ axit uric tăng cao cần tham khảo ý kiến bác sĩ trước khi bổ sung thường xuyên vào chế độ ăn.

Các chuyên gia dinh dưỡng khuyến nghị người trưởng thành khỏe mạnh chỉ nên ăn khoảng 1-2 lần mỗi tuần, mỗi lần khoảng 50-100 g, kết hợp cùng rau xanh, ngũ cốc nguyên hạt và các nguồn đạm khác để đảm bảo cân bằng dinh dưỡng.

Dạ dày heo không phải "thần dược" chữa bệnh, nhưng đây vẫn là thực phẩm giàu protein và khoáng chất, phù hợp để bổ sung vào thực đơn điều độ. Thay vì kỳ vọng vào những sản phẩm đắt tiền, việc xây dựng chế độ ăn cân bằng từ các nguyên liệu quen thuộc có thể là chìa khóa giúp duy trì sức khỏe lâu dài. Một bát canh dạ dày heo nóng hổi trên mâm cơm gia đình đôi khi chính là lựa chọn đơn giản nhưng hữu ích cho hệ tiêu hóa và sức khỏe tổng thể.

Da chỉ nhẵn mịn và căng bóng khi gan thải độc tốt. Mắt chỉ sáng trong khi lá gan được bồi bổ đúng cách. Có thể nói dưỡng gan chính là chìa khóa để dưỡng nhan. Cuốn sách Dưỡng gan để dưỡng nhan của bác sĩ - dược sĩ Thẩm Ninh là lời nhắc nhở đến phụ nữ hãy hình thành ý thức dưỡng gan.

Thứ Bảy, 13 tháng 6, 2026

Trang Thơ Hà Đặng (T.6. 2026 . 2 );NGÀN SAU TA CHỜ ĐỢI🌹, MƯA ĐÀ LẠT , VẸN LỨA ĐÔI,GIEO SỢI TƠ SẰU ,DẶN ANH


NGÀN SAU TA CHỜ ĐỢI🌹

Em sợ lắm nếu một ngày nào đó
Anh bỏ em ở lại có một mình
Câu ân tình anh hứa sẽ lại quên
Và còn nữa vần tên anh không nhớ
Em rất sợ cuộc tình mình trắc trở
Sợ vấn vương nức nỡ ở trong lòng
Sợ nắng hồng phai nhạt ước mơ xanh
Sợ xa cách tình anh và em mãi
Em giờ đã bước qua thời tuổi dại
Nhưng trong hồn luôn khắc khoải nhớ nhau
Tình yêu em thật sự rất ngọt ngào
Em rất sợ lối rào ngăn bước nhỏ
Tình em gởi cho anh là thật đó
Nếu một ngày ta chẳng có gặp nhau
Thì xin anh hãy nhớ lại lời giao...
...Muôn triệu kiếp... ngàn sau ta chờ đợi

09/06/26

MƯA ĐÀ LẠT🌹

Phố chiều chen chút bóng người qua
Lác đác mưa rơi ướt áo tà
Thơ thẫn một mình ta đếm bước
Mặt hồ lặng nước mặt hồ êm
Thác đỗ luyên thuyên ghềnh nước trắng
Nghe lòng trĩu nặng với hàng thông
Nhớ ai? Than thở trong đèo vắng
Mặn đắng cõi lòng quanh Xuân Hương
2015 H
 
VẸN LỨA ĐÔI🌹

Em đếm thời gian trên ngón tay
Chờ ai theo những tháng năm dài
Người ơi! Em biết làm sao phải
Để cuộc tình nầy không phôi phai
Em đếm thời gian trên ngón tay
Tình ai chờ đợi tháng năm dài
Người ơi! Hãy nhớ lời giao hẹn...
...Xin được cuối đời...vẹn lứa đôi!
HĐ 10/06/26
GIEO SỢI TƠ SẦU
🌹
Trách ai gieo sợi tơ sầu
Để cho ta phải ven đầu nhớ nhau
Xin đừng gieo nỗi khổ đau
Để cho ta phải nghẹn ngào nhớ thương
Trách ai mang sợi tơ vương
Mà đem đi rãi trên đường ta đi
Để tay ôm khối tình si
Ngàn năm muôn thuở khắc ghi bóng hình
Trách ai vội vã trao tình
Để cho ta phải bên mình nhớ thương
Người ơi! Nơi chốn ngàn phương
Đừng quên lời hứa hoài thương trọn đời
Chiều nay trời đỗ mưa rơi
Nhớ về nơi ấy nghe chơi vơi buồn
Hạt mưa rĩ rã rơi tuôn
Tình kia xin nhớ...đừng buông nha người
HĐ 11/06/26
DẶN ANH🌹
Dặn anh dù cách mây ngàn
Thì xin hãy nhớ lời vàng đã trao
Dặn anh dầu có ra sao
Thì xin hãy nhớ ngày trao lời vàng
Dặn anh dù cách quan san
Hãy luôn nhớ nghĩa đá vàng cùng nhau
Mai nầy đời có ra sao
Dặn anh hãy nhớ lời giao hôm nào
Dặn anh dù cách ngăn rào
Nhưng mong tình mãi đậm màu yêu thương
Dù cho xa cách muôn phương
Dặn anh hãy đứng bên đường chờ nhau
Sáng nay mưa rớt lao xao
Nghe như nhớ lắm ngọt ngào lời ai...
...Hứa rằng giữ nghĩa Trúc Mai
Hứa rằng mãi mãi chẳng phai tình nồng
Hứa rằng luôn giữ trong lòng
Dù tình yêu ấy ngược dòng thời gian
Hứa rằng sẽ vẫn mãi mang
Tình yêu thuở ấy...ngập tràn con tim
Thoảng nghe mưa đỗ bên thềm
Đưa tay tìm lại nỗi niềm yêu thương
Tình kia còn mãi vấn vương
Xin ai giữ khúc yêu thương trọn đời
HĐ 12/06/26

Phần 1: Truyện ngắn Bông Cỏ May, Võ Kim Ngân và Ngân Triều. Bài đăng tưởng nhớ bạn Võ Kim Ngân, Sydney.


 Phần 1: Truyện ngắn Bông Cỏ May, Võ Kim Ngân và Ngân Triều. Bài đăng tưởng nhớ bạn Võ Kim Ngân, Sydney.

Boâng coû may
Truyện Võ Kim Ngân & Ngân Triều phóng tác
Nhôù …(NHỚ)
Tôi đã trải qua một tuổi thơ hồn nhiên rất đẹp với nhiều kỷ niệm của thuở học trò trường Tiểu học Bào Trai Hậu Nghĩa (Ngày xưa, Trường Tiểu học Bào Trai[1], viết chữ o như thế nầy). Đó là năm học 1954 – 1955 và 1955 –1956, lúc ở tuổi choai choai 13, 14, 15. Hồi đó, mỗi tuần lễ học sinh miền quê phải đi học 6 ngày. Các ngày thứ hai, thứ tư, thứ sáu là học nguyên ngày, còn những ngày còn lại, học một buổi. Những ngày học hai buổi, học sinh ở xa như chúng tôi phải giở theo cơm đựng trong một cái“mo cơm” làm bằng bẹ tàu cau, ăn trưa, ngay lớp học của mình, hoặc rủ nhau ăn chung từng nhóm, nơi hành lang, lớp học, hoặc dưới gốc cây điệp to ở hai bên cổng trường.
Sau bữa cơm trưa lúc tan học sáng 10h30, chúng tôi thường rủ nhau kéo xuống đám rừng chồi của con Suối Bào Trai[2] (Hậu Nghĩa) để vui chơi. Chúng tôi thường tản ra thành nhiều nhóm thân quen để cùng chơi chung những trò chơi nhỏ, lùng sục, các lùm bụi, học ôn bài…vì buổi chiều vào học lúc 2giờ.
Có nhóm đi hái những trái dại, tìm kiếm những loại trái cây rừng mà có thể học sinh bây giờ, khó lòng biết được. Chẳng hạn như trái nhãn lồng, trái nhãn chài có vị mát miệng; trái bời lời, trái cò ke làm đạn bắn ống thụt bằng trúc, đạn nổ lốp bốp vui tai, chia phe bắn vào nhau rất hồi họp. Trái nhăn chín màu đỏ như cái nanh heo rừng; lủng lẳng trên những dây leo mảnh mai; ngọt ngọt. Trái kim cang từng chùm đính trên một dây gai, lá to bằng bàn tay, ăn lờ lợ, nhớt nhớt. Trái chùm gởi từng ổ, trên những cành cây trăm cao, nhỏ như trái cùm nụm ăn vui miệng. Trái mây rắc (mây rừng) ăn chát chát; trái chùm mòi, trái dấm chua chua. Trái mua có 5 cánh hồng, khi chín mở thân ra làm hai với năm múi tím đen ngọt ngọt thường có nhiều kiến hôi. Trái đu đủ rừng (trái đ.. chó), trái và lá có nhiều lông tơ trị ho, chát chát, ăn không khéo, mắc nghẹn. Trái táo rừng chua ngọt khắp nơi trên những nhánh nhỏ nằm ngang, đầy gai nhọn và nhiều nhất là trái cà na trong mùa mưa, cà na đắng, cà na chua, trái nù mới ngon và trái trăm đen sẫm khi chín, trăm móc, trăm sắn; mùa trăm chín rộ là sau Tết Nguyên Đán. Những trái to thì có những trái Bình Bát, chín vàng trên những cành cây khó trèo, tàng cây de ra hai bên bờ suối. Những trái Dứa Gai thơm lừng lựng nhưng không ăn được vì rất ngứa miệng. Những trái Ồi rừng, Ổi lộn kiếp, cơm mỏng hạt nhiều, chẳng đứa nào muốn hái ăn và những trái điều[3], điều nếp màu vàng và điều đỏ trông rất đẹp mắt.
Nhóm con gái chúng tôi thường bẻ những hoa dại xinh xinh. Hoa Dù Cồn đầu có một núm tròn nâu trên một cọng ngồng cao, điểm những cánh hoa vàng nhỏ xíu, mọc bạt ngàn trong các vũng nước. Hoa Cây Nổ màu xanh biếc, cánh hoa mỏng manh, trái từng chùm như chân gà con; khi thả chùm trái khô vào nước, trái nở ra và phát ra những tiếng nổ lách tách như tiếng pháo chuột. Hoa Bí Bái màu trắng thơm thơm đặc trưng. Hoa Cắt Lồi thân thẳng như một cái roi mây. Trên đầu roi có một búp hoa tròn màu đỏ kết một chùm trái bằng nắm tay, nở hoa trắng liên tục, hết hoa nầy đến hoa khác, thường có mấy chú ong bầu chui vào hút mật. Hoa Dây Chiều màu xanh tím, gắn trên một thân dây leo có một lớp lông tơ cứng. Hoa Cúc Rừng nho nhỏ như đôi hoa tai, màu cam lấm tấm thơm thơm. Hoa trắng tím của dây Chùm Bao (Lạc Tiên) rất dễ thương; những trái chín tròn màu vàng trong một cái bao lưới trắng, ăn chua chua ngọt ngọt.
...
Có mấy bạn thường rút những tàu lá Dứa gai để thắt những chiếc chong chóng dứa, những trái banh dứa để đánh đũa, đôi dép dứa, chiếc đồng hồ đeo tay bằng dứa, cả những sợi dây nịch dứa và chiếc kèn bằng dứa nữa.
Cũng có bạn đi tìm những tổ Ong Lá, mang về làm mồi đi câu cá rô. Bạn bắt tổ Ong Lá rất tài. Chỉ cần một mảnh giấy xếp dọc, rón rén đặt giấy phía dưới tổ ong, châm lửa đốt. Khói lửa bốc cao, bầy ong bảo vệ tổ sợ lửa bay xa, còn trơ tổ không là bạn thò tay bắt lấy (ha ha... chiều mai mình sẽ câu được một đục cá rô đấy!) Hoặc có bạn cao hứng bứt những dây Bòng Bong và những sợi tơ hồng để kết làm chiếc mão đội làm tướng, huơ tay múa chân, vuốt râu, lắc nghiêng cái đầu mới học được trong tuồng hát bội của đoàn Sơn Đông mải võ lưu động đi bán thuốc quảng cáo:
-Ải ải…Ta là Tiết Đinh San cầu Phàn Lê Huê[4] đây!
-Xin hỏi Tiết Đinh San, cầu Phàn Lê Huê ở đâu vậy?
-Thì ở Cầu Phàn Lê Huê, chớ ở đâu!
-Cầu Phàn Lê Huê chắc là một cái cầu có trồng nhiều cây “lê”.
-Chắc là ở miền “quê” rất xa…
-Bậy nào! Chắc là ở tiệm tạp hóa “Mai Huê” gần trường mình đó mà…
-Ừa hén! Cái cầu thì phải có suối, có sông. Tiết Đinh San ở cầu nào, ở đâu cũng được mà…
-Hát tiếp đi! Đinh San ơi!
-Ải ải…
Có nhóm bạn đằm thắm hơn, rủ nhau leo lên cây trăm học bài, nhìn các bạn khác chơi, nhìn trời, nhìn đất, tán chuyện vu vơ rất vui:
-Ước gì mình có cánh như tiên, bay lên trời cao chắc là vui lắm!
-Bạn có cánh, tụi nầy không cánh. Bay một mình, đâu vui! Tui ước cái cây trâm nầy hoá thành cây đa, tụi mình bay lên trời như Chú Cuội…Cây nó chở mình bay chầm chậm, nghiêng qua nghiêng lại…bay lên mặt trăng luôn…đêm đêm nhìn xuống thế gian …
-Ý! Không được đâu! Lên trên ấy, làm sao mà về… nhớ nhà, nhớ cha mẹ, bà con…và nhớ đứa em mình nữa…
-Chắc là mình mượn cái thang của Chú Cuội và Chị Hằng leo xuống, về nhà, đi học mà…
-Thôi đi bạn! Tui không chịu đi đâu! Biết sao không! Nếu tụi mình leo xuống, về nhà thì trần gian sẽ bị biến đổi hết. Chuyện Từ Thức lên Tiên mới có một năm mà khi về trần thì ở trần gian đã trải qua mấy trăm năm lận…Coi chừng, tụi mình cũng như vậy à nghen!
-Còn tui thì tui muốn có con ngựa sắt, chiếc roi sắt…như Phù Đổng Thiên Vương[5]…đi đánh giặc Ân xâm lược, cứu nước, cứu dân…[6]
-Hay đó! Cô mình kể, Thánh Gióng đã lên ba tuổi, cứ nằm chờ sứ giả, không thèm nói năng gì hết. Giặc Ân xâm lược nước mình, tiếng nói đầu tiên trong đời của ông là “tiếng nói yêu nước, thương dân”, tiếng nói xin đi đánh giặc cứu nước…
*
-Giặc phương Bắc điêu trá, hung tàn. Muôn đời, lúc nào lũ nó cũng lăm le thôn tính nước mình. Nước mình tuy nhỏ hơn chúng nhưng vua biết nghe theo ý dân, biết trọng nhân tài, dân mình đoàn kết một lòng… nên một khi chúng nhào vô nước mình kiếm ăn, vơ vét thì đều bị đánh tan tành, thê thảm…
-Như Ngô Quyền đánh tan quân Nam Hán ở sông Bạch Đằng, chặt đầu Thái Tử Hoàng Thao. Trần Hưng Đạo đại phá quân Nguyên, chiến thắng Bạch Đằng; Thoát Hoan cùng đường, sợ chết vì cung tên tẩm độc nhà Trần, phải chui vào ống đồng cho tàn quân kéo chạy về nước.
-Năm 1789, Hoàng Đế Quang Trung đánh tan giặc nhà Thanh. Tôn Sĩ Nghị hồn xiêu, phách lạc; đại bác nước Nam sao đặt được trên lưng voi (?); quân nước Nam từ dưới đất xông lên, hay trên trời bay xuống; đến nỗi thân hắn không kịp mặc áo giáp, lưng ngựa không kịp thắng yên, không kịp đem theo ấn tín…
-Kinh hồn bạt vía, quân giặc khiếp đảm, giẫm đạp lên nhau, cố chạy thoát thân, chạy cong đuôi như chó, hoảng loạn quang quác như gà…, thây phơi thành núi, máu chảy thành sông…
-Các bạn thuộc bài giảng của cô mình khá đấy! Đố bạn nào còn nhớ cô mình giảng một câu đối của sứ nước ta, hạ nhục Vua Tàu Nhà Minh không?
-Ờ ờ…Tui chỉ nhớ vua Tàu nhà Minh muốn sỉ nhục nước Nam trước các chư hầu, mới ra câu đối:
Đồng trụ chí kim đài dĩ lục [7]
Sứ nước mình [8] khảng khái liền “chơi lại” ngay:
"Đằng Giang tự cổ huyết do hồng[9]
-Hóa ra “gậy ông đập lưng ông” nhục nhã trước chư hầu, mới hạ lệnh giết sứ nước mình đó.
-Quả là anh hùng tử, khí hùng nào tử! Cao cả như Trần Bình Trọng: “Ta thà làm ma[10] nước Nam, còn hơn làm vương đất Bắc”.
(Trước thời điểm đó khoảng 300 năm, trong bài Bạch Đằng Giang phú 白 藤 江 賦, Ông Trương Hán Siêu [?-1354] cũng đã hạ bút hai câu ngời ngời thiên cổ…
至 今 江 流
終 不 雪 恥
Chí kim giang lưu,
Chung bất tuyết sỉ.
Đến nay sông nước tuy chảy hoài,
Mà nhục quân thù khôn rửa nổi.
-Bạn con thầy giáo, nói hay quá, chắc là…chắc là sau nầy sẽ “hổ phụ sanh hổ tử”! “Con thầy giáo, sẽ làm thầy giáo”.
-Còn bạn thì không phải là con thầy giáo chắc? “Cái mộng ngành y, nhân đạo cứu người”, có giấu được ai…
-Ha ha…
…..
Khi hơi chán thì ngồi xúm xít dưới những tán cây cao hay những đám cây mặt cật, nói chuyện gẫu rù rì. Thời gian như ngừng đọng, lặng im. Thỉnh thoảng có tiếng cất lên, gọi tên nhau ơi ới và nhiều lúc nói cười vang rân.
Dòng suối Bào Trai hiền hòa, không sâu, nhiều chỗ nước ngang đến bụng, có thể lội băng qua được. Tôi rất sợ lội qua suối vì suối có rất nhiều đỉa. Muốn biết có đỉa không thì lấy cây khoắn xuống nước, rồi chờ xem. Đỉa mén lội phăng phăng ngang dọc hàng chục con; mấy con đỉa trâu, dài hơn gang tay, màu đen, có sọc vàng hai bên lưng, túa ra tìm mồi. Trông nó vẫy đuôi dợn sóng mà ớn lạnh xương sống …
Vậy mà cũng có một nhóm bạn trai gan góc tắm suối. Đứa thì biểu diễn “thả ngữa”, đứa thì “lội ếch”, đứa thì “lội chó”, đứa thì “lội đứng, lội sải, lội đập”, rồi bất chợt chia phe té nước vào nhau, nước văng tung tóe. Chơi chán, từng đứa leo lên bờ, co giò, bịt mũi, nhảy ùm xuống nước, lặn đua... Tiếng la hét hòa lẫn với tiếng cười sằng sặc, in ỏi, bất kể câu nói cảnh giác của ai đó:
- Mấy đứa! Coi chừng đỉa chun lỗ tai !
Vậy mà cũng có một nhóm bạn trai gan góc (!) tắm suối
Đến đây, tôi chợt nhớ đến một chuyện kể, cảnh giác về đỉa mà tôi được nghe hồi đó. Và câu chuyện này, chính là lý do làm cho tôi sợ đỉa.[11]
Ghê quá! Biết nhóm nữ chúng tôi sợ đỉa, còn có một vài bạn “rắn mắt” bắt đỉa để nhát hoặc bắt đỉa “lộn thinh”[12] trong cành cây nhỏ rồi vừa quăng đỉa về phía chúng tôi vừa la to “Đỉa đó”! Không biết phản ứng như thế nào, chúng tôi hét lên “Oái”, rồi xanh mặt chạy thật xa, không dám ngoái lại và để nghe phía sau lưng, một tràng cười dài đắc thắng. Những buổi đi chơi giữa giờ buổi chiều thường nhiều màu sắc như vậy đó!
Những cuộc đi chơi rất vui, giúp chúng tôi gần gũi, thân thiết nhau. Chúng tôi không sợ trễ giờ vì có trống trường “kêu gọi” bằng một hồi dài và 3 tiếng báo hiệu trước chừng 5 phút. Chỉ cần chạy một mạch là về kịp lúc sắp hàng vào lớp. Thường thì chúng tôi thả lần về trước, nhưng cũng có vài lần, đang mải mê vui chơi, bỗng nghe trống điểm, phải ù té, hào hễn chạy về trường, quăng bỏ hết dọc đường những “chiến lợi phẩm” của mình đã làm ra hoặc kiếm được, mệt muốn đứt hơi, mà vui.
Những ngày học một buổi, nghỉ buổi chiều, chị Tám rủ chúng tôi đi vào nhà một số bạn bè trong xóm chơi; thường thì chúng tôi kéo về nhà chị ở xóm Gò Cao, khoảng giữa hai làng Đức Lập – Tân Phú Thượng. Chúng tôi ham vui và hiếu kỳ, nên đi ngay, sau khi xin phép gia đình. Nhóm chúng tôi; trai có, gái có, ở chợ có, ở xóm khác có; thường khoảng hơn chục bạn, cùng đi theo chị.
Có lúc đi ăn xoài chua, chấm mắm đường tán; đường tán được gọt bằng một cái lưỡi hái; tham ăn xót ruột. Có lần, rủ nhau đi ăn trái trăm, trăm sắn hoặc trăm móc để rồi môi và lưỡi đứa nào đứa nấy đều tím đen. Có khi đi ăn điều chín, điều đỏ, điều vàng ngọt ngọt, chát chát để rồi sau đó, chị gom góp hạt điều cũ, nướng mẻ hạt điều, xịt khói cháy đen, rồi đập vỏ lấy ruột ăn, béo lạ. Có dạo cùng đi hái trái cà na, trái nù mới chua ngon, ăn với mắm ruốc, chát chát, chua chua rất ngon. Số cà na còn lại, chừng một rổ, cả nhóm ăn chán rồi, chị Tám và chúng tôi lấy dao khía dọc thân trái mấy đường, đem ngâm muối với cam thảo, khi đi học chị lại đem theo vào lớp để “nhấm nháp” trong giờ chơi, vui miệng. Hái cà na, vui nhất là cảnh, một bạn trai, làm người hùng, “leo cây hái trái”. Can đảm lắm! Nhưng khi bạn leo lên cây thì cành động. Cành động thì lũ kiến vàng túa ra tấn công. Kiến vàng tấn công cắn bạn đỏ ở tay chân, ở cổ, cả mặt mũi… Lũ kiến đặc nghẹt, “mãnh tướng nan địch bầy kiến vàng”! Bạn phải lật đật tuột xuống gốc cây như bay, như nhảy xuống đất, nhăn nhó để các bạn trai khác xúm nhau…phủi kiến. Và buồn cười nhất là bạn đó phải ba chân bốn cẳng chạy ra chỗ khuất, chắc là có mấy con Kiến Vàng xung phong cắn vào… chỗ kín!
Nhớ có lần, để tổ chức bữa trưa, chị Tám đảm đang, phân công người nào việc nấy rất khoa học.
Nhóm nam đi kiếm rau: rau muống, rau nhút, rau dừa, nhổ bông súng đỏ và bông súng chỉ, nổi dưới ao nhà; hoặc nhổ rau chóc, lá hẹ, rau bợ ngoài ruộng nước; hái rau tiêu (rau càng cua) ngoài bờ tre; kiếm rau dền cơm, dền gai, dền điều, (không hái dền voi) rau đầu rìu quanh nhà, bẻ đậu rồng, mồng tơi ngoài rào và có khi đào trùng câu cá hay câu ếch trong ao. Câu ếch thì rất dễ! Mấy bạn đi bắt một con nhái sọc ngoài ruộng, móc vào lưỡi câu trê, không quên ngắt một đoạn ngồng cỏ mần chầu làm một cọng “lông hồng”, để lưỡi câu không dính vào bụi cỏ. Bung sợi nhợ hướng vào lùm cỏ ở góc bờ ao, nhấp nhấp… hễ có ếch là ếch nhảy đến ăn mồi liền. Nó rất tham ăn. Nó đã ăn mồi! Đừng vội! Chờ một tí cho nó ngậm mồi vào trong cái miệng rộng của nó xong, giật ngược hướng ngồi của nó hoặc giật bổng là không sẩy con nào cả. Trong khi đó, có mấy bạn đi móc ếch, hoặc móc cua trong hang cua.
Vào mùa mưa, nước ngập ruộng, mới vào vụ cày lật, các bạn trai đi nhũi một lát là được một nồi kho: nào là cá lòng tong, cá trào cửng, cá ròng ròng, cá trê con, nào là cá chạch nhỏ, cá sặc rằn, cá sặc trắng, cá bãi trầu, nhiều nhất là cá rô binh tích hay cá rô hạt bí và cua con. Đôi lúc được rất nhiều con bù niễng, con ăn mày, con đòn gánh, con cà cuống… và cả mấy con đỉa trâu nữa! Bỏ rong rêu, rác rến, chỉ bắt những đối tượng ngon lành…và chuẩn bị chế biến kho quéo...
Nhớ có lần nghe các anh chị công cấy hò đối đáp với nhau:
-Hò ơ ớ…Thương anh em bẹt cẳng ra,
Để anh đứng giữa…đẩy mà một hơi!
-Hò ơ ớ…Sỗ sàng, bất nhã…những lời,
Trông anh thanh tú, coi trời bằng vun!
-Hò ơ ớ…Câu đố tục, đâu phải khùng,
Giảng thanh không đúng… em “tùng xẽo”[13] anh!
Hò ơ ớ…Vậy sao, thì đáp cho nhanh,
Nếu mà lố bịch ta đành… xa nhau.
-Hò ơ ớ…Đây nè, anh giải đáp mau,
Anh đố cái Nhũi…em đâu có ngờ!
Ai trong sáng, ai lờ mờ?
Cái Nhũi, đi nhũi cá, Google-images
(Giải câu đố tục giảng thanh về cái nhũi:
-Thương anh em bẹt cẳng ra; là hai cái gọng nhũi.
Để anh đứng giữa…đẫy mà một hơi; là thao tác đi nhũi cá.)
*
Chị Tám và chúng tôi chắt ruột cá lớn, gỡ bỏ mai cua lớn, đánh vải cá lớn, bẻ cánh bù niễng, cà cuống và ngắt mỏ nó, rửa sạch, làm đồ kho, ướp muối, ướp nghệ, nước mắm, nửa tán đường, bỏ hành, bỏ tiêu, một ống bột ngọt, năm bảy trái ớt Xiêm đỏ, kho quéo…thơm ngon hết ý…
Nhóm nữ chúng tôi trổ tài làm nước chấm tỏi ớt, lấy nước mắm trong một cái “tĩn”, (một loại hũ bằng sứ thô nung, hình quả bóng đá, miệng và đít tóp lại, miệng tròn, có thể đưa bàn tay vào và miệng có trám lại bằng một cái nắp vũm thường bằng sứ thô màu đỏ bằng đất nung, có dung tích chừng 5 lít), hay nước chấm tương hột có trộn đường, có món mắm chua cá con do chị làm sẵn và nấu canh rau với tôm khô, bột ngọt hoặc mấy con cá, mấy con ếch câu được trong ao nhà. Nhiều bữa cơm “cây nhà lá vườn” tại nhà bè bạn hoặc nhà chị, thường đơn sơ đạm bạc; “ba tay chụm lại”, mỗi bạn một tay; sao mà ngon miệng lạ lùng.
Nhớ có bận, chị Tám, các bạn và tôi, về quê ngoại tôi ở Lục Viên, mùa mây rắc và gùi. Trên đường đi, có biết bao tiếng chim ca lúc nhặt, lúc khoan nghe rộn ràng, thanh thản. Nhạc khúc đồng quê thân thương của những loài chim bay lượn đầy trời, khắp nơi trong các hàng cây, bụi rậm, trên những con đường mòn, đường mồi,[14] chúng tôi đi ngang qua…như những âm thanh ngân nga, say đắm của một thời đất nước thanh bình, trong lịch sử xa xăm.
Kìa, có con chim chiền chiện nào, cứ khoe tài ca hát. Nó bay vút lên trời thật cao rồi nghiêng cánh cho thân mình rơi xuống đất từ từ, đồng thời cất lên một liên khúc dài trong trẻo, ríu rít, nôn nao. (Có đứa bảo đó là chim sơn ca).
Phía bên hàng tre cao nhà ai, chim sáo, chim cưởng bay từng đàn, gọi nhau lảnh lót. Tôi cứ tưởng như mình đang ngậm viên ngọc rắn của Công Dã Tràng nghe xem loài chim nói chuyện thế nào. Tiếng chim hoành hoạch cất tiếng “học… học …học… nhớ nghe bạn…nhớ nghe bạn…” bằng một hơi rất nhanh như tiếng nói của Ông Thiện từ bi, trong khóm dây chùm bao rậm rạp, (học mà chơi…chơi mà học! Học thời như gấm thêu hoa, Có văn, có chất mới ra con người). Tiếng Chim Cu thư thả, giục giã: “cực cứ tu…thì tu”, “cực cứ tu…thì tu” hoặc “tu chửa được…tu chửa được…” như tâm trạng của ai, muốn thoát tục, lánh chốn bụi hồng mà hãy còn tiếc nuối …
-À! Đố các bạn giải được câu ca dao:
“Ở đời có bốn cái ngu: Làm mai, lãnh nợ, gác cu, cầm chầu”
-“Ngu” là rất kém về nhận thức, ứng xử, ngây ngô, dại dột …để có thể bị mắng chửi, bị nhận lãnh trách nhiệm vô cớ…điều mà bản thân chẳng nên nhập cuộc, dính vào.
-Nói rõ vì sao ngu đi!
-Vầy nè: Một là “làm mai mối”, môi giới cho đôi trai gái nên vợ, nên chồng.
-Đó là xe duyên tốt phúc. Sao ngu?
-Đành rằng đó là việc nghĩa, tốt phúc. Nhưng “chén úp trong sống chén còn khua” huống chi vợ chồng trăm năm, dễ dầu gì gia đạo cứ mãi thăng hoa, mà “không tiếng chì tiếng bấc”, không to tiếng cãi nhau…
-Và khi ấy người làm mai mối bị đem ra mắng chửi…là ngu, đúng không?
-Đúng rồi! Làm mai mối chi mà phải bị chửi, bị mang tiếng là ngu si. Đại để “Tiên tổ cha đứa nào mối lái kết duyên x…với y… mà sự thể thế nầy”. “Mẹ kiếp cái thằng cha z đó, chớ ai?”
-Ha ha…
-Còn lãnh nợ thì rõ ràng rồi. Tự nhiên đứng ra lãnh nợ cho người thứ ba. Người ta không trả nổi hay quịt nợ thì bản thân mình phải trả vì người chủ nợ chỉ biết người vay nợ là mình mà thôi…Vậy là ngu, “thầy pháp ăn, bắt thầy chùa chịu”. Tình ngay lý gian, phải đem tài sản mình ra gán nợ, mà mình có tiêu xài gì cho cam, lắm lúc cười ra nước mắt![15]
-Ờ hén! Còn chuyện đi “gác cu” hay bẫy cu?
-Các bạn biết đó, người đi bẫy cu, có đồ nghề là một “cái lụp” hai ngăn có ngụy trang, ngăn trong đặt con cu mồi, ngăn ngoài để mở, có một nút bẫy. Cái lụp được gắn chặt với một đầu của một cây trúc đá làm sào, dài khoảng 5-6 mét. Đến điểm gác cu, chỉ cần đưa cái lụp đó lên cành cây hay cành tre cao, đầu sào còn lại, cắm vào mặt đất cho chắc để cố định cái lụp phòng khi có gió mạnh, cái lụp bị ngả xuống đất, con chim mồi hoảng sợ, tâm lý không tốt, khó có thể bình thường được trong mấy buổi (Thế là phải xách lụp về nhà, dang dở cuộc chơi).
Khi đã đặt xong cái lụp trên cao là yên chí núp ló, ngồi rình, chờ đợi trong một cái thum (chỗ núp, ngụy trang sơ sài bằng cành cây gần đó). Việc gác cu bắt đầu có hiệu quả. Đã được huấn luyện, khi ấy, con cu mồi bắt đầu cất tiếng gáy vang. Đám cu bổi (cu đối tượng đánh bẫy) nghe tiếng gáy liền bay đến tìm con cu mồi để đánh đuổi. (Đứa nào, ở đâu…mà dám xâm nhập lãnh địa của ta?!). Nó bay đến chỗ chim mồi, chui vào cửa của cái lụp đó, hung hăng, xù lông cổ, xòe cánh, giương mỏ tác chiến…nhưng vừa quay qua, quay lại…chân chạm vào nút bẫy…cửa ngoài của cái lụp liền sập xuống, chú cu bổi quay đão lung tung, cố tìm đường thoát ra trong vô vọng. Chỉ chờ có thế, người gác cu chạy đến hiện trường, nhẹ nhàng hạ sào xuống, một tay vừa mở cửa ngăn ngoài của cái lụp ra, tay kia thò vào tóm con cu bổi ngu dại, cho vào một cái lồng không. Thế là được một con cu bổi, một cách dễ dàng. Ngăn ngoài cái lụp lại được mở ra, cài chốt bẫy và được đặt lại vị trí cũ…Người gác cu quay lại “cái thum” (chỗ núp ngụy trang), chờ đợi, ngồi rình…
-Như vậy, gác cu, đâu có nghĩa gì…là ngu?
-Ngu chớ sao không! Này nhé, nông dân mình thường cư trú tại đất nhà, trong một vuông rào có lũy tre bao bọc, vuông rào nhỏ thì khoảng 30-50 cao, vừa vừa thì 70-80 cao, rộng lớn thì 1-2 mẫu đất, (30 cao là 3.000m2, một mẫu là 10.000m2). Ngoài khu vực nhà ở, chuồng trâu bò, chuồng gà vịt, chuồng heo…là vườn rau, vườn cây ăn trái, ao cá…Vườn cây yên ắng, thanh bình, rậm rạp,“đất lành chim đậu”nên có nhiều loài chim cư trú, làm tổ, cả ngày tiếng hót líu lo… nhất là có nhiều bầy cu về ở…
Từ sáng sớm tinh mơ, người chủ gia đình đã ra đồng cày ruộng, đắp bờ, tát nước, rải phân cho lúa…trẻ em đều đi học trường làng, ở nhà chỉ có người già hoặc vợ nhà nội trợ…Gác cu thì núp ló, rình rập chim gần hay trong vuông rào nhà người ta…khiến cho người ta nghi ngờ là phường đạo chích giả bộ gác cu …để sẽ làm một “ phi vụ” (một đêm ăn trộm…bằng ba năm làm!) như trộm gà, trộm vịt, trộm cá, trộm những công cụ nhà nông, trộm vặt…mà tệ hại nhất là lợi dụng người chồng bận rộn công việc đồng áng, không có ở nhà, giả bộ gác cu, vào nhà xin nước uống, hòng tán tỉnh, ve vản vợ người ta…Cho nên, người chủ gia đình, khi có mất trộm món gì đều nghi ngờ nhắm ngay đối tượng người gác cu…Như vậu gác cu thiệt thòi cho danh dự và đạo đức của mình…chưa kể là bị chửi lén huyên thuyên…Bị chửi là ngu…đúng không?
-Rất chí lý! Rất hay! Chắc là thầy ở nhà đã giải nghĩa phải hôn?
-Đâu có, khi hầu rượu cho Ba mình và Thầy Ba láng giềng, mỗi chiều, nghe chuyện “trà dư tửu hậu”, đàm đạo mà biết đó thôi.
-À! cái ngu cuối nữa, “cầm chầu là sao?
-Bồ nói nghe chơi!
-Cầm chầu là đánh trống khen chê, hay dở về cách trình diễn của diễn viên trên sân khấu trong một đám hát dân gian như là đoàn hát bộ lưu động đến làng mình hoặc hát trong các dịp kỳ yên, cúng đình. Người cầm chầu đám hát là một trong 12 hương chức trong ban hội tề. Ban nầy, nếu không có ai cầm chầu thì cử người có uy tín, giàu có… sành điệu hát tuồng. Đó là người lèo lái cảm hứng dân gian, phẩm bình hay dở thay cho công chúng qua tiếng trống. Khi các vai diễn thể hiện câu ca, lời hát, điệu bộ, pha trò hay… thì người cẩm chầu đánh trống khen hay, bằng cách hai tay gõ trống, vừa đủ nghe, một hồi trống ngắn dài trên mặt trống, “tung tung…tung tung”, như cho điểm khen, nhiều hay ít. Ngược lại là trống chê dở cách trình diễn chưa đạt hoặc dở tệ bằng một hồi ngắn hoặc dài, trên tang trống, lắc cắc… lắc cắc… để tạo không khí hào hứng và để các diễn viên điều chỉnh màn trình diễn của mình…
-Mình chưa hiểu, sao như vậy là ngu.
-Nói dài dòng là vậy. Ba mình nói, “thiên hạ, trăm người ngàn ý, làm người khó lắm, vi nhân nan, vi nhân nan...
-Hí hí…vi mo nan… vi mo nan…làm cái mo cau khó lắm…
-Ha ha…Ha ha…
-Do đó, khi người cầm chầu đánh trống khen hoặc chê, thì thế nào cũng có nhiều người phản bác, bất bình chửi thầm. (Thằng cha già lãng nhách, vô duyên, ngu ngốc…dở như vậy mà cũng khen! Hoặc người ta diễn hay như vậy…mà lại chê! Như vậy, đó là bị chửi…là ngu…
-Hiểu rồi! Trong bốn cái ngu ấy có ba cái ngu bị mắng chửi. Tuy bị chửi nhưng vô hại. Chuyện qua rồi thì thôi. Còn cái ngu “lãnh nợ” thật là thảm hại! Mất tài sản vì chuyện tình cảm…thương người, động lòng trắc ẩn nên bị lường gạt…bản thân có vay đâu…mà có trách nhiệm phải trả nợ?
-Thực ra, bài ca dao trên, có giá trị đạo đức, cảnh giác, hướng tới một thái độ sống tốt ở đời. Nhưng phê phán, đánh giá, ứng xử theo “bốn cái ngu” ấy thì phải tùy việc, tùy hoàn cảnh, tùy người mà áp dụng một cách linh hoạt, hợp lý, hợp tình. Quyết định không dính vào bốn cái ngu trên…là một điều thái quá; mà sự gì thái quá thì không tốt.[16]
-Hay quá hén! Sao chữ “ngu”có nghĩa không hay như thế mà đời nhà Hồ lại đặt quốc hiệu nước mình là Đại Ngu vậy cà? Hồi đó, dân nước mình “ngu” lắm phải không?
-Đâu phải vậy. Quốc hiệu “Đại Ngu” có nghĩa “an vui”, “tên một triều vua nước Tàu”. Về quốc hiệu này, theo truyền thuyết, Hồ Quý Ly đặt quốc hiệu như vậy với hoài bảo xây dựng một nước Đại Việt mới, như nước Ngu thời Ngu Thuấn, một trong ngũ đế thời thượng cổ, lấy dân làm gốc, hùng cường, thịnh vượng, an vui. Tiếc thay, vì chế độ nhà Hồ,(1400-1407) không được lòng dân (vì cướp ngôi nhà Trần) nên sớm bị tiêu vong.
( Đại Ngu 大 虞: an vui, hòa bình, thịnh vượng khác với ngu 愚 không thông minh).
Vừa đi đường vừa chuyện gẫu cho quên đường xa. Còn tôi cứ như tiếp tục ngậm ngọc…
Kìa! Có tiếng chim Tu Hú “thuyết pháp”, hô hào, còn chần chờ chi nữa, mà không đi tu: “tu hú… tu hú…tu hú!...” Nghe lạ tai và buồn là tiếng Chim Mồ Côi kêu thương không ngớt như lạc đàn, như bơ vơ vang vọng, như nức nở tìm kiếm người thương trong gia đình: “Ba…má…anh…đâu mất tiêu rồi!
Ba…má…anh…đâu… mất tiêu rồi!
Xa xa, đàn cò trắng nào đậu rải rác trên những đám ruộng hay đứng trên lưng trâu rình mồi. Cò ma vàng sậm thường kiếm ăn chung với cò trắng hoặc gật gù trên những cành mềm trên bờ ao. Khi giật mình bay bổng, luôn luôn xưng danh nó ra, (mầy tưởng không ai biết tên “cò” chắc?!): “Cò…à! Cò à! Cò à!…” tiếng kêu của nó khàn khàn, khô khốc. Mấy chú Chim Chài Chài mỏ nhọn dài, lông cánh màu xanh biếc-ức vàng sậm, canh mồi chăm chỉ trên các cành cây lộ thiên, sát bên mộ cái ao cứ chú mục vào mặt nước ao với cai mỏ gật gù. Kìa! Nó lao xuống nước như chớp rồi bay lên chỗ cũ. (A! nó bắt được một con mồi tươi rói, một con cá lòng tong ngon lành).
Chim đa đa hót: “Coi chừng giặc…xa xa…”
Lũ Quạ thì khác, lúc nào cũng la hét, thở than: “họa…hoạ mà…”, “họa…hoạ mà…”, như hãy còn nguyền rủa cho nỗi nhục nhã đau thương của đất nước trong dĩ vãng 1000 năm đô hộ. Có tiếng chim quốc kêu: quốc…quốc…quốc…”, khắc khoải, đau lòng. Tiếng chim đa đa nghe như tiếng Hồn Quê luôn cảnh giác, nhắc nhở: “Coi chừng giặc…xa xa…”, “Coi chừng giặc…xa xa… Tham vọng thôn tính láng giềng truyền kiếp của giặc phương Bắc.[17] Tiếng chim bìm bịp như bổ sung cho những câu nói liên tưởng, cứ lặp đi lặp lại trong tâm trí tôi, như phỉ báng lũ tàu khựa tham tàn. Bọn cầm quyền mập ú, núc ních đó, dẫu bề ngoài thơn thớt nói cười nhưng trong huyết quản của chúng, lúc nào, bọn chúng cũng chỉ là một lũ gian trá, thâm độc. Phải chăng con chim bìm bịp nôn nao giục giã kêu lên, như một hồi trống trận dài… cho con nước, lúc “con Nước” Sông Vàm Cỏ Đông chuyển dòng từ “nước lớn” sang “nước ròng” ?!:
“Đồ bịp…bịp…bịp…bịp…bịp…bịp…bịp…”
Bìm bịp kêu Nước lớn hỡi ai!
Hiểm sâu, độc hại! Tẩy chay đếch cần.
Tiếng chim chích chòe cất cao lời phê phán bằng một tràng dài huyên thuyên lảnh lót như “trăm[18] tiếng Tây”. Con chim chích nhỏ xíu, bay bay chớp chớp theo mỗi lượt vỗ cánh lên cao như “nhảy cừu”, cũng hô hào “ghét…ghét…ghét…”,
“bết…bết…bết…”.
Bầy chim se sẻ trên những đọt cây cau cứ rộn ràng đấu khẩu với nhau: “nè…nè…nè…”,
“thù…thù…thù…”.
Thỉnh thoảng, khi chúng tôi đi ngang qua mấy bụi rậm, vài con chim mỏ nhác, hay con chim cút nào thấy người sợ hãi, bay vù, làm mấy đứa yếu vía, giật mình, đánh thót, phì cười…
(Tôi cứ ngỏn ngoẻn cười thầm một mình, hoang tưởng coi như đang ngậm viên ngọc nghe tiếng loài vật của Công Dã Tràng, nghe chúng nói lên tâm trạng và cảm nghĩ của chúng và thả hồn theo những trang sử cảnh giác, quật khởi của bản lĩnh Việt tộc, qua tiếng chim có ý nghĩa thú vị, bên tai).
(Cắt bỏ một đoạn vì quá dài)
...
Thế là không hái được một trái gùi nào cả, loại trái cây rừng mà chúng tôi háo hức muốn ăn cho biết vị. Vòng vo, lùng sục một lúc quanh mấy bụi mây rừng tua tủa gai, chúng tôi chỉ còn hái được hai quài mây rắc chín và một rổ quài mây rắc còn xanh.
Theo hướng nhà ngoại tôi gần đó, chúng tôi rảo bước đi, một hơi là đến. Gặp Ngoại, các bạn lễ phép, khoanh tay, cúi đầu: “Thưa Bà Ngoại”. Riêng tôi đứng ra giới thiệu bạn bè với Bà. Ngoại tôi mặc một chiếc áo túi trắng, tóc bạc phơ, mắt đã lòa, nhưng tai còn tỏ và hãy còn sõi lắm. Bà vỗ nhẹ lên đầu các bạn với giọng cười hiền lành và giục tôi bắt gà làm cơm, nhưng cả bọn thưa rằng đã ăn trưa rồi, chỉ muốn ăn mây cho vui thôi.
Nhanh như tép nhảy, Chị Tám lẹ làng suốt những trái mây ra một cái rổ long mốt, xối nước, rửa cho hết bụi bám vỏ, đâm giập “mây xanh”, để nguyên vỏ, trộn nước mắm, một ít đường, một ống bột ngọt, một ít tiêu và ớt bột cay cay…Trộn đều, thế là xong! Chị và mấy đứa con gái chúng tôi trịnh trọng đặt giữa bàn tròn một thau tráng men đầy trái mây xanh đã chế biến và một chồng chén dĩa, muỗng, đũa.
-Mại dzô! Mại dzô! Các bạn ơi! Ngon lắm!
-Mây xanh nóng hỗi, vừa thổi vừa ăn nè!
-Ăn mây…là ngậm, là nuốt mây, cưỡi mây như Tôn Tẫn, Bàng Quyên…
-Như đằng vân, đứng trên đám mây, mây bay vùn vụt hén!
-Xí! Làm sao bay được…Dụ con nít, xưa rồi!
-Ha…ha…
-Mây nào cũng mây mà!
-Khác nhau là cái chắc. Mây trời có hái, có ăn được đâu!...
-Đố các bạn, vật gì mà “chặt không đứt, bứt không rời, phơi không khô, chụm không cháy?”
-Khó à nghen!
-Là tên bạn Thu Thủy, là nước đúng không?
-Chắc là tên của bạn Triều, nước thủy triều đó!
-Hay là tên của 2 bạn Vân, Vân Đặng, Vân Trương, vân là mây, mà mây cũng từ hơi nước mà ra thôi…
-Phải tên bạn Ngọc, bạn Thoa (Khanh)…đâu ai dám đem đồ trang sức quí giá của mình mà chặt, mà phơi…
-Có lẽ là tên của bạn Thu Hương, Xuân Lan…Hương không nắm được, Lan đâu dám nâng mạnh tay…
-Vậy là tên các bạn Xuân, Sĩ, Sửu, Hầu, Lợi, Nhơn, Đức, Nhuần (Văn), Minh Tân, Nhính, Lý (Ba), Chạng, Cuống, Thu (Yếu) Chị Tám và Ngọc Chân, em út của Kim Ngân… tên có nghĩa riêng, bứt chữ rời ra thì không thể được…
-À, vậy, cũng như tên Lê Kim Quynh, Nguyễn Thị Nhiên, tên hai lớp trưởng, của tụi mình, chắc là phải gắn ví nhau suốt đời, làm sao bứt rời ra được…
-Ờ hén! Cũng như tên của 2 bạn Ngân nè, Ngân Võ và Ngân Nguyễn, âm thanh làm sao lấy được mà chặt, mà phơi…
- Ờ! Hay quá! Hay quá! Đủ một số tên các bạn hay chơi chung với nhóm bọn mình …Tên một số các bạn ở hai lớp nhứt A,B…Câu đố nầy rất có ý nghĩa…
-Vậy là nhóm mình có nghĩa “Chặt không đứt, bứt không rời, phơi không khô, chụm không cháy” nhen!
-Hi vọng là như vậy đi! Ha…ha…
-Kha …kha…
…..
-Đố bạn nào giải được:
“Trứng rồng lại nở ra rồng,
Liu điu lại nở ra giòng liu điu”.
-Là theo nòi giống. Ai tài giỏi, bao dung… thì con cháu tài giỏi, bao dung... Ai hèn hạ, độc ác, ngu ngốc… thì con cháu hèn hạ, độc ác, ngu ngốc…
-Theo truyền thuyết và lịch sử, dân tộc mình là con rồng cháu tiên, khí phách anh hùng, có lòng nhân nghĩa. Chẳng hạn, Giặc Minh vô cùng tàn ác, thế mà khi chiến thắng vẻ vang bọn chúng, Ta chẳng những không trả thù, chẳng những tha mạng không giết hại mà còn cấp lương thực, ngựa xe, thuyền bè…để chúng về nước, đoàn tụ người thân…Chúng cứ nghĩ Ta giả vờ như vậy nhưng trên đường về…hạ thủ độc thủ như bản chất của chúng (suy bụng ta, ra bụng người)…cho nên tán đỡm kinh tâm, thất kinh hồn vía, đâu biết, đó là tinh thần đại nghĩa , chí nhân của dân tộc ta.
-À! Tui nhớ rồi, Cô đã giảng như vậy và đọc cho lớp mình nghe mấy câu trong bài Bình Ngô Đại cáo. Vầy nè:
Đem đại nghĩa để thắng hung tàn.
Lấy chí nhân mà thay cường bạo…
*
“Mã Kỳ, Phương Chính, cấp cho năm trăm chiếc thuyền,
Ra đến biển mà hồn bay phách lạc,
Vương Thông, Mã Anh, phát cho vài nghìn cỗ ngựa,
Về đến nước mà tim đập chân run…
*
-Dân tộc mình thật là bản lĩnh…
-Đoàn kết, yêu nước, có lòng trắc ẩn…
-Các nhà viết lịch sử đã sử dụng rất nhiều…rất nhiều từ ngữ và hình ảnh hoa mỹ để ca ngợi bản sắc Việt Nam…
-À! Có phải rắn liu điu có nọc độc, có đuôi thật dài, ám chỉ sự thâm độc và cái đuôi chệt của giặc phương Bắc, “ba tàu”?
-Rõ như ban ngày, ai mà chẳng biết!
-Dân mình thì có lòng quảng đại như rồng, bay tận chín tầng mây. Bọn giặc ở phương Bắc thâm độc, như là loài bò sát dưới đất, rắn liu điu, chui rúc ở những nơi dơ bẩn, hôi thối…
-Chưa hết đâu, Cô mình nói, khi đô hộ nước mình, bọn giặc Minh rất là độc ác, thối tha… bài Bình Ngô Đại Cáo còn rành rành ra đó:
Độc ác thay! Trúc Nam Sơn không ghi hết tội,
Dơ bẩn thay! Nước Đông Hải khôn rửa sạch mùi
Lẽ nào trời đất dung tha!
Ai bảo thần dân chịu được.
-Phải chăng dân ta kêu nó là “Tàu khựa” hay “Chệt khựa”; “Đồ dơ dáy, hôi tanh, tỡm lợm”?
-Chắc là…có thể là …đúng vậy!
-Thầy mình đã giảng, bất cứ ở thời đại nào trong lịch sử, xưa nay chúng nó đều có âm mưu thôn tính nước ta nhưng dân Việt mình rất bản lĩnh, rất yêu nước, rất anh hùng…trẻ già, nữ giới, thiếu nhi một lòng hi sinh, quật khởi đấu tranh nên Tổ quốc Việt Nam mình mới trường tồn, mới không bị đồng hóa, không thể nào mất gốc…
-Thật vô cùng tự hào Tổ quốc Việt Nam nước ta!
-Tổ tiên mình…muôn năm!
-Ha ha…
[Ngân Triều bổ sung: Mãi sau nầy tôi mới đọc được mấy câu thơ hào sảng về Tổ quốc Việt Nam, cũng không nhớ tên bài thơ và hoàn cảnh sáng tác, xin được ghi lại để tham khảo:
Sống vững chãi bốn nghìn năm sừng sững,[25]
Lưng đeo gươm, tay mềm mại bút hoa.
Trong và thực sáng hai bờ suy tưởng,
Sống hiên ngang mà nhân ái, chan hòa.
Huy Cận.
Tứ thơ như tổng kết lịch sử đấu tranh oai hùng, bản sắc, tâm hồn Việt Nam và khẳng định nước ta, một đất nước “sừng sững”trường tồn vĩnh cửu, sánh vai cùng các nước quốc tế trong năm châu, bốn biển; một dân tộc hiên ngang, bất khuất, nhân ái, bao dung]
Liu điu lại nở ra giòng liu điu.
Vừa ăn vừa tán gẫu. Bầu không khí tở mở, đầy tiếng nói cười rôm rã, quên luôn lời khen lịch sự cho món “mây xanh”. Song, tôi không thể nào quên cái hương vị đậm đà của nó hơi chát chát, ngọt ngọt, mặn mặn, ăn trệu trạo, nhai nhai nhè nhẹ luôn cả hột, khi nuốt vào, cảm nhận cái dư vị ngọt ngọt của nó, đọng lại nơi thực quản, ngon ơi là ngon. Tuổi mới lớn, ăn gì cũng ngon…Nhất là bữa ăn đơn sơ lồng trong một bầu không khí vui tươi, rộn rã tiếng cười giòn tan không dứt…
Nhớ có lần, chúng tôi rủ nhau đi nhổ nấm tràm ở vạt tràm cháy của Nội tôi tận ấp Đức Ngãi (Làng Đức Lập, Đức Hòa, Chợ Lớn). Rất hên! Chúng tôi đi hái nấm đúng mùa. (Tức là vào thời điểm sau những cơn mưa chập chũm của tháng ba âm lịch, nắng nóng có sao, đồng ruộng khô cằn. Trên những đám ruộng, chỉ còn trơ gốc rạ ngả nghiêng, trên những bước đi trên con đường cỏ may cát trắng, gió làm tung bụi mịt mù). Gió chướng buổi chiều xa đưa, sau những chiếc xe bò trên đường đất, cuồn cuộn những vầng bụi cát trắng, bay thấp thoáng qua những dãy ruộng và tan biến sau lũy tre xanh.
Khi đến nơi đã định, chúng tôi tỏa ra, lùng sục nấm tràm với nhãn quang của Tề Thiên Đại Thánh(!), đôi mắt sáng cứ chăm chăm chú mục vào những gốc tràm. Cuối cùng, chúng tôi thu hoạch được rất nhiều nấm tràm, đựng đầy trong những chiếc nón lá và các nón bàng con trai. Mỗi lần gặp một ổ nấm tràm, tiếng reo mừng tở mở, vang rân…
Đến nhà, dồn đi dồn lại, “chiến lợi phẩm” nấm tràm rất nhiều, đầy 5 chiếc nón lá và một số nón bàng. Để riêng ra một số nấm làm quà đem về gia đình, còn lại, lặt gốc, bỏ đất dơ, ngâm rửa với nước muối… Rồi chúng tôi lấy cái nồi to nhất của Nội, thường dùng nấu cơm cho công cấy ăn, hoặc sử dụng riêng cho ngày giỗ, nấu được khoảng nửa nồi cháo nấm tràm, thơm ngon hết ý, “khao quân”. Nấm đen đen, trắng trắng, búp búp; có gạo rang thơm; có đậu xanh hòa quyện; có mấy con cá lóc cựu còn sót lại trong cái ao sâu của nhà, nay đà cạn nước; mấy bạn nam quậy nước đùng đùng rồi thò hang bắt được; tóm thêm ba con ếch bự nằm “mà” dưới đống “rơm nhao” trên bờ ao; có “bỏ tiêu cho ngọt, bỏ hành cho thơm”; có đường, có bột ngọt, có muối, có gừng…
(Chị Tám rất thạo việc nấu ăn, đứng bếp. Chắc là chị thường đi phụ đám tiệc ở quê nên mới có những chiêu làm bếp tuyệt vời như thế. Sau nầy có gia đình riêng, chắc là thế nào chị cũng một “nội tướng” đảm đang. Mà thật vậy, tôi thấy ở chị có những phẩm hạnh tốt của người phụ nữ nông thôn như: xinh đẹp, vui vẻ, mến khách, chu đáo, ngăn nắp, quán xuyến, tháo vát, tài ba…)
Chẳng mấy chốc, mùi cháo nấm tràm thơm ngon lan tỏa khắp nhà, nghe cồn cào trong bụng. Sau khi múc ra để dành phần cho Nội, Chị Tám với khuôn mặt ửng hồng, do đứng bên bếp lửa, khả ái, tươi cười, đon đả:
-Ăn đi các bạn, cháo nhiều lắm, nấm tràm mát lắm, học bài mau thuộc!
Thế là một nồi cháo to, một thoáng hết sạch. Bữa ăn còn gắn với những chuyện vu vơ, trêu ghẹo lẫn nhau, những câu chuyện têu tếu, vô thưởng vô phạt…và những tràng cười hồn nhiên, hể hả.
Chị Tám rất dễ thương qua nụ cười và giọng nói hiền lành. Chị quả là một “đầu đàn” của bọn tôi thuở ấy.
Nhà tôi ở, ngay ngã tư Đức Lập, còn gọi là Ngã Tư Mây Tàu, thuộc ấp Mây Tàu, giáp ranh với Rẫy Ông Ầm.[26]
Mỗi ngày tôi thường đi bộ theo đường tắt để đến trường Tiểu Học Bào Trai. Bộ ba “tam sênh” của chúng tôi gồm chị Tám, Thoa và tôi luôn luôn đi chung với nhau. Có bạn hỏi chúng tôi đi học bằng phương tiện gì, tôi cười đáp vui là đi bằng xe “lô ca chưn”. (Mặc dù bấy giờ còn có xe thổ mộ, lộ trình Đức Lập- Bào Trai, khách lên đầy xe thì xe lóc cóc khởi hành. Dân chúng và học sinh đi xe đạp, rất hiếm thấy).
Mỗi sáng, Khanh và tôi đi từ Đức Lập đến nhà chị Tám (Gò Cao) đường đá lởm chởm, hơn 1km. Rồi ba đứa chúng tôi tiếp tục đi khoảng 1km đường đá đó (TL 😎 mới đến đường tắt. Con đường nầy thực ra là một “lối mòn”, do nhiều người đã từng đi qua mà thành. Hai bên lối mòn ấy giăng đầy bông cỏ may, men theo rừng chồi của bờ suối Bào Trai, dọc theo vuông rào lớn của ông Bộ Tao, đi qua một vạt đất trồng đậu phộng, băng qua một mương nước cập lộ 10, qua cống suối Bào Trai là đến trường, độ chừng 1,5 km.
Đi bộ tổng cộng 3,5 km.
Có lần tôi thử tính đường đi học của mình:
-Đường đi học và về mỗi ngày 2 lượt: 3,5km x 2 =7km.
-Đường đi học và về trong 1 tuần, 6 buổi là :7km x 6 = 42km.
-Đường đi học và về trong 1 năm, 32 tuần là: 42km X 32= 1.344km.
*Đáp số: Trong một năm học, một nữ sinh tên Võ Kim Ngân đi được 1.344km.
Thật là một kỷ lục khá lớn! Đường đi học trong một năm của tôi dài xấp xỉ bằng đường dài từ Sài Gòn đến Hà Nội, mặc dù, bấy giờ tôi chỉ biết Sài Gòn, Hà Nội, và cả cố đô Huế, qua quyển sách Địa Dư, do cô mua, phát ra vào dịp đầu năm học. Bộ ba chúng tôi đi bộ như vậy chẳng nhằm nhò gì, vì hãy còn gần, khi so với phần lớn các bạn ở vùng trên: Tân Mỹ, Gò Sao, Rừng Muỗi, La Cua … Đường xa gấp đôi, gấp ba lần đường đi của chúng tôi, mà vẫn… lon ton… ôm cặp cuốc bộ.
Đường xa thì mặc đường xa… chúng tôi cũng có những trò vui nhỏ trên đường đi học về. Thú vị nhất là ngắm và bắt những côn trùng bay quanh bờ suối. Dễ phát hiện nhất là mấy chú ong bầu. Lưng nó màu vàng nghệ, bụng màu đen. Khi bay, nó kêu o… o…rầm rì.
Ong bầu hút mật
-Kìa! Nó đang chui vào hoa cắt lồi hút mật! Để tui bắt, đem về cho nó hát bội nghe chơi!
- Nó chích đau lắm đó!
-Để tui bắt cho coi! Nè! Biết cách bắt thì dễ ợt hè!
Chị Tám chuẩn bị cái khăn tay (mouchoir), khi ong bầu chui vào đài hoa ngang của hoa cắt lồi hút mật, chị lấy khăn túm lại như làm một cái túi tròn, đặt sẵn ở bên ngoài. Khi hút mật xong, ong chui nhanh ra khỏi hoa, là nó rơi ngay vào cái túi khăn ấy. Chị liền lẹ làng túm khăn lại. Thế là được một chú ong bầu trong chiếc khăn tay.
(Ngày nay trẻ em thường dùng túi nilon đề bắt ong bầu).
Rồi hai chú, ba chú…Chỉ cần một con cũng đủ. Nhiều ong hơn thì hát bội vui hơn, con nầy hát mệt thì con khác thay...Có khi hai ba con cùng hát một lúc, trẻ em rất ưa thích…
-Nhưng làm sao cho nó “hát bội” hả chị?
-Đem về đựng mỗi con trong một cái ve chai nhỏ, hay chai nước ngọt rỗng, nhớ làm lỗ thở cho nó. Muốn cho nó hát thì lấy cọng bàng làm que chọc vào nó là nó khắc hát o…o…ò…ò…ọ…ọ….như hát bội rất vui tai. “Tiếng hát” của nó rất đơn điệu, lâu dần sẽ nhàm chán và gây buồn ngủ.
-Vậy à! Cũng hay! Thôi thả nó ra đi chị! Tội nghiệp quá! Mất nó, gia đình nó chắc là buồn lắm! Nó có cha mẹ, anh em, chắc là nó cũng giống như con người!
-Tui biểu diễn bắt ong bầu chơi thôi, chớ ở nhà, tìm một cái ve chai không, đâu phải là chuyện dễ. Cho em bé chơi thôi…chớ mình mà chơi gì nữa! Thỉnh thoảng tui cũng có bắt chuồn chuồn trâu cho tụi nó hoài…
“Thi hành nghị quyết”, chị liền mở khăn ra, tức thì mấy con ong bầu tung cánh bay vút cao lên và bay xa tít. Chúng tôi cứ nhìn theo vòng bay của chúng nó. Ô! Tự do! Có gì vui sướng bằng tự do. Chắc là chúng nó rất vui thích, bay vút một mạch, lượn tít lên cao, rồi khuất dạng trong khóm cây um tùm xa xa.
-Ha ha…Tụi mình vừa thể hiện một niềm vui cho gia đình con ong bầu, phóng thích “tù binh”, cũng như ngày rằm, người ta mua chim, mua cá đến Chùa cúng dường, phóng sinh…
- Chắc là gia đình nó làm tổ ở hướng đó. Mà bắt chuồn chuồn chắc là khó lắm?
Chuồn chuồn trâu xanh
-Dễ ợt thôi! Nhưng về nhà đã. Là vầy: Giống như bắt ve sầu hay hay bẫy chim sắc. Lấy nhựa cây sung hay cây mít, đem nhựa bôi lên đầu cây trúc cao chừng “một với”[27] …rồi đem cắm ở chỗ có chuồn chuồn bay…Bay một hơi, chúng thường tìm chỗ đậu nghỉ cánh. Chuồn chuồn thích đậu trên cao để nhìn tám hướng…Đậu vào…đầu trúc có thoa nhựa cây…là dính bẫy. Hạ cây trúc xuống là bắt…Biết cho con nít chơi sao không? Lấy sợi chỉ buộc vào chân chuồn chuồn. Lúc nắm sợi chỉ, chuồn chuồn bay vòng tròn rất vui. Tụi nhóc thích thú như chơi bong bóng bay. Nhưng bắt kiểu nầy, chân chuồn chuồn dính nhựa, sau dính thêm đất nên chơi không được lâu. Không bằng thò tay bắt nó.
-Nghe nói mình cho con chuồn chuồn cắn rún, khắc mình biết bơi... biết có đúng không?
-Làm sao tin được! Nó cắn đau lắm! Trò lừa dụ con nít xưa rồi! Đâu phải là phép mầu của chuyện cổ tích ngày xửa ngày xưa! Có tập bơi, khắc biết bơi, có học võ nghệ, khắc biết nghề. Có nghề, hễ ai ỷ mạnh, ăn hiếp, đánh mình…thì mình dư sức dùng “miếng trả miếng với nó”. Bộ không nhớ Cô đã giảng cho mình ở bài Đức Dục, Tự lực tự cường sao?
-Ờ hén! Hãy luôn cảnh giác với Giặc Phương Bắc. Lúc nào chúng cũng lăm le xâm chiếm nước mình qua cái bản chất tham tàn, điêu trá …ẩn sâu trong đầu óc quỷ quyệt của chúng. Từ đời Nhà Đinh, Nhà Trần…Ông cha ta lúc nào cũng đã nhắc nhở sâu và di huấn cho hậu sinh.
a/-Thời Đinh Tiên Hoàng (968 -980), có câu:
“Bắc môn tỏa thược”[28]
北 門 鎖 鑰
Cổng vào đền thờ Đinh Tiên Hoàng Đế
còn ghi chữ “Bắc môn tỏa thược” 北門 鎖 鑰
b/-Di chúc của Vua Trần Nhân Tông[29] (1279 – 1293). Lập ra hơn 700 năm trước, đã từng cảnh giác cho muôn đời sau:
“Nếu chúng (Giặc Tàu) không thôn tính được ta thì gậm nhấm ta. Họ (Tàu khựa) gậm nhấm đất đai của ta, lâu dần họ sẽ biến giang san của ta từ cái tổ đại bàng thành cái tổ chim chích.
Vậy nên các người phải nhớ lời ta dặn:
“Một tấc đất của tiền nhân để lại cũng không được để lọt vào tay kẻ khác”.
-Bạn thuộc bài và tiếp thu lời giảng của cô mình y boong! Cô còn liên giảng gì nữa, nhớ không?
-Đó là hai câu ca dao lịch sử răn đời: Hãy xem cái hèn mạt, phản quốc: “Nước loạn, không cứu; theo giặc, cầu vinh” như Trần Ích Tắc”.
“Cỏng rắn về cắn gà nhà”, như Vua Lê Chiêu Thống, chết lưu vong nhục nhã ở tuổi 28. Đời cha ông anh hùng mà con cháu chẳng ra gì…Ô nhục muôn đời:
“Trăm năm bia đá thì mòn,
Nghìn năm bia miệng hãy còn …trơ trơ”.
-Tui “ghét cay, ghét đắng…ghét vào tận tâm”…những bè lũ bù nhìn, phản dân, hại nước, “theo giặc, cầu vinh”.
…..
Buồn cười, nhớ có lần, Cô Thu dạy thêu “mũi xương cá” trong giờ nữ công. Thoa và tôi, vừa may xong áo bà ba trắng mới, chúng tôi liền thực hành, tự thêu vào bâu áo, trang trí vạt áo của mình bằng những xương cá màu đỏ, rất dễ thương. Có một bạn nam lớp A nào, để ý, gọi hai chúng tôi là “hai nàng tiên cá”. Một cái tên rất ngộ nghĩnh, hay hay. Cũng như có một số bạn nam lớp A gọi bộ ba chúng tôi (Thoa, Tám và tôi) là “ Ba người đẹp Mây Tàu”, (Đức Lập). Phương danh đó rất đúng với hai bạn kia, nhưng với tôi thì chưa đúng lắm. Tôi được Thầy và các bạn nói là hiền thục, dễ thương và các bạn đã từng trêu tôi là Ngân Tóc Hoe.
Hồi đó, thú vị nhất là những ngày được nghỉ học để rủ nhau tùy tiện đi chơi… Nhưng vui nhất là nghỉ lễ Tết Âm Lịch khoảng hai tuần, thường có đoàn hát bộ đến hát. Chúng tôi có dịp đi xem những trò vui dân gian chốn quê trong những ngày Tết.
Sáng mùng một, sau khi mừng tuổi Ba Mẹ, tôi dạo quanh chợ Đức Lập để thấy chợ vắng hoe, người ta nghỉ bán để ăn Tết. Bên hông đình làng, rất đông người; những sòng đỏ-đen cho bà con thử thời vận may mắn đầu xuân. Nào là hai ba sòng lúc lắc “bầu cua cá cọp”, một sòng đánh bong vụ, mấy sòng đánh bài cào, bài cách tê, xì phé và bài tam cúc. Sôi nổi nhứt là “trường đá gà nòi” cá độ.
Cảnh đá gà ngày nay
Có lần, Triều, chị Tám, Ngân, Ngọc, Khanh và tôi cùng đi xem “hát bộ”. Rạp dựng trong sân đình làng, người ta trét vách đất cho kín, rất nóng nực mà cũng rất đông khán giả. Hình như người dân rất khao khát món ăn tinh thần nầy. Chúng tôi chưa hiểu nhiều về sự tích tuồng hát và nghệ thuật của “hát bộ” nhưng xem hát rất vui. Khi vãng hát, chúng tôi dạo quanh những hàng quán lèo tèo trước rạp hát. Đó là những lều che tạm bằng cột tre, kèo tre, mái lều là những tấm liếp xắt thuốc lá. Những điểm dưa hấu, với một đống dưa cao, từ Tây Ninh chở về; quầy hàng nước mía, chủ quán ép mía với hai trục lăn nhôm; sạp nước giải khát là bán nhân sâm ,“sưng sáo”, đười ươi, hột é, đá đậu, bánh lọt, sương sa hạt lựu. Hàng nước giải khát đóng chai thì có xá xị con nai, Limonade, nước bạc hà, bia con cọp Larue. Hàng ăn thì có cháo lòng heo, cháo gỏi vịt, bì bún-chả giò, hột vịt lộn, hủ tiếu mì, bánh canh, cơm tấm và có quán nhậu đặc sản bán rượu “ Đà quốc tửu ”[30] ký hiệu NN, có rất nhiều bác nông dân đến uống.
Cuối cùng, chúng tôi lắc cắc mấy gói đậu phộng rang, mỗi đứa một ly nước mía, ngắm nhìn thiên hạ vui chơi, bàn luận về tuồng hát và giang tay ra về.
Hãy quay lại với con đường đi học của tôi. Cây cỏ may thường mọc trên gò, trên lề đường đá, trên bờ ruộng, nơi nghĩa địa và bạt ngàn trên các lối mòn dọc theo con đường tôi đi học. Cây cỏ may có sức sống mãnh liệt cũng như các loại cỏ khác nhưng khác nhất là mỗi bụi có một cọng cỏ ngồng cao, ngồng cỏ thân tròn, cao khoảng 1,5 đến 2 gang tay. Trên đọt ngồng cỏ đó, có đính một chùm bông cỏ may, khi còn non màu tím, khi trưởng thành đổi màu trắng. Mỗi bông đều có một cái cuống dài khoảng 2 – 3mm rất dẽo dính vào chùm bông. Khi ấbông khô và già, nó sẵn sàng “may” một cách nhiệt tình vào những ống quần dài nào lướt ngang qua nó. Nếu bông cỏ may “găm” vào quần dài chừng 5-10 bông thì không sao. Nhiều hơn, dày đặc hơn là vô cùng khó chịu vì những cái mũi của nó “găm” tiếp vào ống chân, rất ngứa và xót chân. Cho nên, tôi rất ghét bông cỏ may và luôn luôn đi né tránh những bụi cỏ may trên đường đi học. Vậy mà ngày nào cũng như ngày nấy, tôi thường bị những bông cỏ may “quá giang” trên ống quần tôi, theo mỗi lượt đi về. Có lúc, không còn đủ thì giờ nhổ bỏ từng bông, tôi phải dùng bề sống của con dao mỏng cào nhẹ trên vải quần để loại trừ nó cho nhanh…Tuy vậy, việc gì không tốt gắn với ta lâu dần, nó cũng trở thành thân quen. Tôi xem những bông cỏ may như những người bạn đồng hành bé xíu, duyên dáng, dễ thương, của một thời tiểu học nhiều kỷ niệm trong sáng, vô tư.
Bông cỏ may, bông cỏ may ơi!
Duyên đâu mà dệt bước chân tôi?
Mỗi bông găm một niềm vui nhỏ?
Hay nỗi sầu, vương vấn, cuộc đời?
Võ Kim Ngân & Ngân Triều phóng tác
(Còn tiếp phần 2)
***
Cáo lỗi vì bài có rất nhiều hình nên không thể tải được. Mong quý bạn thông cảm.
Ảnh minh họa:
Bông cỏ may

Kính Mời Xem và Họa thơ “TÌNH YÊU” của SÔNG THU

TÌNH YÊU Thời gian tuần tự cứ trôi qua Thoáng chốc mà nay tuổi đã già Hy vọng, đức tin đà sụt giảm Niềm vui, mộng ước cũng phôi pha Tiền tà...