Thứ Tư, 30 tháng 4, 2025

ĐÊM - Thơ Lê Mỷ Hoàn và Thơ Họa : Như Thu,Songquang,Cao Bồi Già,LAN,Mai Xuân Thanh,Sông Thu,Hưng Quốc,,Mailov, Chu Hà,Kiều Mộng HàLý Đức Quỳnh ,Hồ Nguyễn


ĐÊM

Đêm khép hương nồng tưởng dáng ai
Để lòng như thấy nhớ nhung hoài
Về khuya bóng tựa trăng thu trải
Vào sớm sương lồng dạ lý say
Vọng nguyệt cung đàn sầu lữ thứ
Thương hoa ảo ảnh mộng trang đài
Bao mùa xuân cũ bên khung cửa
Một mối tình xưa chẳng nhạt phai.

Lê Mỹ Hoàn (4/2022)

Thơ Họa:


MỘNG

Ơi người thấu vẹn nỗi lòng ai?
Não nuột lời than ấp ủ hoài!
Tổ ấm chung nhà đây chả ngại
Tim vàng kết nghĩa nọ đà say
Niềm đau tựa cát xa bờ bãi
Dạ buốt dường sen rũ cánh đài
Ngẫm tợ sao trời khôn thể hái
Bây chừ tỉnh mộng giấc nồng phai!

Như Thu
04/26/2025


TÌNH CHẲNG PHÔI PHAI

Tình em đã lỡ …vẫn thương hoài
Thao thức canh dài nhớ đến ai
Hương sắc mỹ miều lòng mãi luyến
Bóng hình kiều diễm dạ luôn say
Người đi ngày ấy như tàn mộng
Anh tưởng hồn kia tựa úa đài
Mong ước trời Xuân hoa thắm lại
Để tình hai đứa chẳng phôi phai

Songquang
20250426


ĐÊM CHONG


Chong đêm cùng gã hỏi còn ai
Ký ức năm xưa mãi nhớ hoài
Mấy thuở vàng son dầm khát vọng
Một thời xuân trẻ sống hăng say
Quê nhà mỹ ngữ còn tươi nét
Đất khách hoa ngôn đã rụng đài
Trăng khuyết lửng trời nhan héo hắt…
Canh tàn não nuột ánh mờ phai

CAO BỒI GIÀ
26-4-2025


TÌNH CHÔN GIẤU.

Mơ hình,tưởng bóng nhớ thương ai
Dù biết rằng em chẳng đoái Hoài
Chén chuốc đêm trường,tâm mãi luyến
Mộng choàng mộng suốt,trí càng say
Hoa thơm hương ngát,ong ve nhuỵ
Nét đẹp băng thanh,bướm lượn đài
Ôm ấp tình vương trong tuyệt vọng
Xuân bao lần nữa khó nhòa phai.

LAN
(27/04/2025)



ĐÊM…


Đêm mơ ấp ủ dáng hình ai
Chạnh nhớ bâng khuâng mộng ước hoài
Sáng sớm sương tan trời ấm áp
Chiều tàn nắng tắt rượu nồng say
Hoàng hôn độc mã người xa xứ
Chạng vạng cô thân kẻ thượng đài
Một khối tình duyên ngồi tựa cửa
Bao mùa Xuân sắc chẳng hề phai…!

MAI XUÂN THANH
Silicone Valley, April 26, 2025


LIỄU

Dáng đẹp dịu dàng chẳng giống ai
Thanh tao, liễu đượm nét u hoài
Cành buông ẻo lả dường mây lượn
Lá rủ yêu kiều tựa bướm say
Nắng chiếu chang chang, màu mãi thắm
Gió lùa tơi tả, sắc nào phai
Bên hồ, cạnh suối...càng trang nhã
Trọn vẹn phô trương vẻ diễm đài.

Sông Thu
( 27/04/2025 )


VƯƠNG VẤN TƠ LÒNG

Trăng soi bóng hiện dáng hình ai
Tiếc ngọc yêu hoa vẫn nhớ hoài
Nửa đoạn tơ lòng ươm mật đắng
Một đêm ân ái ủ men say
Phải chăng tình dứt do son nhạt
Hay tại duyên tàn bởi phấn phai
Chẳng biết vì sao mình lỗi hẹn
Bao năm mộng mị cảnh xuân đài

Hưng Quốc
Texas 4-27-2025


CHIỀU CÔNG VIÊN

Công viên quạnh vắng chẳng còn ai
Ghế đá bâng khuâng khách cảm hoài
Thoi thóp hoàng hôn hàng liễu rủ
Mơ hồ cảnh vật nắng chiều say.
Bên hoa vương víu đôi chàng bướm
Trên bệ đăm chiêu những tượng đài !
Lừng lững vòm cây vầng nguyệt khởi
Ngày tàn man mác ráng hồng phai !

Mailoc
04-27-25


MỘNG KHÉP TRẦN AI

Đêm vừa khép lại mộng trần ai
Khóe mắt trầm u giọt viễn hoài
Đã hết trông mong vào hiện khởi
Đâu còn hẹn ước để bừng say
Ngời trăng diễm ảo đùa nhân thế
Lạnh gió hoang vu bỡn điện đài
Dự phóng sông xưa dần nước cạn
Bùi ngùi đoạn tuyệt giấc mơ phai

Lý Đức Quỳnh
27/4/2025



HỌA: THU NHỚ AI?


Thu buồn ẩn hiện bóng hình ai,
Trằn trọc năm canh lại nhớ hoài.
Kéo vận kết vần câu tự nhủ,
Nhép môi rượu nếm tỉnh rồi say.
Ngồi hiên ngắm ánh trăng buông dáng,
Dạ thẩn thờ trơ cảnh nguyệt đài.
Hương tóc xỏa xua nay khuất mất,
Tình nồng ghi khắc khó vơi phai.
*
Người về bến ấy có thương ai?

HỒ NGUYỄN (26-4-2025)


ĐÊM TRÊN ĐÒ

Đò đêm, bến lạ, điệu nam ai
Sóng vỗ lòng xao... những cảm hoài
Chẳng phải lời ca sinh quyến luyến
Không vì cuộc rượu mới tình say
Quê hương một thuở thời tang tóc 
Đất nước nhiều năm đã đổi đài
Thoảng tiếng chuông ngân hồi mộng tỉnh
Giật mình còn lại chút tàn phai...!

Chu Hà



NHỚ…
Hoạ 4 vần

Cố quên càng nhớ bóng hình ai
Đôi mắt trời ơi ! ngơ ngẩn hoài…
Chất giọng ấm trầm ôi quá tuyệt
Văn chương từ tốn rứa  mà say
Tinh sương âu yếm cà phê nóng
Chập tối ân cần gừng-mật cay
Cứ thế song song chung nhịp bước 
Cách gì ngày vợi tháng vơi phai?

Kiều Mộng Hà 
Apri.28.2925


[Nguyễn Ngọc Tư] CỦI MỤC TRÔI VỀ



Những đám mây trĩu nước sà thấp, ậm è như đang cố ấn ngôi chùa lún vào khoảng vườn ngập lút đầu ngọn cỏ. Những cái bọng mưa sắp bục vỡ ra. Kê bộ ván ngựa trước chánh điện – một chỗ ngồi cho bữa tụng niệm chiều, thầy bỗng ngó ra ngoài trời, bảo “đường sá gì mà vắng hoe, buồn quá, ông”.

Cầu vừa thốt ra khỏi đầu môi đã bị đóng băng trong thinh lặng. Thầy chờ đợi gì ở gã, một kẻ – đã – chết thì màng gì vui buồn.

Gã, khúc củi mục trôi giạt về Thổ Sầu, ghé qua ngôi chùa nghèo này. Nghèo đến mức người xa về không biết gọi là nhà hay chùa. Buông thả không cửa không rào, đến nỗi xưng hô với người kinh kệ trong chùa thế nào cũng ngại. Gọi thầy như những bậc chân tu thấy ngượng, gọi tao mày như người thế tục cũng không xong. Đàng lúng búng hỏi:

– Quên tôi rồi, phải không?

– Nói chơi hoài

Thầy là người đầu tiên ở Thổ Sầu nhận ra gã, ngay cái nhìn đầu. Những ngón tay xương xẩu của thầy níu lấy vai khách lạ, “Chịu trôi đầu về rồi hả? Ngon! Tôi tưởng ông bỏ xứ luôn rồi”.

Gã cũng tưởng mình vĩnh viễn không quay lại. Vật vờ hết đất này đến đất khác, làm lụng mưu sinh, vắt mình kiệt như tìm chút nước trong chày. Hết ngày, trở về nhà trọ, gã thường bàng hoàng, cảm giác những đốt xương mình rơi ra từng lóng một. Gã bỗng thèm trở lại Thổ Sầu. Chẳng làm gì cả. Chẳng ai chờ đợi gã. Cả nhà gã đã bỏ xứ đi vì xấu hổ chòm xóm bởi nỗi ô nhục mà đứa con trai gây nên. Vậy thì phải về, cho người Thổ Sầu thấy gã bây giờ sống tử tế như thế nào. Về tìm lại cảm giác thanh thản đã bị đánh mất. Hay về để nhìn lại cọng cỏ mình đã giẫm nát, con mương trong vắt đã bị mình sục đến đục ngầu bùn, gã không biết nữa.

– Tôi muốn vấp chỗ nào thì đứng lên ngay chỗ ấy – Gã cười, và cảm giác nụ cười thật kỳ dị, một xác chết mà nhoẻn miệng cười thử hỏi khó coi không? Thầy phụt ra một bụm cười, “Trời, nói chuyện văn hoa triết lý quá ta. Chắc gặp nhà văn nào ở trong tù rồi”.

Gã nhìn qua nền nhà cũ bên kinh. Thầy cũng ngó theo, chỗ ấy ngày xưa gã hay ra đứng đái, và thầy hồi ấy là chú tiểu con con cầm nạng thun rình bắn cho bỏ tội chỉa chim trước chùa. Tiểu bắn không tệ, có bữa thằng nhóc bụm tay giữa hai đùi nhảy cà nhót, chửi thề. Bờ đất đó giờ đầy cỏ dại, thầy ngậm ngùi, “Ở chùa với tôi, cơm rau qua ngày”.


Thêm một người cũng không làm chùa vui hơn. Gã thầm như tượng, nhưng không có được cái an nhiên, thanh thản của tượng. Một thằng người nhàu úa. Thầy giả bộ bâng quơ, “con nhỏ đó vẫn chưa ai cưới”, thấy gã tái đi. Con nhỏ mà thầy nói, vẫn thường ghé chùa chơi, mấy hôm rày không biết đau ốm chi mà không thấy.

Gã ở lại, người đến chùa đông. Họ cúi đầu lạy Phật mà mắt cứ láo liêng tìm gã, nườm nượp như hồi nhà văn hóa huyện triển lãm heo ba mắt, ngựa hai đuôi và những thai nhi dị dạng ngâm trong mấy chậu thủy tinh. Gã hay tránh ở vườn thuốc mỗi khi có bóng người xộc sân trước. Loáng thoáng nghe hỏi dồn, nó về rồi hả? Sao thầy chứa nó trong chùa? Nghe thầy cười nhẹ, nói thấy về vậy chớ chưa về đâu. Ủa, vậy là sao?

Thầy nhờ gã tiếp một tay làm hàng rào sân trước, buộc gã thôi chui rúc như chuột. Hì hụi trên sân, vần nhau với những khúc cây ngâm nước lâu ngày tanh tưởi mùi bùn, gã gặp lại nhiều người quen cũ. Bối rối, họ nhận ra đã quên gã rồi, từng chi tiết một, đây là một con người khác, nên chẳng thể kỳ thị, xua đuổi, càng không thể đối xử mặn nồng như người bên xóm đi xa về.

Những cây son mọc hoang ngoài đường bắt đầu trổ bông. Gã bê bức tượng Đức Di Lặc ra sơn lại, thì một cô gái già xộc vào. Cô định đạp xe đâm thẳng vô gã, những nhác thấy bức tượng, sợ vỡ, nên cố dùng thân mình nhảy chồm trên đất ghìm trớn xe trôi. Mặt đỏ lựng, bết mồ hôi, cô hét: “Ê…!”.

Sau tiêng “ê” ấy thì mọi ngôn ngữ tắc nghẹn. Cô cũng rơi vào bi kịch của sự không đủ giận để nhảy xổ vào cào cấu, băm vằm mối thù lớn của đời mình. Cả một thời con gái, lúc buồn, lúc những gã trai trong xóm rước cô dâu mới về, lúc đạp phải đinh, lúc ho, cô đều với tên gã ra giày vò. Để hả hê sống tiếp. Nhưng giờ điều đó chẳng có ý nghĩa gì hết.

Cô quay quả bỏ đi. Mặc kệ gã đàn ông chết đứng. Sau này, cô cũng chỉ kêu mỗi tiếng “Ê!!!” khi ghé lại. Có bữa nghe da diết, như bảo tôi đây nè, tôi ra nông nổi vầy nè, ông sáng mắt chưa. Có bữa chất chứa tủi hờn, tôi nè, đã nông nổi vầy rồi, hết hy vọng rồi. Bữa khác trong âm nghe hằn học, tôi đây, tôi đã ra nông nổi này, tại ai tại ai tại ai. Nhưng bữa không thấy gã cô day qua hỏi thầy:

– Đâu rồi?

Thầy thấy ngực mình hơi quặn chuyện thế tục.

Bông son nở bung từng chùm trắng xóa. Bông trắng, báo hiệu mùa mưa dài. Người già trong Thổ Sầu rủ nhau chết, thầy đi tụng kinh siêu độ suốt, chùa vắng. Dù gã ở đó, dù có ghé kêu “Ê”. Nhưng cuộc gặp gỡ chỉ là của một – người – đã – chết với môt – người – đã – chết.

Chết từ cái lúc thằng con trai mười bảy tuổi dìm đứa bé gái xuống mé ao. Đứa bé mỏng manh ấy đã la hét vì đau, gã choáng váng nghĩ rằng tiếng kêu đó xuyên thấu vào đầu từng người trong xóm Thổ Sầu, đến với bà mẹ già đang sàng gạo. Gã muốn bịt kín tiếng hét cho đến khi con bé kiệt sức đến mức không còn giãy. Nước trong, gã nhìn thấy da con bé tím dần, ngực nó thôi phập phồng, tóc nó trôi lều bều quyện đám rong nhớt. Xuyên qua làn nước, đôi mắt con bé nghẹn ứ những câu hỏi về sự tha hóa man dã của con người. Trong khoảnh khắc, gã thấy mình chỉ còn là một cái xác. Gã chết rồi. Sau những ly rượu đầu đời, những bộ phim tục tĩu đầu đời. Sau sự rạo rực không kiềm chế nổi, và con bé đi học một mình trên đường trưa thưa vắng người.

Năm đó, son trổ bông đỏ. Nhà chức trách dẫn kẻ phạm tội ra khỏi xóm, ngoái lại bông son đỏ rực như ai đó vãi lửa lên trời. Gã nửa sợ nửa như nhẹ nhõm khi nghe tin đứa bé gái vẫn thở.

Hít thở cũng không có nghĩa là sống lại. Buồn lại cười, lúc vui vùi đầu vô góc bếp khóc. Buồn, vui đều thái quá, như cơm quá lửa khét, canh quá muối mặn lè. Cả xóm ngậm ngùi, “con nhỏ chết hụt mà, bây giờ không ba trợn mới lạ”. Người ta chỉ nhớ biến cố đó, và vì mãi nhớ nó nên không ai hỏi cưới cô. Thầy thì không quan tâm, nhưng phải nhang khói cho chùa. Đám cưới nào ở Thổ Sầu cô cũng say. Qua chùa, cô ghé vào than, gần như là câu kinh điển, “Thầy ơi, tui ế chồng thiệt rồi, thấy tính sao đi chớ!”. Thầy day mãi cuốn kinh Phật trong tay, tụng niệm mải mê đế át ý nghĩ vừa lóe lên thảng thốt, nếu mình không theo Phật nữa?
Advertisement



Thầy luôn ám ảnh câu hỏi đó. Nghĩ, nếu mình trút áo nâu rồi, ít nhất có một người sẽ thôi say khi mùa cưới đến. Ba tuổi, cả nhà chết vì chìm ghe, thầy lon ton vào chùa, theo sư cô Tư Huệ học đạo. Sư cô về Niết Bàn, thầy vẫn còn lơ ngơ, không còn ai dắt đi trên con đường thẳm. Ba mươi năm sau thầy vẫn chưa đủ hạnh, cũng giận, cũng buồn. Giận vẫn chửi, có điều chửi chay, kiểu như rầy đám con nít hái trộm bông trang trong vườn chùa: “mấy đứa bây kiếp sau sẽ biến thành cỏ cứt heo”. Lâu lâu hứng chí quá uống chút rượu, về tụng kinh sám hối suốt đêm, mà thấy bảo là “bù đắp cho hạnh bị hót mất một lỗ”. Mấy bà già quen lối nghĩ người tu hành thường nghiêm trang, từ tốn, gặp thầy lần nào cũng buột miệng rầy, “không giống thầy chùa”. Thầy cãi, ai biết được.

Hay ngoái lại nẻo đời, vẫn loay hoay với ý nghĩ có những số phận mà trăm ngàn quyển kinh kệ cũng bó tay, không cứu chuộc được. Đó là lúc bông son rụng trụi cành, người ta nườm nượp cưới, cô say nhiều hơn, ghé chùa thường hơn, gục gặc bên mấy pho tượng Phật. Thầy với gã chỉ biết nhìn cô vất vơ.

Gã lao vào học Phật. Chùa cũng không còn mấy quyển kinh, gã thuộc mau, tụng niệm mê mỏi. Gã còn đòi xuống tóc. Tóc không can gì tới cái tâm bất an, thầy nói vậy, nhưng cũng cạo đầu cho bạn. Cô trông thấy cái đầu trọc bóng của gã, chới với như té cầu khỉ “giờ cũng bỏ tui đi tu sao?”. Bữa sau, mở cửa thấy cô nằm bẹp trước sân, người vương vất sương, thầy nổi quạu, ôm mấy cuốn kinh quăng phẹp trước mặt gã:

– Ông là thứ cỏ chỉ vô dụng. Tối ngày chỉ biết may vô đất thì ích gì? Người ta té sông, ông đọc kinh sám hối thì tự dưng người ta nổi lên sao? Phải thò tay kéo họ kìa, ông ơi.

Thầy nắm tay, dứ trước mặt gã, như níu lấy một cái gì đó, không rõ ràng. Gã lúi húi nhặt nhạnh sách, như nỗi khổ tâm đang lúc nhúc bò trên đất. Vì lời của thầy, vì màu da dưới áo cô nhiễm lạnh ngả tím, như bị dìm lâu trong nước. Khi cô tỉnh giấc, ra về, gã nói vói theo, “chừng nào buồn, ghé uống với tôi”.

Giọng gã rất khó nghe, nó đã quánh đặc, đông thành khối trong lòng, từng từ rắn như đá lục cục lăn qua đầu môi. Cô cười. Vườn thuốc sau chùa lâu lâu bả lả hơi rượu. Mùi men rượu gạo của năm mười tám tuổi thốc lên làm gã sợ. Sau cơn chếnh choáng, gã đầm đìa mồ hôi như vừa xông nồi lá thuốc. Người nhẹ bang, vì ngó vào lòng, thấy dục vọng trống không. Gã có thể nhìn thẳng vào cô, trên gương mặt cô gái già đã xuất hiện những đốm đồi mồi. Cô nạt:

– Gì?

Mặt cô hơi đỏ, như máu đang mon men quay lại chảy trên những cái mạch bỏ hoang. Có gã giữ rượu, cô không còn cơ hội để say, bớt xơ xác. Kinh kệ không làm được điều này, gã nghĩ lại. Thầy biết hình như gã đã hiểu ra rồi.

Gã thôi bỏ chạy khi có việc ngang qua bờ chuối cũ. Những tay chuối rối tung. Nơi đứa bé gái giãy khóc ằng ặc, đòi méc má trong bàn tay thô bạo cuống cuồng của gã. Gã chịu trận những ánh nhìn nghiệt ngã lúc theo thầy đến những đám tang, thức thâu đêm, giữ đều từng hồi trống, phụ gia chủ bưng trà nước.

Giữa hai mùa son, gã đã dựng được cái hàng rào, tôn nền mộ của sư bà lên cao, trồng bốn luống mỏ quạ, thuộc được mấy bản kinh, cạo đầu một lần. Hai lần được cô gái buồn nhất Thổ Sầu, đề nghị, “Anh cưới tui đi, không thì ai cưới bây giờ” sau khi chúc cán chai rượu vào đất.

Gã biến mất. Chuyện đi ở như khúc củi mục linh đinh, thầy đã cố vớt lên, nhưng rồi con nước dâng, củi lại trôi rồi. Sáp đèn cầy chảy ròng. Cô nhớ gã, ghé chùa dáo dác, “Đi luôn rồi hả? Không cưới tui thì thôi, mắc gì phải trốn?”. Thầy nhẹ nhàng nói, đừng lo. Tới nắng thằng cha đó lại về.

Thầy đoán đúng. Chỉ là không lường được cái chới với trong lòng mình khi nhìn đôi người đi cạnh nhau trên con đường xóm, như hai cây tre miễu lêu đêu, bóng soi xuống sông nhằng nhịt. Những lúc rười rượi lúc nhìn khói bếp bọc lấy ngôi nhà nhỏ vừa dựng trên vườn cũ bên sông, vì cái buồn thế tục đó, thầy nghĩ chắc mình phải đi tu chùa xa.

Nguyễn Ngọc Tư

Ảnh từ báo Giác Ngộ Online

Thứ Ba, 29 tháng 4, 2025

PHÚ QUÝ... Thơ Mai Xuận Thanh & Thơ họa

 


 PHÚ QUÝ

“Phú quý vinh hoa trò mộng ảo
Sắc tài danh vọng cảnh phù du”

( Tung hoành trục khoán)

PHÚ cường thịnh vượng sống êm ru
QUÝ bạn làm nông được bội thu
VINH nhục kinh qua rồi hạnh phúc
HOA tươi trái ngọt mới nên tu
NHƯ hòa thượng trụ trì kinh kệ
MỘNG niết bàn xa lánh ngục tù
ẢO ảnh mê lầm sao giác ngộ…?
SẮC TÀI DANH LỢI TỰA PHÙ DU…!

MAI XUÂN THANH
Silicone Valley, April 03, 2025



Thơ họa:


THI HỨNG PHÙ DU

PHÚ cho người thả khúc ca ru
QUÝ hóa thời đang tiết lập thu
VINH hiển tăng sinh mừng khuyến học
HOA khai cư sĩ vọng hành tu
NHƯ mơ trời đất soi chân thực
MỘNG huyễn nhân gian ngỡ giả tù
ẢO giác khiến nghe kinh tưởng kệ
SẮC TÀI DANH LỢI TỰA PHÙ DU …

Hawthorne 4 - 4 - 2025
CAO MỴ NHÂN


TRÒ ĐỜI

PHÚ cường đâu đến nhẹ như ru
QUÝ tướng coi chừng cũng thất thu
VINH nhục đừng hoài quên chữ nhẫn
HOA tình chớ mãi lỏng đường tu
TRÒ đời lầm lạc thường đau khổ
MỘNG ước cao xa dễ tội tù
ẢO ảnh ngàn đời luôn huyễn hoặc
SẮC TÀI DANH LỢI CẢNH PHÙ DU.

Sông Thu
( 04/04/2025 )



NẾP SỐNG CỦA ĐỜI


PHÚ nhân cuộc sống khỏe như ru
QUÝ trọng kim tiền chẳng thất thu
VINH hiển cả đời nhờ nghiệp thiện
HOA vương suốt kiếp cậy đường tu
TRÒ chơi giải trí hồn thư giản
MỘNG mị đam mê ý đọng tù
ẢO tưởng chỉ làm tâm bối rối
SẮC TÀI DANH LỢI CẢNH PHÙ DU
songquang
20250404


( ngày thanh minh năm Ất Tỵ)


SẮC BẤT DỊ KHÔNG

PHÚ sĩ bốn mùa mưa/nắng ru
QUÝ thi nhân họp lúc vào thu
VINH thời đắc thế không kiêu ngạo
HOA sắc phai tàn hoại kiếp tu
NHƯ thấy bản lai là kiến tánh
MỘNG mê trần thế mãi lưu tù
ẢO huyền lục đạo trầm luân mãi
SẮC BẤT DỊ KHÔNG CHỐN VIỄN DU

Kiều Mộng Hà
April.03.2025


Tự họa : PHÚ-BẦN…

PHÚ bần tương tác bạn bè ru
QUÝ vụ đồng chiêm gặt hái thu
VINH dự đệ huynh ngồi trật tự
HOA khai tỷ muội tọa thiền tu
TRÒ đời đổi trắng bôi vôi tội
MỘNG kiếp thay đen xộ khám tù
ẢO ảnh mơ hồ trong dục vọng
SẮC TÀI DANH LỢI CẢNH PHÙ DU…

MAI XUÂN THANH
Silicone Valley April 04, 2025


Tự họa : PHÚ GIA…


PHÚ gia sống khỏe đẹp ca ru
QUÝ chuộng kim tiền bạc lẻ thu
VINH hiển vô năng trôi dòng nước
HOA thơm bản lãnh mở đường tu
NHƯ chơi bịp bợm mà ôm nợ
MỘNG ước tham sân mới ở tù
ẢO giác còn mơ chi sự thật ?
SẮC TÀI DANH LỢI TỰA PHÙ DU…

MAI XUÂN THANH
Silicone Valley, April 4, 2025

CẢNH PHÙ DU

PHÚ bần chẳng tính tợ lời ru
QUÝ nghĩa yêu vì trọn tiết thu
VINH hiển âm thầm theo bọt nước
HOA ngời rực rỡ giúp đường tu
TRÒ vui mãi vướng ôm đồm nợ
MỘNG tưởng đà buông vẫy biệt tù
ẢO não tâm hồn nay mới nghiệm
SẮC TÀI DANH LỢI CẢNH PHÙ DU.

Như Thu 04/04/2025


Nhà người Pháp xây từ năm 1200



Miếu Thờ 11 Thiếu Nữ Việt Nam Bị Hải Tặc Thái Lan Hãm Hại & Vứt Xác Xuống Biển !


Tha Sala, đêm chôn vùi tội ác
Ngày hai mươi mốt tháng Chạp năm Kỷ Tỵ, xác mười một cô gái Việt Nam tuổi từ mười chín đến hai mươi ba, trôi dạt vào bờ biển Tha Sala, Thái Lan, trên người không một mảnh vải che thân.
Những người con gái Việt Nam, cổ bị trói chùm vào nhau, sau khi bị bọn hải tặc Thái Lan mất nhân tính hãm hiếp, bị đẩy xuống biển, và sau khi hơi thở còn thoi thóp sự sống, sau tột cùng của đau thương ô nhục, các cô đã bị kéo theo tàu hải tặc, thân thể chập chùng theo sóng nước từ đuôi tàu, cho đến một lúc, cho đến một lúc linh hồn buốt lạnh rời khỏi xác đau thương, bọn hải tặc man rợ chặt giây, để xác người nhận chìm trong đại dương loang màu máu.
Những ngày chuẩn bị vào Xuân Canh Ngọ (1990), một mẩu tin rất ngắn trên báo Úc loan tin người ta tìm thấy xác mười một cô gái Việt Nam chết trần truồng trên bờ biển Tha Sala. Người ta đoán tuổi các cô gái từ mười chín đến hai mươi ba, cổ bị giây thừng trói chùm vào nhau.
Tôi đã viết một bài tưởng niệm để người bạn thân Trung Chính đọc trên đài phát thanh SBS với lời mở đầu như trên. Giọng đọc dù rất lão luyện, nhưng chợt nghẹn ngào của Chính, đã gửi đi toàn nước Úc một thông điệp buồn, đúng chương trình phát thanh đặc biệt vào giờ khắc giao thừa.
Hôm nay tôi đang ngồi trên bờ biển Tha Sala để viết những dòng này. Bao nhiêu năm dài đã trôi qua.
Trên bờ biển, dưới một táng cây dương liễu lớn, có dáng một chiếc thuyền dài gần mười thước đã rả mục, chỉ còn trơ ba lớp ván đáy thuyền. Người ta kê miếng ván thuyền này trên các cột thấp, phía trên lợp mái tranh, hai đầu mũi thuyền có hai cái am nhỏ, một cái hướng vào bờ, một cái hướng ra biển.
Lúc tôi đến thì đúng lúc một bà lão Thái đang cùng hai cậu nhỏ bưng đồ cúng gồm trái cây và xôi trắng phía trong bờ đi ra. Bà cụ sắp đồ cúng lên hai cái am, kê một cái bàn vuông nhỏ ngay phía mũi thuyền hướng biển, đặt mâm ngũ quả lên, thắp hương vái rồi đi vào.
Tôi không biết bà cúng ai vì bà không nói được, có lẽ miếng ván thuyền để trong chòi tranh là di tích một thuyền cá nào đó trôi vào bờ. Có lẽ có người chết trên thuyền nên người địa phương mới chưng thờ miếng ván một cách trang trọng dù mái che và cột chống tơi tả nhuộm một màu buồn bã và nghèo nàn.
Đột nhiên thấy rùng mình.
Bờ Tha Sala không phải là chốn nghỉ. Người Thái chê bờ biển này vì có nhiều thuyền đánh cá, bờ cát sạch nhưng đáy biển là lớp bùn dầy. Người nước ngoài qua đảo Ko Samui không xa lắm. Hai chục cái nhà sàn không một người khách nào khác đến thuê ở qua đêm. Con đường từ đường quốc lộ vào đây phải đi bộ trên hai cây số. Có lẽ những căn nhà sàn gỗ đỏ mái tôn dành cho người địa phương gần đâu đấy vì bên trong không có gì, ngoài một cái giường có treo mùng trắng và cái quạt bàn.
Một bờ biển rất buồn. Một làng chài lạc lõng trên bản đồ vùng duyên hải phía nam của Thái Lan, thuộc tỉnh Nakhon Si Thammarat.
Tôi ra dấu xin bà cụ một ít nhang. Cụ sai một đứa nhỏ chạy vào trong cầm ra ba nén nhang.
Có ai đó đang đốt nén hương dâng lên bàn thờ Tổ, xin thắp thêm nén hương lòng, cắm vào hư không cho thơm linh hồn của những người nằm xuống trên cuộc hải trình tuyệt vọng. Có ai đó đang đi lễ chùa đêm nay, hãy dừng lại thả vào không gian tiếng thở dài, để sưởi ấm những hương hồn cô đơn lạnh lẽo. Có ai đó đang ngập ngừng trước cổng thánh đường, hãy xin Chúa ban phát tình yêu cũng như niềm đau khổ đồng đều cho hết thảy nhân loại.
Chính đã đọc những lời trên ở đất Úc yên bình hai mươi hai năm trước, hướng về những linh hồn thảm tử Việt Nam trôi vào bờ Tha Sala.
Hôm nay tôi đưa giọng trầm buồn của Chính vang trên bờ Tha Sala vắng lặng. Hôm nay tôi cắm một nén hương trên bờ biển Tha Sala vắng lạnh giữa trời mai nắng cháy.
Chợt nghẹn ngào. Mặt biển xa phẳng như mặt nước hồ. Sóng nhẹ không thành tiếng.
Một vị sư ở Việt Nam khi biết ý định, đã chỉ cho tôi cách tịnh thủy và cầu nguyện.
Tôi ngồi sau nén hương, hướng ra biển. Những tàng dừa biển mọc sát đất xào xạc trong gió. Lá bàng vàng vỏ rơi rụng trên những vỏ sò đá cuội trắng.
Tôi cám ơn bà cụ đã cho tôi nén hương làm từ vùng đất của những tên cướp biển. Nhưng những người Thái mà tôi gặp hết sức hiền lành và tốt bụng. Mấy ngày qua tôi ở nhờ gia đình một bà bác sĩ trong khu vực dành cho bác sĩ và sinh viên y khoa bên trong khuôn viên nhà thương Maharat ở trung tâm tỉnh Nakhon Si Thammarat. Bà chỉ cho tôi đến bờ Tha Sala chỉ cách trung tâm thành phố vài chục cây số. Nhưng khi tôi hỏi cách qua đảo Ko Kra thì bà chịu. Bà cả không biết có một hòn đảo có tên như thế nằm trong ranh giới tỉnh nhà.
Koh Kra, người Thái đọc là Cỏ Cả (Koh là đảo). Năm 1981, các nhà văn Nhật Tiến, Dương Phục, và Vũ Thanh Thủy đã viết một bản tường trình từ trại tị nạn Songkhla miền cực nam nước Thái về thảm trạng kinh hoàng của thuyền nhân trên đảo này. Bản tường trình hải tặc trong Vịnh Thái Lan của họ đã dóng lên tiếng kêu đau đớn, tiếng chuông hy vọng và tuyệt vọng nhất của thời đại chúng tôi.
Mười một cô gái chết thảm nơi đây thuộc thế hệ chúng tôi.
Họ sinh ra trong thời chiến, chết trong thời hậu chiến trên biển người và đất lạ.
Buổi trưa, tôi nửa nhắm nửa mở ngồi trên ghế dựa nhìn ra biển vắng. Căn nhà sàn tôi ở nằm sát mép nước, tận trong cùng của khuôn viên, chỉ cách cái chòi thờ miếng ván thuyền độ 20 thước.
Chợt thấy hai cô gái phục sức theo Hồi Giáo, khăn trùm kín đầu, đi dạo trên bờ biển. Một cô trùm khăn trắng, một cô khăn đỏ rực. Họ nắm tay nhau đứng nói chuyện trước chòi thờ ván thuyền.
Những người con gái Việt Nam đã chết trần truồng trên bờ biển này. Những người con gái đạo Hồi kín đáo từ đầu đến chân đứng nhởn nhơ trên bờ biển này.
Chờ gần chiều khi biển chỉ còn một màu vàng đỏ, tôi đi lần xuống nước tính lấy toàn cảnh từ biển trông vào bờ. Nhưng khi ngẩng đầu lên thì giật nẩy mình. Ngay nóc chòi thờ chiếc ván thuyến, có di ảnh mờ mờ của một cô gái. Có lẽ do nắng gió từ biển khơi lâu ngày nên hình hài trên ảnh đã mờ, nhưng trông kỹ vẫn thấy đúng là ảnh một cô gái. Cả thân hình cô được bao phủ bởi một thân cây già, các táng cây mọc sau cô xòe những lá cây như hoa trắng trùm lên mái tóc dài thả xuống hai vai, cô quỳ hai gối trên một chiếc thuyền buồm đang vượt đại dương, miệng mỉm cười, đôi mắt đen to nhìn thẳng ra biển.
Tôi rùng mình trong thoáng giây. Tôi đã quan sát hai cái am nhỏ hồi sáng. Không có tượng Phật. Thì ra họ thờ cô gái này.
Tôi chụp nhanh một tấm thì đúng lúc, trời đổ mưa lắc rắc, mây từ đâu kéo đến đen cả bầu trời. Rồi những hạt mưa to trút xuống cả biển khơi, rơi đồm độp trên mái lá mái tôn và bãi cát. Một tia chớp sáng lóe bầu trời. Gió nổi mạnh trong khi ngoài biển xa bầu trời vẫn vàng ươm ánh chiều tím mịn.
Tôi chạy vội vào căn nhà bán thức ăn. Lúc này không có gì hơn là một lon bia Thái. Một người đàn ông chừng bốn mươi tuổi mang bia ra, tiện thể ngồi xuống bên cạnh để hỏi chuyện.
Tôi hỏi tại sao có cái chòi thờ chiếc chuyền đã rả mục, lại có hai cái am. Có phải thờ cô gái có di ảnh hướng ra biển không.
Ông ta là con trai độc nhất của bà cụ hồi sáng. Ông trầm ngâm, nói tới đâu tôi lạnh mình tới đấy.
Ông kể rằng cách đây mười bảy năm, gia đình từ đảo Samui qua đây lập nghiệp. Khi đào cát để lập chòi thì thấy xác một chiếc thuyền vùi sâu trong cát. Ông nói trước đây có một số thuyền Việt Nam qua đây, nhưng không chắc có phải là thuyền của người Việt hay không.
Cả nhà khi đào thấy chiếc thuyền cũng không chú ý, chỉ để trơ ra đấy. Thế rồi một hôm, có một vị sư kêu mẹ ông đến bảo rằng hãy thờ chiếc thuyền ấy. Vị sư nói ông nằm mộng thấy một cô gái hình vóc như thế này thế kia, đến nhờ ông nói lại với gia đình là những người đi trên thuyền, trong đó có cô, đã chết thảm, nên xin được thờ phụng. Vị sư kêu người vẽ lại chân dung cô gái như ông thấy, rồi bảo bà cụ hãy thờ cô gái này nơi chỗ xác thuyền tìm thấy.
Bà cụ là người mộ đạo nên làm theo. Cả mười bảy năm nay, mỗi ngày bà cụ đều cúng hai mâm như thế cả.
Tôi xúc động nói với người đàn ông, dù gia đình ông không chắc người chết trên thuyền kia là ai, nhưng tôi chắc là những thuyền nhân Việt Nam, vì mười bảy năm trước thuyền đã mục, nghĩa là chiếc thuyền đã vùi trong cát lâu lắm, có lẽ từ khoảng thời kỳ mà thuyền nhân Việt ồ ạt ra đi.
Người đàn ông lặng thinh, ngẫm nghĩ. Rồi ông vào trong nhà mời bà cụ ra. Bà bảo khi bà lập chỗ thờ thuyền cùng di ảnh cô gái, người trong làng cá này đều bảo bà điên. Nhưng bà không màng, bà bảo bà tin có Phật, nhất là vị sư không bao giờ đặt chuyện như thế.
Trời đã sụp tối, tiếng sóng biển rì rào. Tôi về lại căn nhà sàn của mình, phải đi ngang lại chiếc chòi thờ thuyền. Bất chợt, dù cả đời không sợ ma vì biết ma chê mình, người tôi lạnh xương sống.
Nhìn quanh không một bóng người. Tiếng song vỗ rì rào, tiếng chó tru trong đêm rờn rợn.
Nhưng rồi tôi cũng đứng lại hồi lâu trước di ảnh cô gái trong bóng tối nhá nhem. Có lẽ từ một tiếng gọi kêu nào đấy đã đưa chân tôi lưu lạc chốn này để thấy lại một thảm cảnh hiển bày.
Tha Sala, em ơi, đêm nay sóng cuồng điên ngoài biển, miếng ván thuyền rả mục trên bờ vắng.
Mưa đã ngưng nhưng cát vẫn ướt.
Tôi vào nhà lấy cái máy đem ra để cạnh cái chòi thờ, mở lại giọng đọc của Chính. Trong đêm vắng, giọng của người bạn tôi như tiếng kinh cầu chiêu niệm những oan hồn lẩn khuất đâu đây. Tiếng của anh chậm buồn như sóng biển ngoài kia đang thổn thức.
Đêm nay, đêm oai linh, đêm hồn thiêng sông núi, đêm của tổ tiên nghìn năm sống lại, đêm của những bước chân phiêu lãng trở về bên đốm lửa quê nhà.
Đêm đào huyệt chôn vùi tội ác và ích kỷ. Đêm của những tấm lòng nở hoa nhân ái.
Xin hãy bàn giao hiện tại tối tăm và phù phiếm, cho ngày mai rạng rỡ bài đồng ca thơm ngát tình người. Để mùa xuân được trải đều khắp chốn.
Để thiện tâm nở đầy trên lòng bàn tay, thúc giục những bước chân trần tiến về những cuộc hải trình tuyệt vọng, cho mùa xuân chia đều trên mỗi một sinh mệnh của đồng bào.
*
Tha Sala, tôi thắp nén hương này, nói vào hư không bài văn tế không thành tiếng.

Lê Đại Lãng - Tha Sala 

Thứ Hai, 28 tháng 4, 2025

Góc Đường Thi : HOÀI THỦY BIỆT HỮU - Trịnh Cốc

 Góc Đường Thi : 

                                HOÀI THỦY BIỆT HỮU 
                                             Trịnh Cốc
 
        Đây là bài viết riêng tặng cho Anh Sui HUỲNH THANH SƠN, người đã có chung cảm xúc hoài cổ bồi hồi, man mác, bâng khuâng... khi đọc câu :

                     ... Sổ thanh phong địch ly đình vãn,...
                         Quân hướng Tiêu Tương ngã hướng Tần !.
                             

        Thơ Tuyệt cú từ sau Đỗ Mục và LÝ Thương Ẩn của thời Vãn Đường thì dần dần chuyển sang phong cách nghị luận mà giảm dần đi tính cách du dương trữ tình. Trịnh Cốc là người còn giữ được vẻ mượt mà tình tứ với âm điệu thiết tha đầy hình tượng của thuở Thịnh Đường....  Xin mời tất cả cùng đọc một bài thơ tả cảnh chia tay giữa 2 người bạn thân với nhau nhé !

    淮上與友人別              HOÀI THƯỢNG DỮ HỮU NHÂN BIỆT

  揚子江頭楊柳春,        Dương Tử Giang đầu dương liễu xuân,
  
楊花愁殺渡江人。        Dương hoa sầu sát độ giang nhân.
  
數聲風笛離亭晚,        Sổ thanh phong địch ly đình vãn,

  君向瀟湘我向秦。        Quân hướng Tiêu Tương ngã hướng Tần.
                     鄭 谷                                                      Trịnh Cốc. 

* CHÚ THÍCH :

    1. HOÀI : là đất Dương Châu. HOÀI THỦY là tên con sông chảy qua thành Dương Châu. Bài thơ nầy còn có một tên khác là : HOÀI THƯỢNG DỮ HỮU NHÂN BIỆT ( Giã từ bạn trên dòng sông Hoài ).
    2. DƯƠNG TỬ GIANG : Một nhánh của sông Trường Giang từ Trấn Giang đến Dương Châu của tỉnh Giang Tô, xưa gọi là Dương Tử Giang.
    3. SẦU SÁT : Cái Sầu làm chết người được ! Chỉ nỗi sầu ray rức, ta nói là " Buồn Thúi Ruột, Buồn muốn chết !"
    4. LY ĐÌNH : ĐÌNH là cái mái che không có vách, cất theo dọc đường ngày xưa để cho người đi đường ngồi nghỉ chân. Cứ 5 dặm thì có một Tiểu Đình và 10 dặm thì có một Trường Đình. Đọc trong Kiều ta cũng thấy :
                       Bề ngoài mười dặm TRƯỜNG ĐÌNH,
                       Vương ông đặc tiệc tiễn hành đưa theo.

vì thường dùng làm nơi đưa tiễn, cho nên còn gọi là LY ĐÌNH, là nơi chia tay lúc ly biệt.

   5. TIÊU TƯƠNG : chỉ vùng đất ở tỉnh Hồ Nam hiện nay.
   6. DƯƠNG HOA : Hoa của Dương liễu, còn gọi là Liễu Nhự thường tung bay theo gió, phất phơ trắng xóa một vùng. Thơ Á Nam Trần Tuấn Khải có câu :

                      " Liễu rơi trước gió ngỡ là bướm bay ! "...

   7. TẦN : Chỉ Đô Thành Trường An thuở xưa, thuộc tỉnh Thiểm Tây hiện nay.
   8. PHONG ĐỊCH : Tiếng sáo chập chờn đưa theo gió.

 * DỊCH NGHĨA :

                         GIÃ BIỆT BẠN TRÊN DÒNG SÔNG HOÀI

      Vẻ xanh tươi của dương liễu trên dòng sông Dương Tử với hoa dương liễu cuốn bay theo gió phất phơ khiến lòng người qua sông buồn muốn thúi ruột ! Văng vẳng đâu đây mấy tiếng sáo thiết tha réo rắc quyện đưa theo gió trong buổi chiều bên ly đình vắng vẻ , thôi thì đất Tiêu Tương bạn cứ đến còn tôi, tôi sẽ đi về đất Tần của xứ Trường An ngàn năm văn vật !


      Bài thơ gợi cảm với cảnh chia tay mỗi người mỗi ngả, những từ Dương Tử Giang, Dương Liễu, Ly Đình, Phong địch... nhất là từ Tiêu Tương khiến người đọc dễ cảm xúc ngẩn ngơ vì những câu thơ trong tiềm thức đã biết được qua Chinh Phụ Ngâm Khúc :

                     Chốn Hàm Dương chàng còn ngoảnh lại,
                     Bến Tiêu Tương thiếp hãy trông sang.
                     Bến Tiêu Tương cách Hàm Dương,
                     Cây Hàm Dương cách Tiêu Tương mấy trùng.!!!...

       Lúc còn trẻ, tôi cứ ngẩn ngơ mãi khi đọc 2 câu cuối của bài thơ :

                     Sổ thanh phong địch ly đình vãn,

                     Quân hướng Tiêu Tương ngã hướng Tần !

... nhất là câu cuối cùng âm điệu cứ như còn quyện mãi ở trong lòng người đọc : " Quân hướng Tiêu Tương ngã hướng Tần ! ". Ôi, sao mà buồn và nên thơ quá thế ?!!!

                         


                         Bản viết tay của ĐCĐ                        
















 Thư pháp trên mạng                       











* DIỄN NÔM :

                   Dương liễu xanh xanh Dương Tử Giang,
                   Liễu bay sầu chết khách sang ngang.
                   Sáo ai réo rắc chiều ly biệt,
                   Bạn đến Tiêu Tương tớ đến Tần.
   Lục Bát :
                   Vẻ xuân dương liễu giang đầu,
                   Qua sông lòng khách nghe sầu chứa chan.
                   Sáo ai réo rắc ly tan,

                   Tiêu Tương bạn đến, tôi sang đất Tần !                     

* TIỂU SỬ TÁC GIẢ :                          

           Inline image TRỊNH CỐC ( 851-910 ), tự Thủ Ngu, người đất Viên Châu Nghi Xuân ( nay là Huyện Nghi Xuân tỉnh Giang Tây ). Thi nhân của cuối đời Đường ( đầu đời Ngũ Đại ), tự nhỏ nổi tiếng  thông minh, ở tuổi cởi ngựa trúc đã biết Phú Thi. Đậu Tiến Sĩ năm Khải Quang, từng giữ các chức Tham Quân xứ Kinh Triệu, Hữu Thập Di, sau chuyển sang chức Đô Quản Lang Trung, nên người đời thường xưng là Trịnh Đô Quản. Trịnh Cốc thường hay xướng họa với Tiết Năng, Lý Tần, Trương Kiều, Hứa Đường... mười người, được người đời xưng tụng là " Hàm Thông Thập Triết ". Sau cùng xướng họa với nhà sư TỀ KỶ, được TỀ KỶ tôn là " Nhất Tự Sư " ( ông thầy một chữ, đúng ra là ÔNG THẦY CHỮ NHẤT ) theo tích sau đây   :
                
          TỀ KỶ là nhà sư nổi tiếng về thơ cuối đời Đường, đầu đời Ngũ Đại. Một lần vào cuối Đông, sau một đêm tuyết lớn, sáng ra phát hiện có mấy đóa mai đà hé nở ở đầu thôn, bèn làm một bài thơ " TẢO MAI 早梅 " để ca ngợi hoa mai nở sớm, trong đó có 2 câu :

                      Tiền thôn thâm tuyết lí,                   前村深雪裡,
                      Tạc dạ sổ chi khai.                          昨夜数枝開.

Có nghĩa :
                Trong bãi tuyết trắng mịt mùng ở đầu thôn, 
                Đêm hôm qua có mấy đóa mai đà nở rộ.

                  Xóm ngoài trong tuyết lạnh,
                  Đêm qua nở mấy cành.

          Nhà sư rất đắc Ý với 2 câu thơ trên, mới đem bài thơ của mình ra khoe với Trịnh Cốc. Không ngờ sau khi đọc tới đọc lui một hồi, Trinh Cốc bèn góp Ý rằng : " Mấy đóa mai nở đã nhiều và phồn thịnh lắm rồi, không nêu bật được cái Ý " SỚM " nữa, sao không đổi lại là " Nhất Chi Khai " ( chỉ có một đóa nở thôi ! ) có phải SỚM hơn không ?!. Nhà Sư TỀ KỶ chợt tỉnh ra và khen hay luôn miệng, bèn đổi chữ " SỔ " trong câu thơ thành chữ " NHẤT " và bái tạ Trịnh Cốc đã điểm hóa cho mình.


                      Tiền thôn thâm tuyết lí,            前村深雪裡,
                      Tạc dạ NHẤT chi khai.             昨夜.

                        Xóm ngoài trong tuyết lạnh,
                        Đêm qua nở một cành.

      Người đời sau bèn gọi Trịnh Cốc là " Nhất Tự Sư " của nhà sư TỀ KỶ là vì thế.
 
  Nhân chuyện này làm ta nhớ đến bài CÁO TẬT THỊ CHÚNG của Mãn Giác Thiền Sư Việt Nam ta, trong đó có 2 câu cuối như sau :

                  Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận,            莫謂春殘花落尽,
                  Đình tiền tạc dạ nhất chi mai.          
庭前昨夜一枝梅.

Có nghĩa : 
                           Chớ bảo xuân tàn hoa rụng hết,
                           Đêm qua sân trước một cành mai !


       Một nhà sư tả cảnh Mai Sớm, một nhà sư tả cảnh Mai Muộn, một nhà sư ở miền Bắc, một nhà sư ở miền Nam, một nhà sư ở đời Ngũ Đại ( 907-979 ) bên Trung Hoa, một nhà sư ở đời LÝ ( 1009-1225 ) của Việt Nam, một bên chuyên chú về văn chương, một bên chuyên chú về thiền : Mãn Giác (滿覺), 1052-1096, là một Thiền sư Việt Nam thuộc đời thứ 8 của dòng Thiền Vô Ngôn Thông.  Nhưng cả 2 cùng có một cái CHUNG là cùng gặp nhau trong Ý NIỆM về văn chương, cùng một cảm xúc trước một cành mai, một loại hoa tượng trưng cho sự thanh cao liêm khiết trong cảnh thiên nhiên bao la vô cùng tận....

       Hẹn bài viết tới !

                                                                                   杜紹德
                                                                              Đỗ Chiêu Đức



 Mời Xem :

Góc Đường Thi : Thương Hữu Nhân Điếu Xuy Tiêu Kỹ - Đỗ Mục

Thơ Xướng Họa : NĂM NGỌ BÌNH AN : Hường Xưa và Ngọc Ánh

NĂM NGỌ BÌNH AN Ất Tỵ liền qua đã ngủ vèo Sương tràn lặng lẽ phủ sầu theo Đời xưa lật gió phai hồn dẻo Nẻo cũ mòn chân nặng dốc đèo Xác rũ...