Cuộc sống không thể thiếu nước, nước để ăn uống để tắm giặt và cả chăm sóc cây trồng.
Một dòng suối phát xuất từ vùng trũng đất bà Tham chảy xuyên qua vườn ông thợ Giàu qua vườn ông Pháp, ông Diện lùn, Cai Hiền lẩn khuất vào khu rừng cây sở Chauvel và tiếp tục có thể đổ vào sông Đại Bình.
Một dòng suối khác có nguồn từ vùng trũng trong khu rừng mạn bắc của “sở mới” chạy về hướng đông mỗi đoạn có một tên riêng nào là suối số 1, suối sổ 3, suối Bảy Vẽ , suối Ông Thẩm, suối ông Cai Vọng..). Đáng chú ý nhất là đoạn suối số 3 với khoảng rộng và dài cùng độ sâu vừa tầm , là con suối quan trọng nhất bởi lẽ khu trung tâm đều dùng đến nó, bọn trẻ toàn làng cũng chọn nơi đây làm nơi bơi lội, .trong khoảng mịt mùng rừng cây nhà ở thưa thớt cho nên gọi là suối thực sự chỉ là một đoạn mà thôi cho nên một dòng suối mà mang nhiều tên như : suối mang số 3 là đoạn suối chạy qua lô số 3 của cánh đồng trồng cỏ của sở mới dòng suối vượt qua một khoảng rừng đến một con đường mòn nối từ quốc lộ 20 đi tắt qua sở trà Pitchené ,, chổ có hai tảng đá và một vũng nước rộng, bọn trẻ chúng tôi thường ghé tăm đó suối Bảy Vẽ vì chạy qua trước nhà ông Nguyễn Vẽ là một người gốc Huế , người trong làng biết đên ông nhiều nhờ tài cắt lễ, băt gió là loại hình chữa trị theo lối dân gian, có thê ông ta là người thứ bãy trong gia đình nên có tên Bảy Vẽ, dòng suối lại chui vào một khoảng rừng, xuyên cống qua đường chảy tên vùng đất của gia đình ông Nguyễn Đức Xướng từ Nam định theo dân mộ vào làm việc ở sở trà Pitchené, sau dời qua ở làng Công Hinh nơi có dòng suối chảy qua được goi suối Lý Xướng vì trước đó ông có làm hương chức làm xã .
Đó là những nguồn nước xanh trong có nhiều loại cá cua là nơi những người Thượng vẫn thường dùng rổ xúc cá làm thức ăn ( cá thường gọi là cá trắng to cỡ 1 đến 2 ngón tay, cua là cua đồng, chỉ có cá trê cá tràu to con, thân cỡ cổ tay)
Còn nước uống thì theo những giếng đào cũng chỉ dựa vào các vùng trũng thấp thường bên cạnh các dòng suối trên như giếng ông Quản Chí, Hai Ốm gần dòng suối từ cánh tây của sở mới ( sau này là hồ Đỗ Hữu ) Xóm trong thì có giếng Thợ Giàu, Hai Ý, Hương Kiểm Búa,..có một cái giếng đào trên đỉnh đồi trong vườn nhà ông Tôn Cụt rất sâu người ta nói nó sâu đến âm phủ lận ? Việc lấy nước bằng cách gánh bằng hai thùng sắt tây vốn là thùng chứa dầu lửa mỗi thùng chứa 20 lít, còn những người Thượng thì họ lấy nước trong những trái bầu khô hay những ống tre vì chủ yếu nước đem về là để đun nấu ăn uống .
Trong khu dân cư đó ngoài cái đình nằm ở khu vực đầu làng, thời ấy ít ai qua lại bởi vì nó tiếp giáp với rừng, nơi ấy thỉnh thoảng có cuộc tế lễ theo phong tục địa phương, theo lời ông Trần đình Vọng vốn là một người dân Huế vào lập nghiệp ở đây cho biết năm 1940 ông đã được nhập tên vào làng Công Hinh, ông kể rằng đã tham gia chặt cây, cắt tranh để làm đình với bà con trong đó có ông Bùi Thơm là ba tôi. Những người chủ trương làm đình vốn là hương chức thời ấy như ông Nguyễn Xu, Đặng văn Lân, Phạm Chí….với tên thường gọi : Bộ Xu, Thập Lân, Quản Chí..
Tại khu trung tâm cuối dảy phố của người Hoa có một ngôi nhà thờ bằng gỗ có tháp chuông nhọn cao vút không biết lập tự lúc nào do đức cha Đậu quản xứ, cách đó là chùa Phước Huệ thuộc chi hội Phật Học Công Hinh là một ngôi nhà tranh vách ván do thầy Đường Hạnh trụ trì.
Ngày ấy người theo Phật Giáo nhiều hơn, hoạt động nổi trội hơn nhưng về mặt uy thế thì phía nhà thờ có vẻ quan trọng hơn dù không nhiều giáo dân nhưng là tôn giáo của những quan chức người Pháp. Xa hơn là ở Phẹc có một thánh thất Cao Đài là một tôn giáo mới thành hình từ dầu thế kỷ 20 tại Việt Nam cùng thời cũng có nhà thờ Tin Lành dân quanh vùng cho biết các cơ sở này được lập khoảng đầu thập niên 1950.
Chỉ có một nhà “ Xẹc *“ là một gian nhà gỗ rộng nền láng xi măng có đóng “la phông*” do người Pháp lập trên phần đất của bà Tư Hườn nằm sát quốc lộ nhìn qua bên kia đường là rừng cây của sở mới, sát đường phía bên kia có một nhà mát hình tròn lợp tranh có lẽ cùng được lập nên cùng thời nhưng dân bấy giờ đồn ở nơi ấy có ma nên ít ai ghé đến.
Riêng nhà Xẹc vào đêm thứ bảy chủ nhật hay lễ “cách-to-ru-dê*”và tết tây, tập trung gồm các quan thầy Pháp, các chủ đồn điền, các quan chức người Việt đưa vợ con đến ăn uống, nhảy đầm phòng được đốt sáng bằng đèn măng-xông và nhạc phát ra từ máy quay dĩa…bọn trẻ con nhà gần đó mon men xem thỉnh thoảng được các ông tây bà đầm cho miếng bánh, một quả “bôm *“hay một miếng “phô mai *” cũng có những người lớn hiêu kỳ ghé xem chơi lại được mời uống rượu chát, champagne….
Không có rạp hát nhưng thi thoảng được giải trí nhờ các đám sơn đông mãi võ đến biểu diễn và bán thuốc hoặc trong các ngày lễ hội của tây của ta với trò múa lân của người Hoa, đốt pháo, đập niêu, leo cột mỡ , nhảy bao bố…và của người thượng du như lễ chém trâu..tất cả đều tập trung trước bãi sân rộng cạnh cái lô-cốt của văn phòng Sếp-đề-lê-ghê mà dấu tích còn lại là cây gòn ở phường Blao vẫn còn (vào năm 2012).Cây gòn này được trồng để dựng cây nêu lể Giàng và cột trâu.
Không có một trường học nên bọn trẻ cứ lêu lỏng tụ tập leo cây, lội suối..có cái sân banh sau đồn lính trên con đường ra đất thánh sau nhà thờ, chỉ có quan chức người Pháp và lính trong đồn ra đá mà thôi, bọn trẻ chúng tôi tập trung ra xem, chờ chực có trái bóng nào lăn ra khỏi vạch vội giành nhau chạy lượm để chạm được trái banh da bởi lẽ chưa bao giờ được đụng đến quả banh da, dù rằng chúng cũng có những cuộc đá bóng ở sân chùa hay nhà thờ thay vì trái banh da thì chúng dùng quả bưởi để héo, vậy mà cũng có những trận nẩy lửa giữa xóm trên và xóm dưới, giữa phe nhà thờ và phe chùa, những trận đấu không có trọng tài, không có tiếng “síp lê *“ trụ thành có thể là hai cục gạch, hai chiếc dép, hai đống quần áo, trang phục thi đấu thì một bên mặc áo một bên ở trần. còn sân bóng thì được vạch ranh giới bằng que nhọn hằn lên mặt đất.Với một qui mô như thế thì trận đấu được tiến hành không có thời gian, nhưng tinh thần thi đấu là tự giác , khi xảy ra những tình huống phạm lỗi thì bên này hay bên kia lên tiếng, dĩ nhiên cũng có lúc cải cọ nhưng việc dàn xếp cũng nhanh chóng, những chữ mà bọn trẻ học lóm được khi ngồi xem và nghe được trong các trận đấu của lính trên sân sau nhà thờ là “me , cọt ne..bát sê, ọt giơ…*” cũng được dùng trong các trận đấu dù là đá banh bưởi.
Còn phía người lớn, ngoài những người làm quan chức trong guồng máy chính quyền đương thời còn có những viên chức làm cho sở mới, họ được người dân vô cùng trọng vọng gọi là ông phán, ông ký…Người dân, đa phần là làm phu, làm thợ cho các đồn điền mới xây dựng chủ yếu là các sở trà với những công việc gần như thủ công phá rừng dọn cây, đào lỗ, ương trà trồng trà…họ chỉ là thiểu số so với người bản địa mà thời ấy người ta gọi là Mọi là những sắc dân sống ở mạn thượng du cho nên nhóm người Việt tha phương cầu thực đó mang một cái tên là “ Đi Mọi” có nghĩa là đi đến có một cuộc sống như Mọi, họ từ nhiều địa phương đến với nhiều lý do , nhưng với số ít ỏi đó là cơ hội để cho họ thân thiện nhau .
Rồi con đường 20 nối liền Đa Lạt Sài gòn, bà Hương Giang một người cố cựu ở đây từng cho biết con lộ này được thành hình khoảng năm 1936-1937, được gọi là con đường huyết mạch của Blao chỉ là con đường rải đá tráng nhựa, rộng cỡ 4 mét , đi lại trên con đường này là những xe đò với các hãng Rờ nôn ,,Pờ rô..còn xe quân sự thì là “ Đốt Cát *“ xe “ Rép *“ và những đoàn “cồng voa *“thỉnh thoảng qua lại ..để cho những âm thanh rầm rì vang vọng,hay những hồi còi tin tin kéo tầm nhìn cho người dân và lũ nhỏ hiếu kỳ…
CHÚ THICH
• ông ba mươi ý gọi là con cọp, con hổ. *bíc kê (briquette) cái bật lửa *- xẹc (Cercle ): Câu lạc bộ - * la phông ( Plafond ) : trần nhà- * các-to-ru-dê ( quatorze julliet) 14 tháng 7 lễ độc lập của Pháp- * nô-en ( Noel)-* bôm (Pomme) trái táo -* Síp- lê (siffle') cái còi - * me ( main ) cái tay - ý là phạm lỗi chạm tay-* cọt- nê (corner) phạt góc * bát-sê (passe) chuyển qua- ý là chuyển bóng * ọt-giơ ( Hors-jeu) việt vị -* hiệu của các xe : Rờ nôn (Renault) pơ- rô (Peugeot) đốt cát ( Dodge 4) Rép ( Jeep ) * Cồng-voa ( Convoire ) đoàn xe

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét