Chủ Nhật, 26 tháng 5, 2019

Thơ Tếu :NGÀI XÃ TRƯỞNG ĐƯỢC MỜI ĂN GIỔ (Trần Đông Thành,Hồ Nguyễn )


NGÀI XÃ TRƯỞNG ĐƯỢC MỜI ĂN GIỔ
Xã trưởng dài thâm thy bnh bao,
Ba-ton cp nách guc mang vào.
“Cơm chiu má tr đng ch ba”,
“Đám gi làng trên đãi c cao”.
Nng xế bàn tàn say túy lúy,
Đường xa lo đo té vô rào.
Gai đâm máu chy ra đy áo,
Bi tánh “Ham ăn”, nói chng sao!
Trần Đông Thành

HỌA: XÃ TRƯỞNG ĐI ĂN GIỔ
Được mi ăn gi sướng là bao,
Xã Trưởng uy nghi cp bước vào.
V chng phi ch cơm dn ba,
Làng trên s sn gi mâm cao.
Chiu tàn túy lúy say nghiêng nga,
Tic dt đường xa xĩn té rào.
Máu chy đ ngu vươn áo gm,
Thói tham ăn vn nói “không sao!”.
HỒ NGUYỄN (23-5-19)

Liên Hợp Quốc: Hàng tỷ người sẽ đối mặt với tình trạng thiếu nước vào năm 2050

Một báo cáo của Liên Hợp Quốc cảnh báo rằng 5 tỷ người trên toàn thế giới có thể bị thiếu nước sinh hoạt vào năm 2050.
 (Ảnh: Pixabay)
Một số yếu tố được cho là nguyên nhân chính như nhu cầu sử dụng nước gia tăng, nguồn cung bị ô nhiễm và tình trạng biến đổi khí hậu.
Cuộc khủng hoảng cận kề

Liên Hợp Quốc: Hàng tỷ người sẽ đối mặt với tình trạng thiếu nước vào năm 2050
Động vật không thể tiếp cận nguồn nước sạch do các dòng sông bị ô nhiễm. (Ảnh: pixabay / CC0 1.0 )

Theo ước tính, con người sử dụng gần 4600 kilomet khối nước hàng năm, 70% trong số đó để phục vụ cho mục đích nông nghiệp, 20% được tiêu thụ bởi các ngành công nghiệp, và chỉ có 10% được tiêu thụ trực tiếp bởi con người. Như vậy, riêng việc kiểm soát quá trình sử dụng nước trong nông nghiệp đã có thể giải quyết cuộc khủng hoảng nước ở hầu hết các quốc gia. Một số phương pháp có thể cho phép nông dân cắt giảm việc sử dụng nước từ 50% trở lên. Báo cáo cho rằng ngành nông nghiệp nên tập trung vào các giải pháp truyền thống dựa vào thiên nhiên thay vì các phương pháp hiện đại khi xử lý nước.
Theo The Guardian , trong báo cáo nghiên cứu có đoạn:
“Trong một thời gian dài, thế giới đã dựa vào các cơ sở hạ tầng nhân tạo để cải thiện việc quản lý nước. Phương thức này thường sẽ khiến những kiến ​​thức truyền thống và bản địa gắn liền với các phương pháp tiếp cận xử lý nước xanh hơn bị “cho ra rìa”. Trước mức độ tiêu dùng tăng tốc, suy thoái môi trường và các tác động đa dạng của biến đổi khí hậu, rõ ràng chúng ta cần những cách thức mới để quản lý nhu cầu cạnh tranh đối với các nguồn tài nguyên nước ngọt”.
Trong thế kỷ qua, nhu cầu tiêu dùng nước đã gia tăng 600%. Ngày nay, sự tăng trưởng của nhu cầu này là 1% mỗi năm. Đến năm 2050, dân số toàn cầu sẽ nhảy vọt lên 9,4 tỷ so với con số 7,7 tỷ người hiện tại. Trong số này, khoảng 4,8 tỷ đến 5,7 tỷ người sẽ bị buộc phải sống ở những khu vực khan hiếm nước trong ít nhất một tháng mỗi năm. Đồng thời, gần 1,6 tỷ người sẽ phải đối mặt với nguy cơ lũ lụt.
Ô nhiễm là một vấn đề lớn khác. Mỗi con sông lớn ở châu Á, châu Phi và châu Mỹ Latinh đều bị ảnh hưởng bởi ô nhiễm. Do các khu vực này chưa phát triển được một cách thức toàn diện để đối phó với nước thải của các ngành nông nghiệp và công nghiệp, ô nhiễm của các dòng sông vẫn tiếp tục gia tăng. Với việc gần 80% nước thải đô thị và công nghiệp đang thải ra mà không được xử lý đúng cách, một số dòng sông sẽ sớm trở nên cực kỳ ô nhiễm. Điều này sẽ ảnh hưởng đến đa dạng sinh học ở khu vực xung quanh các con sông khi động vật không thể tiếp cận với nước sạch.
Trao đổi với Market Watch , ông Audrey Azoulay, tổng giám đốc UNESCO, cho biết:
“Xu hướng hiện tại cho thấy khoảng hai phần ba rừng và đất ngập nước đã bị mất hoặc suy thoái kể từ đầu thế kỷ 20. Đất đai đang bị xói mòn và suy giảm chất lượng”.
Mối đe dọa tới thế giới Ả Rập

Liên Hợp Quốc: Hàng tỷ người sẽ đối mặt với tình trạng thiếu nước vào năm 2050
Nguồn nước sông Nile đang bị ô nhiễm nhanh chóng. (Ảnh: pixabay / CC0 1.0 )

Khu vực Bắc Phi và Trung Đông là một trong những khu vực bị đe dọa nhiều nhất khi khan hiếm nước. Tỷ lệ bình quân đầu người tiếp cận được nước ngọt trong khu vực chỉ bằng 10% mức trung bình toàn cầu. Tỷ lệ này dự kiến thậm chí ​​sẽ giảm xuống một nửa vào năm 2050. Sa mạc hóa và biến đổi khí hậu chỉ khiến tình hình tồi tệ hơn. Ông Jose Graziano da Silva, Tổng Giám đốc Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc tin rằng tình trạng thiếu nước là một “vấn đề khẩn cấp” của cả khu vực. Trao đổi với Reuters ông nói:
“Không thể tin được rằng khu vực này lại không có một sự quản trị tốt trong lĩnh vực quản lý nước và quản lý đất đai… [Ở Ai Cập] họ có 32 bộ trưởng. Có lẽ hầu hết trong số 32 bộ trưởng đó, thì có tới 30 bộ trưởng đang đối phó với vấn đề nước sạch – nước là một vấn đề lớn đối với họ. Và họ không có giải pháp nào để phối hợp một cách hiệu quả hơn”.
Khoảng 97% lượng nước được sử dụng ở Ai Cập đến từ con sông Nile danh tiếng. Tuy nhiên, nguồn nước đang bị ô nhiễm nhanh chóng bởi chất thải dân dụng và nông nghiệp. Theo Liên Hợp Quốc, tình trạng thiếu nước nghiêm trọng sẽ tấn công nước này vào năm 2025. Tại Iran, nơi người dân tiêu thụ lượng nước nhiều gấp ba lần so với mức trung bình của thế giới, cuộc khủng hoảng nước dự kiến ​​sẽ lên đến đỉnh điểm vào năm 2030.
Theo VisionTimes
Nhật Quang biên dịch(daikynguyen.com)

Đan viện cổ có khung cảnh “đẹp như trời Tây” ở Việt Nam

Đan viện Châu Sơn ở Ninh Bình là nơi tôn nghiêm, huyền bí, nơi đây có vẻ đẹp thanh cao với khung cảnh lộng lẫy như “trời Tây”. Đan viện cổ này không phải ai cũng biết và không phải lúc nào khách cũng có thể ghé thăm.

Đan viện thánh mẫu Châu Sơn nằm ở xã Phú Sơn, huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình, cách thành phố Ninh Bình khoảng 35km. Đây là Đan viện của dòng Xitô.

Đan viện nằm trên diện tích gần chục ha, bao gồm nhiều hạng mục như nhà thờ Châu Sơn, dòng tu, vườn cầu nguyện Fatima… Nổi bật hơn cả là nhà thờ cổ với lối kiến trúc Gothic.

Nhà thờ Châu Sơn được khởi công xây dựng năm 1939, khánh thành và cung hiến ngày 4.11.1945.

Được xây dựng trên một khu đất rộng và bằng phẳng ngay giữa núi rừng huyện Nho Quan (Ninh Bình), ngôi thánh đường của Đan viện Châu Sơn nổi lên như một công trình kiến trúc hùng vĩ từ những năm 40 của thế kỷ trước.

Nhà thờ được thiết kế theo lối kiến trúc cổ châu Âu, bên ngoài xây bằng gạch mộc không tô vữa nên màu đỏ của gạch nổi trội hẳn lên so với màu xanh ngút ngàn của cây cối xung quanh.

Đan viện Châu Sơn Bình là nơi tôn nghiêm, huyền bí, nơi đây có vẻ đẹp thanh cao với khung cảnh lộng lẫy được ví như “trời Tây”.

Sở dĩ được ví như “khung cảnh trời Tây” bởi lối kiếm trúc cổ hòa lẫn vẫn thiên nhiên tạo nên nét đẹp cổ kính, riêng biệt, ít công trình kiến trúc nào ở Việt Nam có được như Đan viện Châu Sơn.

Với kiến trúc Gothic, các cửa sổ, cửa chính của ngôi thánh đường Châu Sơn đều có một đặc điểm chung là mái vòm cong vút, nhọn hoắt. Các đường nét được xây chắc chắn bằng gạch đỏ.

Khi xây dựng ngôi nhà thờ này, gạch được đặt làm riêng để tạo các điểm nhấn. Trải qua 80 năm, đến nay ngôi nhà thờ cổ vẫn trường tồn với thời gian.

Bên ngoài gạch được xây mộc không tô vữa, bên trong là hệ thống mái vòm được kiến trúc rất cầu kỳ và tinh tế.

Vẻ đẹp thanh cao tạo nên sự tôn nghiêm, linh thiêng cho nhà thờ Châu Sơn.

Hai bên hành lang nhà thờ có các cột được trạm khắc rất tinh xảo, bên cạnh đó là các bức họa Chúa, các thánh tạo nên sự linh thiêng cho ngôi thánh đường gần 100 năm tuổi.

Mái vòm đặc trưng của lối kiến trúc Gothic.

Ngoài nhà thờ Châu Sơn, vườn cầu nguyện Fatima cũng là một điểm nhấn đặc biệt của Đan viện đặc biệt ở Ninh Bình này.

Không giống như bất cứ không gian của một công viên nào, các tiểu cảnh trong vườn cầu nguyện được thiết kế theo cách riêng, hướng đến sự tĩnh lặng.

Những năm gần đây, Đan viện Châu Sơn thu hút người dân đến chiêm ngắm nhiều hơn. Tuy nhiên, vẫn rất ít người biết đến nơi này, bởi đây không phải là khu du lịch mà là nơi tôn nghiêm, một công trình công giáo phục vụ tu viện và cầu nguyện.

Ngay giữa vườn cầu nguyện Fatima, một giếng cổ vẫn còn được lưu giữ. Để xuống được nơi này phải đi qua một đường hầm xây hoàn toàn bằng đá ong. Nơi đây nghiêm cấm du khách đến bởi chỉ dành riêng cho cầu nguyện.

Đan viện Châu Sơn là nơi không phải ai cũng biết, không phải ai biết cũng dễ dàng ghé thăm. Bởi nơi đây chỉ mở cửa đón khách theo thời gian nhất định.

Theo quy định của Đan viện, ngày thường sẽ có khung giờ mở cửa riêng so với ngày lễ (thứ 7 và Chúa Nhật). Đặc biệt, vào mùa Chay (mùa thương khó của người Công giáo) nơi đây không đón khách đến tham quan.

Với khung cảnh đẹp như “trời Tây”, Đan viện Châu Sơn được ví như một bông hoa giữa núi rừng Nho Quan (Ninh Bình).

(Từ VCCorp.vn )

Thứ Bảy, 25 tháng 5, 2019

THƠ XƯỚNG HỌA Kỳ 15 - NHÓM VƯỜN THƠ MỚI : BÀU CÀ NA

Chủ đề: Di tích lịch sử
Bài xướng:
  BÀU CÀ NA*
C:\Users\Cang Nguyen\Documents\layhinh\hinh842.jpg
Cõi nhớ trôi về ký ức  xa
Ven bàu mát rượi bóng cà na
Rừng thiêng lạnh lẽo mênh mông nước 
Xóm vắng đìu hiu lác đác nhà
Ngã nắng dập dềnh cơn sóng gợn
Nghiêng chiều lặng lẽ vó câu qua
Chôn vùi kỹ niệm đau tiềm thức 
Cảnh cũ đâu còn ai thiết tha !


 Nguyên Triêu Dương 
*Bàu Cà Na: gần Tòa Thánh Tây Ninh, nay đã lấp.


Họa 1:


BÀU CÀ NA


Nhà đây cách đó cũng không xa, 
Chợt đến ngang bàu mấy sát na.
Dưới nước mặt bàu như gợn sóng,
Cây cao bóng mát phũ quanh nhà.
Lưa thưa ngõ vắng hồn thanh thản,
Khoan nhặt sáo trầm vó ngựa qua.
Ký ức quay về từ thuở nhỏ,
Tiếng lòng ray rức mãi không tha.


huongleoanh va 
Họa 2:


NHỚ BÀU CÀ NA


Toà Thánh nhìn nghiêng ít bước xa
Quanh bàu thấp thoáng rặng Cà na
Dòng trôi bóng nước xanh màu lá
Mây điểm đường thôn tím sắc nhà
Vọng lại trong ai thời quá khứ
Hiện về giữa nắng lúc ngang qua
Bàn tay khối óc con người thế!
Biến đổi thiên nhiên thoả ý tha

Kim Tran


Họa 3:
BÀU CÀ NA
Hình ảnh quê nhà thấp thoáng xa
Hàng cây soi bóng cạnh bờ Na
Bàu sâu bát ngát lung linh nứơc
Ruộng cạn xa xa thấp thoáng nhà
Khách đến say sưa nhìn cá lội
Người về thờ thẫn lỡ đò qua
Cảnh xưa thay đổi mong tìm lại
Ai đó còn chăng dáng thướt tha?!


Nguyễn Cang
C:\Users\Cang Nguyen\Documents\layhinh\hinh838.jpg
Họa 4:
Bàu Cà Na*
Di tích rừng thiêng một thuở xa,
Mênh mông bàu rộng lắm cà na
Lung linh sóng nước chòm điên điển
Yên ả đường ven những xóm nhà.
Tràn ngập yêu thương hình bóng cũ
Đong đầy ký ức tháng ngày qua
Động Đình Hồ ấy còn đâu nữa, *
Nuối tiếc ngắm trời, mây thướt tha...

Minh Tâm


*Chú thích: Bàu Cà na
Nhà MT ở rất gần nơi này, thuở nhỏ thường hay đến đây chơi, câu cá, và cả tát ao khi vào mùa khô hạn. Vào mùa mưa nước đầy, cảnh trí rất đẹp, có bông điên điển nở vàng cả măt hồ, người dân ở ven bờ thường hái mang ra chợ bán. Hơn 10 năm nay nó đã bị bức tử, san lấp làm thành khu du lịch xây nhà hàng tiêc cưới, quán cà phê, sân tennis, hồ bơi...Đối với những người đã lâu năm sống ở đây ai cũng đều ngậm ngùi nuối tiếc.
*Ngày xưa các vị tiền bối khai mở vùng đất này đã đăt thêm tên Bàu Ca Na là Động Đình Hồ


Mẹ Đất - Chuyện Ngắn của Hà Thúc Sinh (Văn Việt )



Ngày giao mùa xuân hạ tươi sáng năm nay chúng tôi đạp xe qua rừng. Hơi lạnh đã hết mà chưa nóng. Hoa lá sẫm hơn, rắn rỏi hơn. Không gian giảm nhiều thanh khí và cúi xuống gần hơn với mùi trần tục. Người mơ mộng lẫn người lo toan ngừng nghĩ ngơi xa xôi. Họ quay về với mùi thân thể con người đang sinh hoạt trong thực tại. Họ suy nghĩ đến sự liên hệ đột nhiên gắn bó giữa nội tâm với ngoại vật cách mật thiết- sự mật thiết đến độ như cái này vốn đã là nhân của cái kia. Lạ, chính tôi cũng đâm tự hỏi sao khoảng thời gian này nó gieo vào đầu người ta lắm ý nghĩ nồng nàn. Nó mặn mòi như máu mủ, râm ran như sinh đẻ. Nhìn đâu cũng thấy mầm sống, thấy ý niệm mẹ con vuông tròn.
Cứ thế chúng tôi mỗi người một xe, vừa thong thả đạp vừa lắng nghe tiếng gió tiếng suối êm êm, tiếng chim thôi thúc, tiếng côn trùng ẩn mật, tiếng hoa khai nụ kết xoắn lấy nhau thành một giao hưởng lạ. Nhạc này tôi nghĩ mỗi năm may ra được nghe đôi lần. Vợ tôi có thai và tôi cũng có thai. Nàng thai hân hoan tôi thai hứng khởi. Chúng tôi ít đến độ gần như không trò chuyện. Chúng tôi muốn cảm nhận cho trọn khoảng thời gian hiếm hoi trong năm đang cho chúng tôi có được cảm giác tân trang cái hỏng và bồi đắp cái vơi.
Đang khi ấy có tiếng dế rúc trong túi áo khoác. Chúng tôi ghé vào lề đường. Vợ tôi xuống ngồi bên rừng. Thanh thản. Thốt nhiên tôi thấy nàng như hóa thành một ụ mối, rồi có bàn tay vô hình đẽo gọt để nàng hóa thành một quả đất. Tôi lan man nhớ đến tượng mẹ Đất của một điêu khắc gia có lần thấy trên mặt báo. Tôi lấy điện thoại khỏi túi. Có giọng bạn báo tin. Tôi bối rối. Rồi có tiếng khóc. Tôi trụy thai hứng khởi. Tôi bịt điện thoại nói cho vợ tôi biết. Nàng hơi nhíu mày, nhưng rõ là vẫn giữ nguyên được nét thỏa và vững của một mẹ Đất.
Tôi nói qua điện thoại:
“Hãy để bác đi thong dong Hiếu ơi. Dầu sao bác đã có bên cậu hơn nửa thế kỷ rồi”.
Giọng bạn tôi ai oán:
“Sao không là một thế kỷ?”
                              ***
Thế là cái chữ bé như nhân hạt mè và lớn như nhân quả đất, chữ Mẹ, lâu lắm lại có cơ hội nảy mầm trong đầu tôi. Tôi nằm xuống cỏ, không tin mình thâm cảm nghe bạn kể lể tiếp về những trang đời khi anh còn mẹ. Không có gì chứng minh tôi đã nghe bạn tôi cách nhiệt tình, vì mẹ anh tuyệt nhiên khác mẹ tôi trong ý niệm, ít ra là ngày hôm nay, trong lúc này. Thế mà tự dưng tôi đau lòng. Đau phát rớm nước mắt. Tôi nói thêm ít câu an ủi, hứa sẽ có mặt bên bạn những ngày tới, rồi tắt máy. Vợ tôi đến ngồi bên. Nàng nhìn tôi, nghĩ sao vò đầu tôi như một đứa trẻ, tay kia cố với tới một bụi cây kế cạnh.
Tôi hỏi:
“Tính gắn anh hoa trắng đấy à?”.
“Không, hoa đỏ”.
Tôi cầm lấy hoa, hỏi:
“Sao lại cái này cho người mất mẹ?”.
Nàng cười khẽ:
“Có nhất thiết hoa trắng cho người đàn ông khi trên trái đất người ấy vẫn có một người đàn bà sẵn sàng cho tấtcả?”.
Lâu lắm tôi mới nói khẽ:
“Đã năm mươi năm anh mất người đàn bà ấy rồi!”.
Vợ tôi nhìn mặt trời, bảo:
“Thôi mình về”.
Tôi biết nàng không muốn buổi sáng đẹp thế này hỏng hơn nữa trong tôi. Trên đường, tôi vừa chậm đạp vừa nhớ lại những câu đối đáp với bạn.
“Nhớ xưa mình hay ước gì không?”. Bạn tôi hỏi.
“…!?”.
“Mau chóng lớn, mau ra đời, và khi quay lại nhà mình sẽ nói với mẹ, “Giờ mẹ hãy nắm tay con, đã đến lúc con dẫn mẹ đi’”. Ôi thôi sao mình bạc ác thế hả cậu. Làm vậy khác nào mình đã manh tâm ăn bớt thanh xuân của mẹ”.
Tôi thốt xẵng giọng:
“Tôi chưa hề ăn bớt chút thanh xuân nào của mẹ tôi”.
Giọng bạn tôi ngờ vực:
“Thật đấy chứ?”.
“Thật gì?”.
“Cậu không hề ước cậu chóng lớn, cậu được tự do, cậu sẽ ra đời, và một ngày cậu sẽ quay về, sẽ nói…”.
“Không!”.
Bạn tôi đâu biết tôi mất mẹ ngày mới lên ba. Thời ấy loạn lạc chạy giặc tới lui và chỉ anh tôi giấu được một tấm ảnh căn cước của mẹ. Vì lặn lội rừng suối tấm ảnh bị ẩm mốc. Từ đó về sau  tôi chỉ thấy mẹ tôi qua một làn sương muối.
***
Ông chú họ tôi đã ngoài bảy mươi. Mấy năm gần đây ông trở thành tác nhân vài việc đáng quý và đáng hãi. Thí dụ cả đời ông có năng khiếu làm giàu, bảy mươi tự nhiên phát thêm thi tài. “Này, anh họa loạt thơ chú mới làm xem sao. Cái ông gì chủ báo bạn anh có lần ghé đây ăn giả cầy ấy nhỉ, đưa ông ấy đăng cho báo nó thêm vui mắt, cứ bảo duyên văn nghệ chú gửi…”. Thường gặp tôi, ông hay hớn hở khoe ra một mẻ thơ với lời lẽ ân cần tương tự. Nhưng cái có thể gọi đáng quý là việc ông vẽ ra đủ thứ lễ, tạo cớ ăn uống. Như trưa nay ông tụ tập con cháu đến ăn mừng tiết Lập Hạ, một cái tiết xem ra chẳng ai quan tâm, thế mà mâm nhà ông vẫn đủ cơm gà cá gỏi. Nhưng không phải ăn uống cho ông. Có tiệc tùng ông chỉ vài miếng gọi là, chứ thực thì răng, máu, sạn thận và chứng sưng chân từ lâu đã biến ông thành một ẩm thực giả hết sức đơn chiếc. Ông mô tả chính ông, “Giờ mỗi bữa chú nhai nhây nhưa, nhai nhàn nhã hệt loài nhai lại!”. Ông gạo lứt muối mè quanh năm. Chuyện ông bảo vợ mâm cao cỗ đầy chẳng qua “Để anh em chúng nó còn quẩn quanh đây có dịp gặp gỡ, con cháu chúng nó biết mặt biết tên, thoát cái thảm kịch về sau lấy lẫn nhau”.
Tôi hay đến thăm ông với hy vọng có ngày vớ được trong rừng cổ tích của ông tí gì đó, nếu không cổ quý cũng hiếm lạ, dù sứt mẻ. Nhưng khó. Vài lần ông đã lục tung tới đáy, tôi tin thế, nhưng những gì trong rương tôi thấy toàn thứ tôi có. Thí dụ cảm động thì, “Chú thương mẹ anh lắm. Chính chú đào huyệt cho bà ấy chứ ai. Đào đêm đấy. Đào ngày máy bay Tây nó đánh cho có mà bỏ mẹ”. Hoặc vớ vẩn thì, “Ngày ấy cõng anh đi chơi anh hay đái trên lưng chú”, ông nhìn vợ cười sằng sặc. “Bà biết không, quen chỗ nó làm hoài; có lần tôi mắng “Coi chừng tao ngắt cái con chim mày”, ngọng tíu ngọng tít mà nó đã biết cãi, “Ngắt chim lấy gì cháu hái”; mới ba tuổi ranh đã khôn như rận, cho nó một xu nó bảo để dành đưa bố để bố mua hạo”.
Tôi cho chú là người sướng nhất đời. Thời nào chú cũng phong lưu, có khả năng tiêu xài rộng rãi với mọi người từ tình cảm đến vật chất. Trong mắt tôi, công tâm mà nói, chú vô phương được thế nếu đời chú không luôn luôn có hai bà mẹ.
Xưa nay tôi cố tin chỗ đông vui là một ân huệ của trời. Nó có thể cứu vớt người ta khỏi vũng phiền lụy cách rất bất ngờ. Hôm nay tôi giục vợ tôi đến chú đúng hẹn, một phần vì vậy.
                                       ***
Bốn trai, năm gái, hai dâu, ba rể, sáu cháu nội ngoại, vài ba cặp họ hàng như chúng tôi, bữa cơm ồn ào vui nhộn dù nó được chia làm hai cánh phân minh. Cánh đa số với thành viên là tất cả đám con cháu do bà thím điều động, cánh kia thiểu số với thành viên duy nhất là chú do bà cụ thân sinh ra chú chỉ huy. Tôi bảo khẽ vợ tôi, “Chỉ ăn cơm nhà này mới thấy thực cảnh chế độ mẫu hệ nó sướng thế nào”. Vợ tôi bảo, “Anh muốn không?”. Tôi cười, “Để bảy mươi đã”.
Bà cụ đã gần trăm tuổi. Cụ có trí nhớ tốt hơn con trai, sự bền bỉ bếp núc không kém con dâu, và uy lực thì bao trùm. Trong mâm cơm, bà thím được mọi quyền trừ quyền trực tiếp chăm sóc chồng. Việc đó là của cụ. Cứ như nhà này đã ngồi vào mâm, trật tự chỉ còn mẹ con. Tôi lo cho con tôi. Chị lo cho các con chị. Tôi hỏi vợ tôi, “Hay đây chính là nếp sinh hoạt gia đình vốn có ở thời Trưng, Triệu?”. Vợ tôi lại cười hỏi, “Anh muốn không?”. Tôi lặp lại, “Để bảy mươi đã”.
“Đây miếng này, miếng ấy nhiều mỡ!”. Nhìn bàn tay nhăn nheo của cụ mẹ chặn trên bàn nhăn nheo không kém của cụ con, tôi vừa ăn vừa hưởng một cảm nhận kỳ diệu.
Tôi không nhớ tôi vui từ lúc nào.
Ngoài sân thốt có tiếng la, “Bà ơi, Mẹ ơi, con Vện nó đẻ rồi!”. Thế là đám đàn bà con nít ùa hết cả ra. Phía sau nhà để xe ồn lên như cái chợ. Có giọng ngạc nhiên của bà Thím, “Ôi, sao đẻ được mỗi một con thế này? Ấy ấy, sao nó tha con bỏ chạy thế kia. Vện Vện Vện… Mấy đứa chặn nó lại cho mẹ!”. Giọng lũ trẻ nhao nhao. Giọng bà cụ hốt hoảng, “Chó đẻ mà chặn cái gì. Nó cắn chết bây giờ. Mấy đứa bé xích ra!”.
Tội nghiệp con chó già đã long răng còn nhẹ dạ đến phải chửa, đẻ được một con thì lại chết. Thấy người bu đông, sợ mất con nó tha chạy ra vườn tìm chỗ trốn. Phải lát lâu nó mới chịu chui vào một xó kẹt nằm im, nhưng xác con thì quyết không nhả. Hai người đàn bà thay nhau dỗ danh. Bà cụ nói, “Thôi cho cụ xin, để cụ chôn cất con mày tử tế  Vện nhá!”. Bà thím cùng một giọng, “Thôi cho bà xin, lần sau đẻ con khỏe bà cho nuôi Vện nhá!”.
Tôi bâng khuâng đứng nhìn sự năn nỉ kiên nhẫn của hai trái tim Mẹ người với một trái tim Mẹ gia súc. Tôi đã hiểu vì đâu bạn tôi trẻ con đến thế khi anh mất mẹ.
Tôi không nhớ tôi buồn trở lại từ lúc nào.
                  ***
Ông chú họ ra đứng bên tôi, khó chịu nhìn hiện cảnh. Ông bảo, “Vớ vẩn, đàn bà vớ vẩn!”. Không nói nhưng tôi vẫn cười thầm, “Chú mà lại không  có cái vớ vẩn ấy!”. Bất giác ông quát lớn, “Vện!”. Tiếng quát làm tất cả giật mình, và con Vện nhả ngay xác con nó ra, lấm lét nhìn ông chủ nó biết vốn không ưa nó.
Ông gắt:
“Đã bảo đem vào sở chó cho nó hóa kiếp, cứ cãi”.
Thế là vợ con ông nhao nhao lên:
“Trời ơi bố làm nó sợ”.
“Nó mới chết con, tội nghiệp bố ơi”.
“Ông la gì dữ vậy, hết cả hồn”.
Ông không kịp phản ứng trước những lời phàn nàn, vì cụ bà đã ngoái ngay lại nhìn cụ con, mắng khẽ, “Phát xít, bảo mãi vẫn không chừa cái thói phát xít”.
Đã xế chiều. Tôi ra sân trước đứng nhìn những quả mận quả đào thời mưng sữa, và lòng tôi cũng mưng lên một cảm trạng chưa từng. Tôi ngước nhìn trời mây, tự hỏi có không những bà Mẹ trên các thiên thể xa xôi? Mà giá có, tôi nghĩ, liệu họ có sở hữu cơn địa chấn tâm hồn cho lũ con như những bà Mẹ đất- thực thể duy nhất cho đời ta có được cảm giác lúc đầy sẽ hơn ngọn, vơi sẽ hơn đáy; có sẽ vô biên hạnh phúc không sẽ mãi mãi hẩm hiu. Tôi suy nghĩ mông lung lắm, và vì thế vẫn cứ hy vọng cái ý tưởng chua chát mới nảy ra trong đầu là có thể sai: Không có cảnh thần tiên đầy đặn nào bù trám được cái ta không thực có trong lòng. 
Vợ tôi đang tiếp tay thanh toán những chồng bát đĩa trong bếp. Tôi quyết định tạm rời khỏi đây. Nghĩ những giọt nước mắt của bạn chưa chừng lúc này xoa dịu được cơn đau của tôi, nhưng tôi rùng mình. Hồn tôi đang lên cơn dài. Tôi sợ ướt. Tôi cần một phương thuốc khác. Tôi đạp xe trở lại khu rừng. Nhưng đâu hết rồi! Tôi không thấy nữa bầu trời ấm áp, không thấy nữa mầu sẫm xanh, không thấy nữa sự gắn bó mật thiết giữa nội tâm và ngoại vật, không thấy nữa những dấu tích các cảm nghĩ no tròn, không thấy nữa chính tôi trong một ngày giao mùa tươi sáng.
Tôi chỉ thấy cái bóng của tôi đang chạy như vô đích trên một mặt phẳng hoang vu.

“Tiên tích đức, hậu tầm long” – Câu chuyện anh em nhà họ Quách (Từ Hửu Nguyên.Blog )

Trần Hưng


Tổ tiên người Việt từ ngàn xưa luôn dạy con cháu rằng muốn thành công thì phải có đức. Ngay cả trong giới phong thủy chân chính, vốn có thể dựa vào địa lý hay long mạch mà cải mệnh, vẫn luôn lưu truyền câu nói: “tiên tích đức, hậu tầm long”. Văn hóa cổ truyền đó ngày nay ít người thật sự tin tưởng, nhưng có không ít câu chuyện có thật được ghi chép lại là minh chứng cho điều này, trong đó phải kể đến chuyện hai anh em nhà họ Quách thời Lê sơ.

“Tiên tích đức, hậu tầm long”

Trong thời Lê Sơ ở xã Thái Phúc, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình có một người họ Quách tính tình thật thà chất phác, không tranh cãi với ai. Một lần khi cuốc đất, anh ta tìm thấy một đĩnh vàng. Vốn tin vào đạo lý của trời đất, nghĩ rằng số vàng này không phải của mình nên không thể lấy được, nhưng không biết của ai, người họ Quách liền đem cất riêng ở một chỗ.
Mấy tháng sau có một người từ phương Bắc đến chỗ khu đất ấy kêu khóc, người họ Quách đến hỏi thì người khách đáp rằng tổ tiên có của để lại ở chỗ này. Người họ Quách bèn trả lại số vàng đã đào được.
Người khách cảm tạ nói: “Tôi biết qua địa lý, ở đây có hai ngôi huyệt tốt: một ngôi đời đời kế tiếp làm công khanh; một ngôi đỗ Tiến sĩ một đời. Ông thích ngôi nào, tôi sẽ để giúp để báo ơn đức.”
Người họ Quách thật thà nói rằng: “Nhà tôi nhiều đời nghèo túng, có đâu dám mong quá phận định, chỉ muốn con cháu một đời đỗ Tiến sĩ, công danh hiển hách, thế là đủ rồi.” Vị khách liền để đất giúp.
Người họ Quách đó chính là ông nội của Quách Đình Bảo. Quách Đình Bảo một vị danh thần tài đức của nhà Lê Sơ, thông minh nức tiếng sánh ngang Lương Thế Vinh thời bấy giờ. Em Quách Đình Bảo là Quách Hữu Nghiêm cũng là một vị quan tài hoa. Hai anh em ông thật sự ứng với câu nói: “…chỉ muốn con cháu một đời đỗ Tiến sĩ, công danh hiển hách, thế là đủ rồi.”

Quách Đình Bảo và Lương Thế Vinh

Vua Lê Thánh Tông xem trọng hiền sĩ, chú trọng khoa bảng. Khoa thi năm Quý Mùi 1463, sĩ tử các nơi nô nức dự thi.
Trước kỳ thi Hội khoảng 3 tháng, Lương Thế Vinh nghe tiếng Quách Đình Bảo từ lâu nên có ý định ghé thăm, đến hàng nước trước cổng làng dò hỏi thì biết rằng Đình Bảo đang đọc sách. Lương Thế Vinh nghĩ: “Kỳ thi gần đến nơi, hãy còn cố sức học, chỉ có tiếng hão thôi, chắc là anh này trong bụng chẳng có uẩn súc gì cả”, liền quay trở về, không gặp Đình Bảo.

Họ Quách
Lương Thế Vinh tìm gặp Quách Đình Bảo. (Tranh minh họa của họa sĩ Đức Hòa trong bộ “Lịch sử Việt Nam bằng tranh” – Sử dụng dưới sự đồng ý của tác giả)

Lúc Đình Bảo ra hàng nước thì được nghe nói lại chuyện này, đoán biết người đó là Thế Vinh liền quyết định đến thăm. Thế nhưng khi đến nơi thì Lương Thế Vinh không có nhà, khi hỏi thì được biết Thế Vinh đang thả diều ngoài đồng cùng đám trẻ con. Đình Bảo nghĩ: “Tài học người này, ta không thể theo kịp được”. Trở về nhà, ông cũng không dùi mài khổ sở nữa.
Kỳ thi Hội năm đó Quách Đình Bảo vượt qua Lương Thế Vinh và tất cả các sĩ tử khác, đứng đầu thi Hội tức Hội nguyên.
Đến kỳ thi Đình thì Lương Thế Vinh lại đỗ đầu tức Trạng nguyên, Quách Đình Bảo đỗ Thám hoa, người đỗ Bảng nhãn là Nguyễn Đức Trinh. Đây đều là những người hay chữ từ nhỏ, vua Lê Thánh Tông trực tiếp ra bài thi văn sách rất vui mừng vì tìm được những nhân tài xuất chúng, bèn sai làm 3 lá cờ, mỗi người một lá, trong cờ thêu 4 câu sau:
Trạng nguyên Lương Thế Vinh,
Bảng nhãn Nguyễn Đức Trinh,
Thám hoa Quách Đình Bảo,
Thiên hạ cộng tri danh.

Truyền kỳ về khí phách của vị Trạng nguyên Tam nguyên đầu tiên trong sử Việt
(Tranh minh họa: Bìa sách về Trạng nguyên, NXB Kim Đồng)

Ba năm sau đến khoa thi năm 1466, em trai của Đình Bảo là Quách Hữu Nghiêm dự thi và đỗ Hoàng Giáp.
Điều thú vị là hai anh em họ Quách đảm nhận những chức vụ tương tự nhau. Quách Đình Bảo làm đến Lễ, Hình bộ, Thượng thư kiêm Đô ngự sử, thì sau đấy người em là Hữu Nghiêm cũng nối gót đảm nhận chức vị ấy.
Quách Hữu Nghiêm giữ chức Tả thị lang bộ lễ, năm 1484 được phong phó Đô ngự sử Ngự sử đài, năm 1500 được thăng Thái thường tự khanh. Năm 1502, ông được cử làm Chánh sứ đi sứ nhà Minh, rồi thăng làm Đô ngự sử.

Vua sáng, tôi hiền, Giang Sơn cực thịnh

Vua Lê Thánh Tông là vị Vua sáng suốt, anh minh, rời xa nịnh thần, quý trọng hiền tài giúp cho Đại Việt lên đến thời kỳ cực thịnh. Được làm quan trong môi trường ấy, hai anh em họ Quách cũng thi thố hết được tài năng của mình. (Xem bài: Chống tham nhũng từng giúp Đại Việt có được thời kỳ “ngủ đêm mọi nhà không phải đóng cửa”)
Năm 1484, Lễ bộ Thượng thư Quách Đình Bảo tâu với Vua nên dựng bia tiến sĩ ở Văn Miếu – Quốc Tử Giám nhằm khuyến học tìm được hiền tài trong nước. Vua chuẩn tấu cho dựng bia tiến sĩ ghi lại họ tên, thứ bậc những người thi đậu cả những khoa thi các đời Vua trước.
Năm 1494, vua Lê Thánh Tông lập ra hội Tao Đàn tập hợp 28 vì sao sáng về thơ văn trong bầu trời Đại Việt (gọi là nhị thập bát tú) trong đó có cả Quách Đình Bảo, Quách Hữu Nghiêm, Lương Thế Vinh.

Họ Quách
(Tranh minh họa từ baophapluat.vn)

Sự tài năng của hai anh em họ Quách khiến nhà Vua tin tưởng, luôn đem các ông theo bên mình trong các trận chiến lớn. Trong cuộc tiến quân đánh Chiêm Thành, quân Đại Việt thắng lớn, Quách Hữu Nghiêm làm bài vịnh hào khí ba quân. Lúc đó ông tình cờ gặp người con gái tên Hồ Thị Thành, vốn là dòng dõi Hoàng tộc, quốc sắc thi hương thì đem lòng yêu mến. Được Vua và anh của mình vun vén, hai người đã nên duyên vợ chồng.
Năm 1471 quân Đại Việt đánh vào kinh thành Chà Bàn bắt được vua Chiêm, khiến nạn Chiêm Thành quấy nhiễu Đại Việt không còn nữa. Quách Hữu Nghiêm được cho về quê vợ, không bao lâu sau thì có được con trai đặt tên là Quách Quý Công, sau trở thành Anh Kiệt tướng quân và thành tổ chi họ Quách Hữu ở Quỳnh Lưu, Nghệ An. Anh Kiệt tướng quân sau này được cử làm thượng tướng, coi quân cẩm y vệ, luôn hầu giá bên vua.
Lê Quý Đôn đánh giá Quách Hữu Nghiêm “là người phóng khoáng, có tài bàn luận”.
Cuốn “Đại Việt lịch triều đăng khoa lục” ghi chép lại rằng khi Quách Hữu Nghiêm đi sứ sang nhà Minh. Một lần thấy trên sân rồng có ánh nắng chiếu qua do cái lọng bị thủng một lỗ, Vua Minh ra câu đối rằng:
Ốc lậu nhật xuyên hình như kê noãn tam tam tứ tứ.
Nghĩa là:
Nhà thủng mặt trời xuyên qua, hình như trứng gà ba ba bốn bốn.
Quách Hữu Nghiêm đối rằng:
Giang trường phong lộng thế tự long lân điệp điệp trùng trùng.
Nghĩa là:
Sông lớn gió thổi giống như vẩy rồng trùng trùng điệp điệp.
Vua Minh thấy ông đối rất chỉnh lại hùng khí lẫm liệt thì hết lời khen ngợi.
Quách Hữu Nghiêm cũng đã thể hiện tài thông minh, ứng đối mau lẹ qua các bài biểu, bài tâu đối trí, những lần được mời lên trên điện. Vì thế vua Minh ban cho ông áo đại hồng có thêu con dê thần và đám mây bằng kim tuyến xen chỉ tơ sống, chỉ gai. Đồng thời khi trở về, vua Minh cũng sai cấp cho đoàn sứ bộ một thuyền lớn.
Vua Minh còn ban cho Hữu Nghiêm 4 chữ: “Tam Đại Di Tài”. Tam Đại là ý chỉ 3 triều đại lớn là Hạ, Thương, Chu. Ý vua Minh ví ông như những nhân tài tuấn tù thời 3 Triều đại này.
Vua Minh tiễn đoàn sứ thần Đại Việt trở về nước rất trọng thể, kết quả chuyến đi rất tốt đẹp

Họ Quách
Đền Thái Phúc thờ hai anh em họ Quách. (Ảnh từ Wikipedia)

Thời kỳ vua Lê Thánh Tông là thời kỳ thịnh trị, nhà Vua trọng người hiền tài, tránh xa kẻ xấu. Trong Triều đình chỉ có “Vua sáng, tôi hiền”, quả là môi trường tốt để những bậc hiền thần như anh em họ Quách dốc lòng phục vụ cho Giang Sơn Xã Tắc. Đại Việt lên đến thời kỳ toàn thịnh.
Trần Hưng
Tham khảo tư liệu từ “Kiến văn tiểu lục”, “Tam khôi bị lục”

Văn minh của nước Mỹ !

May 22, 2019

Thống Đốc Jay Inslee, tiểu bang Washington, ký ban hành luật cho phép để thi thể tự hủy làm phân bón. (Hình: AP Photo/Ted S. Warren)

SEATTLE, Washington (AP) – “Tro về với tro, người về với đất” câu nói vẫn thường nghe thấy về đời người nay có thêm một ý nghĩa khác, nếu bạn sống ở tiểu bang Washington.

Thống Đốc Jay Inslee hôm Thứ Ba, 21 Tháng Năm, ký ban hành một đạo luật theo đó khiến Washington trở thành tiểu bang đầu tiên ở Mỹ cho phép để thi thể người ta tự hủy làm phân bón (composting), như một giải pháp thay thế cho việc chôn cất hoặc hỏa táng.

Luật này cho những nơi có giấy phép được cung cấp dịch vụ “thu nhỏ tự nhiên” (natural organic reduction), trong đó thi thể con người, trộn lẫn với rơm rạ hay vụn cây và số lượng đất đầy khoảng hai xe đẩy, rồi được để cho phân hủy trong vài tuần lễ.

Những người thân của người quá cố sau đó sẽ được phép giữ số đất này 
để rải ra, cũng như rải tro của người được thiêu xác, hoặc ngay cả
dùng để trồng rau trái hay trồng cây để có bóng mát.

Cách thức này thật ra không mới lạ, vì đây là cách nông dân vẫn thường dùng để giải quyết xác thú vật chết trong trang trại của họ.

Bà Nora Menkin, giám đốc điều hành tổ chức People’s Memorial
Association ở Seattle chuyên giúp người ta chuẩn bị tang lễ, nói rằng điều này “giúp cho sau khi qua đời, thi thể chúng ta vẫn còn hữu dụng và có ý nghĩa.”

Những người ủng hộ giải pháp này nói rằng đây là điều tốt cho môi
trường, không như hỏa táng, vốn sẽ thải ra chất thán khí và các bụi
nhỏ lên không khí; hay như cách chôn cất truyền thống sẽ chiếm diện tích đất đang ngày càng ít đi.

Nghị sĩ tiểu bang Washington, ông Jamie Pedersen, người bảo trợ đạo luật này, nói cách việc để tự phân hủy này là một giải pháp tốt trong các thành phố, nơi đất đai dành cho nghĩa địa hiện đang rất hiếm.

Ông Pedersen nói rằng ông gặp phản ứng mạnh mẽ từ những người chống đối, gọi đây là điều bất kính với người quá cố, hoặc là quá ghê rợn.

Ông Edward Bixby, chủ tịch tổ chức Green Burial Council, có trụ sở đặt tại thành phố Placerville, tiểu bang California, gọi đây là một ý kiến “đáng quan tâm,” nhưng còn phải chờ xem sự đón nhận của dân chúng như thế nào. 

(V.Giang - Người Việt )

Hoa Huỳnh chuyển

Thơ Tếu :NGÀI XÃ TRƯỞNG ĐƯỢC MỜI ĂN GIỔ (Trần Đông Thành,Hồ Nguyễn )

NGÀI XÃ TRƯỞNG ĐƯỢC MỜI ĂN GIỔ Xã tr ưở ng dài thâm th ấ y b ả nh bao, Ba-ton c ặ p nách gu ố c mang vào. “C ơ m chi ề u má tr ẻ...