Thứ Hai, 29 tháng 10, 2018

Thơ Xướng Họa : MƯA SAIGON ( Mai Xụân Thanh,Cao My Nhân )


Xướng : Mưa Sài Gòn

Mưa Sài Gòn ngập lối em qua
Nước loáng mặt sân chảy xuống ga
Mưa lớn cầm chân nhiều khách đợi
Con thơ chờ mẹ những bao quà
Mưa chiều gió lạnh đau buồn cửa
Nắng xế trời hanh chạnh nhớ nhà
Về lại quê hương tìm bạn cũ
Tới nơi lạ cảnh họ quên ta

Mai Xuân Thanh


Họa : Mưa Lữ Thứ

Mưa như năm tháng vụt trôi qua
Nước ướt đôi vai trước cửa ga
Em đợi anh về hong ấm tóc
Mẹ chờ con tới để trao quà
Người vui phiêu bạt quên tìm mộng
Khách mãi tha phương vẫn xót nhà
Bài kệ từ đâu văng vẳng vọng
Tiếng buồn từng giọt lệ thương ta...

Cao Mỵ Nhân
Hawthorne 

Củ từ – món ăn cần có khi thời tiết trở lạnh

Được biết tới với những tên gọi như củ nâu, củ mài, củ từ, khoai mỡ… khoai từ là thực phẩm đại bổ trong những ngày đông với nhiều công dụng bất ngờ.
Khoai từ hay còn gọi là củ từ (tên Hán Việt: thổ noãn, thổ vu, danh pháp hai phần: Dioscorea esculenta), là một dạng khoai thuộc họ Củ nâu Dioscoreaceae. Khoai từ gồm có các dạng là khoai từ (củ từ), củ từ lông (có loại ít hoặc nhiều lông).
Là thực phẩm hàng đầu có tác dụng ích khí bổ âm, một vài năm trở lại đây củ từ ngày càng được ưa chuộng trên thị trường. Nó được coi là “người yêu của mọi người” trong các loại rau củ mùa đông. Một số người ăn củ cải có thể cảm thấy lạnh, nhưng loại củ này mang tính bình hòa không độc tính, thích hợp với hầu như tất cả mọi người. Theo y học cổ truyền, củ từ có chức năng ích khí, dưỡng âm, bổ Tỳ, ích Thận, rất thích hợp sử dụng cho những người Tỳ Vị yếu, khí huyết hư hao…
Về thành phần hoá học, trong 100g củ từ có 75g nước, 1,5g protit, 21,5g gluxit 1,2g xenluloza, 28mg canxi, 30mg photpho, 0,2mg sắt… cung cấp được 94Kcal. Giá trị dinh dưỡng được đánh giá là tương đương khoai tây.

Theo Đông y, củ khoai từ có vị ngọt, tính bình, có tác dụng chống mệt mỏi, ích khí lực, kiện tỳ vị, cường thận dương, giải các chất độc khỏi cơ thể và chữa được nhiều bệnh. (Ảnh: Healthplus.vn)

Thêm vào đó, củ từ chứa nguồn vitamin A, B, C rất phong phú, giúp thúc đẩy sự trao đổi chất trong cơ thể, phòng chống lão hóa, tăng cường miễn dịch cơ thể, hỗ trợ giúp xương chắc khỏe đồng thời cải thiện làn da, thị lực. Amylase và polyphenol oxidase trong khoai từ rất có lợi cho dạ dày và quá trình tiêu hóa. Đây cũng là thực phẩm có khả năng phòng chống ung thư mà chúng ta không nên bỏ qua. Dưới đây là một số công dụng nổi bật của củ từ. 
Công dụng của củ từ

Phòng ngừa bệnh tim mạch: Vitamin và nguyên tố vi lượng phong phú trong khoai từ có tác dụng ngăn cản tích tụ chất béo trong thành mạch máu, giảm nguy cơ mắc tim, huyết áp thấp và giúp tinh thần ổn định. Đây là thực phẩm hữu ích tốt cho người có tiền sử tim và huyết áp trong mùa đông.

Kiện Tỳ, ích Vị: Trong củ từ có chứa Amylase và polyphenol oxidase, đây là hai chất hỗ trợ rất tốt cho dạ dày và quá trình tiêu hóa. Loại củ này còn giúp cơ thể tăng khả năng hấp thu và sở hữu công dụng tương tự những loại thuốc bổ Tỳ. Do đó, những người có Tỳ dương suy yếu, dạ dày mắc chứng âm hư hoặc ăn ít, chán ăn, đi tả đều có thể sử dụng loại thực phẩm này để tăng cường sức khỏe cho Tỳ, Vị.

Bổ Phế, khỏi ho: Chất saponin và niêm dịch trong khoai từ lại có tác dụng làm dịu và nhuận họng, bổ phế, tiêu đờm, trị các chứng ho khan, tiêu trừ một số loại bệnh về đường hô hấp. Thường xuyên sử dụng sẽ hỗ trợ giúp bổ phế hiệu quả.

Tốt cho đường tiêu hóa: Ăn củ từ giúp giảm mức độ cholesterol xấu trong cơ thể, đẩy lùi nguy cơ bị ung thư bằng cách vô hiệu hóa các chất độc trong thực phẩm.

Điều chỉnh đường huyết: Đây là loại củ có chỉ số glycemic thấp, nên có thể hỗ trợ ngăn ngừa tăng lượng đường trong máu.

Nhiều dưỡng chất: Củ từ là nguồn phong phú vitamin B, cung cấp rất nhiều dưỡng chất cho sức khỏe. Những vitamin này cần thiết để thúc đẩy chức năng trao đổi chất trong cơ thể. Ngoài ra, vitamin C có tác dụng chống lão hóa, tăng cường khả năng miễn dịch và hỗ trợ giúp xương chắc khỏe. Vitamin A trong nó cũng giúp cải thiện làn da, tăng cường thị lực, chống lại các bệnh ung thư phổi và khoang miệng.

Kiểm soát huyết áp: Củ từ giàu khoáng chất như đồng, canxi, sắt, kali, mangan, phốt pho… Kali bảo vệ sức khỏe của tim thông qua việc kiểm soát huyết áp và ngừa tăng huyết áp. Chất sắt cần thiết cho quá trình hình thành của các hồng cầu, ngừa thiếu máu.

Chống trầm cảm, bi quan, chán nản: Thường xuyên ăn loại củ này, có thể hỗ trợ giúp cơ thể tăng cường sản sinh hợp chất serotonin (một chất làm cho não phấn chấn, lạc quan hay còn gọi là hormone hạnh phúc).

Thải và phòng chống nhiễm độc: Đây là món ăn có thể hỗ trợ phòng chống nhiễm độc kim loại nặng. Các thầy thuốc Liên Xô (cũ) đưa khoai từ vào chế độ ăn hằng ngày của công nhân để kịp thời bảo vệ sức khỏe lâu dài của công nhân.

Chất Amylase và polyphenol oxidase trong củ từ rất tốt cho hệ tiêu hóa (Ảnh: zixun.paizi.com)

Món ăn bài thuốc chữa bệnh từ củ từ
Cháo củ từ hỗ trợ chữa ung thư tử cung và dương vật (tài liệu Trung Quốc): Nên dùng hỗ trợ trong điều trị ung thư bằng các liệu pháp truyền thống Tây y: củ từ 30g, tảo biển 10g, gạo tẻ 100g. Nấu củ từ và tảo biển với 1.500ml còn 1.000ml lọc lấy nước cốt để cho gạo nấu cháo nhừ. Ăn nóng, ngày 2 lần. Có tác dụng thanh nhiệt tán kết, chống u nhọt, ung thư.
Giải độc: Giã khoai từ sống lấy nước uống cho nôn.

Chống trầm cảm: Nên ăn khoai từ để tạo điều kiện cho cơ thể sản sinh serotonin là chất làm cho não phấn chấn.
Chữa viêm họng, ho do nhiệt: 250g củ từ gọt vỏ, 25g thịt gà, 100g thịt lợn nạc, 75g xá xíu, 25g nấm đông cô, 100g măng, 500g bột nếp, 250g bột mì, 50g dầu mè, rượu, xì dầu, 15g muối, 0,5g tiêu bột.
Chần măng và nấm trong nước đang sôi. Các loại thịt thái nhỏ nhào tinh bột ướt. Xào thịt, măng, nấm, gia vị. Củ từ luộc chín trộn các loại bột, đường, muối trộn nhào kỹ dàn trên mâm đã xoa mỡ, chia làm 20 phần làm áo bánh, rán vàng.

Giải nhiệt, tiêu đờm: Củ từ gọt vỏ nạo nhuyễn, đậu phụ cắt con chì, rán vàng đều bằng dầu mè. Nấm rơm thái nhỏ, phi thơm kiệu (hoặc hành tỏi) rồi cho đậu phụ, nấm rơm, tương muối xào, chế nước vào đun sôi cho củ từ vào nấu chín bắc xuống cho rau ngổ, mùi tàu (thái nhỏ). Ăn nóng với cơm.


Kiên Định t/h (daikynguyen.com)

Thơ CHU HẢO :RỒNG ĐÁ Ở ĐỀN LÊ VĂN THỊNH


Tai nghễnh ngãng không nghe kẻ sỹ
Mắt mù mờ không thấy hiền tài
Phũ phàng đầy đọa người trái ý
Ngàn năm còn mãi nỗi oan sai
Giận dữ ai nổi cơn thịnh nộ
Cắn xé thân mình răn đe ai
U mê mãi rồi cũng sám hối
Nguyên khí đâu mở lối Rồng bay


CHU HẢO 


Lê Văn Thịnh, người Kinh Bắc, đỗ thủ khoa trong kỳ thi Nho học Tam trường đầu tiên ở Việt Nam do Vua Lý Nhân Tông tổ chức vào năm 1075. Ông làm quan trong triều đến chức Thị Lang Bộ Binh, có công lớn trong việc bàn nghị phân chia cương vực với Triều đình Nhà Tống để giành lại 6 huyện biên giới (nay thuộc Cao Bằng).Theo Đại Việt sử ký ( thời Nhà Trần ) và Đại Việt sử ký toàn thư (thời Hậu Lê) thì ông là một nghịch thần, có phép hóa hổ để mưu sát vua trên hồ Dâm Đàm (Hồ Tây ngày nay). Sau này có nhiều ý kiến cho rằng đó là một vụ án oan sai : Vua đã nghe lời xúc xiểm của bọn gian thần ghen tức với tài năng và đức độ của Lê Văn Thịnh mà đày đọa ông - một hiền tài. Ông đã bị Vua đầy lên miền sơn cước thượng lưu sông Hồng và chết trong quên lãng... Đây mãi vẫn là một nghi án, nhưng dân gian đời sau đã xây đền thờ Lê Văn Thịnh ngay trên nền ngôi nhà nơi Ông sinh ra ở núi Thiên Thai (Bảo Tháp, Đông Cứu, Thuận Thành, Bắc Ninh) như để giải thoát cho nỗi oan khuất của Ông. Khoảng đầu những năm 90 TK trước, tình cờ người trông nom đền phát hiện ra một pho tượng Rồng đá cao khoang 0,8m, dài khoảng 1m. Đây thực sự là một tuyệt tác nghệ thuật: người nghệ sỹ khuyết danh (có lẽ ở thời Hậu Lê) đã khắc họa hình ảnh con Rồng miệng cắn thân, chân xé mình hết sức sinh động để người xem phải sửng sốt cảm nhận nỗi ân hận đắng cay của bạo chúa đã gây ra oan nghiệt. Rồng bạo chúa đã được người nghệ sỹ tài ba đặc tả với một bên tai không có lỗ.Cũng có ý kiến cho rằng Rồng đá này là biểu tượng của chính Lê Văn Thịnh. Chỗ hiểu khác nhau này xin dành cho bạn đọc lựa chọn theo cảm nhận của riêng mình. 

(Trích FB Bùi Hoàng Tám) 

Chủ Nhật, 28 tháng 10, 2018

Thơ Xướng Họa :Chào Halloween (Cao Mỵ Nhân,Mai Xuân Thanh )


Xướng : CHÀO LỄ HỘI MA.     
   ( HAPPY HALLOWEEN ) 

Lễ hội quỷ ma sắp tới rồi 
Halloween mở bốn phương trời 
Bao nhiêu mặc khách Đường thi sẽ 
Mỗi vị tao nhân Tống luật chơi
Mặt nạ dấu đi lời ngọc vỡ 
Tay tiên giữ lại tiếng thơ rơi
Âm dương nhất thể vui hoà xướng 
Những bóng hình hư huyễn tuyệt vời ...
   Hawthorne  Oct - 7 - 2018
         CAO MỴ NHÂN 

Họa : HAPPY US HALLOWEEN !

"Halloween" sắp đến đây rồi  (1)
Ba mốt tháng mười sợ tối trời
Mưa gió "costume" ma bước dạo
Dù che mặt nạ quỷ rong chơi
Một đoàn xin kẹo kêu ơi ới
Đôi túi nhận quà kẽo rớt rơi
Chỉ có trẻ thơ vui thích thú
Thực hư lẫn lộn thấy xa vời...

Mai Xuân Thanh
Ngày 07/10/2018

Xem Thêm :https://hoainiemtayninh.blogspot.com/2015/10/lich-su-ngay-le-hallowen.html 

Định giá lại ‘nông nghiệp, nhà nước, văn minh’? (Từ Nghiên Cứu Quốc Tế )

Mời Đọc và Suy Nghỉ về Bài nầy 


Tác giả: Vũ Đức Liêm
Chúng ta được dạy và tin rằng từ săn bắn hái lượm đến nông nghiệp là bước tiến của văn minh nhân loại. Định cư và canh tác nông nghiệp là tiêu chí của sự tiến hóa lịch sử. Nhà nước là biểu hiện của xã hội văn minh. Những điều này sẽ bị thách thức nếu chúng ta nhìn sự tiến hóa của nhân loại từ một góc nhìn khác. Theo hướng này thì không chỉ có việc chúng ta thuần hóa cây trồng, vật nuôi, mà chính những cây con này đã “thuần hóa” con người, buộc con người phải lệ thuộc và phục vụ chúng. Theo hướng này, con người đã phải “trả giá” cho lựa chọn nông nghiệp, định cư và nhà nước thay vì săn bắn hái lượm. Vậy cái giá đó là gì?
Nông nghiệp
Homo Sapiens (người tinh khôn) xuất hiện cách nay khoảng 200,000 năm. Những người này ra khỏi châu Phi cách nay 60,000-70,000 năm. Cư dân nông nghiệp xuất hiện cách nay khoảng 10,000 năm, xã hội nông nghiệp xuất hiện cách nay khoảng 6,500 năm, và nhà nước ra đời cách nay 5,000 năm. Theo đó, thời gian làm nông nghiệp chỉ chiếm 3% toàn bộ quỹ thời gian của Homo Sapiens. Vào thời điểm bắt đầu nghề nông cách đây 10,000 năm, thế giới có khoảng 4 triệu Homo Sapiens, tất cả đều là cư dân săn bắn hái lượm, với nguồn thức ăn chính là 60-80% thu hái từ thực vật tự nhiên, còn lại là từ săn bắn và thu lượm thủy hải sản.
Trước khi có nông nghiệp, con người có quỹ thức ăn đa dạng, động thực vật, hoa quả, nấm… Thực đơn này đã thay đổi nghiêm trọng khi nông nghiệp xuất hiện, và nhanh chóng trở nên nghèo nàn khi có bằng chứng thuần dưỡng lúa mì, đại mạch, kê, lúa gạo, khoai tây, ngô… chủ yếu tại Tây Á, tây nam Trung Hoa, trung Mỹ, và Ethiopia. Mất khoảng 4,000 năm để chuyển hóa từ những cư dân nông nghiệp đầu tiên này thành xã hội nông nghiệp.
Tất cả các cây trồng, vật nuôi mà chúng ta có ngày nay đều là sản phẩm thuần hóa của các cư dân trong thời kỳ đá mới, trong đó có khoảng 15-20 loài lương thực. Con người hiện đại đã không thuần hóa được thêm bất cứ loài nào. Càng ngày danh sách này thậm chí càng thu hẹp lại. Sau 10 nghìn năm, lúa gạo, lúa mì, và ngô cung cấp 60% lượng calories cho con người. Nói cách khác, nông nghiệp đã giúp con người tiến hóa bằng cách biến chúng ta thành “gà”.
Thế còn gà đã làm gì chúng ta? Gà đã “giăng bẫy” con người và làm cho con người lệ thuộc vào chúng để  tồn tại. Con người nghĩ rằng mình thuần hóa gà? Điều này mới chỉ đúng có một nửa. Gà phục vụ cho cuộc sống con người với trứng, thịt… nhưng chúng ta cũng biến mình thành người “phục vụ” của gà. Con người giúp gà tạo ra điều kiện sống lí tưởng mà trong tự nhiên chúng “mơ” cũng không thể tưởng tượng ra: có người dành công sức làm chuồng cho ở, có người bảo vệ, có người chăm sóc, có người kiếm thức ăn, làm ổ, tiêm vaccine, chữa bệnh, bổ sung vitamin, và giúp ấp trứng hộ. Ai là người đang thuần hóa ai? Ai biến bên kia thành kẻ phục vụ mình?
Tất cả cây trồng vật nuôi đã tham gia vào quá trình “thuần hóa” con người này. Những giống loài mà con người tạo ra cần chế độ chăm sóc đặc biệt, nước tưới, bảo vệ trước côn trùng… Thực tế con người trở nên “lệ thuộc” vào các cây trồng, vật nuôi này. Chúng “nhử” con người để con người phục vụ chúng, làm nhà cho chúng ở, làm cỏ, đắp đê, đào kênh mương… Lúa mì chẳng hạn, đã “dẫn dụ” con người bằng cách tạo ra một vài đặc điểm mà con người thích (hạt to, …) vì thế, mà con người hăng hái mang chúng đi khắp nơi, chặt phá rừng núi và các loài cây khác để cho chúng phát triển. Ngày nay, chúng bao phủ 870,000 dặm vuông diện tích Trái đất (tức 10 lần diện tích nước Anh). Trong lịch sử tự nhiên, chắc chắn không có loài nào cây nào thành công như lúa mì, ngô, lúa nước, khoai tây… cùng với chúng là số lượng hiện tại của một tỉ con cừu, một tỉ con lợn, hơn một tỉ động vật có sừng và 25 tỉ con gà.
Không phủ nhận canh tác nông nghiệp làm gia tăng lượng lương thực thu được, nhưng điều đó không đồng nghĩa với việc chất lượng dinh dưỡng tốt hơn hay nó làm cho cuộc sống của con người thoải mái hơn. Các nghiên cứu chỉ ra rằng thời gian “đi làm” của cư dân săn bắn, hái lượm chỉ bằng một nửa so với cư dân nông nghiệp, và họ dành số thời gian còn lại “cho bản thân mình” chứ không phải cho các vật nuôi như cư dân nông nghiệp. Từ khi có nông nghiệp (hơn 10,000 năm qua), con người dành phần lớn thời gian, tâm sức vào các cây con này. Thay vì dành thời gian cho bản thân và giống loài của mình, con người dành tâm huyết để lai tạo các giống lúa, đắp đê, đào kênh mương, và hết năm này qua năm khác “trông trời, trông đất, trông mây” để lo cho mảnh ruộng hay chăm sóc đàn lợn. Phải chăng con người đã “lạc lối”?
Nghiêm trọng hơn, chính vì sự lựa chọn nông nghiệp này sẽ chi phối đến thể hình, nguồn gene, bệnh tật, cách thức tổ chức xã hội, định cư, quan hệ giữa người với người, và người với tự nhiên. Thực đơn nghèo nàn chắc chắn ảnh hưởng đến dinh dưỡng, đặc biệt làm cư dân lệ thuộc nhiều vào lương thực trở nên nhỏ yếu hơn. Bằng việc lựa chọn làm nông nghiệp, dựa vào một số lượng nhỏ cây trồng vật nuôi để duy trì cuộc sống, con người đang tự đẩy mình vào tình thế nguy hiểm, “đánh bạc với trời”. Những loại cây con được thuần hóa phần lớn không thể tồn tại tự nhiên nếu không được con người chăm sóc, và rất dễ bị tổn thương trước dịch bệnh, thiên tai, thay đổi môi trường. Điều này làm cho con người từ chỗ tự do săn bắn hái lượm, và các hoạt động phong phú chuyển sang tự trói mình một chỗ, dành cả ngày (và cả đời) đi đắp đê, đào mương, làm cỏ, dọn chuồng gà… Nông nghiệp cột chặt con người vào đất đai, vào một vài loài cây trồng vật nuôi, đánh mất đi các kỹ năng sinh tồn trong tự nhiên mà mất hàng triệu năm tiến hóa loài người mới tạo ra. Đó là một canh bạc. Khi canh tác nông nghiệp bị đe dọa bởi lụt lội, hạn hán, châu chấu… con người chắc chắn lâm vào nạn đói và các mối đe dọa sống còn khác.
Định cư, nhà nước và văn minh
Định cư luôn được coi là bằng chứng của tiến hóa tổ chức kinh tế-xã hội loài người. Việc định cư là hệ quả của việc hình thành nông nghiệp và xác lập nhà nước. Thực tế, con người đã đánh đổi tự do và “sự phóng khoáng” của người săn bắn hái lượm để lựa chọn cuộc sống “buồn tẻ” trong làng, để hưởng cuộc đời “bán mặt cho đất, bán lưng cho trời”:
“Trên đồng cạn, dưới đồng sâu
Chồng cày, vợ cấy, con trâu đi bừa”.
Việc xác lập các khu định cư nông nghiệp được tin là ưu thế lớn đối với cuộc sống săn bắn hái lượm. Thực tế là dường như chúng mang lại nhiều “khổ đau” cho con người hơn là chúng ta tưởng.    Một trong những “thảm họa” lớn nhất của nông nghiệp và định cư là dịch bệnh. Phần lớn các bệnh nguy hiểm nhất của loài người đến từ các vật nuôi, từ cúm gia cầm, dịch hạch, cho đến một danh sách dài các khách không mời như gián, chuột, bọ chét…. Làng mạc hay thành thị chính là căn cứ địa của dịch bệnh truyền nhiễm. Bệnh sởi chẳng hạn, có thể tồn tại liên tục trong các nhóm cư dân từ 100,000-200,000 người trở lên (cho đến khi chúng ta tìm ra vaccine). Lưu ý rằng những bệnh tật này chính là nguyên nhân thường xuyên gây ra hủy diệt các xã hội và nền văn minh tiền hiện đại.
Hệ quả thứ hai là chiến tranh. Chiến tranh không phải là sản phẩm độc quyền của con người hay xã hội nông nghiệp. Hai bầy sư tử gây chiến vì lãnh thổ và thức ăn. Tuy nhiên nông nghiệp và tập trung dân cư là “thiên đường” của chiến tranh và xung đột xã hội. Nông nghiệp làm tăng giá trị của đất đai, đồng cỏ… vì thế, chiến tranh giành lãnh thổ trở nên thường trực. Trên mảnh đất đó, con người cần nhân lực canh tác, vì thế bắt đầu ra đời các hình thái áp bức như nô lệ, tù binh. Điều này lí giải tại sao quan hệ áp bức đầu tiên trong lịch sử loài người là chế độ nô lệ. Các học giả như Anthony Reid, Victor Lieberman, James Scott lập luận rằng chiến tranh tiền hiện đại ở Đông Nam Á là nhắm đến bắt dân chứ không phải chiếm đất.
Nông nghiệp và định cư rõ ràng đã gây ra nhiều “khổ đau” cho con người. Điều này trở nên đặc biệt trầm trọng khi nhà nước xuất hiện. Nhà nước nhân rộng những “thảm họa” này lên nhiều lần. Phần lớn các nhà nước sơ kỳ đều dựa trên nông nghiệp. Thuế khóa, phu phen tạp dịch, binh dịch, hệ thống hành chính phức tạp… chính là hệ quả của việc các nhà nước này tìm cách kiểm soát dân chúng và thu tài nguyên từ sản xuất nông nghiệp. Nhà nước, thông qua việc tập trung dân cư, đã mở rộng quy mô chiến tranh ở cấp độ chưa từng có trong lịch sử loài người. Đó chẳng phải là “khổ đau” của loài người do nông nghiệp và định cư gây ra? (điều này không có nghĩa là các nhóm săn bắn hái lượm không có chiến tranh).
Vì sao nông nghiệp, định cư và nhà nước thắng thế? Có thể ở những vùng đất hẹp, dân cư đông, các xã hội săn bắn hái lượm buộc phải tìm cách quay vòng đất đai, gia tăng lượng sản phẩm thu được trên diện tích nhỏ hẹp. Điều đó buộc con người chuyển sang làm nông nghiệp. Phải chăng đó là một lựa chọn bất đắc dĩ. Vì sao nông nghiệp thắng thế? Vì nó tạo ra nhiều calories hơn trên một đơn vị diện tích. Do đó dân số gia tăng nhanh hơn. Theo tính toán thì với cư dân làm nông nghiệp, chu kỳ sinh sản là 2-2,5 năm/ 1 lần sinh, so với 4 năm/ 1 lần sinh của dân săn bắn hái lượm. Theo thời gian, cư dân nông nghiệp áp đảo về số lượng so với cư dân săn bắn hái lượm. Chính lúc này, với sự xuất hiện của nhà nước và các học thuyết chính trị-xã hội do nhà nước bảo trợ, ý niệm rằng: nông nghiệp + nhà nước = văn minh ra đời.
Ai mới là người văn minh và người thông minh?
Trong tất cả các xã hội có nhà nước hơn 5,000 năm qua, con người được “dạy” rằng ai có nông nghiệp, định cư, nhà nước, chữ viết, luật pháp, tôn giáo là người văn minh. Dân du mục, dân miền núi, dân sa mạc, dân di cư trên biển… đều là thổ dân, man di, “người rừng”, “người biển”…
Người Hán coi bốn xung quanh họ là man, di, nhung, địch. Người Việt trong quá trình mở rộng đất đai cũng gọi những xung quanh, không có chữ Hán, giáo dục Nho giáo, không thực hành nghi lễ, nền hành chính, và trang phục giống như mình là man nhân, thổ nhân… trong khi tự gọi mình là “Hán nhân” (= người văn minh). Người Thái, người Khmer cũng có cái nhìn tương tự. Người Hy Lạp, người Roma gọi những người sống nơi các vùng biên của mình là dân man di. Nguồn gốc của từ này bắt đầu trong tiếng Hy Lạp cổ là “barbaroi”, phản ánh cách người Hy Lạp mô tả giọng nói “kỳ lạ” của dân vùng biên, “bar… bar…”.
Phải chăng có ruộng lúa, nhà nước, tôn giáo, chữ viết mới là văn minh? Câu trả lời có thể làm cho nhiều độc giả ngạc nhiên: không phải các dân du mục, dân miền núi không biết đến nhà nước, tôn giáo, chữ viết, thi cử, luật pháp… mà họ chủ động leo lên núi để “trốn” nhà nước, “trốn” văn minh. Mỗi khi nhà nước tiến thêm một bậc lên núi thì người Hmông, người Nùng lại lên cao thêm một bậc nữa, nhằm thoát ra ngoài tầm tay của nhà nước. Họ là những người chủ động chạy khỏi “văn minh” vì họ không muốn rơi vào thảm họa của nhà nước và định cư: như dịch bệnh, xung đột xã hội gay gắt, tổ chức thu thuế, bắt lính, gây ra chiến tranh giữa nhà nước, tôn giáo… Họ ý thức được rằng nhà nước ở đồng bằng là quá “cầu kỳ”, “phức tạp” với luật lệ, quan chế, thi cử… không linh hoạt và mất nhiều công sức để tổ chức. Chiến tranh, xung đột nổi dậy ở đồng bằng quá thảm khốc. Trong khi đó, văn học dân gian, quan hệ thân tộc, liên minh lỏng lẻo giúp họ xây dựng một cấu trúc xã hội linh hoạt, đơn giản, và cơ động. Họ cùng không muốn trói buộc khả năng sinh tồn của mình bằng cách lệ thuộc vào một nhóm nhỏ cây trồng, vật nuôi với tỉ lệ rủi ro cao (James Scott 2009).
Cuối cùng, góc nhìn này rõ ràng là đáng để tham khảo dù nhiều ý tưởng nêu ra ở đây với mục đích thúc đẩy những cách nghĩ khác về một câu chuyện đã trở nên quen thuộc. Sẽ rất dễ dàng để chỉ ra lợi ích của nông nghiệp, của nhà nước. Bài viết này hoàn toàn không có ý định khuyên độc giả rời bỏ nhà nước, rời bỏ thành phố, làng mạc để vào rừng sống cuộc đời săn bắn hái lượm. Viết những điều trên đây cũng không phải là để “ngợi ca” săn bắn hái lượm, lãng mạn hóa cuộc sống của dân du mục, cổ vũ cho du canh, du cư, hay hô hào thuyết vô chính phủ (anarchism). Bản thân tôi cũng không muốn làm thành viên của một bộ lạc du canh du cư, đồng thời cũng chưa có ý định thay đổi thực đơn lúa gạo, bánh mỳ hay thịt gà trong tương lai gần. Nông nghiệp, định cư, nhà nước đóng vai trò lớn trong tiến trình tiến hóa của loài người, là điều không thể phủ nhận. Điều quan trọng ở đây là nhận thức được rằng trong mỗi bước đi của nhân loại, lựa chọn một mô hình hay cách thức tổ chức xã hội nào đó, dù là một quyết định được cho là “hoàn hảo”, hay bước tiến vĩ đại đi chăng nữa, con người đều phải trả một cái giá nhất định. Ý thức điều này giúp chúng ta đưa ra được những lựa chọn đúng đắn cho tương lai của nhân loại.
“Hạt gạo làng ta
Có bão tháng bảy
Có mưa tháng ba
Giọt mồ hôi sa
Những trưa tháng sáu
Nước như ai nấu
Chết cả cá cờ
Cua ngoi lên bờ
Mẹ em xuống cấy”

Trần Đăng Khoa
Hình: Bản đồ các khu vực xuất hiện nông nghiệp sớm và niên đại (Neil Gower).
—-
Tham khảo
Alain Bideau, Bertrand Desjardins and Hector Perez-Brignoli (eds.), Infant and Child Mortality in the Past (Oxford: Clarendon Press, 1997)
Diamond, Jared M. Guns, Germs, and Steel : The Fates of Human Societies. New York, NY [u.a.]: Norton, 2005.
Harari, Yuval N. Homo Deus: A Brief History of Tomorrow. London: Harvill Secker, 2016.
———. Sapiens: A Brief History of Humankind. London: Harvill Secker, 2014.
Katherine A. Spielmann, ‘A Review: Dietary Restriction on Hunter-Gatherer Women and the Implications for Fertility and Infant Mortality’, Human Ecology 17:3 (1989), 321–45.
Peter J. Ucko and G. W. Dimbleby (eds.), The Domestication and Exploitation of Plants and Animals (London: Duckworth, 1969)
Scott, James C. Against the Grain: A Deep History of the Earliest States. New Haven: Yale University Press, 2017.
———. The Art of Not Being Governed : An Anarchist History of Upland Southeast Asia. Yale University Press, 2009.
Nguồn: Tia sáng

Mẹo nhỏ đơn giản giúp bạn ngủ ngon hơn mỗi tối, ai cũng có thể làm được

Chỉ cần giữ cho bàn chân ấm là đủ.

Mẹo nhỏ đơn giản giúp bạn ngủ ngon hơn mỗi tối, ai cũng có thể làm được - Ảnh 1.
Nếu bạn thường bị khó ngủ thì có lẽ biện pháp đi tất lúc ngủ sẽ rất hiệu ích với bạn. Biện pháp này có thể giúp bạn ngủ sâu trong vòng 15 phút và không phải bực bội khi bị tỉnh dậy lúc nửa đêm.
Để hiểu tại sao, trước hết bạn phải tìm hiểu mối liên quan giữa giấc ngủ và nhiệt độ cơ thể. Ban ngày, thân nhiệt duy trì ở 37 độ C. Nhưng vào ban đêm, nhiệt độ cơ thể bạn sẽ giảm khoảng 1,2 độ C trong suốt 6 đến 7 tiếng ngủ.
Một trong những cơ chế điều hòa thân nhiệt của cơ thể chúng ta là thông qua các mạch máu nông nằm dưới da của chúng ta. Khi não bộ nhận thấy thân nhiệt tăng cao, nó sẽ chỉ huy khiến mạch dưới da giãn ra, dẫn dòng máu có nhiệt độ cao đến các nhánh mạch khác để phân tán nhiệt, hạ nhiệt độ cơ thể. Nếu cơ thể quá nóng, não bộ sẽ truyền tín hiệu ngược lại, khiến mạch máu co lại.
Mẹo nhỏ đơn giản giúp bạn ngủ ngon hơn mỗi tối, ai cũng có thể làm được - Ảnh 2.
Các nghiên cứu khoa học đã chứng minh rằng đi tất giúp bạn dễ ngủ và ngủ ngon hơn.
Khi nhiệt độ lên quá cao, lòng bàn tay và lòng bàn chân sẽ là nơi giải phóng nhiệt hiệu quả nhất. 2 vị trí này là nơi không có lông và truyền nhiệt tốt nhất trên bề mặt cơ thể. Các nghiên cứu cho thấy, việc làm tăng nhiệt độ gang bàn chân bằng chăn nhiệt hay đi tất lúc ngủ làm tăng giãn mạch, do đó làm giảm thân nhiệt nhanh hơn để chân trần.
Nói 1 cách dễ hiểu, sự chênh lệch giữa nhiệt độ 4 chi và nhiệt độ trung tâm ở bụng là yếu tố quan trọng quyết định thời gian cơ thể đi vào giấc ngủ. Phương pháp này tỏ ra còn hiệu quả hơn biện pháp thôi miên hay uống thuốc ngủ trước khi lên giường.
Nhưng không chỉ vậy, các nhà khoa học còn phát hiện ra các cơ chế thần kinh khác tham gia vào phương pháp này: nhờ trung tâm điều hòa thân nhiệt tại não nằm ở vùng dưới đồi. Tại vùng này, có 1 loại nơron thần kinh cảm nhiệt tăng hoạt động khi sự chênh lệch nhiệt độ ngoại vi (tứ chi) và nhiệt độ trung tâm (bụng) tăng.
Các nghiên cứu chỉ ra tần số hoạt động của nơron thần kinh cảm nhiệt tăng khi bắt đầu ngủ và giảm dần khi ngủ say. Bởi vậy, các nơron này có lẽ đóng 1 vai trò nhất định trong việc ngủ và duy trì giấc ngủ. Nếu giả thuyết này đúng thì phương pháp đi tất lúc ngủ giúp tăng hoạt động các nơron này vô cùng hiệu quả.
Trong một nghiên cứu nhỏ của Hàn Quốc, các nhà nghiên cứu chỉ ra đi tất lúc ngủ làm tăng tổng thời gian ngủ đến 30 phút và giảm số lần bị tỉnh dậy gấp 2 lần.
Nguồn: howstuffworks.com

Thứ Bảy, 27 tháng 10, 2018

Thơ Bát Cú Đảo Vận :(Khôi Nguyên,Hồ Nguyễn )


VỠ MỘNG 
Bát cú đảo vận (8 câu đều đảo vận) 
Ông hỡi làm gì thế hỡi ông?
Công lao bao lớn cũng lao công.
Ruột đau nhắc đến thêm đau ruột,
Lòng khổ muốn lui lại khổ lòng.
Có nước không làm cho nước có,
Không nhà mới tính cảnh nhà không.
Phật Trời cầu nguyện ân Trời Phật,
Mong ước tàn rồi, hết ước mong! 
Khôi Nguyên

ĐỒNG CẢM: NHỚ QUÊ 
Tà đông buồn ngắm buổi đông tà,
Tha thiết ngậm ngùi nhớ thiết tha.
Ruột thắt cố cầm đau thắt ruột,
Xa nhìn rán nén lệ nhìn xa.
Nước non nghĩ phận thương non nước,
Nhà nhớ ruột đau thắt nhớ nhà.
Quẩn quẩn tháng năm hồn quẩn quẩn,
Ta thương non nước lại thương ta.
HỒ NGUYỄN (21-10-18)


Kính mời đọc Thơ "Tặng Bạn Già" của PHAN THUOJNG HẢI và BÀI HỌA

  TẶNG BẠN GIÀ T ừ thu ở thanh xu â n đ ẹ p ch í trai Tr ả i qua th ờ i lo ạ n luy ệ n anh t à i Đ ờ i ng ườ i l ậ n đ ậ n h ằ ng ki ê n ...