Thứ Bảy, 29 tháng 1, 2022

GS NGUYỄN CHÂU, NĂM DẦN NÓI CHUYỆN CỌP

Trên La bàn Trung Hoa, về không gian, Dần ở phương vị Ðông Bắc, về thời gian Dần là tháng Giêng (trong âm lịch hiện nay), về ngày Dần khởi đầu từ 3 giờ sáng, đến 5 giờ sáng.
Về Ngũ Hành (Kim, Mộc Thủy, Hỏa, Thổ), Dần nói chung thuộc Dương Mộc. Nhưng người tuổi Dần tùy theo năm sinh sẽ có Bản Mệnh (hay Mạng) khác nhau:

1.- Giáp Dần (1914 và 1974): mạng Thủy (Ðại Khê Thủy - “Lập định chi hổ” cọp ngồi yên)
2.- Bính Dần (1926 và 1986): mạng Hỏa (Lô Trung Hỏa - “Sơn lâm chi hổ” cọp tại rừng núi)
3.- Mậu Dần (1938 và 1998): mạng Thổ (Thành Ðầu Thổ - “Quá sơn chi hổ” cọp vượt qua núi)
4.- Canh Dần (1950 và 2010): mạng Mộc (Tùng Bá Mộc - “Xuất sơn chi hổ” cọp ra khỏi núi)
5.- Nhâm Dần (1902 và 2022): mạng Kim (Kim Bạch Kim - “Quá lâm chi hổ” cọp đi qua rừng).

Năm nay là NHÂM DẦN. Nhâm thuộc Dương. Sách Trạch Cát Thần Bí nói Nhâm là giai đoạn cây cối đang đâm hoa, kết trái, "đang thai nghén" nên khí Dương ẩn tàng trong đất. Sách Ngọc hạp Chánh Tông Luận Mệnh cho rằng "Chữ Nhâm có thể biến thành chữ Vương" khi có cơ hội học hỏi để thăng tiến. Vì vậy người gặp chữ Nhâm thường thông minh và có số cao sang...
Về vũ trụ, Nhâm có vị trí ở phương Bắc, thuộc Khảm (thủy). Nhâm Dần, hành Mộc thái quá, không có gì ức chế. Thổ suy, gió to, không gian đầy mây và sương mù nên cây cỏ chẳng được thuận lợi. Mộc thắng Kim có thể đưa đến mất mùa. Về Vận Khí, năm Nhâm Dần: ba mộc hợp lại, Mộc chủ Phong (gió, bão) nhưng không mạnh quá, bị kim lấn át gây ra nhiều xung đột và sự gãy đổ trên thế giới.

Về nhân sinh, Nhâm Dân: Mộc hữu dư, Hỏa tư thiên, khí bị nghịch sinh ra nhiều bệnh lạ. Thế giới sẽ rơi vào cảnh phân hóa thù nghịch vì Hỏa khí bốc lên ngùn ngụt. “Tướng hỏa tư thiên” các lò nguyên tử Bắc Hàn và Iran sẽ trở lại và gây nhiều căng thẳng.

NGƯỜI TUỔI NHÂM DẦN
Về thiên can, NHÂM thuộc Dương Thủy, tính mạnh mẽ, kiên trì, lòng hào phóng ưa che chở, bảo bọc người khác. Tuy nhiên vì thuộc Thủy nên đôi khi tỉ mỉ, chậm rãi và ỷ lại. Nói chung Nhâm Dần là tuổi có hoài bảo và đầy nhiệt huyết. Cuộc sống thường gặp nhiều thử thách cam go cho nên thường nóng nảy, tự cao, tự đại ... thường khó hòa mình với tập thể. Ngay trong bản thân, Nhâm Dần, Mệnh Kim Bạch Kim, nhưng Tuổi thuộc Mộc, Kim-Mộc đã khắc nhau... cho nên cuộc đời thường gặp nhiêu tai ương (tai nạn, vấp ngã, bệnh tật...) Vui ít, buồn nhiều. Cân tu tâm và làm việc thiện.***


CHUYỆN CỌP


Cọp là hình tượng xuất hiện khá nhiều trong văn hóa Trung Hoa và Việt Nam, trong lúc các quốc gia khác, đặc biệt là Tây phương, Cọp rất ít xuất hiện.
Cọp tiếng Hán gọi là “hổ”. Cọp được xem như là vua của các loài dã thú (thú hoang), được tôn xưng là “Chúa Sơn Lâm”.
Thời thượng cổ, người Trung Hoa đã dâng lễ vật cho Hổ vì cho rằng Hổ đã vồ và giết những con lợn rừng. Những lợn rừng này thường hay cày xới tan hoang những cánh đồng khiến dân làng sợ lợn rừng không dám đi cày cấy.
Cọp được xếp vào loài động vật thuộc Dương, tượng trưng cho hùng tính. Vì lý do này, trong văn hóa Trung Hoa, Bạch Hổ (cọp trắng) tượng trưng cho Mùa Thu và phương Tây (Phương Tây lại được kết hợp với nguyên lý Âm, thuộc “thư tính”).
Cọp còn là biểu tượng của can đảm, dũng mãnh, vì cọp có khả năng tiễu trừ ma quỷ, yêu quái. Có lẽ vì vậy mà người ta thấy hình tượng cọp được khắc chạm lên đá tại các nơi nghi là có ma quỷ và cụ thể là trên một số bia và mộ trong nghĩa địa.
Có một số tranh vẽ các vị thần cỡi cọp. Một số tranh khác vẽ hình đứa bé cưỡi cọp dựa theo truyền thuyết vì lòng hiếu, đứa con đã cỡi cọp để bảo vệ không cho nó xâm phạm đến người cha. Treo thanh Hổ là để trấn giữ nhà cửa...chống tà ma.
“Trong nhà hắc hổ trấn bùa
Sinh con, sinh cái nuôi cho dễ dàng” (Chuyện Trinh Thử)

Ngày xưa, người Việt Nam và Trung Hoa sợ cọp đến nỗi kiêng kỵ không dám nói hay gọi đích danh "cọp" hay "hổ". Họ phải dùng một cái tên "lóng" (nickname) để ám chỉ Cọp khi muốn nói đến.

Người Trung Hoa gọi Cọp bằng tiếng lóng là “da chong”(Ðại Trùng - Big Insect) hoặc “Chúa Sơn Lâm”. Có nhiều vị quan đầu tỉnh đã lập bàn thờ, thay mặt nhân dân, cầu khẩn “Chúa Sơn Lâm hãy trở lại núi rừng và ở lại đó, đừng làm hại dân” và theo truyền thuyết thì cọp đã chấp thuận lời cầu xin ấy rồi rời khỏi làng xóm.

Một số chuyện cổ tích Trung Hoa kể rằng “Chúa Sơn Lâm thường nghe theo lời của các nhà cầm quyền” chẳng hạn như truyện một phụ nữ cao niên đã đưa Cọp ra tòa tố cáo cọp đã giết con trai của bà và hiện bà đang bị đói có thể chết. Viên quan tòa quyền lực đã đòi cọp phải ra hầu tòa. Cọp bị kết án là phải cung cấp thực phẩm cho người phụ nữ này cho đến cuối đời bà ta.
Có truyền thuyết cho rằng tại miền Nam Trung Hoa, các dân tộc thiểu số có thể hóa thân thành cọp.
Trong văn hóa Trung Hoa, chữ “bạch hổ” là một thành ngữ thông tục ám chỉ người đàn bà "âm hộ vô mao". “Hổ bộ” (Tiger step) chỉ một trong ba mươi tư thế giao hợp nam nữ trong sách Trung Hoa xưa. (A Dictionary of CHINESE SYMBOLES - Wolfram Eberhard)

Người Việt Nam ở vùng rừng núi hoặc gần rừng núi, hoặc thường phải đi xuyên rừng cũng kiêng không gọi tên thật của cọp. Người ta gọi cọp là “Ông Ba Mươi”, “Ông Mễnh”, “Ông Kễnh. Ở miền Trung Việt Nam, người ta gọi Cọp là “Ôn” hay “Mệ”. Thành ngữ “xuôi tay cho Mệ nuốt” có nghĩa là buông xuôi, mặc số phận, không phần đấu nữa.

Trong các loài vật, cọp được gọi là “ông” một cách lễ độ. Người sợ cọp là vì thấy cọp hung dữ và có sức mạnh phi thường có thể vồ và giết trâu, bò và có khi cả con người.

Ở Việt Nam, có tục thờ thần Ngũ Hổ tại các am điện thuộc phái Thiên Tiên Thánh Giáo. Người ở rừng núi thờ Ngũ Hổ cũng như người ở biển thờ Cá Voi để nhờ cậy sự cứu giúp.

Thần Ngũ Hổ 

Ngũ Hổ Tướng Quân là năm vị thần Cọp cai quản năm phương (Ngũ Phương): Đông, Nam, Trung Ương, Tây và Bắc, tương ứng với Ngũ Hành trong tín ngưỡng thờ Mẫu Tứ Phủ.
Ngũ Hổ tướng là các vị sơn thần biểu tượng cho sức mạnh thiêng liêng, là bộ hạ của Mẫu, có nhiệm vụ canh giữ cổng vào ra tại các đền, các phủ và tiêu diệt tà ma, đem lại sự cân bằng, yên ổn cho năm vùng phương trời đất.
Sau đây là vị trí của "Ngũ Hổ Thần" bao gồm màu sắc, danh xưng (được cấu trúc theo thứ tự: Phương hướng - Thiên Can - Ngũ Hành và Ngũ Sắc)
1. Đông Phương Giáp Ất Mộc Đức Thanh Hổ Thần Quan (Cọp xanh)
2. Nam Phương Bính Đinh Hỏa Đức Xích Hổ Thần Quan (Cọp đỏ)
3. Trung Ương Mậu Kỷ Thổ Đức Hoàng Hổ Thần Quan (Cọp vàng)
4. Tây Phương Canh Tân Kim Đức Bạch Hổ Thần Quan (Cọp trắng)
5. Bắc Phương Nhâm Quý Thủy Đức Hắc Hổ Thần Quan (Cọp đen)
Hoàng Hổ đứng đầu trung cung, có nhiều quyền uy, trấn giữ và điều động Bốn phương. Hoàng Hổ Quan vị Tướng Lãnh cao nhất, thâu tóm mọi uy quyền, quyết định âm phù dương trợ cho dân gian.
Quan Ngũ Hổ được thờ ở hạ ban trong điện thờ Mẫu, hình ảnh về các ngài cũng thường hay xuất hiện trong các tranh thờ, đặc biệt là bộ tranh dân gian Hàng Trống.

NGUỒN GỐC CÁI TÊN “ÔNG BA MƯƠI”


Tại sao gọi cọp là “Ông Ba Mươi”?
Cho đến nay, chưa có một thoại nào có tính cách “hợp tình hợp lý”, ngoài truyền thuyết “Phạm Nhĩ náo loạn Thiên Cung bị đày xuống trần gian”. Chuyện kể rằng:
Từ ngàn xưa, trên Thượng Giới, có một người có sức khỏe lạ lùng, có thể dời núi lấp biển, đội đá phá cây.. không một sánh nổi. Về tài phép, ông cũng thần thông biến hóa vượt xa nhiều vị trong Thiên đình. Người này có hai vành tai dài và rách, vì lúc nhỏ ông thường dùng hai tai cho nhiều người móc vào mà đu, rồi xoay họ như chong chóng. Cũng vì thế người ta quen gọi ông là Phạm Nhĩ.
Quen thói từ lúc nhỏ vốn tinh nghịch và hung hăng, Phạm Nhĩ không mấy khi ở yên. Ông thường hay gây sự đánh nhau với những kẻ mà ông không thích. Nhưng người ta đều tránh né, chẳng mấy ai dám đọ sức, vì đã từng có bao nhiêu anh hùng không chịu nổi một cú đấm, hoặc cái gạt của ông.
Thấy mọi người đều kém tài, Phạm Nhĩ ngày một tỏ ra kiêu căng tự phụ. Ông cho rằng các vị thần chung quanh Ngọc Hoàng chẳng qua chỉ là những kẻ yếu ớt, tài nghệ chẳng được bao nhiêu. Phạm Nhĩ bất mãn vì bấy lâu danh tiếng ông nổi như cồn mà vẫn không được Ngọc Hoàng vời vào để trao cho một chức vị xứng đáng. Mỗi ngày lòng kiêu căng tự phụ của ông một lớn thêm mãi. Cho đến lúc Phạm Nhĩ coi thường cả Ngọc Hoàng, tự cho rằng có sức mạnh và tài phép như ông thì phải làm vua nhà Trời mới phải.
Thế rồi chẳng bao lâu ông đã quy tụ một số bộ hạ cũng có sức khỏe và tài phép hơn người, thành một đội quân. Ðội quân này ngày một đông, đã từng gây náo loạn ở Thiên đình, nhưng vì sợ oai Phạm Nhĩ, nên không một ai dám bắt. Cuối cùng, Phạm Nhĩ dẫn đội quân tiến đến Thiên cung đòi đánh Ngọc Hoàng dành quyền cai trị Thiên Ðình.
Ngọc Hoàng Thượng Ðế vội vàng sai các Thiên tướng đem quân nghênh chiến. Có đến mười tám vị thiên tướng, vị nào cũng túc trí thần thông, miệng thét ra lửa tay bẻ gẫy cổ thụ, chân đạp đổ núi, nhưng không vị nào đối địch với Phạm Nhĩ được lâu. Chưa đầy mười ngày chỉ còn ba vị sống sót chạy về.
Ngọc Hoàng lại sai năm mươi lực sĩ hầu cận, người nào cũng tài ba và sức khỏe, ra chống chọi với Phạm Nhĩ. Nhưng cũng chẳng mấy chốc số người này cũng bại trận. Quân nhà Trời đông, nhưng kéo ra bao nhiêu bị diệt bấy nhiêu, cuối cùng bỏ chạy tán loạn. Thừa thắng, Phạm Nhĩ tiến lên vây chặt Thiên cung.
Ngọc Hoàng thượng đế hết sức lo ngại. Theo lời bàn của các triều thần, Ngọc Hoàng vội sai Bắc Ðẩu Tinh Quân đi cầu cứu đức Phật. Ðức Phật sai đức Chuẩn Ðề đi bắt Phạm Nhĩ.
Nhưng không ngờ Chuẩn Ðề pháp thuật cao cường mà vẫn không thắng được Phạm Nhĩ, phải bỏ chạy về bạch Phật.
Ðức Phật liền đích thân ra tay. Trong lúc Phạm Nhĩ đương hung hăng múa may thóa mạ Ngọc Hoàng và triều thần bất tài bất lực, thì đức Phật đã hiện ra giữa không trung. Phạm Nhĩ vội xông lên toan dùng sức đánh, không ngờ sa ngay vào túi thần của đức Phật, toàn thân co rúm không cử động tay chân được nữa. Thế là ông bị bắt. Phật giao Phạm Nhĩ cho Ngọc Hoàng phân xử, huấn thị là làm cho y hối lỗi chứ đừng giết hại nữa.
Ngọc Hoàng bèn đày Phạm Nhĩ xuống cõi trần làm kiếp loài vật. Nhưng trước hết Ngọc Hoàng sai cắt bỏ đôi cánh của ông để tước bớt sức mạnh, sợ bất thần ông lại bay trở về Trời náo loạn. Hơn nữa, Ngọc Hoàng còn lo Phạm Nhĩ vốn mang cốt tướng nhà Trời, có thể nghe hết mọi chuyện bốn phương ngay trong giấc ngủ, mặc dù cách xa hàng ngàn dặm. Bởi vậy để làm giảm bớt trí nhớ của ông, Ngọc Hoàng hóa phép bắt lỗ tai ông mỗi khi tỉnh giấc thì khép kín lại. Tuy nhiên, thể theo lời dặn của đức Phật, Ngọc Hoàng cũng phong cho Phạm Nhĩ làm Chúa tể sơn lâm để an ủi đôi phần. (Theo "Cổ Tích Việt Nam" - Nguyễn Đổng Chi)
Từ khi xuống trần, tài phép của Phạm Nhĩ giảm sút đi nhiều vì không còn cánh mà bay. Mặc dầu vậy, ông vẫn còn giữ được một sức khỏe tuyệt trần, khiến mọi thú vật khiếp sợ, xứng với danh hiệu chúa tể mà Ngọc Hoàng phong cho. Cho đến sau này, dòng dõi nhà ông vẫn nối nhau làm chúa sơn lâm. Ngay loài người cũng phải kiêng ông, không dám gọi cái tên “Hổ”, mà chỉ gọi tránh là ông “Ba Mươi”.
Gọi là ông Ba Mươi là vì, mỗi khi có người nào săn được hổ thì nhà vua có lệ thưởng cho ba mươi quan tiền vì đã trừ được cho loài người một con thú hung ác. Nhưng vua cũng bắt người đó phải chịu đánh ba mươi hèo để cho vong hồn Phạm Nhĩ được thỏa mà không tác quái nữa.

CỌP TRONG VĂN CHƯƠNG VIỆT NAM

Cổ tích Việt Nam có rất nhiều chuyện liên quan đến Cọp. Trong sách “Việt Nam Văn Học Toàn Thư “(Hoàng Trọng Miên) có khoảng 15 chuyện, phần lớn có tính khôi hài, mỉa mai sự ngu khờ của cọp, ca tụng trí khôn con người (Ăn trộm và cọp rình nhà; Cọp mắc đuôi trong bụi dừa nước; Cọp bị đá; Ðút sáp cho cọp ăn khỏi chết; Bầy trâu với cọp; Chuột mộng hóa cọp; Chồn với cọp; Tại sao cọp ăn thịt người; Cọp và chó rừng; Cọp mắc bẫy không ai thèm cứu; một vài chuyện có tính cách huyền bí (Vua Hóa Hổ; Mã Hổ Táng) hầu hết đều không có tính cách ngụ ngôn hoặc chuyên chở đạo lý.
Chuyện “Vua Hóa Cọp” xảy ra vào đời nhà Lý. Vua Lý Thần Tôn lên ngôi được ít lâu thì mắc chứng bệnh khác thường, mình mẩy mọc lông như cọp, gầm thét suốt ngày. Danh y trong nước đều bó tay. Bỗng một hôm triều thần nghe bọn trẻ hát rằng “Muốn chữa bệnh vua phải tìm đức Minh Không mới được.”
Minh Không là một thiền sư, ở chùa Ðạm Xá, tỉnh Ninh Bình, đệ tử của Từ Ðạo Hạnh, được truyền pháp thuật cho. Khi Từ Ðạo Hạnh sắp chết, có dặn Minh Không rằng “Nay ta thác sinh làm đế vương, nếu mai sau có mắc bệnh gì, ngươi nhớ mà cứu ta với“
Quan địa phương tâu lên, triều đình phái người tìm Minh Không và mời vào cung. Minh Không dùng pháp thuật cho đoàn thuyền của quân binh Triều Ðình về thật nhanh rồi vào cung. Các danh y thấy Minh Không ăn mặc tầm thường tỏ vẻ coi nhẹ. Minh Không cầm một cái đinh dài một tấc cắm vào một cai cột trong cung và nói “Ai nhổ được cái đinh này ra thì mới chữa được bệnh vua”. Mọi danh y đều thử sức nhưng không ai nhổ được. Minh Không dùng hai ngón tay rút ra một cách nhẹ nhàng.
Minh Không nấu dầu sôi rồi rưới lên mình vua, rưới đến đâu lông rụng tới đó, vua trở lại bình thường. Lý Thần Tông tôn Minh Không làm Quốc Sư, nhưng Minh Không cáo từ ra đi.
Chuyện “Mả Hổ Táng” kể rằng vào đời vua Lê, có ông quan là Lý Khắc Cần, đem quân vào rừng lấy gỗ, bị cọp vồ chết. Xác còn nguyên, nhưng quân lính không thể đưa về được vì có cọp ngồi canh giữ. Quan tỉnh đưa quân lên lấy xác, thấy voi và cọp từng đàn vây quanh xác quan, phải bắn súng mới giải tán được. Xác đem về tỉnh chôn cất, nhưng ba ngày sau thấy huyệt trống vì quan tài đã bị voi cọp về quật lên mang vào núi chôn. Con cháu Lý Khắc Cần đến cửa Truông, núi Ðại Ngàn ở ranh giới Hà Tĩnh và Nghệ An thì thấy mộ. Quan tỉnh ra lệnh để yên vì “Mả Hổ Táng” rất tốt sẽ phát làm quan lớn.
Trong văn chương hiện đại, vào thập niên 1970, có chuyện “Ông Vua Hóa Hổ” nhưng nội dung hoàn toàn khác với chuyện thời nhà Lý. Chuyện kể rằng:
“Vào đầu thế kỷ thứ 20, tại Việt Nam có một ông vua rất mực thương dân, muốn cho dân được ấm no, hạnh phúc và được học hành. Vua sống rất bình dân và có thói quen tiết kiệm của cải “rất cao”. Nghe nói có một vị pháp sư ở vùng tuyết phủ Tây phương có phép thuật tài tình làm cho dân được ấm no, nước được phú cường một cách nhanh chóng, vua liền cùng tứ trụ triều đình và hoàng hậu lên đường đi cầu học pháp thuật để mong đem về giúp cho dân được ăn no, mặc ấm và xóa đói giảm nghèo cho đất nước.
Vua và đoàn tùy tùng quả nhiên đã đến vùng Tây phương trắng xóa tuyết lạnh và đã được vị pháp sư cao tay ấn dạy cho các pháp thuật cần thiết để biến hóa mà giúp dân. Sau một thời gian học và tập, thấy đã tiếp thu đầy đủ lý thuyết, thực hành nhuần nhuyễn, Vua và tùy tùng xin về nước. Pháp sư và quốc vương xứ tuyết trắng cấp cho một số lương thực đi đường khá hậu hĩnh đầy đủ món ngon vật lạ.
Vừa ra khỏi biên giới nhà Vua đề nghị với tứ trụ triều đình và hoàng hậu rằng: “Ta nên tiết kiệm, đừng dùng đến số lương thực này, trên đường về tôi đã nghĩ ra kế hoạch tự lực cánh sinh. Triều thần “nhất trí” nhưng hỏi vua phải làm như thế nào để tự túc. Vua phán “Ta sẽ dùng phép hòa thành một con Hổ, Vua làm cái đầu, hoàng hậu làm cái đuôi, tứ trụ làm bốn chân. Thế là thời gian đi qua các rừng núi ta tha hồ mà ăn thịt các thú vật để khỏi đụng đến lương thực dự trữ.
Cuộc hành trình kéo dài nhiều tháng trong rừng núi, Vua hóa hổ ăn thịt sống quá nhiều đến nỗi một số phép biến hóa bị suy giảm do ảnh hưởng của chất máu sinh vật. Khi về đến ranh giới đất nước, vua mừng lắm, nhưng lại thấy nhân dân không hồ hởi, phấn khởi nghênh đón mình thì đâm ra tức giận lũ vô ơn, vô tình. Vua quên mất là phái đoàn mình đã biến thành cọp, miệng còn vấy máu, khiến nhân dân sợ hãi, người thì bỏ chạy, kẻ thì chống lại. Trước tình hình khó hiểu đó, vua đành vào tạm trú trong một cái hang ở vùng Tây Bắc. Trong cơn mộng, Vua nhận ra là mình đang mang lốt cọp dữ dằn. Thức dậy, vua vận dụng phép thuật để biến lại thành người, nhưng vì sát sanh quá mạng trên đường đi, phép hiện nguyên hình không còn linh ứng nữa.
Từ đó, vua càng hung bạo tha hồ tàn sát, gầm rú hăm dọa và ăn luôn thịt của nhân dân mình. Cả thế giới hoảng sợ. Cuối cùng Vua ấy bị một số lực sĩ có tài “đả hổ” vây lưới giam lỏng, sau một thời gian thì ngã bệnh chết. Xác không được chôn, người ta đem ướp để triển lãm.
Theo dư luận thì câu chuyện này ra đời sau 30-4-1975, tác giả của nó bị bắt bỏ tù, bởi vì thấy độc giả không hiểu thấu thâm ý của mình viết về cái gì, về kẻ nào, bèn tiết lộ cho một vài người biết ông vua đó là ai. (Quý độc giả thử đoán xem "Ông Vua hóa hổ" đó là ai?)
Thơ tiền chiến, có bài “Nhớ Rừng” của Thế Lữ khá hay và rất nổi tiếng. Bài thơ được gửi gấm tâm sự của một người vong quốc, bị giam cầm, nhớ về thời vàng son của đất nước mà căm hờn giặc xâm lăng qua lời con Hổ trong vườn Bách Thú.
Gặm một khối căm hờn trong cũi sắt,
Ta nằm dài, trông ngày tháng dần qua.
Khinh lũ người kia ngạo mạn, ngẩn ngơ,
Giương mắt bé riễu oai linh rừng thẳm
Nay sa cơ, bị nhục nhằn tù hãm
Ðể làm trò lạ mắt, thứ đồ chơi.
Chịu ngang bầy cùng bọn gấu dở hơi,
Với cặp báo chuồng bên vô tư lự.

Ta sống mãi trong tình thương nổi nhớ,
Thủa tung hoành, hống hách những ngày xưa.
Nhớ cảnh sơn lâm, bóng cả, cây già,
Với tiếng gió gào ngàn, với giọng nguồn thét núi,
Với khi hát khúc trường ca dữ dội
Ta bước chân lên, dõng dạc, đường hoàng,
Lượn tấm thân như sóng cuộn nhịp nhàng,
Vờn bóng âm-thầm, lá gai, cỏ sắc.
Trong hang tối, mắt thần khi đã quắc
Là khiến cho mọi vật đều im hơi.
Ta biết ta chúa tể muôn của loài
Giữa chốn cỏ hoa, không tên không tuổi.

Nào đâu những đêm vàng bên bờ suối,
Ta say mồi đứng uống ánh trăng tan?
Ðâu những ngày mưa chuyển bốn phương ngàn
Ta lặng ngắm giang san ta đổi mới?
Ðâu những bình minh cây xanh nắng gội
Tiếng chim ca giấc ngủ ta tưng bừng?
Ðâu những chiều lênh láng máu sau rừng
Ta đợi chết mảnh mặt trời gay gắt
Ðể ta chiếm lấy phần bí mật?
Than ôi! thời oanh liệt nay còn đâu?
Nay ta ôm mối uất hận ngàn thâu
Ghét những cảnh không đời nào thay đổi,
Những cảnh sửa sang, tầm thường, giả dối:
Hoa chăm, cỏ xén, lối phẳng, cây trồng;
Giải nước đen giả suối, chẳng thông dòng
Len dưới nách những mô gò thấp kém;
Dăm vừng lá hiền lành không bí hiểm
Cũng học đòi bắt chước vẻ hoang vu
Của chốn ngàn năm cao cả, thâm u.

Hỡi oai linh, cảnh nước non hùng vĩ!
Là nơi giống hùm thiêng ta ngự trị,
Nơi thênh thang ta vùng vẫy ngày xưa
Nơi ta không còn được thấy bao giờ!
Có biết chăng trong những ngày ngao ngán
Ta đang theo giấc mộng ngàn to lớn
Ðể hồn ta phảng phất được gần ngươi
Hỡi cảnh rừng ghê gớm của ta ơi!

Thế Lữ (1936) đề tặng Nguyễn Tường Tam (Nhất Linh)



QUÊ XƯA NGÀY TẾT-Thơ Nhất Hùng,Họa Nguyễn Huy Khôi,Đặng Xuân Linh

 


QUÊ XƯA NGÀY TẾT

Quê tôi náo nức mỗi xuân sang
Vang khúc nhạc vui nhịp rộn ràng
Rạng rỡ trước đình hàng pháo đỏ
Thắm tươi ngoài ngõ dãy mai vàng
Phất phơ cờ quạt bay đầy phố
Ròn rã cồng chiêng vọng cả làng
Đây lắc bầu cua, kia chợ tết
Rước Lân cầu phúc lộc an khang

Nhất Hùng


Bài Họa

1/  TẾT QUÊ XƯA

Nhớ tết cội nguồn dạ xốn xang
Chợ quê theo Mẹ bước rềnh ràng
Tưng bừng lễ hội ngời cờ đỏ
Rực rỡ đào mai thắm nắng vàng
Dóng dả trống rung vang ngõ xóm
Râm ran pháo nổ rộn thôn làng...
Trai thanh gái lịch hồn thơ thới
Chào đón xuân về mãn thái khang.

    24-1-2022
  Nguyễn Huy Khôi

 2/ Tết xưa

Rạo rực nước nhà dịp Tết sang,
Bé mong áo mới cứ chàng ràng.
Ngoài sân lân trống phèn la Địa
Trong mái dưa hoa bó huệ vàng.
Trai gái lễ chùa cầu hướng Phật,
Ông bà thăm bạn viếng tình làng.
Niềm vui giữa cảnh yên bình thản,
Tươi chúc an lành, lộc thọ khang.
 
Đặng Xuân Linh

Mời đọc cho vui nếu không có chuyện gì làm.

Tranh của Foxnews
 

NÓI LÁI

- Nghệ sĩ tránh ăn cá kho vì sợ khó ca.
- Nhà vua khi ngồi trên ngai là khi ngài trên ngôi.
- Không nên giỡn quá lố trong ngày giỗ quá lớn.
- Các cô thích anh chàng ngông mà không thích anh chồng ngang.
- Da nhăn thì kéo, da nhéo thì căng.
- Say để đỡ nhớ ngày xưa và đỡ ngứa nhờ say.
- Người già ngồi câu còn người giàu ngồi ca.
- Nhiều người năng làm việc thiện mà không thiên làm việc nặng.
- Tình chan chứa là tình chưa chán.
- Nhiều cô gái ngây thơ ôm mộng ban đầu để rồi ôm bầu đang mộng.
- Từ đâu có chữ đầu tư?
- Đầu tiên là tiền đâu?
- Điếc không sợ súng mà đúng không sợ siết.
- Người có lông mép thường có mông lép.
- Chuyện đau lòng nghĩ đến lại long đầu.
- Tâm không đầy như Tây không Đầm.
- Củ không đứng vì cứng không đủ?
- Gái Củ Chi chỉ Cu hỏi Củ Chi
- Người đầy bạo tính thích người tình bạo đấy.
- Người bí ẩn thường có ý bẩn
- Có thánh tâm thì không có tánh thâm
- Lời tạ từ của lính trong lời tự tình của lá
- Tình không chấm hết, chết không tấm hình
- Sáng ăn mì gói, chiều ăn gói mì...

CÂU CHUYỆN NÓI LÁI
Chiều nay, ăn cơm xong, Chàng và Nàng rủ nhau đi bộ hóng mát chút cho tiêu cơm, vừa đi vừa chuyện trò. Chàng kể:
- Hôm qua, anh có gặp lại anh Vũ Như Cẩn. Anh ấy vẫn như cũ. Vậy chứ ngày xưa, anh ấy đi xe ôm, uống bia hơi, ngày nay, anh đi xe hơi, uống bia ôm. Anh ấy còn nói: “Tôi chả sợ gì, chỉ sợ già”.
- À, tuần trước em cũng có nói chuyện với chị Nguyễn Y Vân. Cũng thế, vẫn y nguyên.
- Nghe nói chị ấy đang lo thủ-tục sang Mỹ hả, đến đâu rồi?
- Ô, anh ơi, có những người chỉ đi mưa mà chưa đi Mỹ đó. Chị ấy khoái ăn sang nhưng lại sáng ăn khoai. Nói không thành có, nó khó thành công lắm. Đúng là cố quá chỉ quá cố thôi.
- Chuyện đã an bài thì ai bàn làm chi?
Đi ngang một căn nhà thật lớn, Chàng buột miệng nói:
- Em ơi, biệt thự này…
- Bự thiệt, bự thiệt! Nàng nhanh nhẩu tiếp lời.
Chàng chỉ lên mái nhà, nói:
- Em thấy không, nhà này lại còn dùng năng lượng mặt trời nữa. Đúng là hiện đại mà không hại điện.
- Nhưng mà anh ơi, đừng mơ hão cho hao mỡ làm chi?
- Ừ, biết vậy nhưng viết bậy chơi cho vui mà.
- ...
- Em nói câu gì đó?
- Có gì đâu?


Richard - alias : Dick


 

Thứ Sáu, 28 tháng 1, 2022

Thơ Mời Họa : NGẪM CUỘC TRẦN AI…Thơ Liêu Xuyên và 13 Bài Họa Của Các Thi Hửu

 
 

Ngày 23 Tết ngồi buồn, xin gởi bài thơ đọc chơi. Nếu có hoạ lại xin trân trọng :

NGẪM CUỘC TRẦN AI…

(Ngũ độ thanh)

Ngồi ngắm đông phong cội liễu tàn,        

Nhà bên đưa vẳng khúc tình tang.          

Nghe lòng xao xuyến câu thề vỡ, 

Nghĩ cảnh phôi pha chuyện lỡ làng !

Nhớ mộng đầu xanh đời giong rủi,

Ngùi thương bạc tóc gió mơ màng ! 

Ngày năm tháng lụn thân còm cõi…

Ngẫm cuộc trần ai lắm trái ngang !

       (23 tháng ChạpTân Sửu)

    Liêu Xuyên
 
Họa 1 :






CẢNH XUÂN & THẾ SỰ!
Trần gian cảnh vật đã phai tàn!
Tết vẫn hiu buồn chuyện chế tang
Trùng nhiễm tiêu điều trong những tháng
Thể lây khủng khiếp giữa thôn làng
Tiêm ngừa phòng dịch còn thanh thản
Thể hiện Năm K khỏi muộn màng
Thân thể tăng cường nâng kháng thể
Tiêu loài khuẩn Hán kẻo càng ngang..!
Đức Hanh
25 01 2022

 Họa 2 :

Dịch đã mấy Xuân?

Vật đổi mấy Xuân đã rủ tàn!
Vòng tròn thế sự lắm thương tang.
Vòm trời thăm thẵm lam ngày tháng,
Vít khuẩn tí teo vấy xóm làng.
Vọng đến Cao Xanh nhìn có thấu?!
Vào ra thân ốm ngẫm không màng.
Ven đường lá rụng trơ trơ nhánh,
Vận xứ dương trần dịch tới ngang.
Đặng Xuân Linh

 

Họa  3 :

MỘNG DÂN
(Ngũ độ thanh- 4 vận)

Khẩn lậy trùng "Cô..." sớm dã tàn
Cho đời vợi bớt cảnh sầu tang!
Sơn Hà khởi lộc bừng thôn xóm
Xã tắc tràn hoa rộ bản làng
Ổn định bình cư trào phước mãn
Hòa chung thái thịnh mãi huy hoàng!
Dân tình hợp sức vùi tham nhũng
Quén sạch ma tà lũ ngổ ngang!
25-1-2022
Nguyễn huy Khôi

Họa 6 :

NGẪM CUỘC TRẦN AI…
      
Thấm cuộc trần ai liễu ủ tàn
Bờ cao biển mộng thoáng điền tang
Sầu tư lỡ khúc đàn ai vọng
Dọ dẫm tình xa sáo bỏ làng
Mộng ảo đêm nằm khơi nỗi nhớ
Buồn rơi nguyệt rũ bóng trêu màng
Năm về tết lại mừng thêm tuổi
Vẫn vậy Đông còn tuyết phủ ngang
      
Chu Hà

 

Họa 7 :TÀN NIÊN SUY GẪM

Tàn niên suy gẫm chuyện hưng tàn
Mọi thứ trên đời cũng phế tan 
Phồn thịnh dù cho nơi phố thị
Hàn vi dẫu ở chốn thôn làng
Vật dời đất rộng không ai biết
Sao đổi trời cao chẳng kẻ màng
Rồi chả thứ gì tồn tại mãi….
Tang điền vi hải chuyện nhiên ngang

songquang 
20220125
 

 Họa 8 :  LUẬT TRỜI

Luật trời đâu thoát cảnh hưng tàn 
Vạn vật muôn loài sẽ đổi-tan
Thầm nhắc cũng buồn song nghĩ lại 
Vô thường còn mất chớ la làng 
Sao dời vật đổi trên hoàn vũ 
Có đó rồi không chẳng tưởng màng 
Đã đến cõi trần là hữu phước 
Cố công tu học tiến sang ngang…
                 Yên Hà 
                25/1/2022

 

Họa 9:

MÃI NHỚ HOÀNG SA
       (19-1-1974)
Hải đảo Hoàng-Sa hận ẩn tàng
Sóng triều ngọn bạc quấn khăn tang!
Đồng-minh ngoảnh mặt, đen như mực
Tàu-cộng xâm lăng, rõ cả làng
Nợ nước máu đền, sinh bất kể
Ơn dân thây trả, tử không màng
Tổ tiên Lạc Việt dày công giữ
Con cháu sao đành để mất ngang!!

DUY ANH
01/26/2022


 Họa 10  :TÀN NIÊN SUY GẪM

Tàn niên suy gẫm chuyện hưng tàn
Mọi thứ trên đời cũng phế tan 
Phồn thịnh dù cho nơi phố thị
Hàn vi dẫu ở chốn thôn làng
Vật dời đất rộng không ai biết
Sao đổi trời cao chẳng kẻ màng
Rồi chả thứ gì tồn tại mãi….
Tang điền vi hải chuyện nhiên ngang

songquang 
20220125
 
 
 Họa 11 :ĐÓN TẾT

Sau mùa đông giá cảnh phai tàn
Trụi lá, cây cành khoác áo tang
Xuân mới, nắng bừng trên vạn vật
Trời xanh, hoa nở khắp thôn làng
Lo âu, sầu não...thôi, không nghĩ
Tất bật, bon chen...kệ, chẳng màng
Thanh thản tâm hồn, vui cuộc sống
Đón làn gió mát thổi qua ngang...

Sông Thu
( 26/01/2022 )
 
Họa 12 Tết Buồn 

 Tết đến nhưng sao dạ héo tàn 
Thần hồn trĩu nặng cảnh nhà tang 
Thương em bóng khuất rời cha mẹ 
Tiếc bạn mồ sâu bỏ xóm làng 
Trước cửa hoa rơi nào có thấy 
Trong sân cỏ úa vẫn không màng 
Tường rêu chẳng thiết sơn mau lại 
Trí óc quay cuồng chuyện trái ngang 
            Minh Thuý Thành Nội 
               Tháng 1/27/2022
 


HỌA Ý 13 : PHÚT GIÂY TỰ NGHĨ

Ngõ đời quanh quẩn thắm rồi tàn,
Người xuống thăng trầm cảnh tịch tang.
Ngồi nghĩ bâng quơ tim lẩn thẩn,
Ngó quanh ngó quẩn dạ hiu làng.
Ngày xưa bóng dáng ai còn đó,
Nay kỷ niệm đau tạt xé màng.
Ngớ ngẩn thân cô đơn tựa vách,
Nghĩ mình đâu trách kẻ sang ngang.
HỒ NGUYỄN (27-01-2022)

 

 
 

 

Houston có gì lạ không em? - Minh-Đạo & Nguyễn Thạch-Hãn

Mỗi năm cứ vào độ tháng tư tôi lại bùi ngùi nhớ về quê cũ, những ngày bỏ nước ra đi. Nước mắt cũng đã chảy ra nhiều, những giấc mơ hãi hùng vẫn chợt đến chợt đi, tỉnh dậy ngơ ngác một lúc mới nhớ ra mình đang nằm trên giường, chăn ấm nệm êm trên đất Hoa Kỳ tự do và thịnh vượng. Vùng đất ngọt ngào luôn nâng đỡ, che chở, nuôi dưỡng tôi như một người mẹ hiền.  Ôi mừng hết lớn! Khi nghĩ đến quê hương vẫn là Việt Nam. Có ai đó, lạ mặt, hỏi tôi, bạn người nước nào? Từ đâu đến? câu trả lời vẫn là Việt Nam. Ôi cái nước Viêt Nam trong trí nhớ già nua của tôi, đọa đầy khốn khổ, chạy gạo ăn từng bữa, cả một mái nhà để chui ra chui vào cũng không có, bom đạn nổ ầm ỹ từng giờ, sống nay chết mai, anh em ly tán; Con cái, cha mẹ mong chờ biền biệt tháng ngày. Có lẽ đến đời cháu tôi, may ra chúng mới có thể tự nhiên trả lời tôi là người Mỹ, đến từ Houston, Dallas,  LA, NY” 

Ở đây, chẳng bao giờ tôi phải nghĩ đến cái ăn, cái mặc, phương tiện di chuyển, tối nay ngủ đâu, có gì ăn không nhỉ? Cả đến việc nhỏ nhặt tầm thường nhất, xin lỗi quý vị, như chạy quanh chạy quẩn đi tìm một chỗ làm công tác vệ sinh, tôi cũng chẳng phải lo. Nhưng tôi vẫn là người Việt Nam da vàng mũi tẹt, nói tiếng Việt rành hơn tiếng Mỹ, chỉ biết lịch sử Viêt Nam còn lich sử Mỹ thì mù tịt. Chính trường Mỹ thì càng không quan tâm tới. Vẫn nôn nao coi giải Túc Cầu Thế Giới, hơn là những môn thể thao của người Mỹ như foot ball, base ball, basket ball. Có ai trong sở hỏi: “Bạn cá ai sẽ thắng trong giải Super Bowl này?” -Super Bowl gì?. Hay người nào đó phang một câu “Anh chàng Yao Ming bị thương hoài chẳng làm nên trò trống gì!” - Yao Ming nào?, mặc xác hắn chứ!

 Tại sao tôi chưa hội nhập được vào xã hội Hiệp Chủng Quốc này. Tôi vẫn chưa tan ra, hòa lẫn với các giống dân khác trong chiếc “The Melting Pot” vĩ đại này nhỉ?

Tôi đã sống hơn nửa đời người trong thành phố này, nhưng biết rất ít về nó. Một ngày nọ, người bạn thân từ hồi còn trai trẻ, lâu ngày không gặp, ca bản “Houston có gì lạ không em?” cho tôi nghe. Tôi chẳng thấy gì lạ cả, vẫn những cao ốc nhìn mỏi cổ, vẫn những xa lộ đầy ắp xe cộ chạy lên chạy xuống cả ngày lẫn đêm. Hình như thiên hạ chẳng biết làm gì cho hết giờ nên cứ lái xe ra xa lộ tiêu khiển, đốt săng chơi. Vẫn những ngày hè nóng nực chẳng khác gì Saigon, với những cơn mưa hạ xầm xập kéo đến rổi vội vã ra đi để lại bao nỗi tang thương trên hè phố! Mùa thu vẫn đến âm thầm nhẹ nhàng như cơn gió thổi sau vườn, lúc ra đi cũng chẳng hẹn trước, nhưng không quyên mang theo đám lá vàng xào xạc, chừa lại những hàng cây cao  trơ trọi khẳng khiu chào đón gió Đông Phong. Tuyết ư? Hơn 30 năm tôi chỉ thoáng thấy mặt nàng một đôi lần, nàng e lệ đến gõ cửa một buổi sớm mai, hỏi thăm dăm ba câu rồi bye bye ra đi biền biệt! Vâng Houston của tôi chỉ có thế. À, còn nữa chứ, ai đó hay ca bản Mãi Mãi Bên EM của nhạc sỹ Từ Công Phụng:

“Đôi khi có những mùa giông bão qua đây,

Em thấy đời là những hư hao”

Vâng đôi khi cũng có bão tố như Cali có động đất nhưng không sao, ông Trời chỉ dọa hoảng vậy thôi, đâu có hư hao gì nhiều, nắm tay nhau, nhìn vào mắt nhau là thành phố lại hoàn toàn như cũ.

Hãy giả như một du khách nhìn từ ngoài vào, may ra có thể trả lời bạn tôi câu hỏi:

*Houston có gì lạ không em?

Cứ vậy đi, bạn già, hãy nói về Houston của tôi:

Houston là thành phố lớn thứ tư nước Mỹ và là thành phố lớn nhất của Texas với dân số khoảng 2 triệu sống trên một diện tích 1500 km2. Đất rộng người thưa nhân công Mễ đầy rẫy, cho nên nhà cửa rẻ rề, hai ba chục ngàn, bạn có thể mua được một chung cư đầy đủ tiện nghi, chỗ đậu xe rộng rãi. Nếu bạn muốn upgrade lên một chút, một hai trăm ngàn bạn có thể mua một gia cư hoành tráng, chẳng phải chung đụng với ai. Đánh lộn trong nhà hàng xóm cũng không ai biết. Nếu bạn muốn chơi sang, bỏ chừng vài trăm ngàn bạn có thể tậu một lâu đài có cả hồ tắm đàng hoàng của một ông hoàng Ả rập nào đó đang hồi xuống dốc (vì mấy vụ biểu tình, xuống đường), tha hồ hưởng nhàn.

Người Mễ chiếm tỷ lệ khá cao trong các sắc dân thiểu số, họ làm việc rất chịu khó. Những việc nặng nhọc như làm đường, xây cất cầu cống nhà cửa, toàn là nhân công Mễ, chẳng thấy người da màu hay Á châu nào làm cả, bởi vậy giá sinh hoạt rất thấp. Bạn cần sửa chữa nhà cửa hay chỉnh đốn vườn tược, chẳng khó khăn gì dể tìm kiếm một ông thợ người Mễ giúp cho một tay. 


Houston được mệnh danh là “Thủ Đô của năng lượng trên toàn thế giới” bởi  vì hầu hết các hãng xưởng kinh doanh liên quan đến dầu hỏa đều tập trung ở đây, gồm có kỹ nghệ khoan mỏ dầu, tìm kiếm mỏ dầu, chế tạo dụng cụ khoan dầu, xưởng lọc dầu, phó sản dầu hỏa, chuyên chở dầu bằng hệ thống đường ống dẫn dầu và khí đốt khắp hang cùng ngõ hẻm, còn có những hãng chuyên môn thiết lập các bồn dầu khổng lồ để đầu cơ tích trữ và buôn bán dầu trên thị trường chứng khoán vậy mà chẳng có con ma nào bị đưa ra pháp trường cát như thời ông Kỳ làm Thủ Tướng!.  Người Việt mình làm nghề hàn và tiện cho các hãng xưởng đó lương rất cao.  Kỹ sư dầu hỏa, hóa học, điện tử, điện toán, luyện kim, cơ khí tha hồ múa may quay cuồng!  Ban đêm đi trên cầu cao bắc ngang Houston Ship Channel bạn nhìn về phía đông, sẽ ngạc nhiên thấy hai bên đèn điện sáng rực, còn hơn kinh đô ánh sáng Paris, đó là tụ điểm của những nhà máy lọc dầu hay chế biến phó sản của dầu hỏa .


Houston có một trung tâm Y Tế (Texas Medical Center) lớn nhất thế giới rất nổi tiếng về giải phẫu Tim và tri bệnh Ung Thư. Các Ông Hoàng bà Chúa Ả Rập hay về đây để chữa trị. Bác sỹ, Y tá, chuyên viên Y Tế người Việt làm trong các nhà thương đó cũng nhiều.  Houston còn có Johnson Space Center, nơi điều khiển Phi Thuyền Con Thoi, Trạm Không Gian (Space Station), cũng như huấn luyện Phi Hành đoàn. Thập niên 80, khi chương trình phi thuyền Con Thoi đang phát triển mạnh, rất nhiều kỹ sư, chuyên gia gốc Việt đã đóng góp một phần đáng kể cho trung tâm này, lại có cả một ông Tiến Sỹ Phi Hành Gia người Việt nữa chứ làm tôi hãnh diện quá đi mất. Đi đâu cũng vỗ ngực “Tôi là người VietNam”.

Hải cảng Houston vẫn đứng đầu về số lượng hàng hóa vận chuyển bằng đường biển và thứ nhì về tổng số hàng chuyên chở trên đất và trên biển.

Houston cũng đứng hàng thứ nhì chỉ sau New York về số hãng được xếp vào bảng danh sách 500 hãng hàng đầu (Fortune 500) trong nước Mỹ. Tổng sản lượng của Quốc Gia Houston và vùng phụ cận lên đến 440 tỷ Mỹ kim, xếp hàng thứ 22 trên thế giới trong các nước kỹ nghệ gồm Mỹ, Nhật, Đức, Anh, Pháp.... Thành phố được xếp hạng nhất về ba tiêu chuẩn: Tiềm năng kinh tế, khả năng kiếm việc, và giá sinh hoạt.  Lợi tức trung bình cho (gia đình) là $40,443. Cho nên mặc dầu nền kinh tế Mỹ đang gặp khó khăn nhưng tỷ lệ thất nghiệp tại Houston cũng thấp so với toàn quốc. Mới đây tờ báo nổi tiếng về kinh tế Forbes đưa ra danh sách “The best cities for jobs” theo thứ tự như sau:

Austin

New Orlean

Houston

San Antonio

Dallas

Trong 5 thành phố kể trên, Texas chiếm đến 4, Houston vẫn đứng hàng thứ 3 mấy năm liền.

Một điều đáng lưu ý, có lẽ phần đông cư dân Houston cũng không biết, Trung tâm thành phố có một hệ thống đường hầm, cỡ đường hầm Củ Chi, nối liền các cao ốc với nhau, dài khoảng 11 km, như một thành phố chìm sâu trong lòng đất.  Bạn sẽ tìm thấy rất nhiều quán ăn trong đó chẳng thiếu thứ gì, có cả quán ăn Việt bán phở và bún thịt nướng, ngoài ra còn có các tiệm tạp hóa, văn phòng Bác Sĩ, Nha Sĩ, tiệm hớt tóc,  làm móng tay, nhà băng, kể ra không hết.

Giống như hầu hết các thành phố khác, Houston có một số lượng trường Đại Học đáng kể, thu hút rất nhiều sinh viên ngoại quốc, kể cả Việt Nam, vì giá sinh hoạt rẻ, lệ phí không cao lắm. 


Nếu quý vị đến Houston để du lịch, tôi xin đề nghị, ngoài khu thương mại Viêt Nam vòng quanh Đại Lộ Bellaire, Beechnut, nên thăm Trung Tâm Không Gian ở Clear Lake, khu giải trí kemah bên bờ vịnh Gaveston, Downtown Houston và Tunnel, Downtown aquadrium, Woodland Waterway, Houston museum of Fine Art, Houston Zoo. Leo lên xe điện, chạy một vòng qua Texas Medical Center.

Kemah Houston

*Houston sử lược

Thành phố này được đặt tên Houston để vinh danh vị Tổng Thống đầu tiên của Nước Công Hòa Texas. Tôi hỏng có nói lộn đâu nhé, nhắc lại, Tổng Thống đàng hoàng đó.

Tướng Sam Houston đã lãnh đạo thành công cuộc chiến giành độc lập của nước Cộng Hòa Texas khỏi bàn tay thống trị độc tài của Tổng Thống và Tướng Antonio López de Santa Anna xứ Mễ Tây Cơ, người đã tự ví mình như Napoleon của Pháp Quốc. Ông quyên rằng Hoàng Đế Napoleon cũng từng bị đánh bại và chết tủi nhục trong nhà tù! Khi ra trận Santa Anna ra lệnh tất cả tù binh đều phải xử tử lập tức, dù là hàng binh. Như vậy, dân quân nổi dậy tự hiểu rằng sẽ không có tù binh chiến tranh! Chỉ có tử chiến mà thôi!

Cuộc cách mạng giành độc lập của Texas


Trong những năm đầu sau khi nước Mễ Tây Cơ giành được độc lập từ người Tây Ban Nha, dân Hoa Kỳ đến lập nghiệp tại Texas  rất nhiều. Tướng Santa Anna lên nắm quyền xứ Mễ, ông hủy bỏ hiến pháp dân chủ, giải tán quốc hội và chính quyền các tiểu bang, trở nên một Tổng Thống độc tài của xứ Mễ Tây Cơ. Quân đội và hành pháp đều do một mình ông nắm giữ. Khoảng đầu năm 1835 vùng đất Texas vẫn còn nằm trong vòng cai trị của chính quyền Mễ Tây Cơ. Cuộc cách mạng giành độc lập thật sự khởi đầu chỉ vài tháng sau đó. Trong vòng mấy tháng ngắn ngủi, Toàn quân Mễ trên đất Texas đã bị tiêu giệt hoặc đẩy lui về bên kia biên giới. Quân Texas chỉ là một đám quân ô hợp, vũ khí thô sơ, chưa có thống nhất chỉ huy và tiếp liệu. Chính quyền tạm thời vẫn chưa thành hình. Có một điều chúng ta phải cúi thấp đầu bái phục đó là lòng quyết chiến cho tới chết của đoàn quân Texas, tuyệt đối trung thành và vâng lời thượng cấp, không tranh giành địa vị hay quyền lợi, không tàn sát lẫn nhau, chỉ một lòng chống kẻ thù chung. Họ là những nông dân tự trang bị cho mình đạn dược, súng ống, lương thực, quần áo. Đó là truyền thống của cao bồi Texas còn lưu đến bây giờ. Chính quyền có thể cấm bài bạc, đĩ điếm nhưng cỡi ngựa mang súng là quyền tự do cá nhân đó.

Chuẩn bị phòng thủ

Alamo

Đầu tiên, quân kháng chiến biến khu truyền giáo Alamo, hiện thời là vùng đất thuộc thành phố San Antonio,  thành một pháo đài rộng khoảng 3 mẫu (3 acres) với 1320 feet (400 m) chu vi phòng thủ. Tường bao bọc dầy khoảng 2.75 feet, cao khỏang 9 -12 feet. Thành này vốn lập ra chỉ để phòng ngừa quân da đỏ với vũ khí là cung tên và búa rìu mà thôi, không phải để phòng thủ chống lại đội quân có đại bác như quân của Tướng Santa Anna.

Dân quân đặt 19 khẩu đại bác (tịch thu được trước đây của quân Mễ ) vòng theo bờ thành phòng thủ. Họ tin rằng có thể chống cự với một lực lượng đông gấp 10 lần. Lực lượng phòng thủ sơ khởi khoảng gần 100 người, lương thực chỉ đủ cung cấp cho 4 ngày, James C. Neill, vị chỉ huy tạm thời của thành, viết thư kêu cứu với chánh quyền lâm thời, nhưng chẳng ai giúp được gì. Neill bèn tiếp xúc với Sam Houston, một trong bốn vị tổng chỉ huy nghĩa quân để xin tiếp liệu, quần áo, và đạn dược. Tướng Houston tiên liệu rằng không thể nào giữ nổi thành nếu bi đại quân Mễ tấn công nên phái James Bowie dẫn  theo 30 dân quân để  phá hủy thành Alamo và di chuyển tất cả các khẩu đại bác đi. Không thể tìm được phương tiện chuyên chở đại bác, Neil và  Bowie viết thơ thuyết phục chính quyền lâm thời rằng Alamo là cứ điểm quan trọng, đó là tiền đồn để ngăn ngừa quân Mễ. Tương lai của Texas đều phụ thuộc vào vùng đất này. Cuối thơ ông viết một câu rất hào hùng “Chúng tôi long trọng thề rằng thà chết ở chiến hào này chứ không giao thành cho địch!”  Hai ông cũng xin cung cấp thêm người, tiền bạc, súng ống, đạn dược. Alamo được cung cấp thêm 30 người và một sỹ quan kỵ binh William B. Travis. Vài ngày sau, một số quân nhỏ tình nguyện cũng nhập bọn.  Ngày 11 tháng 2 năm 1836 Neil dời thành để đi vận động nhân lực và tiếp liệu, giao quyền chỉ huy cho Travis và Bowie.

Tử chiến thành Alamo

Trong khi thành Alamo, gặp đủ thứ khó khăn về nhân lực và tiếp liệu thì đại quân Mễ đang tiến về hướng Alamo bằng đường bộ. Sáng sớm ngày 23 tháng 2 năm 1836  Santa Anna chỉ còn cách thị trấn 1.5 dặm. Thành Alamo được báo động, Dân chúng di tản khỏi thi trấn, nhưng gia đình của dân quân thì dời vào trong thành.  Quân Mễ có khoảng 1500 người sẵn sàng tham chiến, Tướng Santa Anna ra lệnh đặt đại pháo phía đông và nam và cách thành khoảng 1000 feet (300 m), đồng thời kéo cao ngọn “cờ máu”, đó là hiệu lệnh tàn sát không tha.  Alamo trả lời bằng một viên đạn đại bác lớn nhất trong thành!

Mỗi đêm, quân mễ đều quấy rối bằng đại bác mục đích làm mệt mỏi đối phương. Trong tuần lễ đầu tiên vây hãm hơn 200 đạn rơi trong thành. Lúc đầu quân tử thủ cũng bắn trả lại, hầu hết dùng ngay trái đạn của địch quân để bắn trả, nhưng những ngày sau Travis ra lệnh không bắn trả để tiết kiệm thuốc súng.

Ngày 24 tháng 2 Bowie bị bệnh nặng nằm liệt giường, Travis nắm toàn quyền chỉ huy phòng thủ.


Sáng hôm sau, khoảng 300 quân Mễ, lội qua sông ẩn trong những túp lều gần chân thành để tấn công. Quân trong thành phái người ra thiêu hủy những túp lều đó đồng thời bắn trả lại rất gắt. Sau 2 giờ tấn công, quân Mễ bi thiệt hại nhẹ và rút lui.

Ngày 3 tháng 3 quân Mễ được bổ xung thêm 1000 ngươì nữa. Ngày 4 tháng 3 một số nhỏ dân quân tăng viện phá vòng vây từ ngoài lọt vào trong thành.

Ngày 5 tháng 3, Travis tập họp quân thủ thành một lần cuối, thông báo cho toàn quân, sự thật là thành sẽ không thể nào giữ nổi vì lực lượng đôi bên quá chênh lệch, lại thiếu súng ống đạn dược, ngay cả lương thực, nếu ai muốn bỏ thành thì ông cho phép rời ngay, vẫn còn kịp. Mọi người đều đòng lòng tử thủ, chỉ trừ một người xin được ra đi.

10 giờ đêm ngày 5 tháng 3, đại pháo của quân Mễ ngưng bắn hoàn toàn. Tướng Santa Anna tiên đoán quân đồn trú sẽ rơi vào giấc ngủ say sau bao nhiêu đêm mệt mỏi vì tiếng đại bác. Nửa đêm quân Mễ lặng lẽ tiến gần về chân thành, 500 kỵ binh Mễ bao chung quanh thành ở vòng ngoài để bắt những lính đào ngũ của cả hai bên.

Khi còn cách chân thành vừa tầm súng, quân Mễ la to “Hoan Hô Santa Anna”. Tiếng la vang dội vào thành đánh thức quân trong thành vào vị trí chiến  đấu, gia đình vợ con lính được đưa vào trong Nguyện Đường của thành để được an toàn hơn. Travis động viên dân quân bằng khẩu hiệu “Hỡi các chiến hữu, tụi Mễ đang tấn công chúng ta, Hãy tống chúng nó vào Địa Ngục, quyết không đầu hàng” 

Quân trong thành không có đủ đạn đại pháo nên tọng bất cứ mảnh sắt nào vào trong họng súng kể cả bản lề cửa, đinh, móng ngựa, những phát đại bác bắn ra như một phát đạn shotgun khổng lồ, vung vãi miểng ra khắp nơi làm thiệt hại không ít quân Mễ.

Travis bị tử trận ngay trong đợt tấn công đầu tiên. Mặc dầu không có người chỉ huy, quân Mễ vẫn không tiến vào được. Trong vòng 15 phút quân Mễ đã tấn công 3 đợt, mỗi đợt tấn công không lên được thành lại kéo ra để sắp xếp chuẩn bị cho đợt kế tiếp. Đợt tấn công cuối cùng quân Mễ dồn về phía bắc thành, nơi đó tường phòng thủ rất mỏng manh, dễ bị chọc thủng, Phía bắc rồi lần lượt phía nam và đông đều bị thất thủ. Quân Mễ tràn vào thành như nước vỡ bờ. Quân trong thành rút về Nguyện Đường và những căn nhà gạch trong thành, từ đó chĩa súng bắn ra ngoài. Một số nhỏ dân quân không rút kịp bèn ẩn nấp trong giao thông hào giữa tường thành và sông San Antonio River, từ nơi đây có thể bắn trả quân kỵ binh Mễ lội qua sông để tấn công mặt phía tây. Với quân số gần 500 kỵ binh tràn qua, tất cả đám dân quân dưới giao thông hào đều tử trận. Một số nhỏ dân quân khác thoát ra ngoài thành về phía đồng cỏ phía đông nhưng bị kỵ binh Mễ đuổi theo giết sạch. Nhóm dân quân cuối cùng rút vào cố thủ trong các căn nhà gạch và Nguyện Đường. Quân Mễ bắn đại bác phá xập tường rồi tràn vào bên trong. Bowie bị giết trên giường bịnh. Những người khác đều chiến đấu đến giọt máu cuối cùng. 6:30 sáng, quân Mễ hoàn toàn làm chủ thành ALAMO, kiểm soát từng tử thi, ai còn cử động đều bị đâm chết. 

Trong những dân quân tử trận ngoài hai thủ lãnh như Travis và Bowie, Davy Crockett thủ lãnh một đám nhỏ dân quân tình nguyện là nổi tiếng hơn cả. Ông là dân biểu liên bang đại diện của tiểu bang Tennessee, vì bất đồng chính kiến với Tổng Thống Andrew Jackson nên đầu quân vào Texas để phòng thủ thành ALAMO. Ông đã giết chết it nhất 16 lính Mễ bằng dao găm trước khi bị đâm chết, trong khi con dao của chính ông còn cắm sâu trong một xác lính Mễ.

Davy Crockett

Hollywood đã làm rất nhiều phim về Davy Crockett như một người hùng, người khai phá của Hoa Kỳ.

Các sử gia ước lượng khoảng 400 - 600 quân Mễ tử thương và dân quân bị giết khoảng 182-257 người.

Những người không phải là dân quân đều được thả cho đi, trong đó có cả một nô lệ da đen của thủ lãnh Travis và rất nhiều thân nhân của nghĩa quân. Santa Anna cho mỗi phụ nữ một tấm mền và 2 đồng tiền Mễ bằng bạc (silver pesos) làm lộ phí, đồng thời nhắn tin rằng không ai có thể đánh bại đoàn quân viễn chinh của ông!

TEXAS tuyên bố độc lập

Trong khi thành ALAMO bị vây ngặt, các dân biểu họp đại hội và đồng thanh tuyên bố thành lập nước CỘNG HÒA TEXAS và chỉ định Sam Houston làm Tổng Tư Lệnh đoàn nghĩa quân khoảng 400 người! Còn đang chờ đợi để tới giải cứu thành Alamo, họ vẫn chưa biết rằng thành Alamo đã thất thủ. Chỉ vài giờ sau những người được thả ra từ Alamo đến báo tin, Tướng Sam Houston quyết định tất cả dân chúng, quân đội và chính phủ mới thành lập rút chạy về hướng đông. Mặc dầu thiệt hại nặng khi tấn công thành Alamo, quân Mễ vẫn đông hơn quân Texas gấp 6 lần!

Santa Anna nghĩ rằng, sự tàn sát thành Alamo sẽ làm khiếp đảm đám quân ô hợp và nhỏ bé của Sam Houston và trước sau gì cũng tan rã. Nhưng ông đã lầm vì quá tự tin và kiêu ngạo.

Thành Alamo bị tàn sát làm nổi lên hào khí khắp nơi, thanh niên ào ạt đầu quân dưới quyền Sam Houston. Nếu Santa Anna không quá độc ác, chưa chắc Sam Houston đã có một số quân đông và lòng quyết chiến như vậy.

Trận chiến cuối cùng

 Buổi chiều ngày 21 tháng 4 năm 1836, Sam Houston ra lệnh tấn công quân Mễ bên bờ sông San Jacinto, nằm ở phía đông của thành phố Houston bây giờ. Trận chiến chỉ kéo dài 18 phút ngắn ngủi, dân quân luôn hô to khẩu hiệu “trả thù cho thành Alamo!”. Quân Mễ thiệt hại khoảng 630 người và hơn 700 bị bắt làm tù binh, trong khi chỉ có 9 dân quân Texas bị tử trận 

Cuối cùng  Santa Anna bỏ chạy và bị bắt làm tù binh ngày hôm sau đó. Sam Houston tha mạng cho ông tướng kiêm Tổng Thống Mễ Tây Cơ và buộc ông ta ký hòa ước trả độc lập cho nước Cộng Hòa Texas. Sam Houston được bầu làm Tổng Thống đầu tiên.  Sau khi Texas xin sát nhập vào hiệp chủng quốc Mỹ Châu (USA), Sam Houston được bàu làm Thượng Nghị sỹ, rồi Governor của TEXAS.

Cuộc đời của Sam Houston


Đó là một cuộc đời ngoại hạng, một tấm gương lớn cho nhiều người noi theo. Ông sinh ra ở tiểu bang Virginia nhưng lớn lên ở tiểu bang Tennessee. Sống ở nông trại và chơi rất thân với đám người da đỏ Cherokee. Khi cuộc chiến giữa Hoa kỳ và Anh Quốc lần thứ nhì bắt đàu, ông đầu quân làm binh nhì. Leo dần đến chức Trung Úy rồi giải ngũ đi học luật và hành nghề luật sư. Đắc cử dân biểu liên bang 2 lần đại diện cho tiểu bang Tennessee, sau đó đắc cử Thống Đốc Tennessee. Chưa hết nhiệm kỳ ông xin từ chức về sống với bộ lạc da đỏ Cherokee sau đó dọn về Texas cùng với một số bạn bè thân thiết.  Được cử làm đại diện cho vùng Nacogdoches trong đại hội bàu chính phủ lâm thời của nước Cộng Hòa Texas.

Trong cuộc nội chiến Nam Bắc Mỹ ông rất chống đối việc rút Texas ra khỏi liên bang Hoa Kỳ, nhưng phải chiều theo đa số. Trong cuộc nội chiến Bắc - Nam, chính phủ phía Bắc yêu cầu ông gia nhập Bắc quân nhưng ông từ chối vì không muốn bàn tay mình nhuốm máu người miền nam. Cuối cùng ông về hưu và chết ở Huntsville, đó là một thành phố nhỏ phía bắc của Houston bây giờ. 


Quý vị nào lái xe từ Dallas về Houston cũng nhìn thấy tượng một ông già chống gậy màu trắng khổng lồ bên xa lộ I-45, đó đích thực là ông. Cuộc đời của ông cho chúng ta rất nhiều bài học. Ông là người sãn sàng chiến đấu cho quyền lợi chung của dân tộc, hy sinh quyền lợi riêng tư của mình vì đại cuộc, không tham quyền cố vị, không hãm hại người không đồng chí hướng với mình, biết rút lui khỏi quyền lực đúng lúc. Hãy nhìn lại bao nhiêu lãnh tụ trên thế giới, lấy danh nghĩa vì quốc gia, vì dân tộc, tranh giành quyền lực và mãi mãi bám lấy nó cho đến chết hay bi kẻ khác lật đổ. Thế gian này được mấy người như Ông Houston, nhất là vào thời mà sự tôn thờ chủ nghĩa cá nhân còn đang thịnh hành trên địa cầu! Tôi xin ngả nón nghiêng đầu kính phục và thắp một nén hương lòng cho ngài.

Những ngày gần đây, bao nhiêu cuộc cách mạng đã sảy ra trên thế giới nào là cách mạng Nhung, cách mạng Hoa Hồng, cách mạng Hoa Tulip, Tất cả cùng chung một mục đích lật đổ chế độ độc tài hại dân hại nước. Những kẻ cầm quyền đó chỉ nghĩ đến quyền lợi riêng tư của chính họ mà thôi! Bao giờ đến cách mạng hoa Nhài hay Hoa Sen nhỉ?

 

Minh-Đạo & Nguyễn Thạch-Hãn

 

 

NHỚ QUÊN - Thơ Sông Thu Và Thơ Họa

NHỚ...QUÊN... Tuổi già lúc nhớ lại khi quên Quên...nhớ...bao phen tạo lụy phiền Chuyện tự xa xưa lòng vẫn nhớ Điều vừa trước mắt dạ liền qu...