Thứ Tư, 21 tháng 10, 2026

Kính Mời Đọc Thơ THU CẢM của ĐÔNG A HỒ NGUYỄN Và Các Thi Hửu HỌA

 

THU CẢM

Mùa Thu cứ trở lại nơi này

Đổ lá vàng cho gió thổi bay

Mây trắng lồng xương trơ nắng héo

Cỏ xanh hứng giọt lạnh sương đầy

Chân xa mãi ướt qua trăm lối

Mắt mỏi dần khô ngóng những ngày

Cách trở quê hương chừng mấy bước

Sao nghe dằng dặc nỗi riêng tây?

Đông A (17/10/26)

HỌA: NHỚ THU

Thu đến thu rơi ở chốn này,

Lá vàng rời nhánh kéo nhau bay.

Mùa sang lưu ấn tim neo héo,

Kỷ niệm thương đau chất ngất đầy.

Ai đã rời đi xa cách lối,

Đây thân đơn lẽ xót bao ngày.

Quê hương gợi nhớ khôn ngui bước,

Kẻ đứng trời Đông ngóng hướng Tây.

                                *

Nhớ thu ai hiểu thấu cho đây?

HỒ NGUYỄN (18-10-2026)


   MỘT CHÚT SẦU THU.
   
  Ồ nhỉ, thu phong đã tới này 
     Áo ai vàng tựa lá đang bay
     Nơi xưa sương sớm hơn mùa lạnh
     Chốn cũ mây chưa thả bóng đầy
     Chờ mãi ngô đồng rơi thiếu nắng
     Mong hoài hoàng điệp rụng thưa ngày
     Hoá ra thì khách  còn vương vấn 
     Một chút sầu Đông Á viễn tây  … 
           
Utah  18 - 10 - 2026
                CAO MỴN

HU HOÀI CẢM

 

Đổi tiết Thu sang ở chốn này

Lá vàng rơi rụng gió tung bay

Lang thang mây trắng trơ lòng héo

Man mác trời xanh buốt dạ đầy

Chậu cúc sương đùa vương nỗi nhớ

Hàng tre gió gợn đọng niềm tây

Tơ lòng ray rứt mùa thu trước

Vương vấn hồn thơ những tháng ngày

Songquang

 20261016

 

THU SẺ NIỀM

   (4 vận)

 

Thu đến cứ đâu chỉ chốn này

Nơi nào lá úa chả vàng bay

Ảo mờ sương lạnh nhòa bờ lũy

Lắc thắc mưa rầu  thấm ngọn may

Đời lấn tuổi đeo, thân xuống bóng

Mùa theo tên bắn, lịch sang ngày...

Thương người xa xứ sầu miên viễn

Day trở niềm riêng chứa chất đầy!?

Nguyễn Huy Khôi

     17-10-2026

 

TRÊN ĐỒI QUỲ BẢO LỘC

 

Thân thuộc làm sao, lối dốc này

Nhẹ nhàng chân bước, tóc bay bay

Quỳnh vàng nở rộ, hoa vàng ngập

Bướm trắng xôn xao, cánh trắng đầy

Ngày trước chung đôi, tròn mộng đắm

Bây giờ lẻ bóng, lặng niềm tây

Tìm về kỷ niệm thời êm ấm

Tiếp sức đi thêm nốt tháng ngày...

  Sông Thu

( 17/10/2026 )

 

HỒN CÔ PHỤ

       " Người ta vá áo bằng kim

Chàng ơi!!!...em hỏi VÁ TIM bằng gì?"

 

Xa nàng tự thuở tóc mây...bay

Giờ lạnh đất nâu ngụ xứ này!

Nhân ảnh hòa tan mầu nắng rỡ

Hương linh ủ ấp ánh trăng đầy!

Áo mồ chưa nhạt nhòa hoa lá

Sắc máu còn tươi sáng cỏ cây!

Thiếu phụ ngồi bên trời vá phận

Nhặt đau liệm bóng!...gói theo ngày!

Nguyễn Huy Khôi

     17-10-2026

 

CHẲNG PHẢI MÙA THU

 

Chẳng phải mùa thu ở chốn này

Dù rằng có úa rụng vàng bay

Sương mù rợn sớm lờ mờ thoảng

Nắng rực hừng trưa bức bối đầy

Lá vẫn ngời xanh cây rậm lối

Hoa luôn ngát thắm nụ tươi ngày

Riêng người tất bật cùng mưa gió

Dạ héo hon vì mộng viễn tây

Lý Đức Quỳnh

   17/10/2026 


KẺ SI TÌNH.

 

Em xinh,đứng tựa gốc me tây

Khiến gã thư sinh mộng ước đầy

Tóc ngắn ngang vai tay nhẹ vuốt

Áo tà chấm gót gió vờn bay

Lòng đà lưu luyến chờ từng buổi

Dạ đã xuyến xao đợi mỗi ngày

Toả nắng nụ cười,da trắng mịn

Nàng ơi! có hiểu kẻ si này.

     LAN.

(17/10/2026) 


THU CẢM

 

Mưa Thu lại đến nữa nơi nầy

Song cửa nhìn ra đếm lá bay...

Nhà vắng cô đơn buồn ảo nảo...

Mưa chiều rã rích lá rơi đầy.

Tuổi già quạnh quẻ lòng se thắt

Bạn hữu đồng liêu cũng tháng ngày...

Cuộc sống về chiều chung cảnh ngộ,

Thời gian không đợi phải chia tay...

Mỹ Nga

   17/10/2026  ÂL,07/09/ Bính Ngọ.

 

THU BUỒN

 

Thu về se lạnh mấy đêm này

Lất phất sương mờ ngọn gió bay

Vàng ửng lá mùa rơi lát đát

Xanh mơ hàng chuối trái chen đầy

Thuyền đưa biền biệt từ yêu đến !

Lưu lạc phương xa rõ tháng ngày

Cố quốc hướng nhìn sầu nhớ tiếc

Đậm buồn oán hận sống trời tây !…

  Yên Hà

17/10/2026

 

AI NGỒI ƯƠM MỘNG

 

Phong thay áo đỏ, cúc vàng này

Cũng nắm tay nhau nhắm hướng tây

Chiều xuống đìu hiu cành tiễn lá

Mưa rơi nhè nhẹ cánh chim bay

Sương mờ lãng đãng như làn khói

Mây lướt thướt trôi chở gió đầy

Thu đến mang theo bao kỷ niệm

Ai ngồi ươm mộng ngóng mơ ngày…

Kiều Mộng Hà

  Oct.17.2026

 

CẢM THU

(Hoạ vận)

 

Bơ vơ bầy nhạn lạc phương này,

Dưới khóm lá vàng vỗ cánh bay.

Về núi xa xăm nương gió nhẹ,

Theo mây lơ lửng phủ sương đầy.

Chim kêu tìm bạn trên sườn dốc,

Ta mãi nhớ nhà giữa tháng ngày…

Thu cảm quạnh hiu buồn viễn xứ,

Nỗi niềm tâm sự ở trời Tây.

Ngô Văn Giai

 California, October 17/2026. 


THU CẢM

 

Thu tiết chia hai ở chốn này

Gió thường lặng lẽ có tung bay

Lá xanh dang nắng nên vàng nhạt

Trời nóng gặp mưa trở lạnh đầy

Sau Hạ khô khan thêm mấy tháng

Cận Đông ướt át được nhiều ngày

Sống nơi khí hậu hơi kỳ cục

Thu cảm song đôi tự viễn tây!

(Phan Thượng Hải)

       10/18/26

Giai Thoại Văn Chương : SỬA THƠ TRONG MƠ (Đỗ Chiêu Đức biên soan)

 Giai Thoại Văn Chương : 

                      SỬA THƠ TRONG MƠ
                                
                          


       Năm Đại Hòa thứ 6 (832) đời Đường, chàng thư sinh thi sĩ Hứa Dụng Hối 許 用 晦 trúng cử Tiển Sĩ Cập Đệ, đang lúc thanh vân đắc ý chàng bèn làm một chuyến du ngoạn vùng Hà Trung đất Sơn Tây. Vì qúa vui với cảnh non xanh nước biếc, nên lạc cực sanh bi chàng bị cảm nặng và hôn mê bất tỉnh suốt ba ngày đêm...
       Trong cơn mê, chàng mơ thấy mình đi đến một vùng núi non hùng vĩ với cung thất lâu đài nguy nga tráng lệ. Hỏi ra mới biết rằng đây là vùng núi Côn Lôn, lâu các cao vút tận mây xanh kia chính là Dao Đài của Tây Vương Mẫu. Phút chốc bỗng có tiên nương hiện ra mời vào dự tiệc cho đến lúc chiều tà. Trong cơn say chàng đã mơ hồ cất bút viết nên bài tứ tuyệt như sau lên tường:

 曉 入 瑤 臺 露 氣 清,    Hiểu nhập Dao Đài lộ khí thanh,
 坐 中 唯 有 許 飛 瓊。    Tọa trung duy hữu Hứa Phi Quỳnh.
塵 心 未 斷 俗 緣 在,    Trần tâm vị đoạn tục duyên tại,
十 里 空 山 下 月 明。    Thập lý không sơn hạ nguyệt minh !
       Có nghĩa :
            Buổi sáng khi lạc vào Dao Đài trong khi khí trời và sương sớm còn rất trong lành; Trong bàn cùng ngồi với ta còn có tiên nương Hứa Phi Quỳnh. Vì lòng trần còn chưa dứt nên cái duyên trần tục vẫn hãy còn đây; Xuống núi trong cảnh mười dặm núi non vắng lặng nầy chỉ còn có vầng trăng sáng mà thôi !
                        


                      Lạc bước Dao Đài sương sớm hanh,
                      Cùng ngồi chuốc chén Hứa Phi Quỳnh.
                      Lòng trần chưa dứt còn duyên tục,
                      Mười dặm không sơn bóng nguyệt thanh !

        Hồn mộng vấn vương, đêm sau lại mơ vào Dao Đài hôm trước để gặp lại Hứa Phi Quỳnh; Nhưng tiên nương đã hờn dỗi trách rằng: "Sao lại mang cả tên thiếp đưa vào chốn nhân gian thế kia!?" Hứa bèn tạ lỗi và sửa câu thứ hai lại thành "天 風 吹 下 步 虛 聲 Thiên phong xuy hạ bộ hư thinh". Có nghĩa: Dưới cơn gió trời thổi bước chân nhẹ nhàng như hư như thật". Phi Quỳnh bèn cười đáp "Tốt!". Nên bài thơ còn có thêm một dị bản như sau :

   曉 入 瑤 臺 露 氣 清,     Hiểu nhập Dao Đài lộ khí thanh,
   天 風 吹 下 步 虛 聲.     Thiên phong xuy hạ bộ hư thinh
   塵 心 未 斷 俗 緣 在,     Trần tâm vị đoạn tục duyên tại,
  十 里 空 山 下 月 明.     Thập lý không sơn hạ nguyệt minh !
      Có nghĩa :
                     Lạc bước Dao Đài sương sớm hanh,
                     Gió trời lay động bước mong manh.
                     Lòng trần chưa dứt còn duyên tục,
                     Mười dặm không sơn bóng nguyệt thanh !                    
           

      Hứa Dụng Hối 許 用 晦 còn một ngoại hiệu nữa là Hứa Trọng Hối 許 仲 晦, tên thật là...
     

 HỨA HỒN 許 渾(788—860)sanh năm Trinh Nguyên thứ tư (788), người đất Nhuận Châu, huyện Đơn Dương (thuộc tỉnh Giang Tô hiện nay). Ông là cháu 6 đời của Tễ Tướng Hứa Ngự Sư 許 圉 師, là một trong những thi nhân nổi tiếng dưới thời Vãn Đường. Ông đậu Tiến sĩ năm Đại Hòa thứ 6 (832) và giữ nhiều chức vụ. Cả đời ông không làm thơ Cổ thể, chỉ chuyên về Luật thi; Đề tài thường lấy điền viên hoặc hoài cổ, lời thơ công đối chỉnh tề, thường miêu tả về sơn thủy, cảnh trước sau mưa... được đánh giá là ngang hàng với thi thánh Đỗ Phủ với câu: "Hứa Hồn thiên thủ thấp, Đỗ Phủ nhất sinh sầu 許 渾 千 首 溼,杜 甫 一 生愁". có nghĩa : "Ngàn bài thơ của Hứa Hồn đều có vẻ ướt át; Còn thơ cả đời của Đỗ Phủ đều có vẻ ưu thời mẫn thế" như ta đã biết...
      Khi lên Hoàng Hạc Lâu thấy cảnh trí nên thơ hùng vĩ của vùng sông nước bày ra trước mắt, thi Tiên Lý Bạch đã gợi hứng nguồn thơ, nên cất bút toan đề thơ, nhưng khi nhìn lên vách thấy bài thơ Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu bèn quẳng bút đi mà than rằng: "Nhãn tiền hữu cảnh đạo bất đắc, Thôi Hiệu đề thi tại thượng đầu 眼 前 有 景 道 不 得,崔 颢 题 詩 在 上 頭" có nghĩa: "Trước mắt có cảnh mà không sao tả được, vì Thôi Hiệu đã đề thơ phía trên đầu ta rồi!" Vì Lý biết chắc rằng, nếu mình có miễn cưỡng làm thơ, thì chắc chắn cũng chẳng bao giớ bằng được bài thơ mà Thôi Hiệu đã làm, nên thôi. Nhưng nỗi lòng ấm ức vẫn cứ âm ĩ mãi trong tim, cho nên khi đến đất Kim Lăng, lên ngắm cảnh trên Phụng Hoàng Đài, ông mới xúc cảnh sinh tình, mà làm nên bài thơ "Đăng Kim Lăng Phụng Hoàng Đài 登 金 陵 鳳 凰 台" rất xuất sắc, gieo vần và âm hưởng đều tương tự như bài Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu...
       Hứa Hồn cũng thế, bài thơ luật "Hàm Dương Thành Đông Lâu 咸 陽 城 東 樓" của ông cũng có âm điệu và phong cách giống như là bài Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu, kể cả vần được gieo cũng làm cho người đọc cảm thấy như đang đọc lại câu "Yên ba giang thượng sử nhân sầu 煙 波 江 上 使 人 愁" vậy... 
 
           

         咸 陽 城 東 樓           HÀM DƯƠNG THÀNH ĐÔNG LÂU    
   一 上 高 城 萬 里 愁,    Nhất thướng cao thành vạn lý sầu,
  蒹 葭 楊 柳 似 汀 洲,    Kiêm hà dương liễu tự thinh châu, 
  溪 雲 初 起 日 沉 閣,    Khê vân sơ khởi nhật trầm các,
  山 雨 欲 來 風 滿 樓。    Sơn vũ dục lai phong mãn lâu. 
  鳥 下 綠 蕪 秦 苑 夕,    Điểu hạ lục vu Tần uyển tịch,
  蟬 鳴 黃 葉 漢 宮 秋,    Thiền minh hoàng diệp Hán cung thu,
  行 人 莫 問 當 年 事,    Hành nhân mạc vấn đương niên sự,
  故 國 東 來 渭 水 流。    Cố quốc đông lai Vị Thủy lưu. 
                   許 渾                             Hứa Hồn.                           
             


* Chú thích :
    - Kiêm Hà 蒹 葭 : Là Lau sậy, theo tiếng gọi của ngày xưa. Trong Kinh Thi chương Tần Phong có câu "Kiêm Hà thương thương 蒹 葭 蒼 蒼" có nghĩa là "Lau sậy xanh xanh".
    - Thinh Châu 汀 洲 : Có 2 nghĩa :
      * Những cồn cỏ, cù lao giữa dòng sông nước.
      * Địa danh thuộc tỉnh Phước Kiến, nay là Huyện Trường Thinh.
    - Khê Vân 溪 雲 : Hơi nước từ trong khe suối bốc lên thành mây.
    - Lục Vu 綠 蕪 : Vu là Rậm rạp, hoang vắng. LỤC VU là Bãi xanh hoang vu.
    - Vị Thủy 渭 水 : Tên con sông phát nguyên từ tỉnh Cam Túc, chảy qua tỉnh Thiểm Tây đổ vào sông Hoàng Hà rồi chảy ra biển Đông..

* Nghĩa bài thơ :
            TRÊN LẦU ĐÔNG CỦA THÀNH HÀM DƯƠNG
       Lên đến tận trên lầu cao của đông thành thì nỗi sầu lại dài thêm vạn dặm. Trước mắt, lau sậy hòa vào màu xanh của dương liễu mường tượng như màu xanh của những cồn đất trên sông. Những làn hơi nước trong khe suối vừa bốc lên thành những làn mây mỏng thì mặt trời cũng đã chìm xuống phía sau lầu rồi, Và cơn mưa núi chưa kịp đổ xuống thì gió đã ào ạt đầy cả lầu ! Lũ chim bay xà xuống bãi xanh hoang vu của vườn thượng uyển đời Tần ngày xưa trong buổi chiều tà. Và lũ ve cuối mùa cố cất tiếng ngâm trong đám lá vàng của cung viên nhà Hán vào buổi chiều thu se lạnh. Ôi thôi ! Người qua đường xin đừng hỏi đến chuyện của năm xưa nữa, Cố quốc từ hướng đông mà đến cũng như dòng Vị Thủy theo hướng của tất cả những dòng sông đổ vào Hoàng Hà rồi cũng đều chảy về với biển Đông mà thôi... 

* Diễn Nôm :
                     HÀM DƯƠNG THÀNH ĐÔNG LÂU  
                     


                     Vòi vọi thành cao vạn dặm sầu,
                     Lau xanh liễu rũ ngỡ thinh châu.
                     Mây vờn khe suối vầng ô khuất,
                     Mưa chửa thành cơn gió ngập lầu.
                     Chim lượn xập xòe Tần thượng uyển,
                     Ve sầu rả rít Hán cung thâu.
                     Nào người chớ hỏi đời xưa cũ,
                     Sông Vị về đông vẫn chảy mau !
          Lục bát :
                     Thành cao cho vạn dặm sầu,
                     Vi lô tơ liễu tựa màu thinh châu.
                     Mây lên mặt nhựt khuất lầu,
                     Mưa chưa thành hạt gió sầu đầy song.
                     Chim xà Tần uyển vườn không,
                     Ve ngâm rả rít Hán cung thu sầu.
                     Nào ai chớ hỏi vì đâu ?!
                     Về đông sông Vị chảy mau, lệ thường !!!...
                                                             
      Mặc dù không làm rung động lòng người và còn để lại dư âm như Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu, Hàm Dương Thành Đông Lâu của Hứa Hồn cũng nói lên một niềm hoài cổ não lòng, xót xa đến... dửng dưng, vì biết đó là cái lẽ của cuộc sống, cái lý của sự vật ở trên đời "Vật cực tất phản", Âm cực dương hồi, hết thịnh rồi lại suy... cứ thế luân lưu mãi, như tất cả những dòng sông đều chảy về đông...
     Hành nhân mạc vấn đương niên sự,  行 人 莫 問 當 年 事,     
     Cố quốc đông lai Vị Thủy lưu !!!        故 國 東 來 渭 水 流...

      Bài thơ lại nổi tiếng và để đời với đôi Thực :
   溪 雲 初 起 日 沉 閣, Khê vân sơ khởi nhật trầm các,
   山 雨 欲 來 風 滿 樓。 Sơn vũ dục lai phong mãn lâu. 

                     Mây vờn khe suối vầng ô khuất,
                     Mưa chửa thành cơn gió ngập lầu.
      Nhất là câu "山 雨 欲 來 風 滿 樓 Sơn vũ dục lai phong mãn lâu" đã trở thành như một câu ngạn ngữ của dân miền núi khi trời sắp đổ mưa. Đây cũng là một đặc điểm độc đáo của thơ Hứa Hồn, bài thơ nổi tiếng nào của ông cũng "ướt nhẹp" với mây mưa, suối khe, sông nước... 
Sau đây là một bài thơ tiễn bạn trên "Sông Nước" dưới bầu trời đầy "Mưa Gió" nữa của ông:

            謝亭送別                        TẠ ĐÌNH TỐNG BIỆT
     勞 歌 一 曲 解 行 舟,     Lao ca nhất khúc giải hành chu,
     紅 葉 青 山 水 急 流。     Hồng diệp thanh sơn thủy cấp lưu.
     日 暮 酒 醒 人 已 遠,     Nhật mộ tửu tinh nhân dĩ viễn,
     滿 天 風 雨 下 西 樓。     Mãn thiên phong vũ há tây lâu !
                          許 渾                                       Hứa Hồn
                  

      
* Chú thích :
    - TẠ ĐÌNH 謝 亭 : Còn có tên là TẠ CÔNG ĐÌNH 謝 公 亭(Đình của ông họ Tạ) nằm ở mặt bắc của Tuyện Thành, do Thái Thú Tuyên Thành là TẠ THIỂU 謝 朓 đời Nam Tề dựng nên để tiễn bạn là Phạm Vân. Về sau TẠ ĐÌNH thành nơi tiễn biệt nổi tiếng của Tuyên Thành.
    - Lao Ca 勞 歌 : là "Bài ca ly biệt" vốn được hát ở Lao Lao Đình 勞 勞 亭 để đưa bạn tiễn khách. Sau LAO CA thành biểu tượng của bài ca ly biệt, như trong 2 câu thơ của Thi Tiên Lý Bạch: "Thiên hạ thương tâm xứ, Lao Lao tống khách đình 天 下傷 心 處,勞 勞 送 客 亭" có nghĩa: "Nơi mà thiên hạ thương tâm nhất, chính là cái đình tiễn khách tên Lao Lao nầy đây".
    - Giải 解 : là Cởi, mở ra, tháo ra.
    - Hồng Diệp 紅 葉 : là "Lá đỏ", còn có dị bản là HỒNG THỌ 紅 樹 là Cây lá đỏ.
    - Thuỷ Cấp Lưu 水 急 流 : là "Nước chảy xiết" hàm ý "Thuyền đi nhanh".
    - Tây Lâu 西 樓 : là "Lầu Tây" là nơi khách ở, nên thường mượn từ "Lầu Tây" để chỉ nơi tiễn khách; cũng như NAM PHỐ 南 浦 là Bến nước phía Nam, cũng là bến nước để đưa bạn, tiễn khách, nên trong cổ thi thường mượn từ TÂY LÂU và NAM PHỐ để chỉ nơi đưa tiễn.

* Nghĩa bài thơ :
                    ĐƯA TIỄN Ở TẠ CÔNG ĐÌNH
        Sau một khúc Lao ca tiễn biệt thì dây thuyền đã được mở ra và thuyền đi nhanh theo dòng nước cuốn nhanh trong cảnh núi xanh lá đỏ; Khi chiều đã xuống, rượu cũng đã tỉnh ra thì người cũng đã đi xa rồi; Ta bước xuống lầu tây trong cảnh đầy trời mưa gió não nùng.
* Diễn Nôm :
                     TẠ ĐÌNH TỐNG BIỆT
                   
                


                 Lao ca một khúc mở thuyền đi,
                 Lá đỏ núi xanh nước cuốn đầy.
                 Chiều xuống tỉnh ra người đà khuất,
                 Ngập trời mưa gió xuống lầu tây !...
       Lục bát :
                 Lao ca một khúc thuyền đi,
                 Núi xanh lá đỏ nước thì cuốn trôi.
                 Tỉnh ra người đã xa rồi,
                 Ngập trời mưa gió bồi hồi xuống thang.
         
 
  杜 紹 德
                                                                 Đỗ Chiêu Đức 

Kính Mời Đọc Thơ THU CẢM của ĐÔNG A HỒ NGUYỄN Và Các Thi Hửu HỌA

  THU CẢM Mùa Thu cứ trở lại nơi này Đổ lá vàng cho gió thổi bay Mây trắng lồng xương trơ nắng héo Cỏ xanh hứng giọt lạnh sương đầy Chân xa ...