Thứ Năm, 17 tháng 10, 2019

Bộ tranh Đông Dương đẹp như mơ do họa sỹ Pháp vẽ (Bình Luận Án )

 Inline                                                          images 1
BLA: Tình cờ qua facebook của một nhà báo lớn tuổi, tôi có cơ hội được ngắm bộ tranh tuyệt đẹp dưới đây, do các họa sỹ người Pháp vẽ. Cùng đó là cả lời bình luận, giới thiệu thể hiện sự chuyên nghiệp và nghiêm túc của người sưu tầm và giới thiệu. Đây là những tác phẩm không chỉ có giá trị nghệ thuật, mà còn có thể xem như một tài liệu quý, chứa đựng nhiều thông tin quý giá về lịch sử, văn hóa Việt Nam chúng ta. Và chúng ta cũng có thể thấy rằng nhiều họa sỹ thuộc hàng tiền bối, bậc thầy của hội họa Việt Nam có chung phong cách vẽ và pha màu như thế này. Xin được chia sẻ và mời quý vị cùng thưởng lãm.



HOẠ SĨ PHÁP ĐÃ VẼ VIỆT NAM NHƯ THẾ NÀO?
Hình ảnh con người, đất nước Việt Nam cuối thế kỷ 19 - đầu thế kỷ 20 đã được khắc họa như thế nào trên tranh của các họa sĩ Pháp? Ở thời điểm này, nhiều bức tranh ấn tượng ghi lại vẻ đẹp đất nước - con người - văn hóa Việt Nam đã được các họa sĩ Pháp thực hiện:

Bức “Những người phụ nữ” vẽ năm 1932 của Joseph Inguimberty. Joseph Inguimberty là một họa sĩ Pháp. Trong trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, ông vốn được học trò yêu mến bởi là người có phương pháp giảng dạy thực tế, ít tính hàn lâm, kinh viện.

Joseph Inguimberty rất hứng thú với văn hóa Việt Nam. Trong thời kỳ sinh sống tại đây, ông đã thực hiện nhiều tranh về đất nước - con người Việt Nam.

Joseph Inguimberty luôn khuyến khích các học trò của mình hãy thực hiện những bức tranh thể hiện đậm đặc màu sắc văn hóa quê hương, cùng với đó, ông đề cao cách thể hiện màu sắc và ánh sáng. Trong tranh của Inguimberty, người ta có thể cảm nhận thấy rõ đường đi của ánh sáng, đặc biệt, tranh ông sử dụng những gam màu dịu dàng, lãng mạn.

Joseph Inguimberty còn rất hứng thú với chất liệu sơn mài và đã khuyến khích học trò của mình thử nghiệm với tranh sơn mài để nâng tầm sơn ta, từ những món đồ mỹ nghệ thủ công, lên thành một thể loại tranh nghệ thuật.

Tại Pháp, Joseph Inguimberty đã từng theo học mỹ thuật và kiến trúc tại trường Nghệ thuật - Thiết kế Quốc gia Pháp (Paris). Inguimberty đã từng giành được một số giải thưởng hội họa ở Pháp trước khi tới Việt Nam hồi năm 1925 và được mời làm trưởng khoa Hội họa ở trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương.

Có lẽ đóng góp lớn nhất của Inguimberty đối với mỹ thuật Việt Nam chính là việc ông đã cùng với các học trò của mình thử nghiệm ở dòng tranh sơn mài - dòng tranh đã trở thành điểm nhấn đặc biệt của hội họa Việt Nam đối với hội họa thế giới.

Trên đây là một bức tranh sơn mài hai mặt được tạo thành từ 6 tấm gỗ ghép, một mặt khắc họa đoàn rước trong cung đình Huế và một mặt khắc họa cảnh quan mùa xuân. Tác phẩm do thầy trò Joseph Inguimberty cùng thực hiện ở trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương.

Bức tranh đã từng được đem bán đấu giá ở Hồng Kông và đạt mức giá 1.100.000 đô la Hồng Kông (3 tỉ đồng). Bức tranh chỉ đề là tác phẩm của trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, vì vậy, có thể hiểu đây là một tác phẩm do thầy trò Joseph Inguimberty cùng thực hiện. Kích thước của tác phẩm này là 180x300cm, được thực hiện vào khoảng năm 1938-1940.

Ngay khi đặt chân đến Việt Nam năm 1925, Inguimberty đã bị choáng ngợp bởi vẻ đẹp và chất lượng của những món đồ mỹ nghệ sơn mài của Việt Nam, trong 20 năm giảng dạy ở trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, Inguimberty đã cùng đồng hành với nhiều thế hệ học trò để sáng tạo và phát triển một trường phái tranh sơn mài của Việt Nam.

Những họa sĩ nổi tiếng trong lịch sử mỹ thuật Việt Nam như Tô Ngọc Vân, Phạm Hậu, Nguyễn Gia Trí, Nguyễn Khang, Trần Văn Cẩn, Trần Quang Trân đều đã từng học về nghệ thuật vẽ tranh sơn mài trong ngôi trường này. Tác phẩm trên đây là một ví dụ độc đáo về những kỹ thuật cao tay, điêu luyện mà thầy trò nhà trường đã đạt tới.


Tranh của họa sĩ người Pháp Joseph Inguimberty (1896-1971), trưởng khoa Hội họa của trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương.


Bức tranh sơn dầu “Janette, Dominique và bà vú em” của Joseph Inguimberty.


Bức tranh khắc họa phụ nữ Việt Nam ở những thập niên đầu của thế kỷ 20, do họa sĩ Joseph Inguimberty thực hiện.


Hai bức tranh tách biệt ở trên đã từng được Joseph Inguimberty đưa vào thành một bức sơn dầu khổ lớn, đặt tên là “Gia đình bên bờ ao”.


Bức tranh sơn dầu “Phụ nữ và trẻ em” vẽ năm 1934 của Inguimberty.


Bức “Những người phụ nữ gặp mặt”.



Bức “Đất và người miền Bắc”.

Bức “Những người phụ nữ gặp mặt”.

Bức “Họp mặt”.

Bức “Người phụ nữ nằm võng”.

Bức “Cô gái miền Bắc” vẽ năm 1934.

Bức “Đi chợ”.

Bức “Ngôi chùa”.


Bức sơn mài này cũng được thực hiện bởi thầy trò trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương hồi năm 1940. Tác phẩm khắc họa hình ảnh chim phượng hoàng, bên cạnh đó còn có hình ảnh một vài con sếu trong quang cảnh mùa xuân.

Nếu mặt thứ nhất lấy nền màu đỏ thì mặt thứ hai lấy nền màu vàng. Bức này khắc họa một con phượng hoàng, bên cạnh nó còn có hai con sếu, bay giữa những bông hoa mai, hoa cúc, những cây tùng, cây trúc, trong phong cảnh mùa xuân. Đây vốn là những hình ảnh ước lệ, tượng trưng, mang nhiều ý nghĩa biểu đạt trong văn hóa Á Đông.

Sự đối lập giữa hai bức tranh ở hai mặt thể hiện nỗ lực đạt tới sự cân bằng, hài hòa. Tác phẩm có thể coi là một ví dụ tiêu biểu về thời kỳ thầy trò trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương cùng nhau nghiên cứu, thực hiện tranh sơn mài.


Tác phẩm đã được bán đấu giá ở Hồng Kông và đạt mức 687.500 đô la Hồng Kông (1,9 tỉ đồng). Bức tranh được ghép thành từ 10 tấm gỗ với tổng kích thước 170x300cm.


Bức “Dân tộc vùng cao” vẽ bằng phấn màu và màu bột trên giấy, do họa sĩ người Pháp André Maire (1898-1984) thực hiện năm 1949.

Bức “Cảnh Hà Nội” do họa sĩ Pháp Gaston Roullet (1847-1925) thực hiện năm 1885.

Bức “Hải Phòng” do Gaston Roullet thực hiện đã được bán đấu giá với mức giá 56.250 đô la Hồng Kông (158 triệu đồng).

Bức tranh khắc họa quang cảnh Huế của Gaston Roullet, thực hiện hồi năm 1886. Tác phẩm đã được bán với giá 81.250 đô la Hồng Kông (228 triệu đồng).

Bức tranh khắc họa quang cảnh kênh Tàu Hủ ở Sài Gòn năm 1939, do họa sĩ người Pháp Léo Craste (1887-1970) thực hiện. Craste từng cộng tác với tạp chí Đô Thành Hiếu Cổ tại Huế.


Bức tranh sơn dầu “Một đám rước ở Đông Dương” vẽ năm 1927 của họa sĩ người Pháp René Bassouls - một người rất yêu mến đất nước - con người Việt Nam, ông đã từng thực hiện nhiều bức tranh ghi lại những nét thẩm mỹ văn hóa độc đáo ở nơi đây. Qua những bức tranh của René Bassouls, người ta có thể cảm nhận thấy sự ngưỡng mộ và hòa mình của họa sĩ vào đời sống văn hóa đang trải ra xung quanh ông.

(420 triệu đồng). Victor Tardieu chính là hiệu trưởng đầu tiên của trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương.


Bức “Chợ bên bến sông” - một bức tranh sơn dầu của họa sĩ người Pháp Victor Tardieu (1870-1937), thực hiện vào khoảng năm 1924. Bức tranh đã được bán đấu giá với mức giá 150.000 đô la Hồng Kông



Bức “Mẹ và con” của Victor Tardieu vẽ năm 1925, có giá 367.500 đô la Hồng Kông (1 tỉ đồng). Bức tranh được vẽ bằng than và phấn màu trên
giấy.


(Từ Cảnh chuyển)

THƠ XƯỚNG HỌA (kỳ 29)/ NHÓM VƯỜN THƠ MỚI


Chủ để: Vịnh cảnh nghèo Nguyễn Công Trứ
Trích thơ:
Đầu kèo mọt đục vẽ sao,

Trước cửa nhện giăng màn gió .

Phên trúc ngăn nửa bếp nửa buồng,

Ống nứa đựng đầu kê đầu đỗ.

(Hàn nho phong vị phú/ Nguyễn Công Trứ)



Cảm tác thơ của Nguyễn Công Trứ:

Bài xướng:



VỊNH CẢNH NGHẺO NGUYỄN CÔNG TRỨ

Họ Nguyễn Tiên Điền cụ Trứ ơi!

Hàn vi nghèo khổ cảnh chơi vơi

Đầu kèo mọt đục, đòn tay rụng

Trước cửa nhện giăng, phên trúc rời

Lỡ vận nương nhờ nơi xứ vợ

Gặp thời đỗ đạt chốn quan giai

Triều Lê cụ bỏ, theo nhà Nguyễn

Trang sử lưu danh có mấy ai!

Nguyễn Cang


 Họa 1:HÀN VI THANH ĐẠM

Khiết bạch an bần nhân thế ơi!

“Hà thời tri túc” chí nào vơi

Bìm leo giậu đổ đâu bền vững

Nhà dột cột xiêu xắp rã rời

Ngô Khởi vô tình thôi chớ học

Lưu Bang bạc nghĩa nhớ đừng giai

Can qua khổ lụy đời than oán

Trọng đức khinh tài mỏi mắt ai.

 Nguyên Triêu Dương


 Họa 2:TƯỞNG NHỚ NGUYỄN CÔNG TRỨ
Nhân sinh mạnh mẽ tướng công ơi!
Gặp cảnh hàn vi chí chẳng vơi
Sĩ khí, khổ trần đâu để nhục,
Đồ nho, chính đạo quyết không rời.
Lúc đày lính thú đau Uy Viễn
Khi mở dinh điền rạng Ngộ Trai
Bầu rượu túi thơ vui nhã nhạc
Công thành danh toại kém chi ai
.

Minh Tâm


Họa 3:Nghĩ Đến Cảnh Thanh Bần Của Cụ Nguyễn Công Trứ



Tớ sợ thanh bần lắm cụ  ơi

Tình người như mặt nước đầy vơi

Sang giàu núi vắng... bao người viếng

Nghèo túng chợ đông...lắm kẻ rời

Chân lấm tay bùn...tiêu phận gái

Đầu bù tóc rối...nát đời giai (trai)

Quanh năm bụng rỗng, sao cam nổi?

Đói rách mà nhàn, hỏi có ai?



Thảo Chương TQV

13-10-2019



Họa 4:CHUYỆN HẢI NGOẠI 

Bãi nhiệm om sòm quý vị ơi

Hai đàng đấu đá kiếp nào vơi 

Kiều Hoàng tuốt kiếm thề không nhượng

Trí Tạ vung gươm quyết chẳng rời

Thất quốc vong gia quên phẩm trật

Tan đàn sẩy nghé hết quân giai

Ta là cái rún trong trời đất 

Vỗ ngực xưng hùng há sợ ai . 

Đinh Tường 


Họa 5:TÌNH NHÀ NỢ NƯỚC



Tình nhà nợ nước thế nhân ơi!

Chí khí làm trai chẳng thể vơi

Thi tửu cầm kỳ chơi phải lịch

Giang sơn hồ thỉ khó xa rời

Kinh luân nặng gánh trang anh kiệt

Tạo hoá rỏ tài khách trượng giai

Nhà nát cột xiêu nguồn động lực 

Danh son Công Trứ chốn trần ai!



Kim Tran kính bút








CUỘC CỜ - Trương Thái Du


Ở Lạt ai chẳng biết ông Tư cờ. Tài danh trùm xứ sở đã đành, ông còn nổi tiếng bởi dăm món chơi ngông không giống ai.

Nói nào ngay, ông Tư trong mắt đa phần thiên hạ là kẻ bất bại. Nghe bảo đận trung niên, ông Tư gặp một tay iêng hùng lục lâm non choẹt nhưng có chiêu tốc chiến tốc thắng, đè xe, ém mã rất kinh hồn. Biết mình vào thế kẹt và sẽ mất tước bách thắng, lựa lúc đi giải ông Tư tạt vô chái bếp cơi lửa ủ mạt cưa vào vách gỗ. Khách chưa kịp giở phục chiêu giăng sẵn thì đã nghe làng xóm í ới cháy nhà. Xúm xít kẻ tát người bê tình giềng nghĩa láng, ông Tư không mất chốn dung thân. Hôm sau mặc vợ con lui cui dọn dẹp, phên nẹp nửa căn nhà bị cháy xém; ông Tư thản nhiên trốn ngoài bờ trúc góc vườn kẻ kẻ, vạch vạch các ô vuông giải bàn cờ xuýt thua.
Năm hai mươi tuổi, trên đường câu cá kiếm cơm, ông Tư nhặt được quyển “Kỳ thư” bên suối Khu Bê. Duyên trời cộng với đĩnh ngộ, ông mau chóng nổi lên như một hảo thủ vùng Lạt. Thật sự các nước cờ của ông Tư cũng thường thôi, nghiệt là chúng lại kết hợp với nhau trong trật tự hết sức cao cường, thông cổ, tường kim, mạch lạc mà lại có vẻ bí hiểm. Có lần ông dụ địch thủ chén ngấu cả hai con xe, trong khi chàng chốt quèn lặng lẽ áp thành cản tượng cho pháo giác kết liễu tướng giặc. Ông thành danh cũng có chữ liều và không màng trả giá.
Cao nhân cũng lắm kiểu ngạnh. Trò ông chơi ai cũng gọi là cờ tướng hay văn vẻ nho nhe “tượng kỳ”, còn ông thì cụt lủn: “cờ voi”. Bọn sính chữ một phép thường xướng đường biên giữa hai phía là “Hán giới - Sở hà”, riêng ông xem đó như ranh mép ngày – đêm. Ta là ngày, nó là đêm. Ta sáng nó tối. Ta dương nó âm. Ta hiền nó dữ. Ta khôn nó ngu. Ta chính nghĩa nó ngụy thù…

Ông Tư chơi cờ cả đời và chiến thắng cả đời, nên chẳng có lý do gì trận đấu từ giã xới cờ ông không thắng nốt. Lúc ấy ông cũng đã gần đất xa trời. Ông đem bàn cờ hằn dấu những cái nện ăn quân chan chát mấy mươi năm đặt trên tủ thờ, như báo cáo chiến công với tiên tổ.
Tình thực, đó cũng là ý nghĩa duy nhất của đời ông, bởi bao năm ông chỉ biết ăn uống, chơi cờ và… "yêu vợ". "Vợ làm vợ ăn, vợ làm chồng ăn, con bú sữa mẹ" là phương châm sống kiên định của ông Tư. Bầy con nheo nhóc lớn lên rồi trưởng thành ở tứ xứ vẫn luôn răm rắp, khúm núm trước mặt ơn sinh thành.
Nhưng ai biết dâu bể khôn lường, ông Tư có một lũ cháu A Khùng hay cãi chày cãi cối. Giỗ tết cả nhà xum vầy, nếu ông mở lời kể lể ngợi ca chiến công một đời đánh cờ, y rằng bọn A Khùng ấy xổ toẹt hết. Mà tuồng như chúng lại có lý mới chết chứ!
- Ông dịch chữ Nho sai rồi ông ơi - Thằng cháu nội đích tôn là hay gây hấn với ông nhất, vì cậy sở học hồ hải vinh qui bái tổ - Chữ Tượng trong Tượng kỳ đâu phải là con voi! Nó biểu trưng cho những yếu tố trừu tượng của trận đánh.
- Khéo vẽ, sao không nói nốt chữ nhân chớ phải là người đi.
- So với cờ quốc tế, cờ của ông rất thiếu công bằng. Con chốt mãi mãi là con chốt.
- Chứng chóa mắt ngoài bờ tre đây. Vậy cái thằng Quốc tế liên hiệp nó công bằng giữa nhược tiểu và cường thịnh, giữa nhiều tiền và ít tiền, giữa nước lớn và nước bé như thế nào?
- Ông à, ông chơi cờ cả đời không chán ư? Đến lượt thằng cháu mua bán ngoài chợ thắc mắc.
- Đời chẳng qua cũng là một cuộc chơi.
- Nhưng cháu thấy vinh quang tinh thần của ông nó yếm thế như thế nào ấy. Buổi xôi thịt này có no được đâu.
- Ta già rồi, lũ cháu không hiểu cũng là dễ hiểu!

Từ đó ông Tư sinh ra lẩm cẩm, suốt ngày thì thầm: "không hiểu cũng là dễ hiểu". Ông đem bàn cờ cũ để hẳn xuống trường kỷ, rồi lấy giấy nhám xóa dần những đường chéo làm sông ở giữa.

Cái tin ông Tư đột nhiên chơi cờ trở lại ngỡ sẽ làm con cháu phiền lòng. Nhưng không, ông chơi rất lạ và chỉ chơi với chính ông: bộ cờ mới ông giữ mỗi bốn con Tượng. Ông quân xanh, đối thủ vô hình quân đỏ (không như ngày xưa lúc nào ông cũng đỏ để nhường xanh đi trước, hậu thắng tiên mới oai!).
Ngày ngày ngồi lì bên bàn cờ trống hoác, tay phải ông chống Tượng thì tay trái với qua phía đối diện đẩy Tượng lên biên. Hai cặp Tượng căng lắm là gườm nhau qua dòng sông. Nước chéo vuông của Tượng hình như thay thế tạm các kẻ chéo chữ nhật ông đã bôi xóa. Lòng ông sôi sục năm tháng cũ, các nước cờ cũ, các con cờ cũ vô hình.
E hèm, Tượng không phải là voi? Ông nhớ lại lời thằng cháu. Xưa ông ít dùng Tượng. Cờ ông là cờ toàn công, Pháo đầu thượng sách nên ông xem thường quân Tượng. Nếu là voi sao Tượng không vượt sông lâm trận? Người Trung Hoa sáng tạo ra Tượng Kỳ khi chiến xa (được hình tượng hóa vào con xe) còn chiếm ưu thế tuyệt đối trên chiến trường. Kỵ binh (con Mã) bắt đầu được biết đến ở đời Triệu Linh Vương (nước Triệu), năm 307 trước Công nguyên, khi họ Triệu cải trang phục giống người Hồ để dễ dàng cưỡi ngựa. Thời chiến quốc ấy, làm gì có voi trên mặt trận nào. Qua Đông Hán người Tàu mới gặp voi ở Trung Bộ Việt Nam hôm nay nên bày ra huyện Tượng Lâm. Nếu Tượng Lâm là vùng rừng có voi thì Tượng Quận thời Tần chẳng lẽ lại mang nghĩa một quận tượng trưng trên bàn tiệc thực dân? Khéo bọn thực dân đại quốc chỉ xem khu vực có tổ quốc ông là một cuộc cờ tượng trưng không chừng!
Cũng là Tượng, nhưng sao rắc rối thế. Ông Tư quyết đánh cờ với bốn quân Tượng đến khi nào ông không còn mắc mớ trong lòng nữa mới thôi.
Chỉ tội bà Tư hồn hậu, nhân từ. Nhìn ông chơi cờ một mình mà ruột gan bà xát muối ớt. Xưa bà chẳng quản "Quanh năm buôn bán ở mom sông" để ông "vĩ mô" với thiên hạ, oai hùng riêng trấn muôn trượng một góc trời. Khốn khó hy sinh, cuối cùng đàn con của bà cũng se lông, khỏe cánh tung bay khắp nơi. Ông nghỉ chơi cờ dăm năm, bà hân hoan mấy mùa? Hủ hỉ vào ra, bà chẳng hiểu cờ nhưng ngồi nghe không sót các cuộc luận những ván cờ oanh liệt năm xưa của ông. Hai người, ông cứ nói, bà chỉ ừ. Ấm lòng đến lạ.
Ấy thế mà bây giờ, cứ hoảnh mắt là ông ngồi xuống trường kỷ đẩy tới đẩy lui bốn con Tượng. Bà Tư hốt hoảng: "Hay là có ma cờ? Một đời ông dày vò nó, nay ông đầu bạc răng long, nó quay lại hành ông, biến ông thành một quân cờ".
***
Xế nay nhà ông Tư có khách xa. Bà Tư dọ hỏi sự tình, trong khi ông chẳng màng, đầu óc tập trung chuyển cờ, miệng nín khe.
- Thưa ông, con là kẻ bại trận cái hôm nhà ông bị cháy…
- Thật may phúc – Bà Tư đỡ lời, nhìn dáng người, xe cộ, bà đoán khách giàu phải biết.
- Con nghiệm ra trong đám cháy và cuộc cờ tiềm năng tố chất của đất đai, con người vùng mình, xứ mình. Khi tích cóp đủ vốn liếng, con về huyện bên mở lối làm ăn dành dụm. Công nhân của con, hơn nửa là người Lạt. Con cháu ông bà cũng tròn chục gắn bó với con đã khá lâu.
- Vậy ra anh là ân nhân nhà tôi.
- Bà nói quá. Không có ông chỉ bảo con đâu thể nên người.
Tình thế vừa đủ lọt lý, ông Tư mới ngước mắt lên gằn giọng:
- Anh lại muốn kiếm chác trong ngôi nhà cổ đã một lần cháy dở này?
- Con tính, khí không phải. Khách thập phương đến Lạt ai cũng háo hức về chuyện đời cờ của ông. Con sẽ sang sửa ngôi nhà, lập một mái đình lợp ngói âm dương nóc tròn ngoài sân, dựng tượng ông ngồi bên bàn cờ đá như trên tiên giới. Đây sẽ là điểm nhấn của toàn bộ khu du lịch mà con đã được cấp phép, bắt đầu thương lượng bồi hoàn, giải tỏa.
- Hai khọm già này sẽ bị tống cổ đi chứ?
- Ấy… ông bà là nhân chứng sống một thời, con đâu dám. Đất xung quanh vẫn của ông. Chẳng việc gì ông bà phải dọn đi đâu. Con sẽ gửi thêm lương thưởng hậu hĩ…

Ông Tư mệt rồi. Ông không buồn nghĩ nữa. Ông đứng dậy nhặt bốn con Tượng và nách cái bàn gỗ sắp mục ra sân. Vòm mai anh đào ưng ửng dưới nắng chiều xuân. Trời đất đẹp lạ lùng mà lòng ông cứ nhói lên nỗi buồn không thể đặt tên là chiến thắng.
 

Ông Tư ngồi xếp bằng, bệt xuống đất. Bàn cờ nằm hơi nghiêng xuống thung lũng, trên chiếc đôn đá cạnh gốc thông xù xì. Ông dựng bốn con Tượng thẳng lên như bánh xe rồi lơ đãng nới tay. Chiếc ô tô tàng hình vụt lao xuống vực. Ông Tư không cần quân cờ nữa. Đã đến lúc ông có thể chơi trên một bàn cờ chay, hay nói đúng hơn ông lẫn lộn chẳng biết mình là quân cờ hay quân cờ là mình.

Đêm tới. Đám lá thông lập cập trong gió, âm u hát như mong xua đi hơi lạnh cao nguyên bốc lên từ lòng đất. Khách đã ra về từ lâu. Chẳng thấy ông đâu, bà Tư nháo nhác đi tìm khắp nơi. Rồi bất lực, bà hoảng loạn nhắn gọi con cháu kíp tới giúp. Ánh đèn pin loang loáng khắp vườn, tiếng réo kêu nối nhau mất hút. Tinh mơ, hàng chục người suốt đêm quần thảo bở hơi tai hết ba quả đồi và năm cái hụt, đành ngược dốc về nhà. Ban mai. Gió tung những cánh anh đào rụng đêm qua vào nắng, chấp chới như một đàn bướm hồng. Ông Tư đã hóa đá bên cội thông trăm tuổi. Đúng là tiên ông sống động, hơn cả óc tưởng tượng thương mại sặc mùi tiền của gã đại gia nọ. Bà Tư và đám con cháu sững sờ, không thể tin vào mắt mình.

Ông Tư về với tiên tổ, nhẹ nhàng thanh thoát làm sao. Mong lắm, gương ông sẽ sáng mãi cho cháu con, cho dòng tộc, cho xứ Lạt vạn xuân này. Những cuộc cờ, những quân tướng tượng trưng, đơn giản chỉ là một trò chơi cõi tạm. Được mất có lẽ nằm ở cách chơi, chứ phải đâu là kết cục thắng hay bại rỗng tuếch và gần như vô nghĩa!

Thung lũng Đa Thiện,
Đà Lạt 1.2006

Ngộ Không Nguyễn Phi Hùng chuyển )

Thứ Tư, 16 tháng 10, 2019

DON NHÀ (Thơ Sông Thu và Bài Họa Các Thi Hửu )


DỌN NHÀ
1- Già yếu dọn về sống cạnh con,
Sắp xa nhà cũ, dạ đau cồn.
Đây hiên lãm nguyệt chờ trăng đến,
Nọ gác nghênh phong đợi gió hôn.
Thương gốc ngọc lan cành trắng nụ,
Tiếc rào giâm bụt bướm say hồn.
Nhà bên có kẻ vừa quen biết,
Dôi mắt mênh mang một nỗi buồn...


2- Ký ức tràn về ngập luyến thương,
Nhớ từng kỷ niệm mỗi vuông tường.
Hình trên Đà Lạt tuần trăng mật,
Ảnh ở Nha Trang buổi sóng cường.
Hiên gió những chiều cùng ngắm cảnh,
Đường hoa mỗi sáng sánh thăm vườn.
Không gian thân thuộc bao yêu dấu,
Hình bóng bạn đời mãi vấn vương.

Sông Thu
(Tháng 10/2019)

HỌA: TUỔI GIÀ XỨ LẠ

1- Tuổi già quanh quẩn với đàn con,
Năm tháng buồn hiu dạ xót cồn.
Lúc ngắm trăng treo bên góc núi,
Khi xem mây lượn gió nồm hôn.
Gậy đi lộc cộc vườn hoa dạo,
Mắt ngóng mờ lu lững thững hồn.
Hàng xóm ngó sang tình bạn lão,
Trao nhau thông cảm cảnh vui buồn.

2- Một hôm bỗng nhớ bóng người thương,
Tình cảm lưu dâng khó tỏ tường.
Hải ngoại bên nầy thân rã rượi,
Quê nhà nơi ấy dạ kiên cường?
Băn khoăn vắng vẻ đường qua lại,
Thắc thẻo xa xôi chốn cỗng vườn.
Lúc vắng xưa còn kêu bạn cạnh,
Cô đơn giờ thắm thía tơ vương.

HỒ NGUYỄN (12/10/2019)
 Họa : TỚI NƠI Ở KHÁC
I-
Người đi mang cả khối tình con
Bỏ lại hoang liêu cát trắng cồn
Hẹn biển thề non khi nguyệt lãng
Đọc thơ dạo nhạc lúc hoàng hôn
Cây xưa trắng nụ vương cài tóc
Cành cũ vàng hoa đẹp lịm hồn
Đừng nhé, nguồn thương còn mãi đọng
Trong tim dù tát cạn ao buồn...

II-
Luyến lưu mưa nắng cũng tang thương
Nước mắt tuôn rơi thấm ướt tường
Có phải sương bay vờn lệ tủi
Hoặc vì khói toả thấu can cường
Vẫn đang chăm sóc hiên hoè quế
Còn thấy say mê vạt đất vườn
Kẻ ở nhìn theo mây lữ thứ
Người đi chiu chắt mối tơ vương...

Hawthorne 13 - 10 – 2019
CAO MỴ NHÂN

 Họa : TRỞ LẠI NHÀ XƯA
I-
Tuổi già nương tựa giấc mơ con
Ký ức trùng khơi ngợp nhớ cồn
Bỏ lại trời cao chờ luyến gởi
Quay về mắt bé đợi thương hôn
Vui hong nắng đượm ngày tươi ý
Ấm sưởi tình thân buổi thắm hồn
Nứt nẻ cười vang cùng cháu nhỏ
Miền tinh khôi ấy có đâu buồn.

II-
Cửa lòng xưa mở đón trời thương
Nhà cũ rêu rong dẫu bám tường
Vẫn tỏa đêm trăng thu ánh lộng
Còn vang tiếng sóng biển triều cường
Cũng nguôi nhớ bạn xa rời phố
Thêm đậm yêu quê trở lại vườn
Khất nợ trần gian niềm lữ thứ
Chân đời ủ mộng thuở nào vương…

Lý Đức Quỳnh
 

 Họa : ĐỔI ĐỜI …
I-
Về già nên sống cạnh bên con
Nhà cũ ra đi ruột nóng cồn
Mến tiếc vườn xưa hoa bướm lượn
Ngập ngừng sân mới gió mưa hôn
Ngày tuôn ánh sáng soi mềm dạ
Đêm tỏa u minh quyện lấp hồn
Phải cố quen đây mà ráng sống
Không nên tiếc nuối để vương buồn.

II-
Quay về kỷ niệm quá đau thương
Nhớ thuở đôi ta dựa vách tường
Thủ thỉ bên nhau lời mật ngọt
Mong chờ hai đứa sống ngoan cường
Trời cao nắng chói trên vòm lá
Chiều xuống sương giăng cả góc vườn
Từ độ chia tay bên phố vắng
Suốt đời sống mãi với tơ vương…

Paris, 13/10/2019
TRỊNHCƠ


  Họa :LƯU LUYẾN
I-
Dọn nhà gần gũi ở bên con
Không sợ neo đơn giữa bãi cồn
Vẫn tiếc đò xưa xa bến đậu
Luôn chờ cảnh cũ đợi trăng hôn
Niềm tây canh cánh in trong dạ
Kỷ niệm miên man đọng giữa hồn
Hạnh phúc là đây ngừng vọng tưởng
Để cho con cháu bớt lo buồn

II-
Tiễn người đau đáu lệ yêu thương
Sao biết chia ly để tỏ tường
Ngày ấy cũng gom chung mộng ước
Thuở xưa cùng dệt cuộc tình trường
Chừ còn mường tượng người nâng bút
Nên vẫn ước ao bóng dạo vườn
Đã rõ vô thường luôn hiện hữu
Rứa mà tâm khảm mãi còn vương

Như Thị

 Họa :VỀ Ở CẠNH NHÀ CON
I-
Cao niên dọn tới ở cùng con
Nhà cũ, đành thôi bụng xót cồn
Kỷ niệm, thời gian nhanh sớm tối
U hoài, dĩ vãng lẹ hoàng hôn
Thương sân vườn tược xinh chồi búp
Tiếc ngõ giậu bông đẹp dạ hồn
Hàng xóm tương thân tình thắm thiết
Láng giềng giã biệt vấn vương buồn
II-
Biết bao kỷ niệm bấy nhiêu thương
Quen thuộc đường đi mỗi bức tường
Đà Lạt ghi hình đi thác nước
Vũng Tàu chụp ảnh đến triều cường
Hiên sau đứng cạnh nhìn phong cảnh
Mái trước ngồi bên ngắm bướm vườn
Giã biệt nơi đây nhiều tiếc nhớ
Bạn đời khuất núi mãi tơ vương...!
Mai Xuân Thanh
Ngày 13/10/2019




  Họa :BAO GIỜ?
I-
Mai nầy trú ngụ ở nhà con
Dạ mãi băn khoăn tựa sóng cồn
Gió bảo lòng ơi đừng ngại nhé!
Mưa rằng bạn hỡi có sầu hôn?
Thương hoài chốn cũ mơ màng giấc
Ngẫm lại tình xưa quyến luyến hồn
Đong đếm thời gian rồi bỗng ngộ
Thầm suy tuổi hạc nén đau buồn!

II-
Tin người bên nớ vẫn còn thương
Rộn rã niềm vui bậu hẳn tường?
Nghĩ lúc cầm tay lời mạnh mẽ
Nhớ hôm dạo biển chí kiên cường
Nhìn hoa rực rỡ vui đàn bướm
Dõi nắng lung linh ấm mảnh vườn
Chẳng biết bao giờ anh trở lại?
Muôn trùng xa thẳm khiến lòng vương!

Như Thu
13/10/2019


  Họa :CẢM XÚC CÙNG BẠN
I-
Nghe tin chị dọn về gần con
Xa chốn thân thương hẳn dạ cồn
Mũi nhớ mùi hương bao buổi sớm
Lòng ôn kỷ niệm những hoàng hôn
Vấn vương mắt tiễn, sầu hoen lệ
Quyến luyến chân đi, nặng trĩu hồn
Tổ ấm bao năm như máu thịt
Chia xa chạnh nghĩ thật đau …buồn…

II-
Thăm quanh tổ ấm ngập thân thương
Kỷ niệm hằn ghi mỗi mét tường
Bùi ngọt đồng chia, cười hạnh phúc
Đắng cay cùng trải, vượt kiên cường
Biết bao hình ảnh lưu cùng chốn
Đầy ắp hương hoa tỏa khắp vườn
Chân bước ngậm ngùi lòng xót nhớ…
Bóng người yêu dấu mãi còn vương…

CAO BỒI GIÀ
14-10-2019



  Họa :ĐỔI NHÀ
I-
Cao niên ,chọn chỗ ở gần con
Lúc dọn,dường như dạ xát cồn:
Chậu cúc chăm vun xinh tựa mộng
Cội mai khéo tỉa, đẹp mê hồn
Đây...nơi tôn kính,vào ngày giỗ
Này...chỗ trang nghiêm lúc kết hôn
Hàng xóm chung quanh quen chẳng sót
Dạo lui dạo tới lại u buồn...
II-
Thời gian chung sống ngập yêu thương
Kỷ niệm treo cao mỗi bức tường
Đây ảnh phu quân,người tuấn tú
Kia hình chú rể,tính kiên cường
Những ngày du lịch bên bờ biển
Nhiều buổi tham quan dưới miệt vườn
Âu yếm cùng nhau xây tổ ấm
Giờ đi...ai tránh khỏi buồn vương?

Thanh Hoà


  Họa :XÊ DỊCH...
I-
Chỉ là xê dich,...sống gần con
Vô ngã,vô vi,...vợi dạ cồn!
Lưu luyến bếp nhà hồng ánh lửa,
Vấn vương vườn tược tím tà hôn!
Châm trà chuốc bạn khơi tâm cảm,
Lãm nguyệt thưởng hoa xáo mộng hồn!
Dùng dắng bước đi,... chân líu díu
Thẫn thờ ngoảnh lại,..lặng...ưu buồn!
II-
Dọn nhà,...ai dọn được niềm thương,
Ký ức hằn sâu,khó tỏ tường?
Khởi nghiệp gian nan không lụy lục,
Mưu sinh tất tả vẫn can cường!
Mồ hôi thấm giọt hoa tươi nụ,
Nước mắt đìa thân trái thắm vườn!
Mái ấm dời xa,...lòng quặn thắt,
Bạn đời khuất bóng,...dạ sầu vương!

14-10-2019
Nguyễn Huy Khôi 


DỜI ĐỔI 
(Kính họa bài Dọn Nhà của thi tỷ Sông Thu)

Đến tuổi hưu rồi thương cháu con
Ở xa cách núi lại ngăn cồn
Máy bay lướt gió e say sóng
Xe chạy đường trường ngán bị...hôn
Đổi chỗ mà nghe xao xuyến dạ
Chuyển nhà sao thấy ngẩn ngơ hồn
Vườn hoa cây trái giàn nho tím
Bàn viết án thư ngập nỗi buồn 

Nỗi buồn chan chứa lẫn yêu thương
Trước lúc chia xa chợt rõ tường
Niềm nhớ rồi đây như bão tố
Tâm sầu sắp tới tựa triều cường
Bao năm gây dựng tròn gia nghiệp
Bấy độ quén vun đẹp mảnh vườn 
Bỗng chốc buông tay dời chốn khác
Xe đà lăn bánh mắt còn vương 

Phương Hoa - OCT 15th 2019