Hiển thị các bài đăng có nhãn Đặcsan. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Đặcsan. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 25 tháng 5, 2017

TRƯỜNG XƯA - (Hồi ký của Trương Thị Khanh)


Tùng, tùng, tùng …Tiếng trống báo giờ vào học, tôi cắm đầu chạy thật nhanh trên con đường mòn phủ cát vàng nhạt giửa đám khoai mì gầy guộc; đó là con đường tắt dẩn đến trường. Tôi đặt chồng tập và bình mực vào hộc bàn rồi cùng các bạn đứng khoanh tay trước ngực bắt đầu đọc bài kinh nhập học.
 

"Đại Từ phụ xin thương khai khiếu
Giúp trẻ thơ học hiểu văn từ
Gần điều nên, lánh lẻ hư...

Nương gươm thần huệ đặng trừ nghiệt căn
Dò đường Thánh khó khăn chẳng nại
Tùng khuôn hồng nhỏ dại lớn khôn
Buộc yêu thương, bạn đồng môn
Nghĩa nhân vẹn giữ xác hồn trăm năm
Nguyện Tam-Cang gìn tâm trọn đạo
Nguyện Ngủ-thường hiếu thảo làm gương
Nguyện nên hương quả tông đường
Nguyện thương lê thứ trên đường công danh
Cầu các đấng Chơn linh nhập thể
Đủ thông minh học lễ, học văn
May duyên gặp hội Long vân
Thuyền thơ ngọn gió Cát-đằng xuôi đưa."
 

Vuốt mấy giọt mồ hôi trên trán tôi ngồi xuống cạnh các bạn trên băng ghế dài, nghe thầy giảng bài và chép vào tập. Thuở ấy chúng tôi học ngày hai buổi từ thứ hai đến thứ bảy, ngày thứ năm chỉ học có buổi sáng.
Trường tôi có tên gọi “Đạo Đức Học Đường”, tọa lạc trong khuôn viên nội ô Tòa Thánh Tây Ninh, do Đạo Cao Đài sáng lập năm 1928, hai năm sau năm khai Đạo, cho con em tín hửu có nơi trau dồi văn hóa. Trường có sân trước thật rộng là nơi tổ chức các buổi lể bãi trường và diễn hành thi lồng dèn vào đêm lễ Trung Thu. Trước khi trường Lê Văn Trung được khai giảng vào niên khóa 1952 - 1953, trường Đạo Đức có cả Tiểu học và Trung học nên trường có tất cả năm dãy lớp. Đến năm tôi học lớp Cao đẳng thì trường chỉ còn bậc Tiểu học nên có ba dãy lớp thôi. Từ cổng trường nhìn vào chỉ có dãy bên tay phải là tường gạch và mái ngói, hai dãy còn lại thì mái lợp cỏ tranh và vách bằng đất trộn rơm. Trước mỗi dãy lớp có trồng hàng cây bả đậu cho bóng mát để chúng tôi chơi đùa và cũng làm dịu cái nóng oi bức. Nền lớp học là loại đất pha cát nên các chân bàn và ghế xoi mòn thành những trủng đất mịn, đó là nơi tôi thường vùi đôi bàn chân bé nhỏ vào để tìm cảm giác êm mát thật dễ chịu trong những buổi học chiều nóng nực. Các bạn có làm thế không?
Trưòng mình nghèo nên không có tiền mua chổi, chúng tôi nhổ những cây “cỏ chổi” mọc quanh trường để quét lớp, bụi đất bay tùm lum nhưng đâu có sao đâu! Còn một “điều bí mật” các bạn còn nhớ không? Trường không có nhà vệ sinh nên đám khoai mì sau trường lá xanh mướt và thân thật là bự!
Cách các lớp học một khoảng sân là dãy nhà ngang, đối diện với cổng trường, đựơc dùng làm văn phòng và phòng họp của thầy cô. Không xa với văn phòng có cái quán nhỏ bán bánh cho học sinh. Phần quà bánh tuy không nhiều dinh dưởng nhưng chúng tôi ăn rất ngon. (Có lẻ bởi chúng mình chưa nếm đựơc “mùi danh lợi lưởi tê tân khổ’!) Nào là khoai mì nấu rồi bóp nát ra trộn với dừa nạo hoặc nước cốt dừa, cho thêm tí muối đậu phọng, khoai lang hay khoai từ luộc, sang hơn chút là bánh mì xẻ dọc bỏ vào ít củ cải ngâm dấm và xịt tí nước tương. Vào buổi chiều, thỉnh thoảng bọn con gái chúng tôi có vài thứ đặc biệt từ vườn nhà như ổi, me, khế, bông mít, luôn được kèm theo gói muối ớt. Cay quá, chảy cả nước mắt nhưng ngon ơi là ngon! Không biết mấy anh có món ngon nào không nhỉ? Đâu có chơi chung hay nói chuyện, làm sao biết được, “nam nữ thọ thọ bất tương thân” mà. Về trò chơi thì phía húi cua hay đá banh, bắn bi, đánh đáo; bọn kẹp tóc thích nhảy dây, đánh đủa, búng hột me …
Phần tập vở và bình mực, bọn con gái mới tí tuổi đầu đã dể lộ cái tính thích ’kiểu cọ” rồi. Bao tập thì nhịn ăn quà để mua giấy dầu bóng màu xanh hoặc vàng nhạt; bình mực thường dùng vỏ chai thuốc trụ sinh Penicilline, một đựng mực xanh hoặc tím, một đựng mực đỏ và ràng với nhau bằng dây thun. Khi vào lớp chúng tôi thường mở nắp cao su của bình mực, xé miếng giấy chậm nhỏ quấn vào ngón tay út để chùi phần trên nước mực cho thật trong, đem so với mấy đứa bạn với hy vọng “bình của tui trong hơn” rồi cười rúc rich.
Tôi còn nhớ gần cuối năm lớp Cao đẳng (lớp năm bây giờ) ở Đao Đức Học Đường trong nôi ô Tòa Thánh, chúng tôi chuẩn bị thi lấy bằng Tiểu Học thật bận rộn, nào là ôn tập bài vở, họp bạn học cả cuối tuần để thi thử ở trường. Thời bấy giờ kỳ thi Tiểu Học rất khó gồm các môn: Việt văn và Pháp văn (viết chánh tả và trả lời các câu hỏi về bài chánh tả), Toán, Câu hỏi thường thức gồm có Sử ký, Địa lý, Cách trí (Vạn vật học- Biology), cuối cùng là phần vấn đáp. Tới ngày thi, chúng tôi tụ họp thật sớm tại trường để xe camion của Đạo chở chúng tôi ra thi ở trường Nam và Nữ Tiểu học ở thị xã Tây Ninh cách trường chúng tôi khoảng năm cây số. Trưa chúng tôi đi bộ tới ngôi chùa gần trường thi để ăn cơm rồi trở lại trường thi tiếp buổi chiều.
Khí hậu Tây Ninh dù có mưa nhiều nhưng vẫn thường rất nóng bức vì chỉ có con sông nhỏ Vàm Cỏ Đông chảy qua. Núi Bà Đen hay Núi Điện Bà là nét đẹp hùng vĩ duy nhất, xanh mướt quanh năm, vươn lên đơn độc giữa đồng ruộng mênh mông. Trên núi có chùa thờ Bà là địa điểm mời gọi khách thập phương viếng thăm vùng đất núi biên thùy, ngày trước người dân Tây ninh dùng chữ thâm thay cho chữ đen vì kiêng cử tên Bà. Du khách trên đường về cũng không quên ghé lại chiêm ngưởng một kiến trúc với nét đẹp Đông phưong tráng lệ, Tòa Thánh Tây Ninh, tổ đình của Đạo Cao Đài được khánh thành năm 1955, cách núi Điện Bà khoảng năm sáu cây số. Hầu hết dân cư sống quanh Tòa Thánh là tín hửu Cao Đài tụ tập về đây sau thế chiến thứ hai, phần đông không khá giả nhưng rất quí trọng và giúp đở lẫn nhau khi gia đình đồng đạo có quan hôn tang tế.
Chúng tôi được nuôi dạy và lớn lên trong một môi trường tuy thiếu thốn vật chất nhưng đầy ấp tình người theo châm ngôn “là con một Đạo tức một Cha”. Những điều đó được thể hiện rõ nét trong ngôi trưòng Đạo. Chúng tôi ít khi cải cọ hay đánh nhau mà thường giúp nhau trong việc học hành. Có nhiều bạn ở xa trường tới ba bốn cây số; đám học trò nghèo ngày hai buổi xuôi ngược tới trường bằng đôi chân không guốc dép trên những con đường cát nóng, đầu trần đội ánh nắng chói chang hay mưa dầm nặng hột. Vào đông, khí trời se lạnh, chúng tôi vẫn nô nức vui vẻ tới trường với áo vảỉ mong manh.
Thầy cô chúng tôi hầu hết không tốt nghiệp Đại học nhưng không thiếu kiến thức để truyền dạy về Quốc văn, Pháp văn, Khoa học. Địa lý, Sử ký, Toán và quan trọng nhất là đạo làm người đối với gia đình, xã hội, quê hương xuyên qua những bài Luân lý và Công dân giáo dục. Những lời giáo huấn của thầy cô đã khắc sâu vào tiềm thức chúng tôi, nhất là thầy Bảy Trí, thầy dạy lớp Cao đẳng G: “Các con nên nhớ rằng từ cái ăn, cái mặc của các con đều do nhiều người cực nhọc làm ra; các con phải cố gắng học hành để sau nầy đóng góp công sức vào xã hội như một cách trả ơn.” Đầu năm 1975, tôi dọ hỏi và tìm thăm thầy Bảy Trí; thầy vẫn còn đi dạy và sống một mình ở Tân Vạn – Biên Hòa. Tôi vừa vào nhà, sau một thoáng ngạc nhiên thầy đã nhận ra và gọi tên tôi. Nước mắt lăn dài trên má tôi khi vòng tay “thưa thầy”; thầy cũng cảm động mắt ứa lệ. Thầy trò hàn huyên suốt cả hai giờ với cảm xúc vui buồn theo sự thành đạt hay dở dang, mất mát của một số học trò cũ còn biết được tin tức. Tôi theo nghiệp thầy nên cảm thông đươc niềm hạnh phúc khi biết học trò mình thành người hửu dụng cho xã hội dù ở địa vị hay hoàn cảnh nào. Tôi từ giả thầy và hẹn sẽ trở lại thăm, nhưng … không còn có dịp nữa.
Đã hơn năm mươi năm nhưng hình ảnh ngôi trường đơn sơ cũ với thầy cô, bạn bè, lồng đèn đêm Trung thu, lễ phát thưởng cuối năm có màn văn nghệ “gánh, gánh, gánh lúa về, gánh lúa về, gánh về …” vẫn còn rõ nét trong tôi. 

Những biến động triền miên trên quê hương đã chôn vùi biết bao nhân tài và phân tán các bạn đồng môn còn sống sót trên vạn nẻo đuờng của quả địa cầu. Hy vọng ý nghĩa của bài kinh nhập học và những lời giáo huấn của thầy cô từ ngôi trường Đạo vẫn còn tồn tại trong tâm tư mỗi học trò cũ và sẽ mãi mãi là ngọn hải đăng soi sáng tâm linh và dẩn dắt chúng ta cho đến ngày về bến đợi bình an.
Trương thị Khanh 04.

                                        (Tác giả: Bìa phải-cao nhất)
Bình Luận :
Lê Vui:(Gửi qua con gái)

"Nói Cô Khanh mẹ đọc mà cảm động lắm, vì có nhiều liên hệ. Nhưng thời của mẹ thì học ở Cơ Thánh Vệ (Gần trước nhà chú Ngân, hiện giờ là trường học hay gì quên rồi). Cô của mẹ là Cô Lan, người rất hiền và đạo đức. Học ngày hai buổi, phải dở cơm. Nhưng thời gian học chẳng bao lâu vì sau đó mẹ chuyển vào trường Tiểu học Cộng đồng Long Hoa.
Kỷ niệm cũng tương tự: đi học sớm, đánh đủa, nhảy dây....đặc biệt nhất là cái món muôn đời, muôn nơi: muối ớt + dái mít, me......

Hồi đó, trường Cơ Thánh Vệ cũng mái tranh, vách đất, nhưng sao thấy ấm cúng lắm. Nhà ngoại từ góc Bình Dương + Trung Hòa..lội bộ mỗi ngày, nhưng không hề biết ngán là gì đâu. Lúc đi còn bước nhanh nhanh cho kịp giờ chứ ra về thì tha hồ lê la. Thời này hay chơi trò lấy mực tiêm vô cuống bông ...... cho nó chạy chỉ lên cánh, tạo màu xanh.......thích lắm. Mẹ còn nhớ rõ mấy bông mẫu đơn (gọi sai, chứ thực tên đúng là dành dành), màu trắng ngà, nhưng thơm rất dễ chịu.

Cảnh thi cử có cải cách rồi, bỏ thi tiểu học, nhưng phải tuyển vào đệ thất Công lập. Mẹ nhớ ngày xưa giữ 10 ngày chay rất nghiêm, đi thi tự ngồi xe lôi ra ngoài Trung học Công Lập TN (Trần Hưng Đạo một thời). Buổi trưa đi bộ ra chỗ chợ cũ, ăn cơm với dưa leo, nước tương chứ nhứt định không "ngã mặn". Nhờ vậy mà hên sao "chim ỉa miệng chai", lời ông ngoại trù vì thấy mẹ ham chơi chẳng học hành gì.

Thôi, chuyện xưa kể hoài cũng không hết đâu.

Trương Thị Khanh

Pham Hòa:
 Năm học 1953-54,mình học lớp trung đẳng với cô giáo Nguyễn thị Kiêm tại ĐĐHĐ.Trước VP.trường,phiá trái có 1 cái giếng,cung cấp nước cho  mọi sinh hoạt trong trường ,nước lấy lên bằng gàu cột vào cái cần vọt.Lạ là giếng ko có thành ngăn cách gì ráo.Học trò thỉnh thoãng ngó đầu vào giếng xem bóng mình trong đó,cười vang,may mà ko có trò nào rơi xuống.Nước lấy lên đựng trong lu sành,uống bằng gáo dừa,thời kỳ nầy ở TN,nhiều nhà ven đường có lu nước như vậy cho ai đó lỡ đường...Uống nước lạnh,ko nghe nói có ai bị gì...mãi đến thời vào TH.Tây Ninh mới học :phải uống nước đun sôi.
Thầy ,Cô thuở đó ko lương nhưng rất có trách nhiệm với học trò,luôn công bằng và nhân ái.
Đólà điều khiến bọn mình nhớ mãi


🌸🌸🌸🌸🌸🌸

MỜI XEM :

Thứ Hai, 25 tháng 5, 2015

Mục Lục Đăc San ' " 60 năm trường TH.Tây Ninh



·       Con số Thần Kỳ
·       Hình ảnh mới
·       Thơ
·       Hình ảnh cũ
·       Thơ **
·       Sự tích núi Bà Đen                                                          
·       Thơ ***
·     

Con số Thần Kỳ

Cám ơn các bạn đã đọc qua những trang  Hoài Niệm Tây Ninh.
Sau đây mời các bạn trở lại một chút về những ngày còn trên ghế nhà trường

Con số thần kì nhất thế giới là 142857

                         Con số thần kì nhất thế giới là 142857 
Nó được tìm thấy trong các kim tự tháp của Ai Cập, đó là một tập hợp các con số thần bí.
142857 X 1 = 142857.
 142857 X 2 = 285714.
 142857 X 3 = 428571.
142857 X 4 = 571428.
 142857 X 5 = 714285. 
142857 X 6 = 857142. 
Các con số đổi vị trí tương tự xuất hiện. 
Vậy lấy nó nhân với 7 là bao nhiêu?   999999
Cười Nhé....Ngộ Thật...Chúc các bạn mỗi ngày là một NGÀY VUI- TAM BIET

Chỉ Còn Lại Tình Thâm - VKP.Đạm Phương

   Buồi họp lớp Đệ Nhứt đầu tiên sau gần 50 năm xa cách thật đáng nhớ làm sao!  Sau giây phút tay bắt mặt mừng là lúc kể lể những nổi gian truân cùng cực của mỗi đứa, vài đứa đã ra đi vĩnh viễn mà khi nhắc lại không mấy ai còn nhớ rõ mặt, dù vậy,cũng có đứa cúi xuống, che giấu vội vàng những giọt nước mắt thương cảm…
Để phá tan bầu không khí ãm đạm, nhỏ Huệ lên tiếng:
“ Ê, hồi đó, ông nào mê nhỏ nào mà hỏng dám nói thì bây giờ cứ nói huỵch tẹt ra hết đi, mấy thuở mới được dịp tự do như thế nầy chớ”
*Anh bạn Công,cựu Thiếu Tá TG, Việt kiều trở về, quen thói nhà binh, mạnh dạn đứng lên xin phát biểu trước rồi tằng hắng lấy giọng ồ ồ, hát trọn bài Vọng Gác Đêm Sương:
 “Xưa lúc xa xưa , tôi có người em tuổi đẹp TRĂNG tròn
Tuy rằng không gặp, không hẹn bao giờ và chưa yêu thương
Phong kín tâm tư tôi gởi đời trai vào mộng đăng trình
Giữa buổi TRĂNG rằm rời xa gác ấm không hề gặp nhau..."            

 Bài hát vừa dứt, thay vì vỗ tay tán thưởng thì mọi người lại nhao nhao lên hỏi:
“ Rồi có lần nào gặp lại em chưa?”
Công làm bộ đão mắt nhìn chung quanh một lúc rồi đáp:
“ Có, nhưng thân cá chậu chim lồng… Thôi đành chờ đến kiếp sau…”
Cả bọn nhìn Công, tiếc nuối giùm cho bạn, không ai để ý đến nhỏ Nguyệt, quay mặt đi mà mắt đỏ hoe rồi bất chợt ngâm nga:
“Chim bói cá cũng đâu còn giương mắt
Tìm Ánh Trăng vàng chìm đáy nước sâu
Khúc Thụy Du bãng lãng nỗi ưu sầu
Chiều hoang vắng thả hồn qua Giếng Mạch”

Sự tình chưa kịp lắng đọng thì anh bạn Báu, cao to đẹp trai, cũng là một Việt kiều đã vội vàng lên tiếng:
“ Các bạn có còn nhớ cái lần lớp mình tổ chức đi chơi ở phía bên kia sông Bến Cầu hông?  Lần đi chơi đó đã in sâu trong lòng tôi hình ảnh cô bé đội nón lá quai màu trắng, ngồi trên phà, in bóng xuống dòng sông, tôi vô tình lấy xác mía đang nhai chọi xuống, nước chao động làm hình ảnh cô bé nhạt nhòa nhưng  cho đến  giây phút nầy, bóng dáng cô bé vẫn còn ngự trị trong tim tôi…”
Mọi người tò mò đảo mắt tìm kiếm cô bé đội nón lá quai trắng là ai thì bất ngờ nhỏ Thuận lên tiéng với giọng trầm buồn:
“ Xác mía đã cuốn đi hình bóng người con gái đó SANG bên kia SÔNG để chịu nhiều bão táp phong ba của cuộc đời, bây giờ thì:
Em trả lại anh buổi đi dã ngoại
Con sông Vàm Cỏ chứng kiến tình thơ
Xác mía rơi vô ý lại bất ngờ
Xóa hình cô bé nón quai màu trắng…”

Báu xót xa nhìn Thuận nhưng Thuận quay sang “ Hùng đầu bạc” ( anh bạn đã bị bạn bè gán chết biệt danh  đó từ hồi còn đi học vì mái tóc trắng ), nói lãng:
“Lịch sử đã sang trang, bây giờ đã lảm ông lớn rồi mà cũng chịu khó đi họp lớp với bọn nầy nữa he “
Nhỏ Huệ nạt Thuận:
“Ê, ở đây hỏng có chỗ để nói chuyện công danh sự nghiệp mà chỉ có đề tài tình si cùng lớp thôi nghen”
*Anh bạn Hùng đầu bạc, sau khi thi đậu Tú Tài,đã theo một lối rẻ khác, không cùng chiến tuyến với bạn bè, nay đã “ trở về mái nhà xưa”, thú nhận rằng anh đã đạp xe theo đuôi một người bạn gái cùng lớp suốt thời gian dài sau giờ tan học mà không dám nói lời nào…
Anh bạn Tú châm chọc:
“Hồi đó hỏng dám nói thì bây giờ cứ nói đại hết đi, đối mặt nhau rồi đó…”  Vừa nói, Tú vừa ngước nhìn nhỏ Phương cười hì hì…Nhỏ Phương ,được bạn bè trêu chọc là “ té củng ra thơ” vội vàng lên tiếng:
“Năm mươi năm vẫn thờ ơ,
          Vì hai quan điểm  đôi bờ cách ngăn.
                   Gặp lại nhau quá ngỡ ngàng,
          Vì Người đâu phải kẻ sang quên hèn
                   Nhắc chuyện cũ Người thở than:
          “ Xin đừng cố chấp kẻ mang nợ đời,
                   Thời gian còn ít bạn ơi!
          Nên ta hãy cứ rong chơi tuổi già…”

 Hùng quay sang nhỏ Phương từ tốn:
“Cám ơn bạn đã thay lời muốn nói giùm tôi, bây giờ già cả rồi, còn yêu đương gì nữa, chỉ mong các bạn đừng cố chấp chuyện ngày xưa để giữ chút thâm tình còn sót lại”
Anh bạn An, hiện là “đại ca” của nhóm, nhanh nhẩu:
“ Đồng ý hoàn toàn với Hùng vì tất cả rồi cũng sẽ ra đi, chỉ có thâm tình là còn ở lại”
Rồi An quay sang nhìn nhỏ Phương với ánh mắt thật trìu mến, nhỏ giọng:
“Nhưng mà Phương  có còn một chút ân tình nào với “cây si An “ nầy không vậy?”
Nhỏ Phương chưa kịp trả lời An thì  một giọng nói nhừa nhựa vang lên:
“ Không được, phải hoàn toàn không chừa một chút nào cho An cả vì tất cả ân tình của Phương phải dành cho tôi, tên mục đồng Minh nầy, kẻ đã từng đi chăn trâu mướn từ nhỏ, mà lại muốn trở thành bạch mã hoàng tử của nàng công chúa ngủ ở lầu đài trong rừng…như một chuyện cổ tích. Giờ đây, giấc mơ đó đã không thành, tôi nhất quyết phải nói hết những điều thầm kín trong lòng để khi về với ông bà, tôi có thể yên lòng nhắm mắt…”
Minh nói như người say rượu nhưng ai cũng biết anh không say mà anh đang mắc bệnh nan y vào thời kỳ cuối,, mọi người nhìn anh thương cảm, quên mất nhỏ Phương đang quay đi che giấu hai giọt lệ trào ra khóe mắt, giọng nghẹn ngào:
 Chuyện đã xưa rồi, xin đừng nhắc nữa!
           Tóc bạc, da mồi, lưng mỏi, gối dùn…
           Tình đơn phương  hãy chôn chặt trong lòng
           Đó mới là tình yêu chân thật nhất!.

*Để xóa tan bầu không khí ãm đạm, nhỏ Huệ làm bộ cằn nhằn:
“Cái ông nầy, đang vui sao lại nói chuyện buồn, mà hồi đó, ông nào cũng nói si, nói yêu người cùng lớp, sao lúc cưới, thậm chí, chì là lúc cặp bồ, mấy ông cũng chọn mấy đứa lớp dưới tụi tui không vậy?”
Anh bạn Tú vỗ tay khen:
“Câu hỏi nầy hay quá, đáng cho 20/20 điểm”
Nảy giờ Hùng Đầu Bạc ngồi lặng thinh, giờ mới chậm rãi lên tiếng bênh vực cho phái mạnh:
“Tại vì các bà đâu có cho tụi tôi cơ hội để nói, vào lớp thì luôn ngó lên bảng và bàn thầy,ra đường thì mắc ngó mấy xe jeep,chở mấychàng mà trên vai áo dính đầy bông mai vàng trắng lấp lánh…”
Nhỏ Phương chống chế:
“ Trong dó hỏng có tui à nghen, ở trong lớp, tui mắc ngó xuống bàn chót để tim một người cao như cây tre miễu, đàn hay hát giỏi,dáng vẻ phong lưu, còn ra khỏi lớp thì mắc hái hoa bắt bướm, thả trôi theo dòng nước, mang ra biển cả mênh mông …”
Nhỏ Huệ phán xét chung cuộc:
“ Vậy thì hòa cả làng rồi nhe, ai còn nợ ai thì lần sau nói tiếp.  Cả bọn ra về vui vẻ….
Saigon  20/11/2014


Áo một tà- Lê thị Tuyết Hồng



Cuối năm trời hơi se lạnh làm tôi nhớ Tây Ninh da diết, quê hương yêu dấu của bọn tôi. Nơi chúng tôi ở , gần núi Bà Đen, có năm mùa đông sương mù dầy đặc, đường đến trường thấp thoáng trong sương, đồng phục áo dài không đủ ấm, tôi và nhỏ Kim Hương hể thấy đống lữa nào dọc đường là ngừng lại để sưởi ấm đôi tay. Những đống lữa nầy được người ta gom lại theo dọc đường rồi đốt lên, gọi nôm na là “ đống un “ gồm rác lá cây gòn, dăm bào, mạt cưa…của một số nhà làm nghề mộc gần đó thảy ra. Đường đến trường ở quê tôi không đẹp lắm, nhưng vào những ngày cuối năm trời sắp sang xuân đủ làm cho người có tâm hồn nghệ sĩ cũng cảm thấy ngây ngây, xa xa là núi Bà mờ mờ bị che bởi những áng mây, bên đường di với nhiều đống un nằm rãi rát cách nhau , đang nhả những ngụm khói tựa bên những cây có tàn lá nhô ra che mát con đường, một bên là dãy nhà phố với vài hàng quán dọn vội ra để bán món ăn sáng cho người đi làm sớm….. và cứ thế trên đường đến trường hể thấy “ đống un “ nào là bọn tôi ngừng lại , ngồi xổm xuông để hơi đôi bàn tay lạnh cóng, kết quả là người thơm lừng mùi khói, đến gói xôi mang theo treo lủng lẵng trước xe cũng bị ám khói. Cho đến giờ mùi nồng nồng, cay cay của lá gòn, dăm bào, mạt cưa ngày nào đó nhắm mắt lại tôi cũng cảm nhận được.

Nhỏ Hương người thấp nhỏ, học cùng lớp từ Đệ Thất , ngồi cạnh nhau, là tay ăn hàng vặt một cây, giống tôi nên tôi và nó rất thân nhau, nhà nó và tôi hơi xa nhau nhưng ngày nào nó cũng đạp xe đến nhà tôi rủ nhau cùng đến trường, hai đứa lúc nào cũng bên nhau, tụi bạn cùng lớp thường gọi đùa 2 đứa tôi là “ Binh Méo, Cai Tròn “ .

Cái vụ nhờ “ đống un “ để sưởi ấm đôi bàn tay đó làm bọn tôi đến trường thường hay sát nút, phải chạy vắt giò lên cổ khi tiếng trống trường báo hiệu tập trung trước sân để chào cờ, chỉ đến khi nhỏ Hương thừa hưởng được chiếc “ Mobylette “ hiệu CoLoSi của anh nó để lại sau khi được nhà cho lên dời “ HonDa “ để cùng đèo nhau đến trường mới hết…Nhỏ Hương làm biếng thấy ghê, nó chỉ chạy từ nhà nó đến nhà tôi, sau đó là đổi tài, làm tôi có nhiều lúc phải è cổ đạp một hồi đổ mồi hôi chiếc CoLoSi mới chịu nổ máy.

Có chiếc CoLoSi của nhỏ Hương cũng đở phải đến trường muộn , củng đở còng lưng trên chiếc xe đạp cà tàng. Nhưng cũng có lần nó làm chúng tôi một phen hoảng vía…Số là một ngày nọ, đổi tài lại, bắt nhỏ Hương chở tôi, đang bon bon ngon trớn, bổng nghe một cái “ Phựt “ xe lảo đão, loang choạng muốn ngã, suýt té . Dừng xe lại, nhỏ Hương mặt mày xanh lè, tôi cũng thất kinh, ngơ ngác xuống xe, tự thấy hình như thiếu thiếu cái gì đó, nhìn vào bánh xe sau của CoLoSi thấy có một cục vãi trắng bùi nhùi dính trong căm xe, nhìn lại mình thì …ôi thôi mình đang lăng xê mode áo dài một tà trông thật buồn cười. Cũng may là áo cũ , vải mục, cuốn vào đùm xe, không thôi 2 đứa chắc đo đường, mặt mày không nhìn ra, răng đi một nơi , người đi một nẻo. Bẻn lẽn không dám vào lớp, vén lấy tà trước kéo vòng ra sau đứng ngẩn người ra. Nhỏ Hương sau phút hoảng hồn nhìn tôi tủm tỉm cười “ Ê-Hồng mày lăng xê mode áo đài một tà sau …trông cũng ngộ ngộ, hay hay …!!!! đó “….” Con quỹ, ngượng muốn chết nè, còn ở đó chọc quê tao...

Lê Tấn Tài : Hát Bội và Cải Lương Ngày Xưa Ở Quê Tôi


vở CL'Tô Ánh Nguyệt"
(hình minh họa)
Hồi ký của Lê Tấn Tài

Tôi và hiền nội cùng một số đồng hương Tây Ninh tham dự đêm cải lương ”Tình nghệ sĩ 5” do các anh chị em nghệ sĩ cải lương như soạn giả Trúc Quân, nữ nghệ sĩ Ngọc Hà tổ chức, cùng với các nghệ sĩ Quang Châu, Minh Hưởng, Ngọc Lan, Ngọc Diệp... trình diễn 7 trích đoạn của những vở tuồng cải lương nổi tiếng trước 1975 tại quê nhà.
 Buổi trình diễn tại Trotting Recreation Hall, Bankstown, NSW, Úc Châu, tuy có vài trục trặc nhỏ về âm thanh, nhưng có thể nói là rất thành công về nghệ thuật, chứng tỏ một tấm lòng đầy nhiệt tình của các anh chị em nghệ sĩ cải lương. Sống trên một quê hương mới, rất bận bịu về sanh kế hằng ngày, mà các anh chị em nghệ sĩ đã dành thời giờ quí báu để tập dợt, học tuồng chu đáo, làm cho buổi diễn rất thành công, khán giả liên tục vỗ tay khen thưởng và cổ võ. Sân khấu được trang trí, tuy không rực rở, qui mô và lộng lẫy như những đoàn hát lớn, nhưng đã gợi lại phong cảnh thân yêu của quê nhà. Buổi trình diễn, tuy không có cái hoành tráng của một “đại bang”, nhưng nghệ sĩ đã diễn lại được những nét gay cấn của vở tuồng ngày xưa.

Tôi thả hồn theo tiếng nhạc du dương, lời ca trầm bổng với những hơi ngân vang thảnh thót của nữ nghệ sĩ Ngọc Hà, Ngọc Lan, Ngọc Diệp...  hoặc những đoạn xuống giọng rất “mùi”” của Quang Châu, Minh Hưởng, đưa tôi về dỉ vảng xa xưa của thuở thanh bình trên quê hương Tây Ninh. Khoảng 1954-1960, thuở chưa có giặc giả nổi lên, đời sống miền quê yên hưởng  cảnh thanh bình với những đêm hát bội cúng đình ở làng Hiệp Ninh. Cũng có gánh hát bội và cải lương nhỏ, loại gánh hát “bầu tèo”” lưu diễn tại nhà lồng chợ, như chợ Mít Một gần nhà tôi. Trong đêm thanh trăng tỏ, phong cảnh hữu tình, sanh hoạt “đờn ca tài tử” do nhóm nghệ sĩ trong xóm Trường Đua tụ họp tại một nhà nào đó để vui chơi văn nghệ với đôi bài ca vọng cổ. Đoàn bán thuốc “cao đơn hoàn tán”” của nhà thuốc Đại Từ Bi, Đào Nguyên có diễn tuồng cải lương cũng được bà con trong xóm tham dự đông đảo. Những sanh hoạt hát bội, cải lương của gần 50 năm trước tại quê nhà đã lưu vào lòng tôi kỷ niệm đầy êm đềm. Nhất là những kỷ niệm đó in đậm hình ảnh của má tôi, một người đàn bà học vấn ít ỏi, nhưng đã hấp thu đạo lý thánh hiền qua hát bội, cải lương với các vai trung trinh tiết liệt, tam tòng tứ đức của Khổng Mạnh để trở thành người mẹ nhân hậu, hiền thục. Tôi viết các dòng nầy với tấm lòng xúc động. Trí tôi hiển hiện cảnh rất thân thương của má tôi và các người bạn quê chơn chất của má tôi, mộc mạc mà hồn nhiên, chơn tình, rất say mê hát bội, cải lương. Trí tôi, lòng tôi mơ màng về  một dĩ vãng 50 năm trước, sống lại một thuở bình yên với sanh hoạt hát bội, cải lương trên vùng đất quê hương tuy không trù phú, nhưng lời ca, tiếng đờn của bản “vọng cổ” đã thấm vào máu thịt của người dân.

Hát bội (hay hát bộ?)

Quê ngoại tôi ở Bến Cầu, quận Gò Dầu, một vùng trù phú, bát ngát đồng ruộng. Sau những ngày bận rộn với gặt hái cuối năm, tháng giêng là tháng ăn chơi, mọi nhà vui chơi sau 3 ngày Tết cho đến rằm tháng giêng. Cũng trong khoảng thời gian nầy, ban Hội Tề của làng bận rộn chuẩn bị kỳ yên, cúng đình, tạ ơn thần Thành Hoàng đã phù hộ nông gia được mưa thuận gió hòa, mùa lúa năm đó được trúng vụ. Nhà nông thâu hoạch, làm ăn khấm khá. Trong dịp cúng đình, tưng bừng, náo nhiệt nhứt là đêm hát bội tại sân đình. Những đêm đi xem hát bội là thú tiêu khiển của một vùng quê, xa thành thị. Đây là phương tiện giải trí rất hiếm hoi, mỗi năm chỉ có một lần. Hát bội đã trở thành gần gủi, thân quen với má tôi. Thời gian nầy, chiếu bóng, radio, truyền hình chưa được phổ biến.

Má tôi từ giả Bến Cầu để lập gia đình với ba tôi, nhà ở tại Trường Đua, làng Hiệp Ninh thì má đi xem hát được thuận tiện hơn ở Bến Cầu, vì nhà ở gần chợ Mít Một và đình Hiệp Ninh, nơi trình diễn hát bội. Đình Hiệp Ninh là một ngôi đình lớn, kiến trúc khá công phu và chắc chắn, với mái ngói đỏ au, nhiều cây cột làm bằng danh mộc to lớn mà vòng tay ôm của một người không giáp. Đình Hiệp Ninh nằm phía bên tay phải của quốc lộ 22, theo hướng Sài gòn - Tây Ninh, đối diện xéo xéo trường trung học Công Lập Tây Ninh, giữa ngả tư Cửa Đồn và Văn phòng Khâm Châu Đạo, Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, Tòa Thánh Tây Ninh. Ngôi đình tọa lạc trên triền đồi cao ráo, ngó xuống phía dưới là đồng ruộng chạy dài, thoai thoải ngút ngàn, bao trùm hai bên bờ sông Vàm Cỏ Đông cho đến tận làng Thanh Điền, Long Thành Nam, sau khi đã vượt qua làng Hiệp Ninh. Xung quanh đình, thấp thoáng những chòm cây sao, cây dầu cổ thụ, tỏa bóng mát rượi quanh năm. Sân đình là nơi dân làng đi tạt qua, ghé nghỉ chơn và trú nắng. Đình có hàng hiên cao, rộng , thoáng mát, cũng là nơi hẹn hò của các cặp học sinh nam nữ trong tuổi mộng mơ, tìm đến nơi nầy để tâm tình, trao đổi những lời hò hẹn, những ánh mắt nai tơ chưa vướng bụi sầu, trao nhau với nhiều mộng ước lứa đôi đẹp đẻ. Phía sau đình, ăn thông ra một con đường trải đá đỏ. Ngày nay, đường nầy đã được tráng nhựa bằng phẳng. Con đường nầy nối liền Bộng Dầu với ngả tư Ao Hồ, chạy suốt đến chợ Long Hoa, sau khi xuyên qua ngả tẻ ở Giếng Mạch.

Đình Hiệp Ninh còn là điểm sanh hoạt gần gủi, gắn bó của dân làng trong các lễ kỳ yên, cúng đình. Theo cổ lệ, hằng năm, mỗi khi cúng đình, ban hội tề đều rước gánh hát bội danh tiếng ở Sài Gòn về hát. Ngày cúng đình, ban Hội Tề dựng một rạp lớn làm sân khấu lộ thiên để cho gánh hát bội diễn. Tôi không nhớ tên của gánh hát, cũng như tên của đào kép, nhưng các tuồng hát thì tôi không bao giờ quên. Đó là các tuồng hát rất nỗi tiếng, trích từ truyện Tàu, như Phụng Nghi Đình (tức Lữ Bố Hí Điêu Thuyền), Tiết Đinh San cầu Phàn Lê Huê, Thần Nữ dâng Ngủ Linh Kỳ... Tôi đi theo ba má coi hát bội ở sân đình. Gia đình ăn cơm sớm trước khi mặt trời lặn. Đồng thời, căn dặn chú tám Lung sẵn sàng một cổ xe ngựa. Chiếc xe ngựa chạy lộc cộc, lạch cạch trên đường nhựa từ Trường Đua đến đình Hiệp Ninh dài khoảng 4 cây số. Đoạn đường nầy tấp nập người đi xem hát trong đêm cúng đình. Những lần đi theo gia đình coi hát bội, tôi rất thích thú. Tôi thích nhất tuồng Thần Nữ dâng Ngủ Linh Kỳ. Người nữ nghệ sĩ đóng vai Thần Nữ là đào nhứt, ca hay, múa võ giỏi, mặc áo bào rất đẹp, đầu đội mũ có gắn hột pha lê lắp lánh dưới ánh đèn màu, phía sau lưng còn giắt thêm mấy lá cờ nhiều màu sắc. Tất cả thật là lộng lẫy, uy nghi. Màn hấp dẫn và thích thú nhứt là cô đào đóng vai Thần Nữ, sau khi hát, múa với với những đường quyền linh động, cô bắt đầu “đi gối để dâng Ngủ Linh Kỳ lên nữ Nguyên Soái Phàn Lê Huê, xin tha tội chết cho người yêu là Tiết Ứng Luông. Cảnh trí trên sân khấu rất rực rở và trang nghiêm. Tuy sân khấu lộ thiên, rất khó giữ im lặng vì xung quanh là khán giả dầy đặc, vừa người lớn và trẻ em đông nghẹt, nhưng đến màn nầy, toàn thể khán giả im phăng phắc để tập trung theo dõi tài nghệ diễn xuất của các đào kép danh tiếng. Tôi tưởng chừng đã hòa mình vào trong khối khán giả đang say mê, trân trọng, nâng niu từng điệu múa, lời ca theo nhịp đờn, tiếng trống.

Hát bội tại buổi cúng đình Hiệp Ninh chỉ mỗi năm một lần. Các gánh hát bội nhỏ, loại “”gánh hát bầu tèo”” thường lưu diễn ở nhà lồng chợ, như chợ Thương Binh (gần Nội Ô Tòa Thánh), chợ Mít Một. Chợ Mít Một nằm ở ngả ba Mít Một, từ quốc lộ 22 có con đường trải đá xanh chạy dài qua ngả tư Ao Hồ, trường Lê Văn Trung, rồi qua cửa số 7 để vào Nội Ô Tòa Thánh. Chợ họp mỗi ngày từ sáng sớm. Người bán đa số là các tiểu thương có tiệm xung quanh chợ, bày bán các món hàng gia dụng hằng ngày như gạo, muối, dầu hôi, nước mắm, khô, mắm, cá, thịt thà các loại trong những ngày ăn mặn, và đồ chay trong những ngày tín đồ Cao Đài ăn chay. Rau cải, trái cây phần nhiều đều còn tươi rói, mới vừa thu hoạch từ các liếp rau, khu vườn quanh nhà của bà con trong vùng. Đa số dân sống xung quanh Mít Một đều là tín đồ Cao Đài, thuộc phận đạo đệ tam. Cạnh bên chợ, phía bên tay trái, có một ngôi Thánh Thất nhỏ, xinh xắn, trang nghiêm, là nơi tín đồ Cao Đài dâng lễ cúng tứ thời vào các thời: Tý (12 giờ khuya), Ngọ (12 giờ trưa), Mẹo (6 giờ sáng), Dậu (6 giờ chiều), và các lễ cúng trong ngày sóc, vọng. Từ chợ Mít Một, xuôi theo đường quốc lộ 22 tráng nhựa bằng phẳng (từ hướng Tây Ninh đi Sài Gòn), sau khi vượt qua cánh đồng lúa xanh xanh và con dốc lài lài, sẽ dẫn đến xóm Trường Đua, nơi đó có cơ sở Phạm Nghiệp. Ngôi nhà ngói đỏ, vách tường sơn màu vàng hoa cúc, nằm khiêm nhường, đối diện hơi xéo về hướng Nam với Phạm Nghiệp, là nơi tôi mở mắt chào đời, khóc tiếng khóc đầu tiên và lớn lên với bao nhiêu kỷ niệm thân thương của thời niên thiếu. Đường quốc lộ 22 tiếp nối, băng qua cánh đồng lúa bát ngát. Bên tay mặt quốc lộ là ngôi chùa cổ Gò Kén (tên chữ hán là Từ Lâm Tự), nơi khai đạo của Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, tức đạo Cao Đài, ở giữa cánh đồng lúa xanh xanh đó.

Xin trở lại với những đêm hát tại nhà lồng chợ Mít Một. Mỗi khi có gánh hát bội về hát tại nhà lồng chợ Mít Một, chiều chiều, nhân viên của gánh hát ngồi trên một chiếc xe lôi đạp chạy về các làng lân cận, như làng Thái Hiệp Thạnh ở phía bắc, làng Long Thành Nam ở phía Nam, và làng Hiệp Ninh ở xung quanh chợ, vừa rải giấy quãng cáo có in hình nam nữ nghệ sĩ, vừa đánh trống thùng thùng inh ỏi cả làng, cả xóm. Một đám con nít chạy bám theo phía sau xe lôi để xin tờ quãng cáo. Trong đám con nít lăng xăng đó không bao giờ thiếu mặt tôi. Có khi, tôi còn xin phép leo lên xe lôi, ngồi bên cạnh anh nhân viên để phụ đánh trống, khỏ chiêng, phát chương trình giúp anh để “”lấy điểm”” với hi vọng tối nay, anh nhân viên soát vé cho vô “”coi cọp”” thì quá đã! Tờ chương trình buổi hát được in bằng mực đỏ, còn kèm theo ảnh của các nghệ sĩ nữa. Các nghệ sĩ là những “”thần tượng”” của lứa tuổi chúng tôi. Sau khi được tờ chương trình, tôi nâng niu ép vào tập sách, để khoe với bạn bè trong lớp học. Có khi, tờ chương trình còn được dán lên cửa cái, nơi mỗi ngày ra vô thường thấy, hoặc nơi nào đó cạnh bàn học. Tờ chương trình, tuy chỉ là cái giấy quãng cáo tầm thường, một vật bé mọn chẳng đáng giá chi, nhưng đối với tôi thật là quí, vì có in hình các nghệ sĩ, là người mà tôi ngưỡng mộ.

 Dần dần, hát bội phai tàn với sự ra đời của cải lương. Má tôi cũng chuyển hướng sang xem cải lương. Ở Trường Đua còn xuất hiện đờn ca tài tử, ca hát tại nhà trong những đêm thanh, trăng tỏ. Bác ba Lễ ở kế bên nhà tôi, mới vừa sắm được một giàn hát máy “cáu cạnh” hiệu “”con chó thổi kèn””. Thỉnh thoảng, đoàn bán thuốc “”cao đơn hoàn tán”” có kèm theo hát cải lương cũng về xóm Trường Đua trình diễn. Phong trào cải lương lớn mạnh với nhiều gánh hát đều đặn về trình diễn ở thị xã Tây Ninh và các thị trấn quanh vùng. Rạp hát Thanh Sơn được thiết trí sân khấu dành riêng cho cải lương trình diễn. Rạp nằm cạnh chợ cá, bên dòng kinh Tây Ninh hiền hòa, chảy song song với sông Vàm Cỏ Đông.

Đờn ca tài tử.

Trong xóm Trường Đua, các chú, các anh thành lập một ban tài tử, gồm có dượng út Khái, xử dụng đờn kìm, đờn cò, anh tư Pháo, xử dụng đờn guitar, anh Bi hát vọng cổ. Trong đêm trăng sáng lung linh, ban tài tử tụ hội tại nhà ông bà tư ở sau nhà tôi để đờn ca. Ông bà tư không có con, nên nhà vắng vẻ, mà ông bà cũng yêu thích văn nghệ, thích nghe ca vọng cổ. Ông bà nuôi nhiều gà, vịt. Hôm có ban tài tử đến ca hát, ông bà làm thịt con vịt Xiêm mập, nấu nồi cháo vịt lớn. Hương thơm từ nồi cháo vịt ở nhà bếp bay ra thơm lừng. Ban tài tử ngồi quây quần trên một tấm đệm trải trước sân nhà, bên cạnh dàn bầu sai trái. Ông bà tư và cô bác trong xóm thì ngồi trên một tấm đệm khác gần đó. Xung quanh các chú, các anh trong ban tài tử, là nhóm trẻ con học trò của chúng tôi cũng chộn rộn, háo hức chờ đợi. Tiếng đờn trầm bổng, réo rắt, hòa với giọng ca rất “”mùi”” của anh Bi, rót vào tai người mộ điệu bài vọng cổ trữ tình, khiến ai cũng hòa mình vào để thưởng thức bài ca vọng cổ thiệt là “”mùi””. Giọng ca của anh Bi đã chinh phục được trái tim của chị năm Nghề. Đám cưới của anh Bi và chị năm Nghề được tổ chức trọng thể tại nhà chú hai Mẹo sau đó. Thân bằng, quyến thuộc đi dự đám cưới được thưởng thức một buổi ca hát tài tử rất xôm tụ và vui vẻ.

Hát cải lương với giàn hát máy.

Bác ba Lễ có giàn hát máy hiệu “Columbia”, tức “con chó thổi kèn”. Bác có nhiều dĩa hát bội, hát cải lương. Bác ba là bà con của anh rể, chồng chị ba tôi. Thời đó, cả xóm chỉ độc nhất có gia đình bác là có giàn hát máy. Mỗi khi nhà có đám giổ hay tiệc tùng lớn thì bác mới hát, con nít bu lại chật nhà. Tôi là cháu, nên hảnh diện được phụ giúp bác lau bụi dĩa hát, mài kim hoặc lên dây thiều. Giàn máy hát của bác được gắn trong một cái tủ gỗ lớn, đánh vẹc ni bóng loáng. Phía dưới tủ là nơi bác cất giữ dĩa hát. Phía trên cùng là cái đầu máy, hình trón, lớn chừng bằng cái chén ăn cơm, có chỗ gắn kim. Bên dưới đầu máy thông với một cái loa, khuếch đại âm thanh cho lớn tiếng. Bên cạnh đầu máy có nhãn hiệu của máy hát bằng tiếng Anh: Columbia, chế tạo tại Hoa Kỳ, với hình một con chó đang thổi kèn, nên thường gọi nôm na là máy hát hiệu “con chó thổi kèn” là vậy. Khi hát, dĩa hát được đặt trên một cái mâm hình tròn. Khi dây thiều chạy, làm cái mâm tròn quây vòng vòng. Sau khi đặt dĩa lên mâm, dĩa xoay tròn, muốn lau dĩa cho sạch bụi, lấy một cái bàn chải mềm để chải bụi, rồi đặt đầu máy có kim nhọn trên đường rảnh tròn xoay quanh một cái tâm. Có khi đang hát ngon lành, rủi trong nhà hết kim mới thì mấy đứa trẻ xúm lại mài kim cũ đã lụt, tà đầu để xài lại. Cũng có khi gặp dĩa hát cũ, đã hát nhiều lần nên cái rảnh đã mòn, cây kim không chuyển qua rảnh kế được mà cứ chạy trên rảnh đã chạy, khiến máy phát ra âm thanh “cà lăm”, lập đi lập lại tiếng đờn, lời ca cho đến khi nào người điều khiển đẩy đầu máy vào rảnh kế thì giàn hát máy mới hết “cà lăm”. Tôi được bác ba giao cho việc mài kim, lên giây thiều, lau dĩa...  Những dĩa cải lương mà tôi còn nhớ:

·         Tô Ánh Nguyệt là dài nhứt, gồm có 17 dĩa. Hình như cô tư Soạn đóng vai Tô Ánh Nguyệt, Tám Thưa vai Tâm (người tình của Tô Ánh Nguyệt), Út Trà Ôn vai Minh, con trai của Tô Ánh Nguyệt và Tâm.

·         Hoa rơi cửa phật, hay chuyện tình Lan và Điệp. Mỗi khi hát tuồng nầy, tôi còn nhớ câu vọng cổ: “Em Lan ơi! có tội tình chi em phải chịu đọa ơ ơ... đày”. Kép hát xuống câu vọng cổ “ngọt xớt””, khiến cho câu hát nầy rất phổ biến thời đó. Trong sanh hoạt thường nhựt, khi gặp chuyện gì trớ trêu thì câu hát nầy được nhại lại để cho câu chuyện bớt căng thẳng.
·         Nguyệt Thu Nga. Tuồng nầy có vai nữ chánh là Nguyệt Thu Nga, còn có tên nữa là Lệ Dung. Một đoạn trong phần vọng cổ:

vai nam: “Khoan khoan bớ Nguyệt Thu Nga...
vai nữ: ... Vì sao ông biết rõ tên tôi...  quá tỏ tường...
vai nam: Hởi Lệ Dung, có phải em là Nguyệt Thu Nga, cái tên mà 6 năm qua nó đâm bông, nở nhụy trong quả tim ơ... ơ... nầy....”.

 Câu: “Khoan khoan bớ Nguyệt Thu Nga””thường được dùng để chọc ghẹo cô nào đó ngưng tay khi đang nổi giận.

·         Nguyễn Thái Học. Tuồng nầy hình như có kép mùi Minh Chí, kép Việt Hùng, cô đào Bạch Huệ đóng vai cô Giang thì phải? Tôi không nhớ rõ, nhưng xin ghi nhận kép mùi Minh Chí có giọng ca rất ấm và cao, rất “mùi”.

·         Sầu vương biên ải: 20 câu vọng cổ, do Út Trà Ôn ca.  Đặc biệt trong thời gian nầy, vọng cổ có 20 câu, chứ không phải 6 câu như bây giờ. Bản vọng cổ “sầu vương biên ải” rất nỗi tiếng, với giọng ca mùi của đệ nhứt danh ca Út Trà Ôn, bằng những lời nói lối và “vô vọng cổ”” như sau:

 Nói lối: Than ôi, nhìn trời hiu quạnh, rừng đêm sương gió lạnh, hướng quê nhà lòng thêm chạnh tủi niềm riêng...

Vô vọng cổ: Em ôi! xa xôi xin em giữ vẹn hương... nguyền”.

Đoàn hát bán cao đơn hoàn tán”

Xóm Trường Đua thỉnh thoảng có đoàn hát đến quảng cáo và bán thuốc của nhà thuốc Đại Từ Bi, hoặc Đào Nguyên. Các đoàn nầy, ngoài phần chánh là quảng cáo và bán thuốc, đoàn còn diễn vài trích đoạn trong các tuồng cải lương, như Lâm Sanh  - Xuân Nương, Lục Vân Tiên... Đoàn tụ tập khán giả bằng cách cho xe lôi chạy vòng vòng trong xóm lúc chiều để thông báo: Tối nay, đoàn sẽ bán thuốc tại sân đá banh  “Cây Xay’, ngay phía sau vòng rào của Phạm Nghiệp. Đoàn sẽ hát cải lương để đồng bào xem chơi. Đến tối, đoàn bày trên cái bàn nhỏ các loại thuốc “cao đơn hoàn tán”” trị bệnh đau lưng, nhức mỏi, đau đầu, nhức răng, dưỡng thai... dưới ánh đèn khí đá chập chờn. Nếu đoàn nào khá thì có đèn “măng -  sông” sáng rực cả một góc sân banh. Xung quanh đoàn là các cô bác, trẻ con trong xóm. Ai có chuẩn bị thì đem theo cái ghế một, ngồi vắt chơn chữ ngũ thoải mái, còn người nào không có ghế thì ngồi chồm hổm ngay trên sân cỏ. Có phụ nữ ẩm con nhỏ đi theo, thản nhiên vạch vú cho con bú. Hôm nào bán thuốc không khá, ông trưởng đoàn bày ra cảnh Xuân Nương dẫn mẹ chồng đi vòng vòng xung quanh khán giả xin tiền “bố thí”. Xuân Nương vừa dắt mẹ chồng, vừa hát vọng cổ. Bà con khán giả động lòng từ bi, không mua thuốc, nhưng rộng tay bố thí cho kẻ “cơ hàn”” như mẹ con Xuân Nương. Tình cảm nồng hậu của khán giả dành cho đào kép nghèo, sống trong cảnh “gạo chợ, nước sông” một cách chơn tình và sâu đậm.

Đoàn hát nhỏ, sống kiếp “tằm phải trả nợ tơ” trong cuộc đời “gạo chợ, nước sông”” ghi đậm trong ký ức tôi, là đoàn Mộng Vân khi về hát lâu dài tại nhà lồng chợ Mít Một. Đoàn Mộng Vân có nhiều đào kép với tên tuổi khá nỗi tiếng (hình như có chị em cô đào Hoài Dung, Hoài Mỹ?), hát nhiều vở tuồng chiến tranh với nhiều “xảo thuật”” tân kỳ vào thời đó. Đoàn đã “bám trụ” khá lâu tại chợ Mít Một. Tôi không nhớ tên các vở tuồng, kể cả tên của đào kép. Lúc đó, tôi đang học trường Lê Văn Trung. Mỗi ngày tôi thường cởi xe đạp đi qua chợ Mít Một. Mỗi chiều, đoàn đều có rải giấy quảng cáo trước cửa nhà tôi. Khi thấy chiếc xe lôi đạp có chở nhân viên quãng cáo đánh trống thùng thùng với đoàn con nít chạy bu phía sau, thì tối đó, thế nào tôi cũng lén lên chợ xem cải lương. Điều còn nhớ là năm đó (1956-1957), tôi đang học lớp tiếp liên, là lớp bận rộn để luyện thi vào đệ thất trường trung học công lập Tây Ninh.

Trong thời gian nầy, thị xã Tây Ninh chưa có rạp cải lương lớn, với sân khấu đàng hoàng cho ngành cải lương trình diễn. Các đoàn cải lương nhỏ thường lưu diễn ở nhà lồng chợ, như chợ Thương Binh (gần Tòa Thánh), chợ Mít Một... Có một rạp hát nhỏ của thầy giáo Nguyễn Văn Hảo, gần Bộng Dầu... Đây là rạp chiếu bóng, nhưng thỉnh thoảng có hát cải lương. Tại thị xã Tây Ninh có rạp chiếu bóng Lạc Thanh nằm trên khoảng cuối đường Gia Long, gần ngả ba tẻ về Trảng Lớn, (đường đi lên Thành Mới), ngả kia đi về Cao Xá. Ở phía đối diện rạp Lạc Thanh là bến xe đò Tây Ninh - Sài Gòn, với các hảng xe đò nỗi tiếng và quen thuộc của người Tây Ninh, như Tân Nguyên Thành, Tân Hưng...

Từ năm 1956, Tây Ninh mới có rạp hát cải lương Thanh Sơn, rạp dành riêng cho ngành sân khấu cải lương. Rạp hát Thanh Sơn ở cạnh chợ mới, một phía với chợ cá. Chợ cá được cất chồm  ra trên bờ kinh Tây Ninh. Muốn đi xem cải lương ở rạp Thanh Sơn, khán giả từ các làng lân cận thường đi xe lôi gắn máy. Xe lôi được kéo bằng xe gắn máy (hiệu Follis) rất mạnh, có thể chở được 5 - 7 người. Xe lôi xuôi dốc tòa Hành Chánh, vượt qua Cầu Quan, băng qua đường Gia Long, chạy đến cuối đường rồi quẹo trái trước rạp Lạc Thanh, vòng qua chợ mới đến mé kinh thì tới rạp Thanh Sơn. Các “đại bang” cải lương như Hoa Sen, Thanh Minh, Thủ Đô, Dạ Lý Hương... đều có  trình diễn nơi rạp nầy.

Các đoàn cải lương lớn thì có cách quảng cáo hiệu quả và hấp dẫn hơn các đoàn nhỏ rất nhiều. Đoàn dùng một chiếc xe cam - nhông- nết, có gắn loa phóng thanh phát ra các bài vọng cổ nỗi tiếng và “mùi”” tận mạng. Âm thanh của loa vang vọng tới tận cùng của miền ruộng rẩy, cách xa mấy cây số vẫn nghe rõ mồn một. Bên hông xe lại treo tranh sơn thủy, màu sắc rực rỡ với hàng chữ quảng cáo tuồng đang trình diễn. Đoàn cũng phân phát các tờ quãng cáo có sơ lược cốt chuyện và hình của nghệ sĩ cải lương in nhiều màu rất đẹp.

Mỗi khi đoàn cải lương lớn về hát ở rạp Thanh Sơn, má tôi và các bác cùng xóm đã rủ nhau mua vé từ sáng sớm. Dượng hai chạy xe lôi gắn máy lảnh phần mua vé và đưa rước đoàn. Khoảng chạng vạng tối, sau khi ăn cơm chiều xong, má tôi cùng với thiếm hai Gần, dì tám, bác bảy Lục, bác ba Mành đã còm-măng xe lôi của dượng hai từ trước, để đưa rước đoàn người đi coi cải lương. Các bác rất say mê cải lương. Má tôi và các bác không quên chuẩn bị trầu, cau, thuốc xỉa và một cái lon sữa bò làm ống nhổ. Tội nghiệp, các bác rất thích cải lương, nên không có đoàn hát nào về hát ở rạp Thanh Sơn mà các bác không đi coi. Thương nhứt là bác bảy Lục, ban ngày bác ra ruộng làm việc vất vả, đến tối thì bác mệt đừ, hai cặp mắt nhướn hết lên, nên coi hát được một lúc thì bác ngủ thiếp đi cho đến khi vãn hát. Các bác bên cạnh đánh thức bác dậy để lên xe lôi đi về nhà. Sáng sớm hôm sau bác lại ra đồng làm việc tiếp tục. Tuy nhiên, bác cũng không quên căn dặn, đêm cải lương tối nay, nhớ mua vé cho bác để bác cùng đi. Đêm nào má tôi và các bác rủ nhau đi coi cải lương, bác bảy Lục cũng háo hức tham gia, mà đêm nào bác cũng chìm vào giấc ngủ mệt nhoài, miệng thì vẫn ngậm miếng trầu, nước dải đỏ lòm thấm hai bên mép. Bác không biết trên sân khấu, đào kép thượng thặng đang đem hết tài năng để trình diễn vở tuồng cải lương “tình cảm, xã hội” gay cấn, hồi hộp, mà hồn bác đang bay bỗng vào chốn nào đó với cõi đam mê một ngành sân khấu thân quen mà sanh hoạt đã thấm vào máu thịt, vào tâm hồn của người “Nam Kỳ Lục Tỉnh”. Sự say mê cải lương đã gắn chặt tâm hồn bác với các buổi xem hát, dù ngủ gục, nhưng bác không bao giờ vắng mặt trong bất kỳ đêm cải lương nào mà má tôi và các bác khác tham dự ở rạp Thanh Sơn.

Trong khoảng thời gian từ 1968 - 1975, sau khi tốt nghiệp ban Đốc Sự tại học viện Quốc Gia Hành Chánh, tôi được bổ về làm việc tại Tối Cao Pháp Viện, má tôi rời Tây Ninh, xuống Sài Gòn sống chung với anh em chúng tôi. Từ đấy, má tôi có thể đi coi cải lương ở rạp hát Hưng Đạo, đường Trần Hưng Đạo, gần bến xe đò miền Đông. Từ nhà tôi đến rạp hát cũng không xa mấy. Vả lại, lúc nầy, tôi có thể đưa má tôi đi xem hát bằng xe hơi thoải mái, chứ không phải ngồi xe lôi máy, vừa dằn và vừa bị mưa gió ướt át như những ngày ở Tây Ninh . Tuy nhiên, má tôi đi xem vài lần, nhưng bà cũng không còn thấy thích thú nữa. Có lẽ, cái thú được chia xẻ với các người bạn những miếng trầu, những câu chuyện mộc mạc của đồng áng nay không còn nữa. Má tôi đã mất cái hứng thú hồn nhiên đó. Má tôi mất đi những kỷ niệm trân quý, những tình cảm thân thiết mà má tôi đã cùng chia sẻ với những người bạn của thuở cơ hàn.
cố NS Thanh Nga


Nhân đây, tôi cũng xin phép được dành đôi dòng để tưởng niệm cố nữ nghệ sĩ tài danh Thanh Nga và thân mẫu, là bà Nguyễn Thị Thơ, đã đóng góp lớn lao cho nền sân khấu cải lương Việt Nam. Cái chết của cố nữ nghệ sĩ Thanh Nga là một thiệt thòi lớn cho sanh hoạt sân khấu cải lương, đồng thời cũng là một mất mát lớn cho khán giả đã say mê giọng ca truyền cảm, sự trình diễn tuyệt vời của cô trên sân khấu “đại bang” Thanh Minh Thanh Nga”. Bài hồi ký nầy không thể không ghi nhận sự hảnh diện của người Tây Ninh về một quê nghèo, nhưng cũng là nơi sanh quán của nữ danh ca tài sắc vẹn toàn Thanh Nga, đã là ngôi sao sáng rực rỡ trên sân khấu cải lương Thanh Minh Thanh Nga, mà giám đốc là bà Nguyễn Thị Thơ, thường được giới báo chí và người bình dân gọi là bà bầu Thơ, cũng là một đồng hương Tây Ninh./

KÍNH MỜI XEM và HỌA (NẾU THÍCH) THƠ TRĂNG THU của HỒ NGUYỄN

TRĂNG THU Mây buồn kéo đám bám che trăng, Cuội ngóng chờ trông bóng chị Hằng. Chim mất tổ sầu kêu thảm thiết, Lá buông cành chiếc rớt tung ...