Hiển thị bài đăng được sắp xếp theo ngày cho truy vấn Các nhà văn đạo giải Nobel. Sắp xếp theo mức độ liên quan Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị bài đăng được sắp xếp theo ngày cho truy vấn Các nhà văn đạo giải Nobel. Sắp xếp theo mức độ liên quan Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 4 tháng 11, 2025

Krasznahorkai László: Bậc thầy của tận thế (TIA SÁNG )

Sau 23 năm (2002) kể từ Kertész Imre, tác giả tiểu thuyết “Không số phận”, văn học Hungary lại một lần nữa được giải thưởng cao quý nhất vinh danh, nhà văn Krasznahorkai László.Một minh họa cho truyện ngắn về tận thế của Krasznahorkai László trên Financial Times

Nhà văn Krasznahorkai László sinh ngày 5/2/1954 tại Gyula, một thành phố nhỏ ở phía Đông Nam Hungary, gần biên giới Rumani. Ông từng theo học luật tại ĐH József Attila ở Szeged và ĐH Tổng hợp Budapest vào các năm 1974-1976, và nhận bằng Ngữ văn và sư phạm, chuyên ngành Nghiên cứu Văn hóa dân gian.

Những bài viết đầu tiên của ông được đăng vào năm 1977 trên tạp chí Mozgó Világ (Thế giới vận động), từ 1977-1982 ông làm việc tại NXB Gondolat (Tư tưởng) và từ năm 1982 là nhà văn tự do. Trên trang chính thức của Ủy ban Nobel, ông được mô tả là “Một nhà văn sử thi xuất sắc trong truyền thống Trung Âu, tiếp nối từ Kafka đến Thomas Bernhard, với văn phong đặc trưng của chủ nghĩa phi lý và sự phóng đại mang màu sắc ghê rợn. Nhưng văn chương của ông còn phong phú hơn thế: trong các tác phẩm của ông còn xuất hiện những ảnh hưởng phương Đông, mang âm hưởng chiêm nghiệm, tinh tế và sâu lắng hơn.”

Văn chương của Krasznahorkai László cũng khiến đồng nghiệp phải ngưỡng mộ. Đồng hương Kertész Imre, Nobel Văn chương 2002, đã viết “Tôi yêu sách của Krasznahorkai. Những câu văn dài, hoa mỹ của ông mê hoặc tôi, kể cả khi vũ trụ của ông dường như tăm tối”.

Nhà văn Đức W.G Sebald nhận xét “Thiên cảm toàn năng của những hình tượng mà Krasznahorkai xây dựng rất gần gũi với ‘Những linh hồn chết’ của Gogol, và nó giải tỏa mọi nghi ngại của chúng ta liên quan tới văn học đương đại.”

Nữ nhà văn Mỹ Suzan Sontag gọi ông là “bậc thầy Hungary khiến người ta nhớ đến Gogol và Mellville tiên tri.”

Krasznahorkai László được coi là cây bút lớn, đặc sắc của văn học Trung Âu đương đại. Ông viết tiểu thuyết, truyện ngắn và kịch bản phim, với chủ đề u tối, bi quan, khám phá sự khủng hoảng tâm linh, sự sụp đổ xã hội, sự cô đơn. Văn phong ông mang nhiều tính kỳ dị, trừu tượng, nhiều khi không tưởng. Câu văn ông thường dài lê thê, nhiều mệnh đề dồn dập như những dòng nham thạch phun ra từ ngọn núi lửa sôi sục là tâm hồn và trí tưởng tượng của ông, lối hành văn tạo cảm giác dồn nén, liên tục, u ám, có tính nội tâm mạnh. Cách viết độc đáo của ông ảnh hưởng mạnh tới cách người đọc cảm nhận thời gian, không gian và tâm trạng; gây thách thức, nhưng cũng rất sâu sắc trong trải nghiệm văn học. Krasznahorkai László.

“Tôi làm việc như một cái cối xay cứ quay mãi… Tôi làm việc và làm việc, bởi vì có một câu bắt đầu và bên cạnh câu đó là hàng trăm ngàn câu khác, giống như những sợi tơ rất mảnh nhả ra từ một con nhện. Và một trong số chúng, bằng cách nào đó, quan trọng hơn một chút so với những câu khác, vì thế tôi tóm lấy nó, sửa nó. Khi tôi làm việc, điều đầu tiên tôi làm với một câu trong đầu là làm cho yếu tố nhịp điệu trở nên hoàn hảo. Tôi sử dụng cùng một cơ chế chung cho sáng tác âm nhạc và sáng tác văn học. Âm nhạc, văn học và nghệ thuật thị giác có một gốc chung – cấu trúc giai điệu và tiết tấu. mặc dù nội dung hoàn toàn khác nhau nhưng về bản chất, đối với tôi, thực sự giống nhau”.

Trong một cuộc phỏng vấn, ông giải thích về cách hành văn độc đáo của mình. “Tôi làm việc như một cái cối xay cứ quay mãi… Tôi làm việc và làm việc, bởi vì có một câu bắt đầu và bên cạnh câu đó là hàng trăm ngàn câu khác, giống như những sợi tơ rất mảnh nhả ra từ một con nhện. Và một trong số chúng, bằng cách nào đó, quan trọng hơn một chút so với những câu khác, vì thế tôi tóm lấy nó, sửa nó. Khi tôi làm việc, điều đầu tiên tôi làm với một câu trong đầu là làm cho yếu tố nhịp điệu trở nên hoàn hảo. Tôi sử dụng cùng một cơ chế chung cho sáng tác âm nhạc và sáng tác văn học. Âm nhạc, văn học và nghệ thuật thị giác có một gốc chung – cấu trúc giai điệu và tiết tấu. mặc dù nội dung hoàn toàn khác nhau nhưng về bản chất, đối với tôi, thực sự giống nhau”.

Có lẽ đây là lý do mà nhà văn Anh, Hari Kunzru, nhận xét những câu văn của Krasznahorkai László liền mạch như có một sự linh hoạt gần như vô hạn, chuyển từ những suy tư triết học đầy phức tạp sang sự hài hước bình dị. Bản thân Krasznahorkai László cho rằng, những trải nghiệm như tình yêu – đặc biệt là tình yêu cần thời gian và lòng dũng cảm để thể hiện – không thể gói gọn trong những câu chữ ngắn gọn. Và rằng dấu chấm câu “thuộc về Chúa”. Các tác phẩm của Krasznahorkai László.

Các tác phẩm của ông mang tính dự báo, tiên tri về tương lai của thế giới và xã hội. Các nhà phê bình coi ông sánh ngang với Kafka, Thomas Bernhard, Melville… nhưng ông vẫn giữ được đặc trưng và cá tính riêng biệt. Do đó, ông có sức ảnh hưởng lớn tới các tác giả, nhất là các tác và độc giả trẻ, đặc biệt ở các nước phương Tây.

Sontag miêu tả ông là “bậc thầy của tận thế”. Bởi những gì diễn ra trong thế giới hôm nay khiến ông đau khổ. Trong cuộc trả lời phỏng vấn trên Yale Review, ông nói về những cuộc chiến tranh trên thế giới “Thế giới đang bắt đầu quen với nó. Tôi thì không thể quen được. Tôi không thể chấp nhận việc con người đang giết hại lẫn nhau. Có lẽ tôi bị tâm thần chăng. Tất cả những điều này đang diễn ra trong khi, trên không gian số, có một viễn cảnh tương lai hứa hẹn rằng sự tiến bộ chóng mặt của công nghệ sẽ sớm mang đến cho con người một thế giới mới tươi đẹp. Thật là điên rồ! Trong khi một cuộc chiến tranh đang diễn ra thì có người lại nói về việc chúng ta sẽ sớm lên sao Hỏa”. Nỗi ghê sợ sự tàn bạo của chiến tranh khiến ông cay đắng nghi ngờ về tương lai tốt đẹp “Chúng ta chỉ có thể tự lừa dối chính mình về tương lai; hy vọng luôn luôn thuộc về tương lai. Và tương lai thì sẽ không bao giờ đến. Nó chỉ luôn luôn sắp đến. Chỉ có những gì đang diễn ra là tồn tại… Thiên đường và địa ngục đều đã hiển hiện trên Trái đất, thực ra chúng ta không phải chờ đợi chúng nữa. Nhưng chúng ta vẫn làm như vậy, tự an ủi mình bằng một chút hy vọng hão huyền”.

Các tác phẩm của ông mang tính dự báo, tiên tri về tương lai của thế giới và xã hội. Các nhà phê bình coi ông sánh ngang với Kafka, Thomas Bernhard, Melville… nhưng ông vẫn giữ được đặc trưng và cá tính riêng biệt.

Điều thôi thúc ông sáng tác là những hiện thực tàn bạo và phi nhân luôn diễu qua diễu lại trước mắt con người. “Ai cũng biết những điều tồi tệ trong hình thức của sự tàn bạo, luôn trở đi trở lại trên sân khấu lịch sử. Đây cũng là một thời điểm như vậy, và sự tàn bạo hiện hữu trên đường, hoàn toàn tự do; điều duy nhất mà tôi có thể làm được cho sự phòng vệ của chúng ta là viết”.

Liệu trong bối cảnh tăm tối và tuyệt vọng của con người, nghệ thuật có thể cứu chuộc và rọi một hy vọng nào cho tương lai không? Theo quan điểm của Krasznahorkai László, “nghệ thuật là một phản ứng phi thường của con người với cảm giác lạc lõng trong thế giới này, đó là số phận của chúng ta. Cái đẹp hiện hữu. Nó nằm ngoài ranh giới mà chúng ta phải liên tục dừng lại; chúng ta không thể tiến xa hơn để nắm bắt hay chạm đến cái đẹp – chúng ta chỉ có thể nhìn ngắm nó từ ranh giới này và thừa nhận là thực sự có một điều gì đó đẹp đẽ ở ngoài kia, ở phía rất xa. Cái đẹp là một cấu trúc, một sáng tạo đầy phức tạp của hy vọng và một thứ bậc cao hơn mọi thứ”.

Ông luôn tự cho mình là người đứng ngoài dòng chảy của văn chương chủ đạo Hungary và dường như ông ít quan tâm đến những điều đó. Ông luôn tự hoài nghi không biết mình có đích thực là một nhà văn hay không.

Theo ông, thật ra suốt cuộc đời cầm bút ông chỉ viết một cuốn sách, chỉ theo đuổi, chỉ đi tìm một hình ảnh mập mờ, một ảo ảnh, lúc ẩn lúc hiện, có khi không thực nào đó. Ông nói: “Các nhân vật của tôi tìm kiếm không mệt mỏi và sẽ còn tìm kiếm trong một mê lộ, mê lộ đó không gì khác hơn là nơi họ mắc sai lầm và là nơi con người ta chỉ có thể có một mục đích duy nhất: hiểu ra sai lầm này và cấu trúc của nó. Họ trực tiếp đi tìm nguyên nhân sự bất an của mình, đi tìm phương thuốc chữa lành nỗi đau của mình, hay ít ra cũng để nhận ra rằng không có phương thuốc nào cho vết thương của họ…”.

Quan tâm đặc biệt tới văn hóa Á Đông cổ đại, ông đã nhiều lần tới Mông Cổ, Trung Quốc và Nhật Bản, có những chuyến đi kéo dài tới nửa năm trời. Rất mê Lý Bạch và thơ Đường, ông đã đi bằng tàu hỏa, tàu thủy và cả đi bộ qua những vùng mà ông gọi là “Trung Hoa cổ điển” như quê hương Khổng Tử và Lý Bạch, tiếp xúc với nhiều người dân Trung Quốc đủ các tầng lớp. Ông đã hỏi trực tiếp khoảng 300 người Trung Quốc chỉ duy nhất một câu hỏi: Ngày nay, đối với họ, Lý Bạch có ý nghĩa gì?

Sau các chuyến đi Trung Quốc, ông đã hoàn thành tiểu thuyết Az Urgai Fogoly (The prisoner of Urga, 1993) và sau các chuyến đi Nhật Bản, ông đã viết tiểu thuyết Északról hegy, Délről tó, Nyugatról utak, Keletról folyó (From the north by hill, From the south by lake, From the west by roads, From the east by river, 2003).

Krasznahorkai László là một nhà văn có cá tính rất đặc biệt, văn phong độc đáo, một trong số ít những tên tuổi lớn đáng chú ý, một ngôi sao có ánh sáng khác lạ trên bầu trời văn chương đương đại Hungary. Xin trân trong giới thiệu để bạn đọc trong nước có thể tiếp cận với một tác giả được coi là “quái kiệt” của văn chương Hungary.□

Các tác phẩm nổi bật của ông có thể kể đến: Satantango (Vũ điệu quỷ Satan, 1985); Nỗi buồn của sự phản kháng , 1989; Chiến tranh và Chiến tranh, 1999; Siebolo giáng lâm, 2008; Bá tước Wencheim trở về, 2016; Sự hủy hoại và nỗi buồn dưới bầu trời, 2004 v.v…
Các tác phẩm đã được dịch ra tiếng Việt của Krasznahorkai László: Chiến tranh và chiến tranh (Nhã Nam, Hội nhà Văn, 2017) và Satantango (hay “Vũ điệu quỷ Satan” (Nhã Nam, Văn Học, 2022).
Tới nay, ông đã giành được trên 20 giải thưởng có giá trị của Hungary và quốc tế, tiêu biểu như Bestenliste Prize của Đức (1993); Giải Kossuth (2004); America Award in Literature (2014); Man Booker Quốc tế (2015) và Giải Nobel Văn chương (2025).

—–

* Dịch giả Giáp Văn Chung, từ Budapest, Hungary

Bài đăng  từ Tia Sáng sớ 20/25



Chủ Nhật, 12 tháng 1, 2025

"Yểu Điệu Tôn Nghiêm. . Truyện Ngắn." by Ngu Yên




Khang mân mê khẩu súng nhỏ nằm gọn trong lòng tay. Khẩu súng chỉ có hai viên đạn, kiểu dành riêng cho các quí tộc Pháp phòng thân. Tiếng ông ngoại trở về trong trí. _ “Khang, năm nay con lên đại học, đi xa nhà, ông ngoại cho con khẩu súng này để tự vệ. Bản chất con yếu đuối, cảm giác lạnh của sắt sẽ giúp con can đảm. Phải tập bắn cho giỏi. Khi bắn phải trúng. Trúng nơi nào là do con chọn lựa. Con chỉ có hai cơ hội.”
 _ “Cảm ơn ông ngoại, nhưng con không cần súng.”
 _ “Đa số những người tử tế đều nghĩ như con. Đến khi gặp nguy hiểm, không có khả năng sống sót, thì quá muộn. Súng chỉ dùng khi không còn cách nào để bảo vệ mình và người thân. Lúc đó là lúc nào? Con phải suy nghĩ và tưởng tượng trước. Phải nằm lòng những trường hợp cần rút súng. Khi rút súng ra thì nhất định phải bắn. Con biết không, làm người can đảm phải luôn có quyết định cuối cùng. Một viên bắn để tranh giành sống sót. Một viên tự bắn mình khi viên đầu tiên trật mục tiêu. Giữ súng đi con. Ông ngoại không mong con phải dùng đến. Khi cuối đời, trao lại con cháu. Khang, con biết không, nhiệm vụ của người đàn ông là tự vệ và bảo vệ, súng chỉ là phương tiện, nhưng lòng can đảm và sự tôn nghiêm phải truyền lại cho dòng họ.”
 Khang cao nhưng mảnh khảnh. Thể lực yếu, bù lại thừa hưởng di truyền từ mẹ, anh suy tư, nhạy cảm và nhiều sáng kiến. Chơi vỹ cầm xuất sắc. Nhiều huy chương, giải thưởng từ trường học và những buổi tranh tài, trưng trong phòng ngủ. Khang là người ngoan đạo. Sợ hãi Chúa hơn là hiểu biết ngài.

 Mỗi lần tôi tập tạ, Khang thường sờ bắp thịt ở tay và ngực, trầm trồ trong im lặng. Một hôm, nó tiết lộ:
 _ “Cậu Út có thân hình nở nang rất hấp dẫn. Cô Arianna ở lầu trên thấy một lần thôi, từ đó lé mắt luôn.”
 Khang khôi hài hóa vì Arianna đã lé từ lúc sinh ra. Trời bắt lé rồi cho cô một thân hình cám dỗ mọi giống đực. Từ xác thịt đó toát ra mùi dâng hiến không tính toán và sức hút khiến vải mỏng dính chặt vào tất cả các đường cong. Hầu hết chó trong xóm đều sủa khi cô Mễ này qua. Chó đực sủa vì thích. Chó cái sủa vì ghen. Thỉnh thoảng sau khi nắn bóp bắp thịt nhớp mồ hôi và dầu bóng, Khang rít lên: “Đã quá.” Mẹ Khang là chị cả, Khang gọi tôi, “Cậu út.” Tôi chỉ hơn Khang ba tuổi. Chúng tôi cùng lớn lên, gần gũi và thông cảm nhau. Tôi và Khang là hai phiên bản trái ngược. Tôi thích hành động, không thích suy nghĩ. Thích thể thao, thích học võ Karaté, thích phái nữ, hung hăng thường xuyên gây gỗ. Tôi bảo vệ Khang từ nhà ra đến ngoài đời. Không có tôi, không hiểu người cháu bạn này sẽ ra sao?
 _ “Khang, nhanh lên. Mình trễ rồi. Con bồ tao chờ lâu quá sẽ bỏ đi.” Những lời hối hả khẩn cấp này chỉ là cơn gió phe phẩy qua tai trong những lúc thiêng liêng chế ngự, bất kỳ nơi nào, lúc nào, khi thấy cây thánh giá hoặc tượng đức Mẹ, Khang sẽ dừng lại, kính cẩn, sắc mặt thay đổi trang trọng, cúi đầu làm dấu thánh giá, rồi dành thêm ít nhất ba mươi giây sừng sững, không hiểu cầu nguyện hay tĩnh tâm. Chiều nay, hẹn với bạn gái, phải đi qua hai nhà thờ. Đã đỡ hơn nhiều, khi còn học sinh trung học, Khang còn quì một chân, làm dấu thánh giá như các chàng hiệp sĩ thời Trung cổ nhận ân sủng triều đình.

 Aicha cằn nhằn vì tôi đến trễ. Cô bạn Morocco này đúng tên gọi “Ái cha.” Mỗi lúc đến gần khoảnh khắc đó, cô luôn miệng kêu lên ái cha, ái cha, ái cha… cất hồi chuông báo động. Cô gái đi theo Ái Cha là Abeer (عبير), người Irag, chúng tôi gạ cho Khang. Trong vài phút sau, tôi và Khang đồng ý gọi cô này là “Một chai.” Cô ta học tiến sĩ văn chương. Quá hợp với Khang. Hai nghệ sĩ chụm đầu to nhỏ chuyện cô Han Khang vừa lãnh giải Nobel văn học năm nay. Tôi và Ái Cha cũng chụm đầu, nhưng lặng lẽ, để hết tâm trí lục lọi nhau. Thỉnh thoảng tôi quay lại nhìn Khang và Một Chai. Hai đứa vẫn áo quần tề chỉnh, dù kề sát nhau thì thào. Quái, cái thằng này, thời buổi bây giờ, văn chương rẻ hơn da thật, nhất là khi ướt át. Hôm sau, gặp nhau, tôi nói:
 _ “Muốn hưởng thụ sắc dục, phải có can đảm.” Khang trả lời, không suy nghĩ, nét mặt tôn nghiêm: 
 “Cần có nhiều can đảm hơn để kiềm chế hưởng thụ.” _ “Rặt giọng ông ngoại.” 
_ “Cậu à, cháu thấy tôn nghiêm cần thiết để làm người. Ông ngoại nói đúng. Thiếu tôn nghiêm, con người mất tự trọng.” 
_ “Khổ quá, thời buổi bây giờ, những kẻ tôn nghiêm chỉ để lòe người khác.” Cây vỹ cầm của Khang có tên gọi là đàn oan hồn. Mê đàn, nhiều người mê. Mê đàn như Khang, hiếm hoi và quái dị. 
Trong dịp nghỉ hè đi sang Ý, Kang mang theo tấm gỗ trầm hương, mua từ những người chuyên tảo mộ ở Việt Nam, với giá rất cao. Họ cho biết, tấm gỗ tìm thấy trong chiếc quan tài làm bằng gỗ gụ. gần trăm năm vẫn kín mít, bên trong không mấy hư hao. Người chết là một thiếu nữ mới lớn con một nhà kinh doang giàu nhất miền Nam. Tấm gỗ này lót để giữ hương thơm cho thân thể. Khang đặt một nghệ sĩ chuyên làm đàn vỹ cầm, sáng tạo chiếc đàn bằng  tấm gỗ trầm hương với âm thanh của oan hồn thiếu nữ. Khang ít khi dùng đến đàn này, chỉ những lúc tình đời ác liệt hoặc tình người rủ liệt, mới mang đàn ra mài tha thiết. Khi chơi những bản nhạc hay, Khang khóc theo giai điệu. Mước mắt chảy, tay kéo tình xuống lên, thân hình diệu dẻo theo cảm hứng. gần như mê cuồng, không biết mình là ai. Tôi cảm nhận được cái hay xuất thần nhưng không hiểu. Khang nói: 
_ “Cậu Út biết không, cái hay của âm nhạc làm cho lòng sung sướng nhưng cái đẹp của âm nhạc làm cho hồn cảm động. Khi món quà quá lớn, quá sức yêu, không thể cười, chỉ có thể khóc.” 
Tôi nghĩ, những lúc như vậy, Khang không chơi đàn, mà múa với hồn oan. Quán rượu Trung đông đêm giữa tuần chỉ vài ba nhóm khách. Chúng tôi chọn ngồi trong góc gần cửa sổ. Một Chai quen thuộc với quán rượu, gọi những ly rượu địa phương. Mùi đậm đà Thế giới cũ. Đặc biệt vì rượu Lebanon, Israel, Turkey, Morocco, Tunisia, … ít được xuất cảng rộng rãi. Ở Lebanon, trồng nho không cần thuốc trừ sâu vì nho chín ở cao độ một ngàn mét trong khí hậu Địa Trung Hải tạo ra hương vị khác thường.
 Đêm khuya dần, chúng tôi chìm vào thế giới Arabian Nights. Một thế giới lúc nào cũng lâm ly và đầy bất trắc. Một Chai và Khang cặp kè khá lâu. Cô ta kể lại,
 _ “Anh Khang dạo này ít làm dấu thánh giá và gia tăng độ mê trái cấm.” Tôi mừng. Thằng yểu điệu thục nữ này đã bớt tôn nghiêm.
 _ “Aicha, mày biết không, anh Khang đàn rất hay và khi anh chìm vào nhạc vỹ cầm, anh trở thành một người khác, giống như thiếu  nữ múa rắn ở xứ tao.” Tôi ngưỡng mộ. Khi chìm vào nghệ thuật, nghệ sĩ là sinh vật tồn tại độc hành trong kiểu sống khác biệt. Họ trở thành bất thường và dị thường đối với người khác. Họ cảm giác và cảm xúc về ý tưởng, về hình ảnh bằng một thứ gì không có tên gọi để tạo ra một tâm tình hiện diện chỉ một lần, duy nhất không bao giờ trở lại. Lần sau là tâm tình khác. Khang giải thích với tôi. Lúc đó, khuôn mặt Khang sáng buồn như thiên sứ bị cướp cánh. Đối với tôi, Khang lúc nào cũng là một đứa cháu cần được bảo vệ và một người bạn sâu sắc, nhạy tình.
 Quán rượu về khuya chỉ còn hai nhóm sâu rượu. Bàn bên kia là nhóm người Irag, có một anh chàng râu rậm, dường như quen với Abeer. Anh thường nhìn sang bàn chúng tôi, theo dõi Một Chai. Tôi hỏi, cô ta trả lời,
 _ “Anh Dân à, anh đó là bạn của bạn em. Tán tỉnh em nhưng em không thích vì anh ta rất bạo động. Không chừng thuộc về nhóm khủng bố nào đó. Em cứ phải lẫn tránh anh ta hoài.”
 _ “Anh Khang, hay mình đi chỗ khác hoặc về nhà Cậu Út, em pha rượu kiểu Turkish.” 
Lời đề nghị rất hay, đúng lúc, nhưng muộn màng. Anh Irag kia sau khi đi phòng trai ra, tiến thẳng đến bàn của Khang và Dân.
 _ “Abeer, em sang kia ngồi với anh. Ngồi chung với Irag. Đi.” 
Anh ta kéo tay, Một Chai dằn lại.
 _ ”Tôi không đi. Tôi muốn ngồi với bạn tôi. Anh về lại với bạn anh.”
 _ ”Abeer, qua bên anh.” Hai cánh tay lông lá như muốn ôm lấy Một Chai. Khang đứng lên can thiệp.
 _ “Xin anh giữ lịch sự. Để yên bạn gái tôi.” Anh Irag quay sang nhìn Khang rồi hùng dũng xô tình địch dáng dấp như lau sậy. Khang loạng choạng thụt lui, vấp vào ghế té ngửa. Cảnh hổn loạn bắt đầu. Một Chai và Ái Cha đỡ Khang lồm cồm dậy. Dân đứng lên. Hất thằng Irag ra. Hụp xuống né cú đấm đầu tiên của nó. Đã quen song đấu trong những lần tranh giải, chặt, Dân trả lại bàn tay mặt vào cổ, tiếp theo một cú đá vào bụng. Thằng Irag té ngụp lặn vào đám bàn ghế. Ba thằng bạn bên kia nhào đến. Để bảo vệ Khang và hai cô gái, Dân nhảy ra ở giữa thủ thế. Sáu cái chân phóng tới. Sáu đấm tay rầm rộ. Hai tay vừa đỡ vừa trả đòn Hai chân vừa đứng vừa đá. Trúng một cú, hai cú. Đá vào ngực. Đá vào hông. Trúng năm cú. Trúng mười cú. Một cọp khó khăn chống ba sói. Bàn ghế gãy đổ như cây rừng. Tiếng la hét, ậm ự, ăn tươi nuốt sống đối phương.
 Bên kia, Khang không đủ khả năng chống cự thằng râu rậm, dù có sự trợ giúp của hai cô gái xông vào lôi kéo làm thằng Irag vướng bận. Nó hùng hỗ đấm Ái Cha một cú vào bụng. Cô ta gập người, muốn tắt thở, rồi kêu gào. Tuy không đánh Một Chai nhưng thằng này xô cô ta vào quày rượu, rảnh tay quay sang tống vào mặt Khang một cú thôi sơn. Khang té bật vào tường. Phun máu. Dân bắt đầu yếu thế. Rượu làm cho ba thằng Irag lồng lộn như thú điên. Ba thằng dồn Dân vào một góc tường. Đấm. Đá. Đạp. Đấm. Đạp. Đá. Trúng. gạt. Trúng. Đỡ. Trúng. Trúng. Trúng. Không còn sức trả đòn. Dân chỉ đỡ gạt, xô, chịu trúng. Không thoát ra được góc tường. Thằng Irag nắm được chân mặt của Dân, lôi mạnh. Dân té xuống. Hai thằng kia túm lấy hai tay, thay nhau đấm đạp nhịp nhàng. Mắt tôi bắt đầu muốn tối sầm. Khó thở. Không còn sức giựt tay ra khỏi tay địch. Đột nhiên, ba thằng Irag la hét, dạt ra, thả tay tôi. Nhìn lên. Tôi sẽ không bao giờ quên đôi mắt giết người dưới hai lông mày nhíu lại trên khuôn mặt lấy gân nhăn nhó. Mỗi tay cầm mỗi chai rượu bể, nhe hàng răng cưa, Khang đâm túi bụi vào ba thằng Irag. Chúng nó thụt lùi, thụt lùi, thụt lùi. Khang tiến tới quơ tay, tiến tới đâm mạnh, tiến tới hét vang.
 Đụ má tụi bay. Đụ má mày.
 Lần đầu tiên tôi nghe Khang chửi thề. Năng lực gia tăng hình ảnh điên cuồng của Khang làm bọn Irag khiếp sợ. Chúng bỏ chạy ra cửa. Không may cho thằng râu rậm bị Khang chụp được, đè sấp xuống sàn, cưỡi lên lưng, hai tay đấm liên tục. Thằng Irag bị một chai vào đầu, hàng chục cú đấm của người điên, nó không còn cựa quậy. May mà các cảnh vệ bảo an khu phố xuất hiện theo lời cầu cứu của chủ quán, kịp thời ngăn chận, nếu không, có lẽ đã có án mạng. Từ đó, tôi biết trong Khang có con người khác. Một phiên bản hung dữ và thừa khả năng giết hại đối thủ. Không chừng đã đến lúc Khang bảo vệ tôi. 
Ái Cha có bầu, muốn về lại Morocco với mẹ. Chúng tôi chia tay. Khi đưa nàng ra phi trường, Ái Cha nói,
 _ “Anh đừng bận tâm. Phụ nữ có suy nghĩ riêng, đàn ông các anh khó hiểu thấu. Em không muốn lấy chồng nhưng muốn có con. Người phụ nữ sẽ tồn tại có ý nghĩa khi có con lớn lên bên cạnh. Khi có cơ hội, em sẽ dẫn con qua thăm anh.” 
Không bao lâu sau, Một Chai cũng cấn bầu, nhưng cô phá thai. Dường như Khang làm điều gì cô không vừa ý. Rồi họ vui vẻ chia tay.
 Đêm sau cùng của mối tình Việt Irag, ba chúng tôi uống rượu ở ngoại ô. Một đêm lý thú đầy tình cảm. Lúc ra về, Một Chai ôm tôi rồi nói,
 _ “Em rất vui khi quen anh. Mai em về Irag dạy học. Chắc sẽ không qua lại đây.” 
Lòng tôi giăng một chút tơ sầu. Tôi và Khang trở lại hình dạng và phẩm chất độc thân. Tôi nghe Khang đàn và Khang xem tôi tập thể dục. Thỉnh thoảng nó kêu lên “Đã quá.” Khang vẫn yểu điệu nhưng tôi biết, không phải như vậy.

Khang mân mê khẩu súng nhỏ nằm gọn trong lòng tay. Khẩu súng chỉ có hai viên đạn, kiểu dành riêng cho các quí tộc Pháp phòng thân. Tiếng ông ngoại trở về trong trí.
 _ “Khang, năm nay con lên đại học, đi xa nhà, ông
rnard thích thú, bóp bắp thịt tay và ngực của tôi: _ “Chà, cậu ngon lành quá. Hôm nào biểu diễn võ thuật cho các bạn cháu thưởng thức.” Xã hội đồng tính của Bernard có chỗ ăn chơi riêng. Có quán rượu, sân khấu, hộp đêm, phòng ngủ dành cho họ giải trí. Đáp lễ, tôi kể Bernard nghe, năng lực điên cuồng của Khang chống Irag. Bernard trố mắt, rớt miệng khi nghe và thấy được hình ảnh chàng Khang yểu điệu múa đàn, bỗng chớp mắt trở thành chiến sĩ với hai chai rượu nhe răng cắn đẫm máu. Khi kể lại, tôi vẫn còn cảm giác kinh ngạc của đêm hôm đó. Lúc Bernard đi phòng trai, Khang nói với tôi.
 _ “Đêm đó cháu có mang theo cây súng phòng thân của ông ngoại cho.” _ “Súng hai viên đạn?”
Đúng. Ông ngoại nói, rút súng ra là phải bắn. áu không muốn giết người. Nhưng để bảo vệ tôn ghiêm của dòng họ, cháu đã đập bể chai rượu để liều mạng với chúng nó.”
Cha tôi đã từng nói với tôi như vậy. Can đảm và tôn nghiêm là sĩ diện của giòng giống. Không ngờ sĩ diện này lại được chống đỡ bởi người yểu điệu. Sống lâu với truyền thống người Việt, tôi biết, đó là hai điều họ thiếu kém, sau khi dư thừa sĩ diện.   





Truyện 2,850 chữ. Ngu Yên

Thứ Tư, 11 tháng 12, 2024

ĐẠO DIỄN XUÂN PHƯỢNG VÀO DANH SÁCH 100 PHỤ NỮ TRUYỀN CẢM HỨNG NHẤT CỦA BBC

 ĐẠO DIỄN XUÂN PHƯỢNG VÀO DANH SÁCH 100 PHỤ NỮ TRUYỀN CẢM HỨNG NHẤT CỦA BBC

BBC đã công bố danh sách 100 phụ nữ truyền cảm hứng và có ảnh hưởng trên khắp thế giới năm 2024.
Nổi bật trong số đó là những gương mặt như nhà hoạt động đoạt giải Nobel Hòa bình Nadia Murad, nạn nhân bị hiếp dâm và nhà vận động Gisèle Pelicot, nữ phi hành gia của NASA Sunita Williams, nữ diễn viên Sharon Stone, các vận động viên Olympic Rebeca Andrade và Allyson Felix…
Đặt biệt, đến từ Việt Nam, nữ đạo diễn Xuân Phượng, 95 tuổi, nằm trong số những gương mặt truyền cảm hứng trong lĩnh vực văn hóa, giáo dục.
Danh sách của BBC năm nay gồm những gương mặt đại diện cho sự kiên cường, nêu bật những người phụ nữ đang nỗ lực giúp cộng đồng giải quyết vấn đề và hành động để bảo vệ quyền phụ nữ, cũng như bảo vệ hành tinh trước tác động của biến đổi khí hậu.
Các bạn tìm hiểu về 100 phụ nữ trong link bài viết dưới phần bình luận.

Tất cả cảm xúc:
321

Thứ Hai, 17 tháng 6, 2024

Nhà văn Đức đầu tiên thắng giải Booker 2024 : Jenny Erpenbeck

Vanvn- Jenny Erpenbeck với tiểu thuyết Kairos thắng giải Booker 2024, là cây bút nổi tiếng người Đức nhưng không được vinh danh ở giải văn học nước này.

Theo Guardian, Kairos của Jenny Erpenbeck – do dịch giả Michael Hofmann chuyển ngữ sang tiếng Anh – vượt qua năm ứng viên để giành giải thưởng trị giá 50.000 bảng, hôm 21.5. Lần đầu tiên giải thưởng được trao cho một nhà văn người Đức và một nam dịch giả.

Tác giả Jenny Erpenbeck (trái) và Michael Hofmann tại lễ trao giải Booker. Ảnh: David Parry

Tác phẩm kể câu chuyện về mối tình lãng mạn ở Đông Đức, khi cô gái 19 tuổi Katharina tình cờ gặp Hans, một nhà văn đã có gia đình ngoài 50 tuổi. Mối tình trái ngang của họ diễn ra trong bối cảnh Cộng hòa Dân chủ Đức đang suy thoái, trải qua nhiều biến động do sự tan rã của nước này vào năm 1989.

Trưởng ban giám khảo Eleanor Wachtel đánh giá tiểu thuyết có kết cấu phong phú, các chi tiết lớp lang, khơi gợi mối tình nhiều đau khổ, vướng mắc của nhân vật. Bằng ngòi bút của mình, Erpenbeck mô tả quá trình trưởng thành của Katharina qua tình yêu và giai đoạn lịch sử khó quên của nước Đức.

Trong bài phát biểu, Erpenbeck nói: “30 năm trôi qua kể từ lúc nơi tôi sinh ra không còn nữa, đến nay tôi mới dám nhìn lại và dành thời gian tìm hiểu kỹ những gì đã trải qua, mà có lúc tôi không thực sự nhận thức được điều đó”.

Bìa bản tiếng Anh “Kairos”, 304 trang. Ảnh: Granta Books

Trái ngược chiến thắng ở giải Booker, cuốn tiểu thuyết từng bị giới chuyên môn ở Đức phớt lờ. Theo Guardian, dù Erpenbeck là tiểu thuyết gia nổi tiếng, Kairos vẫn không góp mặt trong danh sách đề cử cuối cùng của một trong những giải thưởng văn học danh giá nhất nước này.

“Erpenbeck trở thành tác giả người Đức đầu tiên giành được giải Booker kể từ khi sự kiện được thành lập cách đây gần một thập niên, khiến giới xuất bản Đức chao đảo”, Guardian viết.

Jenny Erpenbeck, 57 tuổi, là con của nhà vật lý, triết gia, nhà văn John Erpenbeck và dịch giả tiếng Ả Rập Doris Kilias. Vào những năm 1990, Erpenbeck bắt đầu sự nghiệp viết lách bên cạnh công việc đạo diễn. Các quyển sách của bà thường lấy bối cảnh Đông Đức, kể về thân phận con người.

Trước Kairos, các tác phẩm nổi bật của bà gồm The Book of Words (1999), The Old Child & Other Stories (2005), Visitation (2010) và The End of Days (2014). Trong đó, The End of Days giành giải Hans Fallada (Đức) và giải thưởng Tiểu thuyết nước ngoài độc lập (Anh), đồng thời là cuốn sách tiêu biểu của tác giả cho Giải thưởng Văn học Quốc tế Neustadt ở Mỹ năm nay. Tác phẩm nổi tiếng nhất của Erpenbeck – Go, Went, Gone – vào danh sách đề cử giải Booker năm 2018.

Một năm sau khi xuất bản tuyển tập tiểu luận Not a Novel (2020), Erpenbeck ra mắt Kairos. Tác phẩm chuyển thể tiếng Anh năm 2023, được đề cử giải Sách Quốc gia về Văn học Dịch (Mỹ).

Erpenbeck bắt đầu viết Kairos sau lễ kỷ niệm 30 năm Bức tường Berlin sụp đổ năm 2019. Tác phẩm được coi là câu chuyện ngụ ngôn về sự kiện, trong đó nhân vật Hans đại diện cho lịch sử, còn Katherina là tương lai. Giống tiểu thuyết gia Ireland Paul Lynch, người đã đoạt Booker năm ngoái cho Prophet Song, Erpenbeck có lối ngắt câu tự do, không tuân theo quy tắc nào.

Theo nhà văn, cô muốn lên tiếng cho những người dân Đông Đức, tìm kiếm tương lai tươi sáng thay vì nhìn lại quá khứ đen tối. Trong thế giới mà tiếng Anh được sử dụng nhiều, Erpenbeck kỳ vọng dẫn dắt người xem tìm hiểu lịch sử, để họ hiểu cặn kẽ những gì đã xảy ra.

Trên NPR, cây bút John Powers dành lời khen cho tác phẩm, cho biết mong đợi “Erpenbeck giành được giải Nobel trong vòng 5 năm tới”. Nhà báo Dwight Garner gọi Erpenbeck là “một trong những tiểu thuyết gia tinh tế và mạnh mẽ nhất của thời đại”. Times Literary Supplement viết: “Sức nặng của lịch sử, những trải nghiệm về văn hóa luôn hiện diện trong tác phẩm của Erpenbeck”. Trang Kirkus Reviews bình luận: “Cách Erpenbeck xử lý các nhân vật thật tuyệt vời. Trọng tâm cuốn sách nói về sự tàn ác, những bí mật, sự phản bội và mất mát”.

Thành công của Jenny Erpenbeck ở giải Booker không thể không nhắc đến Michael Hofmann. Wachtel cho rằng bản dịch của Hofmann “nắm bắt sự lập dị trong phong cách viết, tiết tấu câu văn, sự phong phú trong vốn từ vựng của Erpenbeck”.

Jenny Erpenbeck. Ảnh: The Telegraph

Nhà thơ, nhà phê bình Hofmann, 67 tuổi, là một trong những nhân vật ảnh hưởng nhất văn học Đức. Anh từng thắng giải Tiểu thuyết nước ngoài độc lập vào năm 1995 cho bản dịch The Film Explainer, tác phẩm của cha anh – Gert Hofmann. Michael Hofmann thuộc hội đồng giám khảo giải Booker năm 2018, khi tác phẩm của Erpenbeck vào danh sách đề cử.

Việc cộng tác với Erpenbeck đánh dấu lần đầu cả hai làm việc. “Tôi chủ yếu dịch các tác phẩm kinh điển của Đức thế kỷ 20. Lần đầu đọc Kairos, tôi thấy cuốn sách hoàn toàn tuyệt vời, không thể cưỡng lại và không thể đoán trước”, Hofmann nói.

Giải Booker, từng được biết đến với tên Booker – McConnell hoặc The Man Booker, là giải thưởng văn chương danh giá nhất trong cộng đồng các nước nói tiếng Anh, thành lập năm 1968. Từ năm 2014, ban tổ chức cho phép các tiểu thuyết viết bằng tiếng Anh và được xuất bản ở Anh của các nhà văn nước ngoài tranh giải. Trước đó, chỉ nhà văn ở khối Thịnh vượng chung Anh và Cộng hòa Ireland được tham gia. Bên cạnh đó, ban tổ chức cũng thành lập giải International Booker vinh danh các tác phẩm quốc tế được dịch sang tiếng Anh và phát hành tại Mỹ, Anh hoặc Ireland.

Sự kiện năm nay do nhà văn, phát thanh viên Eleanor Wachtel chủ trì. Ngoài trao giải thưởng chính, chương trình có các cuộc phỏng vấn với khách mời.

QUẾ CHI

Theo Guardian/Vnexpress


Thứ Bảy, 25 tháng 11, 2023

Vì sao Khổng Tử được gọi là ‘chó không nhà’? (Nghiên Cứu Quốc Tế )

Tác giả: Nguyễn Hải Hoành


Trong danh mục Mười cuốn sách lớn (xuất bản tại Trung Quốc) năm 2007 do Hội Bình luận sách Trung Quốc (China Book Review Academy) công bố, xếp đầu bảng là cuốn sách 丧家狗——我读《论语》 Chó không nhà: Tôi đọc “Luận Ngữ”.
 

Đây là kết quả bình chọn của 42 cơ quan truyền thông, trong đó có nhiều tờ báo lớn như báo Thanh niên Trung Quốc, nhật báo Quang Minh, Phương Nam cuối tuần, báo Tân Kinh… Sách lớn ở đây là sách (thuộc lĩnh vực văn học, lịch sử …) được nhiều bạn đọc quan tâm và có ảnh hưởng lớn với họ, có giá trị quan trọng về tư tưởng, văn hóa. Một số cuộc bình chọn sách khác cũng xếp Chó không nhà ở đầu bảng, với sự nhất trí cao của các học giả tham dự bình sách.
Chó không nhà: Tôi đọc Luận Ngữ dày 390 trang do Nhà xuất bản Nhân dân Sơn Tây (Trung Quốc) xuất bản tháng 5/2007, tác giả là Lý Linh (sinh 1948), giáo sư ĐH Bắc Kinh, nổi tiếng uyên thâm trong lĩnh vực khảo cổ, giải thích từ ngữ cổ, văn bản cổ. Hai tác phẩm khác của ông xuất bản năm 2005 và 2006 đều được chọn là sách hay của năm. 
Chó không nhà lập tức gây ra một “trận động đất” trên văn đàn Trung Quốc. Tất cả chỉ vì tác giả dám bảo Khổng Tử – bậc chí thánh tiên sư bao đời nay người Trung Quốc thờ phụng – thực ra chỉ là một người bình thường, một “Chó không nhà”.

Hai vế của tên sách

Vế chính là ba chữ Táng gia cẩu (Sangjiagou) in rất to ngoài bìa. Tác giả giải thích Táng gia cẩu là chó không có nhà để về, còn gọi là chó lang thang, tiếng Anh homeless, cũng dùng để chỉ người không có nhà để về. “Bất cứ người nào ấp ủ lý tưởng mà không tìm được quê nhà tinh thần của mình trong thế giới hiện thực thì đều là Chó không nhà” – hàng chữ nhỏ này in ngay ngoài bìa sách, chắc để người đọc đỡ sốc về mấy chữ Chó không nhà.
Táng gia cẩu 喪家狗tiếng Việt lẽ ra phải dịch là “chó mất nhà”, nhưng như thế không đúng với Khổng Tử, vì cụ vẫn có khu nhà ở rất to ở Khúc Phụ đấy chứ. Vả lại “nhà” ở đây là “quê nhà tinh thần” chứ không phải nhà để ở; tác giả còn nói thêm ý: Người trí thức Trung Quốc cũng là Chó không nhà. Nguyên nghĩa Táng gia cẩu thời cổ là “chó của nhà có việc tang”, tức chó mất chủ (chữ Hán喪có hai nghĩa “táng” và “tang”), nhưng về sau dân gian dùng quen với nghĩa “táng” (mất). Từ này không có nghĩa xấu, trước đây nhà văn Vương Tiểu Ba dùng để gọi những người lang thang trong nỗi lòng cô đơn. Cũng có người trách Lý Linh sao không dùng chữ “khuyển” thanh nhã hơn chữ “cẩu”.
   

Vế thứ hai Tôi đọc Luận Ngữ in chữ nhỏ, muốn nói nội dung sách này rút ra từ việc đọc sách Luận Ngữ (tiếng Anh: The Analects of Confucius), chứ không phải từ các sách khác của Khổng Tử. Trước đây đã có khá nhiều sách dùng cái tên Đọc Luận Ngữ. Trong khi nhiều người chưa đọc Luận Ngữ đã có ám thị tâm lý coi đây là sách thánh hiền cao siêu, vì thế khi đọc sẽ hiểu sai Khổng Tử, suy diễn ra đủ thứ triết lý kỳ diệu và kỳ quặc, thì Lý Linh coi Luận Ngữ là một cuốn lịch sử tư tưởng, kinh điển quan trọng nhất của Nho học; ông đọc nó là để tìm một Khổng Tử chân thực, một đức Khổng sống, chứ không phải một đức Khổng người ta tạo dựng nên (nhân tạo). Ông viết: Tôi đọc Luận Ngữ là đọc nguyên điển (bản gốc của kinh điển); suy nghĩ của Khổng Tử thế nào, phải đọc nguyên tác. Mọi kết luận của tôi đều phát biểu bằng lời của chính Khổng Tử. Đây chính là lý do khiến người ta khó lòng phản bác ông. Trong sách, những lời ông viết chỉ là sự hướng dẫn đọc nguyên bản. Sách gồm hai phần:

    • giáo trình Lý Linh viết;
    • nguyên bản Luận Ngữ, có thêm Trích lục chủ đề, Bảng kê nhân vật của Luận Ngữ và Chỉ dẫn tra cứu nhân vật.
“Nguyên điển” ấy có từ mấy ngàn năm trước, viết trên thẻ tre bằng chữ cổ, văn cổ (chẳng có dấu ngắt câu, xuống dòng, toàn bộ tác phẩm viết trong một câu liền tù tì …), cực kỳ khó hiểu. Các bản Luận Ngữ ngày nay đều đã được nhiều học giả viết lại, sắp xếp lại, có thêm đủ loại dấu ngắt câu, ngoặc đơn ngoặc kép vốn không có trong văn Trung Quốc cổ. Lý Linh cả đời “kiếm cơm” bằng nghề khảo cổ, giải thích từ ngữ cổ và văn bản cổ, chuyên nghiên cứu văn tự chép trên thẻ tre khai quật từ các mộ cổ, dĩ nhiên có tiếng nói uy tín nhất trong giới nghiên cứu sách cổ Trung Quốc. Chính vì thế mà những người phản đối Chó không nhà cũng đều phải thừa nhận sách này có giá trị học thuật.

Ai nói Khổng Tử là Chó không nhà?

Trong Chó không nhà, Lý Linh viết về Khổng Tử như sau (chúng tôi tóm gọn):
Luận Ngữ chép:

 Tử Cống (một học trò của đức Khổng) nói Khổng Tử là thánh, ngay lúc ấy bị Khổng Tử phủ nhận. Ngài chỉ là một người xuất thân hèn mọn nhưng lại lấy các nhà quý tộc cổ (chân quân tử) làm tiêu chuẩn lập thân, một người học không biết chán, dạy người không biết mỏi, một người có đạo đức, học vấn nhưng lại chẳng có quyền thế gì, một người đi khắp nơi du thuyết, lo nghĩ thay cho tầng lớp thống trị, rát cổ bỏng họng thuyết phục chúng cải tà quy chính, gian nan phiêu bạt như một con chó lang thang không có nhà để về.
Năm 492 trước Công nguyên, đức Khổng 60 tuổi xa rời các môn đệ của mình, bôn ba đến nước Trịnh. Có người bảo Tử Cống rằng bên ngoài cổng thành có một người nửa trên có chút vẻ thánh nhân nhưng nửa dưới thì như con chó không nhà. Tử Cống nhắc lại nguyên văn câu đó với Khổng Tử, Ngài đã không khó chịu mà còn cười nói: Hình ảnh không quan trọng, nhưng bảo ta như “Táng gia cẩu” thì rất đúng.

Khổng Tử tuyệt vọng với tổ quốc mình, đi khắp các nước chư hầu, có tài mà chẳng được dùng, cuối cùng vẫn phải về sinh quán, cuối đời sống trong nỗi đau, khóc cạn nước mắt rồi chết trong nhà mình – nhưng cụ đâu có nhà (có lẽ tác giả nói mái nhà tinh thần).

Từ Khổng Tử, tôi (Lý Linh) nhìn thấy số phận của người trí thức …
Cảm nghĩ của tôi sau khi đọc Luận Ngữ là hai chữ: cô đơn. Khổng Tử rất cô đơn. Ngày nay có người mời cụ làm thầy thuốc tâm lý; thật ra tâm bệnh của cụ còn chưa được ai chữa cho. Trong sách này tôi muốn nói rằng Khổng Tử không phải là thánh; người mà bao đời vua chúa ca ngợi ấy không phải là Khổng Tử đích thực, chỉ là “Khổng Tử nhân tạo” thôi.
Dường như bây giờ nhiều người mới biết Khổng Tử tự nhận là Táng gia cẩu. Chuyện này Luận Ngữ không chép, nhưng Tư Mã Thiên có viết trong “Sử Ký” (“Tử Cống dĩ thực cáo Khổng Tử. Khổng Tử hân nhiên tiếu viết: ‘Hình trạng, mạt dã. Nhi vị tự táng gia chi khuyển, nhiên tai! Nhiên tai!”); có lẽ chỉ các học giả mới để ý tới. Lạ thay, Khổng Tử vui vẻ nhận mình là Chó không nhà, nhưng bây giờ các hậu duệ cụ lại nổi giận vì Lý Linh dám chép lại chuyện ấy! Phải chăng đây là sự khác nhau giữa quân tử với người thường?

Luận Ngữ viết gì?

Theo Lý Linh, Luận Ngữ viết mấy chuyện:
    • Thầy trò Khổng Tử sôi nổi bàn luận về lý tưởng và hiện thực;
    • Khổng Tử đi chu du các nước, có tài mà chẳng được dùng, mệt mỏi như con chó không nhà;
    • Sau khi thầy mất, mỗi môn đệ của thầy hùng cứ một mảng, tranh giành danh vị chính thống, song lại đồng tâm hiệp lực dựng Khổng Tử làm thánh nhân.
Các suy nghĩ thực sự của Khổng Tử là:
    • Phải học tập, chớ làm ruộng; học giỏi mới được làm quan, mới thực sự giải quyết chuyện đói nghèo;
    • Trong xử thế phải khôn ngoan giữ mình, nơi yên ổn thì đến, không yên ổn thì lánh đi, đã không dấn thân vào nơi nguy nan cũng chẳng tìm đến chỗ chết;
    • Có thể mưu cầu giàu sang, song giàu sang mà bất nghĩa thì chỉ là thứ phù vân;
    • Nghèo và giàu, hài hòa và bất an, tốt và xấu, lý tưởng và hiện thực, trị người và bị người trị, dưới bầu trời này đều là những thứ chẳng khác nhau mấy.

Gáo nước lạnh giội lên những cái đầu nóng

Chó không nhà: Tôi đọc Luận Ngữ xuất bản đúng vào lúc hàng trăm triệu người Trung Quốc từ người lớn tới trẻ con đang lên Cơn sốt Quốc học, đỉnh cao mới của phong trào phục hưng văn hóa truyền thống Trung Hoa kéo dài nhiều năm nay. Quốc học dùng để phân biệt với Tây học; hầu hết người Trung Quốc đều cho rằng nội dung chính của Quốc học là Nho học (ta quen gọi Nho giáo).
Trong cơn sốt ấy, người ta đua nhau đọc Luận Ngữ – “Vạn thế Kinh điển” của Nho giáo, tương đương Kinh Thánh ở phương Tây. Năm 2004 Khoa Trung văn ĐH Bắc Kinh nơi Lý Linh công tác cũng mở khóa học Luận Ngữ, chia 3 lớp; do nhận nhiệm vụ dạy một lớp; Lý đã đọc lại Luận Ngữ, viết giáo trình, nay in thành sách trên.
Có nhiều điều đáng nói về Cơn sốt Quốc học. Lịch sử cho thấy, khi dân trí chưa cao, nhiều phong trào quần chúng ở giai đoạn cuối thường nảy sinh những nhận thức nông nổi, ấu trĩ, nhất là khi mọi người đã “sốt”. Nhưng chẳng mấy bậc thức giả nào dám giội nước lạnh lên những cái đầu nóng ấy, bởi lẽ có sức mạnh nào đáng sợ hơn sức mạnh của quần chúng?
Phong trào phục hưng văn hóa Trung Quốc khi lên Cơn sốt Quốc học cũng có tình trạng như vậy. Cơn sốt này tăng nhiệt mạnh khi xảy ra Hiện tượng Vu Đan. Qua Vu Đan, người Trung Quốc thấy Khổng Tử từng nói nhiều câu rất hữu dụng cho họ; Luận Ngữ trở thành món chicken soup (canh dưỡng sinh) khoái khẩu ai cũng thích; Khổng Tử trở thành vị thầy thuốc tâm lý chữa bệnh cho người Trung Quốc đang bơ vơ về lý tưởng và bế tắc trước các tệ nạn của kinh tế thị trường và lối sống công nghiệp.
 

Trước cơn sốt ấy, hầu hết giới học thuật im lặng; tuy lúc đầu có 10 vị tiến sĩ tuyên bố chống lại Vu Đan. Sử gia nổi tiếng Chu Duy Tranh nói Vu Đan “dám giảng giải cả những điều bà không hiểu”. Song lời nói của họ chìm nghỉm giữa muôn ngàn tiếng khen ngợi Vu Đan. Nhiều học giả Trung Quốc cho rằng Cơn sốt Quốc học là một điển hình của bệnh nông nổi văn hóa; Vu Đan chỉ phổ cập văn hóa, không phải là nghiên cứu lý luận; trong giải thích kinh điển, các học giả có “trận địa” riêng, khác tầng nấc và tính chất với phổ cập văn hóa, vì thế họ tránh phê phán người khác, không muốn tiếp tay hoặc gây rắc rối cho người khác tầng nấc.
Trong cơn sốt đó, phái Tân Nho gia đã đi xa quá đáng, lại thêm sự cổ xúy vì mục đích thương mại của các đầu nậu truyền thông xuất bản từng vớ bẫm trong “Hiện tượng Vu Đan”. Quốc học trở thành công cụ kiếm tiền; tính thương mại lấn át tính văn hóa ban đầu; hậu quả có thể khôn lường. Khổng Tử được sùng bái quá mức; Luận Ngữ được đưa lên vị trí quá cao; Nho giáo lấn át các giá trị văn hóa khác như Đạo gia, Pháp gia, Phật gia…
GS Chu Học Cần (ĐH Thượng Hải) nhận xét: Khổng Tử bị nâng lên tới độ cao đáng sợ, hoàn toàn thoát ly bộ mặt vốn có của Ngài. Dư Anh Thời (giải Kluge 2007, còn gọi là giải Nobel khoa học xã hội nhân văn) nói: Tư tưởng Trung Quốc đâu chỉ có Nho gia? Chỉ nên coi Khổng Tử là người đầu tiên nêu ra giá trị tinh thần, một người rất bình thường, chớ nên trang điểm Ngài thành một người cao sâu không thể đo được. Và Lý Linh xưa nay chỉ viết những tác phẩm học thuật buộc phải lên tiếng bằng một cuốn sách viết rất công phu nhưng có cái tên thiếu vẻ học thuật Chó không nhà. Rõ ràng, gáo nước lạnh này nhằm làm hạ nhiệt cơn sốt Quốc học.

Tranh cãi

Chó không nhà tuy chỉ in 15 nghìn cuốn nhưng đã gây tiếng vang lớn, được giới văn hóa và xuất bản trân trọng đón nhận, người đọc tranh nhau tìm mua. Giới học thuật đã tổ chức một số buổi hội thảo về sách này. Tiếng nói chối tai, đơn độc của Lý Linh không hề bị nhấn chìm giữa biển người say sưa tung hô Khổng Tử.
GS Chu Học Cần nói sách này thể hiện tinh thần phê phán có suy nghĩ độc lập trong giải thích Luận Ngữ (ý nói không a dua theo phong trào có sự hậu thuẫn của chính quyền); học thuyết Nho gia giỏi lắm chỉ có chức năng đạo đức tu thân dưỡng tính mà thôi chứ không thể thay thế các giá trị phổ quát hiện đại là quan niệm chính trị dân chủ và pháp chế, lại càng không trị quốc bình thiên hạ được; chỉ có dựa vào các giá trị phổ quát ấy mới giữ được sự ổn định tinh thần trong xã hội Trung Quốc hiện nay.
Người bình sách của library.sh.cn nhận định: Chó không nhà cho thấy Khổng Tử là một Đôn Kihôtê (Don Quixote, người theo chủ nghĩa lý tưởng một cách phù phiếm, xem Cervantes); đọc sách này, ta không thể còn lú lẫn mơ hồ nữa, lại càng không thể biết mà vờ lú lẫn (là sự lú lẫn của nhà trí thức); trong cơn sốt đọc kinh điển đã xuất hiện nhiều nhận thức nông nổi như coi Luận Ngữ là phương thuốc cứu đời, hoặc một thứ chicken soup tâm linh chữa bách bệnh.
Tiền Lý Quần viết: đọc Chó không nhà, nhiều người thấy được các chỗ hiểu sai hoặc chưa hiểu Luận Ngữ. Tạp chí Diễn đàn Khoa học số 10/2007 nhận xét: Sách Lý Linh là tảng thiên thạch rơi vào tấm gương tư tưởng Khổng Tử của văn hóa truyền thống Trung Quốc.
Những lời chê sách chủ yếu tập trung vào sự bất kính của Lý Linh đối với Khổng Tử, ngoài ra chưa thấy có lý lẽ nào bác bỏ được các lập luận của tác giả. Phái Tân Nho gia phản kích hăng nhất. Tưởng Khánh (tác giả thuyết đưa Nho giáo vào chính quyền) chê Lý Linh “ngạo mạn khinh miệt và sỉ nhục thánh hiền”. Trần Bích Sinh nói Lý Linh có thái độ ngạo mạn khinh đời của Đạo gia và bất mãn sâu sắc với hiện thực; Lý Linh có quan điểm giải cấu trúc Nho học một cách quá đáng. Người duy nhất viết bài phản bác là Trần Minh (GS ĐH Sư phạm Bắc Kinh, Tổng Biên tập tạp chí Nguyên Đạo). Ông viết: “Văn tài của nhà văn + tầm nhìn của nhà giải thích từ ngữ cổ + tâm trạng “Phẫn thanh” (để tình cảm chi phối lý trí, ngôn ngữ chỉ trút tình cảm mà không chú ý tình hình thực tế) = Chó không nhà: Tôi đọc Luận Ngữ”. Ông chê sách Lý Linh nói văn hóa mà chửi chính trị, trong sách chứa đựng sự hằn thù, căm ghét sâu sắc đối với tư tưởng Nho giáo, tuy sách có tính học thuật nhưng việc chọn tên sách có tính cợt nhả bất kính, khó chấp nhận.
 

Tranh cãi về Chó không nhà chỉ là sự tiếp diễn cuộc đấu tranh dai dẳng giữa cái gọi là phái theo chủ nghĩa bảo thủ văn hóa với phái theo chủ nghĩa tự do, hoặc phái Sùng Nho với phái Phản Nho (trước đây còn có phái chủ nghĩa Mác, nay không thấy lên tiếng). Thực chất là vấn đề đánh giá vai trò của Nho giáo, của Khổng Tử. Vấn đề này rất rộng và thú vị, nếu có dịp xin bàn sau.

TRÀ NGUỘI -Thơ kiều Mộng Hà và Thơ Họa

TRÀ NGUỘI Chớp mắt còn chi!!! Tiệc đã tàn Cố quên vết xước của thời gian Người đi trà nguội tình sương khói Bướm vắng hoa tàn mộng dở dang N...