Hiển thị bài đăng được sắp xếp theo ngày cho truy vấn lễ Tạ Ơn. Sắp xếp theo mức độ liên quan Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị bài đăng được sắp xếp theo ngày cho truy vấn lễ Tạ Ơn. Sắp xếp theo mức độ liên quan Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 8 tháng 9, 2026

Thanh Hà: Mùa Thu Bí Ngô (T.Vấn Và Bạn Hửu )

 




Ảnh (Tác Giả gởi)





Trong bốn mùa, mùa nào cũng có nét đẹp riêng của nó cả.

Xuân là tiết giao thời từ giá lạnh sang tươi vui. Cây bắt đầu chuyển mình nhú lộc non mơn mởn. Là tết Nguyên Đán nhà nhà người người rộn ràng chào đón cầu mong năm mới sẽ còn hạnh phúc may mắn hơn năm cũ.

Hạ ấm áp, ngàn hoa khoe hương sắc, ong bướm lượn la đà. Học trò kết thúc niên học náo nức về những ngày nghỉ được rong chơi thoả thích. Người lớn cũng mong có những ngày nắng ấm để tạm gác lại công việc đơn điệu nhàm chán thường nhật, ra nô đùa cùng sóng biển.

Đông giá lạnh, gió bấc tái tê, tuyết phủ trùm lên vạn vật một màu trắng tinh khôi đến loá mắt. Những người thích thể thao cục cựa mở nhà kho mang đôi giày trượt ski và quần áo giữ ấm sẵn sàng cho các chuyến lên núi. Là mùa ông già Noel sẽ cỡi con tuần lộc mang quà phân phát cho mọi trẻ con trên thế giới.

Nhưng hình như mùa thu mới là đề tài bất tận cho các thi, văn, nhạc sĩ viết về nhiều nhất. Các nhiếp ảnh gia chuyên nghiệp lẫn nghiệp dư săn lùng các phong cảnh đẹp quyến rũ mê hồn.

Là mùa của rừng phong lá đỏ, trong truyện Kiều thi hào Nguyễn Du có nhắc:

Rừng phong thu đã nhuốm màu quan san

…Vầng trăng ai xẻ làm đôi

Nửa in gối chiếc, nửa soi dặm trường

Là mùa của lá vàng xào xạc rơi:

Em không nghe mùa thu/ Lá thu kêu xào xạc

Con nai vàng ngơ ngác/ Đạp trên lá vàng khô

(Tiếng Thu, Lưu Trọng Lư)

Là mùa của những tâm hồn mơ mộng tìm đến nhau trên lối đi bộ dọc theo hai bên bờ sông Seine. Lác đác vài nhóm nhỏ tụ họp lại mang nhạc cụ ra chơi, từng đôi nhịp nhàng dìu nhau theo âm thanh dìu dặt của điệu valse, tango, slow…

Khách qua đường đứng lại lặng nhìn, rồi chừng như không cưỡng lại được tiếng nhạc du dương mời mọc, cũng hoà vào không khí lãng mạn. Ánh nắng chiều vàng mùa thu xuyên qua kẻ lá chiếu xuống các thân hình uyển chuyển xoay tròn theo điệu luân vũ, làm tôi nhớ đến mấy câu thơ của thi-sĩ-tình-yêu Nguyên Sa:

Mai tôi đi dù hôm nay đang vào thu

Giòng sông Seine đang mặc áo sương mù

Đang nhìn tôi mà khoe nước biếc

Khoe lá vàng lộng lẫy lối đi xưa (Paris, Nguyên Sa)

Là mùa gây xao xuyến cho những trái tim nhạy cảm:

Ô hay buồn vương cây ngô đồng

Vàng rơi! vàng rơi! thu mênh mông (Tỳ Bà, Bích Khê)

Hoặc ngậm ngùi cho sự từ ly của hai người yêu (hay vợ chồng):

Ta ngắt đi một cụm hoa thạch thảo

Em nhớ cho mùa thu đã chết rồi

….Đôi chúng ta sẽ chẳng còn nhìn nhau nữa

Trên cõi đời nầy…

Từ nay mãi mãi không thấy nhau…

(Mùa Thu Chết, nhạc ngoại, lời Việt Phạm Duy)

Mùa thu không chỉ có màu vàng và đỏ, mà còn có cả một bầu trời sương phủ:

Em ra đi mùa thu/ Mùa thu không trở lại

Em ra đi mùa thu/ Sương mờ giăng âm u

(Mùa thu không trở lại, Phạm Trọng)

Nhưng đặc biệt vùng cao nguyên nơi tôi sống, bầu trời mùa thu xanh một màu thăm thẳm đến khó rời ánh mắt, dõi tìm xem đâu là Vô Tận, Vô Biên trong cái Vô Cùng.

Anh mong chờ mùa thu

Trời đất kia ngả màu xanh lơ…

…Anh mong chờ mùa thu

Tà áo xanh nào về với giấc mơ

Màu áo xanh là màu anh trót yêu

Người mơ không đến bao giờ

(Thu Quyến Rũ, Đoàn Chuẩn)

Tôi thích thơ thẩn xuyên qua các cánh đồng xanh mà ngọn cỏ hơi úa vàng chứ không còn mơn mởn như dạo tiết hè. Hoặc lang thang vào rừng lá đã rụng gần hết chỉ còn trơ gốc cành khẳng khiu, hoà vào sự tĩnh lặng của không gian. Thỉnh thoảng nghe vài tiếng chim chuyền cành hót gọi bạn, gió hiu hiu thổi nhẹ cho vài chiếc lá còn sót lại rì rào xao động.

Hoặc leo lên dốc đồi thấp mà dọc theo lối mòn có những băng ghế gỗ, từ đó ngồi ngắm nhìn quang cảnh thành phố phía dưới. Xe cộ như những con ốc tí hon bò chậm chạp theo con đường giờ chỉ còn là một vệt loang loáng nhựa ngoằn ngoèo. Phóng tầm mắt qua ngọn đồi đối diện, nơi các ngôi nhà nằm lác đác. Nghĩ về những người sống bên trong, giờ nầy họ làm gì? Đang bình thản uống cà phê nghe điệu nhạc folklore vùng núi Alpes (dân ca Thuỵ Sĩ) phát ra từ chiếc radio đời cổ hay đang săn sóc các chị bò sữa, hay chải lông cho bầy ngựa?

Cuộc đời người nông dân ở đây tuy cũng làm những công việc đồng áng nặng nề nhưng sao họ an nhiên hạnh phúc thế.

Nơi tôi sống cũng được gọi là thành phố, nhưng là một thành phố nhỏ. Tôi có thể mượn lời một bài thơ để diễn tả:

Phố núi cao, phố núi trời gần

Phố không xa nên có tình thân

Đi dăm phút đã về chốn cũ…

(Một Chút Gì Để Nhớ, thơ Vũ Hữu Định)

Mở cửa ra đường, tôi đứng ngay trung tâm phố phường nhốn nháo. Nhưng chỉ vài bước chân là tôi đã hoà nhập vào thiên nhiên: Đồng ruộng, rừng thông, đồi dốc.

Ở đây dân tình rất thân thiện gần gũi. Người xứ khác đến cũng cùng nhận xét. Đó là lý do vì sao mà tôi không bỏ nơi nầy để di dời qua chốn khác. Những ai quen nhộn nhịp cho rằng ở đây tuy đẹp nhưng quá buồn, còn tôi thì thích cảnh bình yên tĩnh lặng.Tôi cũng yêu mùa thu. Với trời xanh không một gợn mây, với nắng vàng nhàn nhạt, với lá vàng lá đỏ vương đầy mặt đất. Với màu vàng tươi của các trái bí ngô.

Với màu vàng ươm tươm ra từ con gà tây to kềnh trong lò nướng.

Khi các quầy hàng rau cải trong siêu thị hay ngoài chợ trời bày những trái bí dưới mọi kích thước tròn dài to nhỏ cho khách tha hồ chọn lựa thì đó là báo hiệu mùa lễ Halloween.

Lễ Tạ Ơn, một tập tục đáng khích lệ ở Bắc Mỹ vào tháng 10 tôi được tham dự ba lần ở Vancouver nhân sang bên ấy: nhà em trai, nhà chị vợ của em trai và nhà bạn học mà dòng đời đưa đẩy được gặp lại sau hơn 40 năm rời trường.

Cũng cùng lễ Tạ Ơn nhưng dân Canada lại không tổ chức cùng ngày với dân Mỹ mà diễn ra sớm hơn cả tháng.

Ở châu Âu sao không có tập tục nầy nhỉ? Chắc vì họ là dân chính gốc, đất nước là của tổ tiên ông bà họ từ nhiều ngàn năm dựng lên chứ họ không phải là những di dân đi tìm đất mới nên họ không thấy có bổn phận hay trách nhiệm tạ ơn ai hết chăng?

Nhưng lễ Halloween thì năm nào đến ngày, mới chập tối là chuông cửa nhà tôi đã reng. Các bé trai gái mặc y phục đen hoá trang vẽ mặt mày thành các con ma dễ thương đến xin kẹo bánh.

Có câu chuyện cười về ma do cô cháu gởi, tôi chộp lại nguyên văn cho mọi người cùng đọc:

“Một cô gái rất sợ ma, phải đi học thêm buổi tối mà đường đi có đoạn rất vắng vẻ. Cô mong có người đi cùng cho bớt sợ.

“ Một hôm có chàng trai đạp xe chạy cùng chiều với mình, mừng quá cô chạy lên đi chung. Sau lúc trò chuyện, cô gái nói:

–Em vốn sợ ma lắm, mà đi đoạn đường nầy vắng em rất sợ, may là có anh đi chung.

“Chàng trai mỉm cười trìu mến nhìn cô gái, nói:

–Hồi còn sống anh cũng thế“

Lúc nhỏ tôi sợ ma kinh khủng. Theo thời gian thì tôi nhận ra “quỉ-người” mới đáng ghê tởm hơn nhiều.

Tôi có may mắn được tham dự nhiều lễ hội dân gian khá thú vị. Thí dụ như kỳ festival pumpkin gọi là Harvest Hullabaloo ở Spokane thuộc tiểu bang Washington tháng 9 vừa qua.

Hôm ấy là một ngày đầy mây xám, trắng:

Trời không nắng cũng không mưa

Chỉ hiu hiu rét cho vừa nhớ thương

(Mùa Thu Năm Ngoái, thơ Hồ Dzếnh).

Trên khoảnh đất rộng người ta bầy ra rất nhiều trái bí ngô–còn gọi trái bí đỏ–cho công chúng đến nhìn ngắm, hay leo lên ngồi chễm chệ để chụp hình kỷ niệm và…bán (tất nhiên). Mỗi chủ nhân dựng lều riêng, mỗi lều bán món hàng đặc biệt của mình. Ở khu thức ăn uống tôi thấy một hàng dàinăm bảy chục người sắp hàng chờ. Nhóm chúng tôi bốn người cũng sáp lại gần để xem có gì đặc biệt mà người ta kiên nhẫn chờ lâu thế. Thì ra là họ bán pumpkin donuts, tức là bánh bí đỏ.

Hai vợ chồng người bạn kêu em gái cứ đưa tôi đi vòng vòng xem thiên hạ trong lúc họ sắp hàng chờ mua cho tôi ăn thử cái donut bí đỏ chỉ mùa thu mới có bán.

Bánh nướng tại chỗ chín đến đâu bán đến đấy, mà người mua lại đông nên phải chờ hơn tiếng sau mới đến phiên.Tôi ăn một miếng để không phụ tấm lòng người mua đãi khách. Trời ơi nó ngọt sao là ngọt, gắt cổ họng chịu hết nổi. Cố gắng ăn gần nửa cái donut rồi đành đầu hàng.

Chuyến đi chơi Seattle chỉ là bất ngờ nhưng nhờ đó tôi mới biết nơi đây có cơ quan đầu não của Microsoft, Amazone, Boeing, quán cà phê đầu tiên khi Starbucks dựng

và nhất là đội banh bầu dục Seahawks nữa.

Tôi khám phá thêm vùng đất khác của Hoa Kỳ. Với tôi, điều thú vị không phải nằm ở chỗ các nhà chọc trời, những công trình nhân tạo ngoại hạng hay những cám dỗ loé mắt mà là được ngắm nhìn phong cảnh thiên nhiên hoang dại, những cánh đồng lúa mì mênh mông gặt xong còn trơ gốc rạ vàng đến ngút mắt, vườn táo các loại dòn ngọt, lễ hội dân gian gắn liền với đất đai, cây cỏ.

Đi một ngày đàng học một sàng khôn, lời người xưa nói không sai.

Thanh Hà

Thứ Ba, 12 tháng 5, 2026

BAO LA TÌNH MẸ - Thơ Duy Anh và Thơ Họa


BAO LA TÌNH MẸ

Bao La Tình Mẹ tự ngàn xưa

Chim mái tảo

tần, thấy tội chưa.

Những lúc nhường ăn, thương quá đổi

Nhiều khi nhịn khát, nói sao vừa.

Kiếm mồi nuôi bé... trời hừng sáng

Xòe cánh ấp con... buổi xế trưa.

Ngậm lá làm dù, thân chịu ướt

Che đàn thơ dại dưới trời mưa...

DUY ANH

Mother's Day 05/10/2026


Thơ Họa:


MẸ TÔI

Ám lòng hình ảnh mẹ tôi xưa

Mắt nhắm lìa đời, sống vẫn chưa

Nhỏ dại tại gia cơm áo thiếu

Lớn khôn xuất giá tuổi xuân vừa

Cong lưng giữa rẫy dầm sương sớm

Sấp mặt ngoài đồng dãi nắng trưa

Nghĩa vụ làm trai, cha giữ nước

Thay chồng gánh khổ chạy trong mưa

Lý Đức Quỳnh

5/5/2026


PHỤ NỮ THỜI PHONG KIẾN


Thương người phụ nữ thuở xa xưa

Xã hội coi thường, khổ quá chưa ?

Phong kiến dập vùi thôi chẳng đủ

Luân thường đè nén nữa đâu vừa

Lo toan bếp núc tròn năm tháng

Chăm sóc đàn con suốt sáng trưa

Đêm đến, chìu chồng thân rã rượi

Tủi phận, ngậm ngùi lệ tựa mưa.

Sông Thu

( 05/05/2026 )



THƯƠNG MẸ MỘT ĐỜI


Họa 4 vần

Tuổi già hồi ức chuyện xa xưa

Nhớ mẫu từ nào ngại nắng mưa

Tẩn tảo nuôi con mòn sức lực

Chăm lo cho ngoại khổ thân chưa !!!

Chiến tranh Tây bố ngày di tản

Bom dội nhà tiêu chiều xóm thưa

Thương mẹ một đời luôn vất vả

Chưa tròn chữ hiếu… tội không vừa

Kiều Mộng Hà

May.04.2026


TÌNH MẸ KHÓ QUÊN

Nhớ quá mẹ hiền bóng dáng xưa,

Ơn dày nghĩa nặng trả… như chưa!

Tảo tần vơi vóc hao còm cỏi,

Cực khổ lo con kể mấy vừa.

Chăm sóc ngủ nghê khuya sớm tối,

Cơm ăn áo mặc sáng chiều trưa.

Ngày qua tháng lại không than thở,

Hì hục kiếp trần trãi nắng mưa.

*

Giờ con lớn nhớ mẹ ngày xưa!

HỒ NGUYỄN

(05-5-2026)




TÌNH MẸ BAO LA

Đêm nằm trằn trọc nhớ ngày xưa

Tình mẹ bao la tả mấy vừa

Chín tháng cưu mang nhằn nhọc lắm

Một đời dưỡng dục khổ ghê chưa?

Không màng chiều xế hay ban sớm

Chẳng quản đêm tàn lẫn buổi trưa

Quần quật tay làm,thân mệt mỏi

Người dầm ướt sũng dưới cơn mưa.

LAN

(05/05/2026)




THƯƠNG MẸ


Lặng thầm xót phận Mẹ tôi xưa,

Suốt kiếp lụa lầy... thật khổ chưa.

Kiếm sống tảo tần bao để đủ.

Mưu sinh bầm giập mấy cho vừa.

Còng lưng chạy chợ quên thời khắc,

Bạc mặt cấy cầy xá sớm trưa.

Chầy gạo canh khuya mòn nguyệt ố

Ai trần từ tạ... sũng sương mưa!?

Nguyễn Huy Khôi

05-5-2926


MẸ LÀM DÂU

Mẹ Hiền khổ nhọc làm dâu xưa

Khuya sớm nắng mưa vất vả chưa

Buôn bán tảo tần nuôi trẻ dại

Cha thời chinh chiến gian nan vừa.

Mẹ lo phụng dưỡng Ông Bà Nội

Chăm sóc đàn con sớm tối trưa

Mong đợi chồng về như nắng hạn

Gia đình xum hợp mát trời mưa....

Mỹ Nga

05/05/2026 ÂL, 18/03/ Bính Ngọ



NGÀY MẸ ĐI XA


Thủa đó chan hòa dòng lệ xưa

Tưởng là đã dứt, hóa ra chưa

Ngày em mất Mẹ năm lên chín

Lúc chị vào Xuân tuổi mới vừa

Buồn quá cha lo tang lễ muộn

Khổ hoài tình lỡ nợ duyên trưa

Thế rồi bật khóc khi cơm dọn

Nỗi nhớ đầy thêm khúc nhạc mưa…

Hawthorne 5 - 5 - 2026

CAO MỴ NHÂN



TÌNH MẸ

Hình ảnh mẹ hiền thuở rất xưa

Tiện tằn mọi thứ vẫn lòng chưa

Ruộng nương phân bón trông còn thiếu

Quần áo tiền nông liệu đủ vừa

Tất bật mỗi ngày nơi chợ sớm

Lăng xăng hằng bữa giữa đồng trưa

Vì con cực khổ nào than vãn

Lặn lội thân cò dưới nắng mưa

Hưng Quốc

Texas 5-5-2026



MẸ TÔI VIỆT NAM

Việt Nam, Mẹ vẫn tự nghìn xưa

Phụng sự con đây nguyện trọn chưa

Nghĩa vụ làm dân đời chẳng đủ

Giang sơn nặng gánh công nào vừa

Bao dung nghĩa cả trồi trong bóng

Nuôi dưởng tình thâm rực nắng trưa

Người hỡi về đây vun sức sống

Ruộng đồng vàng trĩu hạt mùa mưa…

Hải Rừng

7/5/2026


NHỚ MẸ

Nhớ Mẹ hiện tiền kể chuyện xưa

Cháu con thích thú mãi chưa vừa

Dân gian nhiều mẫu ma ghê sợ

Chuyền miệng vậy mà hấp dẫn chưa

Hạnh phúc gia đình bà khới sắc

Niềm vui gắn bó lúc cơm trưa

Nhà nông cực khổ dài năm tháng

Mặt nám dải dầu dưới nắng mưa !..

Yên Hà
7/5/2026


MẸ MUÔN ĐỜI


Muôn đời không đổi vốn từ xưa

Chăm chút xới vun vất vả chưa

Chẳng quản thân còm bươn chải suốt

Nào lo sức yếu xáo xông …vừa

Chỉ mong thuyền bé yên bờ bến

Và ước sóng êm ổn giấc trưa

Lộc biếc xanh ngời nuôi tổ ấm

Tình yêu con trẻ dạt dào… mưa

PHƯỢNG HỒNG

MỜI XEM :




Thứ Bảy, 21 tháng 3, 2026

CHÚC MỪNG VĂN THI SĨ CAO MỴ NHÂN KỶ NIỆM 73 NĂM CẦM BÚT! -Thơ Phương Hoa và Thơ Họa

 

CHÚC MỪNG VĂN THI SĨ CAO MỴ NHÂN

KỶ NIỆM 73 NĂM CẦM BÚT!

 

73 năm chẵn bút tung hoành

Tự thuở lên mười đã nổi danh

Thi sĩ đường mây hòa dưới trướng

MỴ NHÂN cánh gió quyện bên mành

Thơ gom kẻ mến cùng bờ cõi

Sách gọi người yêu khắp thị thành

Cầu chúc Bách niên hiền tỷ vẫn…

Trường kỳ sáng tác đẹp vườn thanh.

Phương Hoa

MAR 18,2026


Thơ Họa:

 

NỮ SĨ CAO MỴ NHÂN - BINH NGHIỆP VÀ THI TÀI

 

Hoàn hảo trục tung lẫn cạnh hoành (*)

Vẽ nên đồ thị đáng lưu danh

Nửa đời binh nghiệp đầy oai vệ

Một kiếp tao đàn thật diễm thanh

Thi hứng ngập tràn như sóng biển

Câu từ buông phủ tựa tơ mành

Mười ba tác phẩm đà in ấn

Bao áng thơ văn đẹp kết thành.

   Sông Thu

( 20/03/2026 )

(*) Cuộc đời chị Cao Mỵ Nhân ví như một đồ thị đẹp vẽ nên bởi hai trục hoàn hảo là trục tung Binh Nghiệp và trục hoành Thơ Văn

 

CẢO THƠM LƯU DẤU

(Hoán vận)

 

Bươn trải trần ai đã đủ hoành

Mệnh tài tương đố bợn chi danh

Sa trường kiêu hãnh thời oanh liệt

Trướng gấm hoài vương thuở diễm thanh

Văn bút tiềm tàng ngời nguyệt rạng

Thi đàn tuyệt hảo nuột tơ mành!

Cảo thơm lưu dấu, tình trao lại

Nghĩa nặng ân thâm  ấm dạ thành!

Nguyễn Huy Khôi

     20-3-2026

 

MỪNG CAO NỮ SĨ

CÔNG THÀNH DANH TOẠI

Họa hoán vần

 

Tám sáu mùa xuân ẩn giữa mành

Mỵ Nhân nữ sĩ thật lừng danh

Thời xưa lính tráng ngời vân cẫu

Hiện tại văn thơ rạng bức hoành

Xé nửa thiên đàng trông gió mát

Vo tròn thi phú đợi trăng thanh

Bảy mươi năm lẻ mài nghiên bút

Tăm tiếng loan xa, mộng đã thành

ThanhSong ntkp

 CA. 20/03/2026

 

CHÚC MỪNG NỮ SĨ CAO MỴ NHÂN

 

Bẩy ba năm vẫn mãi vang danh

Nổi tiếng thơ văn bút trụ hoành

Một thuở Sapa đào ngập lối

Ngàn mây viễn xứ tuyết giăng mành

Quân hành áo trận thơm kinh sử

Hoa gấm đài trang dấu cổ thành

Trang giấy gởi hồn bao tác phẩm

 Muôn đời lưu giữ nét đan thanh.

Lê Mỹ Hoàn

 3/20/2026

 

MỘT HỒN THƠ, MỘT ĐỜI THƠ

(Kính mừng chị CAO MỴ NHÂN 73 năm cầm bút)

 

Đường luật thất ngôn rạng trướng, hoành*

Tân thời lục bát tiếng vang danh

Văn phong cổ kính màu thiên địa

Cốt cách thanh tao dáng lụa mành

Bước giữa nhân tình, lòng thấu cảm

Đi trong thế sự, ý hình thành

Quê hương nghiệm trải, thơ tung bút

Chữ nghĩa im lìm đã vọng thanh…

Lý Đức Quỳnh

   20/3/2026

*Hoành là bức hoành phi, chữ viết ngang như thư pháp, thường treo trong phòng khách.

 Kính Hoạ Vận : CHỊ CAO MỴ NHÂN…


Quê quán Sa Pa cụm núi hoành 
Sĩ Quan Quân Lực Cộng Hòa danh
Trưởng phòng xã hội Quân Khu trướng
Văn Bút diễn đàn Quốc tế mành 
Bát cú Đường thi lòng chung thủy 
Tài năng đức độ ý trung thành
Bách niên giai lão cầu mong chị
Xuất khẩu thành chương chiếu hãn thanh…!

          MAI XUÂN THANH
Silicone Valley Medicine 

NGƯỠNG MỘ VÀ YÊU QUÝ.

Mỵ Nhân*,thi xướng, nghiệp binh hoành 
Nhi nữ kỳ tài nổi tiếng danh 
Cầm súng diệt thù nơi chiến ải
Viết văn thu địch chốn đô thành 
Dấn thân hiến sức gìn quê mẹ 
Dốc trí dệt thơ kết liễn mành
Ngòi bút không tà theo tuổi tác 
Tâm hồn thánh thiện đẹp và thanh.
* nhà thơ nữ QN

LAN.
(21/03/2026).


KÍNH HỌA: THI NHÂN TUYỆT BÚT - KỶ NIỆM 73 NĂM CẦM BÚT Của THI SĨ CAO MỴ NHÂN.

Thi Nhân tuyệt bú́t múa tung hoành...
Xuân sắc một thời nổi tiếng danh
Tài trí văn thơ tinh chất ngất
Tâm hồn hòa cãm nguyệt soi mành.
Gương hy sinh ,Tỷ... Người can đãm,
Thơ của Mỵ Nhân phổ khắp Thành...
Ngọn đuốc Văn thơ luôn rực sáng,
Kính Hiền Tỷ Bách Lão Niên thanh...

Tiểu Muội Mỹ Nga. 21/03/2026. ÂL, 04/02/ Bính Ngọ.

LÒNG THÀNH TÔN VINH

NỮ SĨ CAO MỴ NHÂN

 

Võ bị Văn thư - thật quá hoành

Song tài hùng tráng đẹp vang danh

Thi đàn phóng túng ngời hương sắc

Quân phục oai phong vượt bóng mành

Non nước vấn vương cơn mộng thả

Trời xa thương cảm giấc mơ thành

Ai đây nhi nữ đời vinh trọng

‘MỴ NHÂN’ nàng hãy mãi xuân thanh!

 

Hải Rừng

22/3/2026


Thân họa : “ Chúc Mừng Văn Thi Sĩ  Cao Mỵ Nhân - Kỷ niệm  73 năm cầm bút. “
                                           của Thi Văn Sĩ PHƯƠNG HOA .

             SƯƠNG KHÓI VĂN CHƯƠNG .
( Buổi sáng ngày 19-3-2026 vừa qua, nhân khi viết một bài 
gởi đi đăng báo, Mỵ tôi chạnh nhớ ngày 19-3-1953  có bài viết 
 “ Sự tích Trời Cao “ đăng lần đầu tiên ở trang Nhỉ Đồng 
báo Liên Hiệp Hanoi, nên lỡ tâm sự với PHƯƠNG HOA, là 
Mỵ tự lên tinh thần vì vẫn còn thích viết ) 

Nay được quý bạn khuyến khích quá, nên xin CÁM ƠN quý Thi Sĩ : SÔNG THU, NGUYỄN HUY KHÔI, THANH SONG KIM PHÚ, MỸ HOÀN , LÝ ĐỨC QUỲNH , Mai Xuân Thanh,LAN vui họa với 
Bài xướng của PHƯƠNG HOA,nên CAO MỴ NHÂN cũng xin góp họa để vui vẻ chút nhé .
CÁM ƠN, CHÚC VUI KHOẺ.         Cao Mỵ Nhân ..


SƯƠNG KHÓI VĂN CHƯƠNG

Ôi nét chân phương giữa bức hoành
Khiến lòng trọng nghĩa khách tài danh
Xướng Thơ như suối nguồn băng núi
Họa ý hơn châu ngọc rớt mành
Đa tạ tao nhân vui dự hội
Cám ơn tác phẩm vượt san thành
Bảy ba năm hạnh ngộ tri kỷ
Thi Cảm chan hòa vạn lý thanh …

Hawthorne 20 - 3 – 2026
CAO MỴ NHÂN
     

PHƯƠNG HOA ĐÁP LỄ BẠN THƠ - MỪNG     CHỊ MỴ 73 NĂM CẦM BÚT 

(Tự họa)

Thơ họa thăng hoa bức lụa hoành 

Lời vàng thi sĩ quả tài danh 

Sương còn say đắm treo bờ giậu

Nguyệt cũng ngẩn ngơ rọi trước mành

Đại tỷ mấy mươi năm bút toại

MỴ NHÂN non thế kỷ công thành

Cảm ơn mặc khách cùng đồng điệu

Hòa vận chúc mừng ý đẹp thanh.


Phương Hoa - MAR 24, 2026


Thứ Ba, 17 tháng 3, 2026

CHAPA TUỔI MỘNG -Thơ Cao Mỵ Nhân và Thơ Họa


CHAPA (SAPA) TUỔI MỘNG

(CHAPA Xưa là Sanh Quán CMN)
Cả một rừng đào quanh phố hoa
Biết đâu là nước, để thăm nhà
Hoàng Liên núi phủ mây cao ngất
Thổ Cẩm hàng phơi nắng xế tà
Cốc Lếu mịt mù sương biếc thả
Lai Châu thăm thẳm khói vàng pha
Mấy mươi năm trước ta đùa rỡn
Trong vắt lưng đồi tiếng suối ca ...

CAO MỴ NHÂN
14 - 3 - 2026


Thơ Họa:



LÀO CAI NGÀY NAY

Bây giờ phố vẫn rợp trời hoa
Vẫn nhánh đào phai* Tết thắm nhà
Sáng nắng xuyên sương ngời ánh rực
Chiều mây phủ núi ảo dương tà
Sa Pa mỹ lệ tân thời phối
Cát Cát** thanh bình cổ điển pha
Thổ cẩm nghê thường sơn nữ múa
Điệu khèn vi vút đại ngàn ca…

Lý Đức Quỳnh
14/3/2026

*Đào phai núi rừng Tây Bắc (hay đào mốc/đào đá) là giống đào rừng tự nhiên, nổi bật với sắc hồng nhạt tinh khôi, bông to, cánh dày và độ bền cao. Thân cây sần sùi, mốc rêu, dáng cổ kính, thường nở rộ vào dịp Tết Nguyên đán, mang vẻ đẹp hoang dại, mạnh mẽ và là biểu tượng mùa xuân độc đáo của vùng cao.

**Bản Cát Cát (xã San Sả Hồ, Sa Pa, Lào Cai) là làng dân tộc H'Mông cổ kính, nổi tiếng với cảnh quan ruộng bậc thang, thác nước hùng vĩ và các nếp nhà gỗ mộc mạc dưới chân dãy Hoàng Liên Sơn. Cách trung tâm Sa Pa khoảng 2-3km, đây là điểm du lịch sinh thái và văn hóa đặc sắc với nghề thủ công truyền thống dệt thổ cẩm. (Chép lại trên mạng net).

SA PA-HOA BẤT TỬ.

Về thăm phố núi với ngàn hoa 
Trùng điệp vươn cao vượt nóc nhà 
Phong cảnh tuyệt vời, ôi!Ấn tượng 
Dãy non mờ ảo quá u tà 
Sương mù lành lạnh giăng màn thả 
Mây bạc bồng bềnh điểm sắc pha 
Hấp dẫn khách du, hoa bất tử 
Ru hồn lãng tử, thác vang ca.

LAN.
(14/03/2026).


 HOÀI NIỆM SA PA

Ngợp tràn thung lũng rộ Hồng hoa 1)
Mây trắng bồng bênh quẩn mái nhà
Tóc thác bạc phơ bừng nắng sớm  2)
Lúa nương vàng suộm óng chiều tà
Tả Phìn ảo mộng buôn làng tọa        3)
Sín Chải huyền mơ sương khói pha...4)
Leo đỉnh ,,,Sipan  lồng lộng gió         5)
Lâm tuyền bừng thức rộn hòa ca!

                          Nguyễn Huy Khôi
                                14-3-2026

1) Thung lũng Hoa Hồng Sa Pa : "Đẹp tựa miền Cổ Tích".Tọa lạc xóm1-đường Mường Hoa-Thị trấn Sa Pa-Lao Cai.
2) Thác bạc SP: Nổi tiếng, có độ cao 200 mét.
3)Bản Tả Phìn: Có một tu viện cổ ,kiến trúc huyền bí. Cảnh sắc thơ mộng. Trải nghiệm tắm nước lá Người Dao cổ.
4) Bản Sín Chải: Nguyên sơ, ảo mộng. Được dãy "Hoàng Liên sơn ôm trọn vào lòng."
5) Núi FanSipan Legend: Đỉnh-"nóc nhà Đông Dương"(thuộc. Sa Pa -Lao Cai.)

Kính Họa Vận : SA PA…

Sa Pa thị xã đẹp nhiều hoa
Thung lũng tình yêu biết mấy nhà
Róc rách suối nguồn non nước biếc
Vi vu gió núi ánh dương tà
Lai Châu sương khói lam mờ tỏa
Hoa lá rừng đào tươi thắm pha
Sơn nữ địa đàng vui vẻ múa
Nghê thường vũ khúc tiếng xuân ca

Mai Xuân Thanh
Silicone Valley March 14, 2026


Hoa Sương


Sáng nay ngồi ngắm cánh sương hoa
Thấy xác thân tan dán mái nhà
Đóng mắc làm xâu không được chuỗi
Đem đời may áo chẳng nên tà
Đêm gom mưa gió về phân phát
Ngày bị nắng trời chiếu rọi pha
Phút chốc tạo thành... rồi biến mất
Chỉ còn hưng phấn trong thi ca.

2026-03-15
Võ Ngô


QUANG CẢNH SAPA.

SaPa triền núi nhiều loài hoa,
Tinh thổ Bắc Phần Non Nước nhà.
Khí vượng Hoàng Liên Mây đĩnh núi,
Thiên nhiên Nhân Địa Hội trăng tà.
Sương sa mờ ảo,trời hanh nắng,
Ẩn hiện mái nhà trắng đỏ pha.
Quang cảnh núi đồi tranh Thủy mạc,
Rừng cây chim hót suối reo ca...

Mỹ Nga
14/03/2026 ÂL,29/01/ Bính Ngọ.


CẢNH SẮC VÙNG CAO


Một màu xanh ngắt lá chen hoa
Lác đác đơn sơ những mái nhà
Hùng vĩ triền cao trên đỉnh núi
Quanh co dốc đứng dưới dương tà
Cánh rừng mai sớm khoe xuân sắc
Ngọn khói lam chiều quyện nắng pha
Róc rách theo dòng con suối chảy…
Tự nhiên như thể cất lời ca.

CAO BỒI GIÀ
14-3-2026



NHỚ VỀ ĐẤT LẠCH


Minh Tâm nở thắm vạn ngàn hoa
Chóp đỉnh Lang Biang tựa nóc nhà
Bát ngát nương đồi quang phổ nhạt
Mênh mông rừng núi tịch dương tà
Cam Ly chiều vắng sương mờ phủ
Thủy Tạ hồ xanh liễu biếc pha
Nhớ thuở chia phôi rời đất Lạch
Buồng tim nghèn nghẹn bản tình ca

ThanhSong ntkp
CA. 14/03/2026



DÀI NĂM THÁNG ,

Cũng đã lâu rồi lên xứ hoa
Một rừng đào mận điểm tô …nhà
Đồi trên ruộng rẫy vàng cung bậc
Lũng dưới làng tơ óng sắc tà
Lễ hội đắp tình khi nguyệt tỏ
Tình yêu dâng hiến lúc sương pha
Núi rừng ôm ấp dài năm tháng
Văng vẳng khèn ai luyến láy …ca !

PHƯỢNG HỒNG



DU LỊCH SA PA

Du lịch phai đào tới xứ hoa
SaPa sơn nữ dẫn vô nhà
Bứa ngon trèo hái bên vườn lớn
Trám béo khều rung dưới nắng tà
Bếp lửa êm sàn huyền sử gợi
Trà lùng ngọt ấm suối tiên pha
Người đi người đến tình sâu đậm
Như vẫn lưu hoài lại tiếng ca.

03 – 2026
Trần Như Tùng



THƠ MỘNG

Đường thi Thôi Hộ mộng đào hoa
Hoàng Hạc lầu thơ nhớ nước nhà
Lãng mạn Tản Đà say rượu nhạt
Tương tư Bà Huyện ngắm chiều tà
Thanh Liên hương niệm, vầng trăng chiếu
Hàn Dũ gia hồi, cảnh tuyết pha
Mãn Giác chi mai Thiền định tuệ
Tiên ông Trang Tử cổ bồn ca.

(Phan Thượng Hải)
3/15/26


(*) Thanh Liên là danh hiệu của Lý Bạch.



XUÂN MỘNG

Tết đến hàng hiên ở trước nhà
Mai vàng rực rỡ trổ đầy hoa
Tuyệt vời cảnh sắc vào ban sáng
Cảm khái thi nhân buổi chiều tà
Khói tỏa bồng bềnh khi nắng nhạt
Đêm mờ se lạnh lúc sương pha
Ngày xưa ta tuổi vào Xuân mộng
Rộn rã vui đùa ngập tiếng ca

Songquang
20260315



TẶNG LỜI CA


Việt Nam tô điểm xứ nhiều hoa
Nét đẹp thanh cao mình nước nhà
Đà Lạt Trung nguyên đồi thượng uyển
Sa Pa mây phủ đỉnh chiều tà
Khắp nơi đây đó hương thơm ngát
Đồng ruộng núi rừng sắc điểm pha
Lính chiến thời trai chân rảo khắp
Gặp nàng Sơn nữ tặng lời ca ..

Yên Hà
15/3/2026



SAPA

Danh lam thắng cảnh một rừng hoa
Ngất ngưởng trên cao mấy nóc nhà
Lảng đảng làn mây qua chóp mái
Ngẩn ngơ bóng ngả nắng chiều tà
Đường về cô gái nhanh nhanh bước
Khói toả lưng đồi róc rách pha
Khung cảnh núi rừng chen thác bạc
Từ xa văng vẳng tiếng khèn… ca …

THIÊN LÝ


VỀ SAPA


Quay về điểm hẹn viếng Mường Hoa
Khoảng cách đường đi cũng tiện nhà
Vọng Cảnh tâm tình say gió nhẹ
Ô Quy kể chuyện ngắm trăng tà
Suối Vàng dõi đợi bầy chim hót
Thác Bạc trông chờ giọt nắng pha
Hấp dẫn chương trình ôi thú vị!
Sum vầy múa sạp…bản làng ca!

Như Thu
03/15/2026



SA PA HOÀI MƠ


Sa Pa danh tiếng xứ đào hoa
Cao nhất Đông Dương đỉnh nóc nhà.
Thị trấn mơ màng trong nắng sớm
Ruộng thang kỳ vĩ dưới chiều tà.
Tả Phìn tu viện huyền vi thoảng
Gothic mái vòm cổ kính pha.
Êm ả đồi nương lòng khách lắng
Thả hồn theo gió vẳng chim ca.

Mailoc
03-15-2026

SA PA TUỔI MỘNG - LỜI TẠ CỦA TÁC GIẢ CAO MỴ NHÂN.

Không biết phải viết LỜI TẠ thế nào, khi tác giả CHAPA ( SA PA ) TUỔI MỘNG nhận được trên 17 bài thơ họa về SA PA rực rỡ mà huyễn ảo trong 2 ngày giữa tháng 3 / 2026, trên 2 diễn đàn LÃNG PHONG và QUÁN THƠ ĐƯỜNG của nhị vị Thi Sĩ LÝ ĐỨC QUỲNH và CAO BỒI GIÀ .
Không phải lợi dụng 2 diễn đàn đương nêu, để bày tỏ về CHAPA cận đại, và SAPA hiện tại.
Cao Mỵ Nhân tôi xin phép CÁM ƠN quý Thi Sĩ họa thơ theo thứ tự thư đến : LÝ ĐỨC QUỲNH, SÔNG THU, LAN, NGUYỄN HUY KHÔI, MỸ NGA, MAI XUÂN THANH, CAO BỒI GIÀ, THANH SONG KIM PHÚ, PHƯỢNG HỒNG, TRÀN NHƯ TÙNG, VÕ NGÔ , PHAN THƯỢNG HẢI, SONG QUANG, YÊN HÀ, THIÊN LÝ, NHƯ THU , MAI LỘC …
… Bằng một đoạn văn diễn tả SA PA hôm nay.

Thưa quý vị, bài nào cũng hay, quá hay, thậm chí CMN còn thấy trước mặt thành phố SAPA sanh quán của mình nữa.
Số là tác giả MỴ tôi phải thưa rằng ông bố của CMN là kỹ sư công chánh, giám đốc Sở Máy Điện kiêm sở Máy Nước
CHAPA thời Tây, bây giờ gọi là SAPA, thủa tiền bán thế kỷ 20 , là thành phố xây cất theo kiểu cổ châu Âu, nằm lọt thỏm giữa một rừng hoa đào cánh kép, mầu hồng lạt, trên những cây cao chi chít cành, mọc suốt biên giới Việt Hoa Tây Bắc .
Mời quý vị đọc trong bài họa “ LAO CAI NGÀYNAY “ của Thi Sĩ LÝ ĐỨC QUỲNH thì rõ . Xưa Lào Cai là Laokay , người Tàu nói LÃO NHAI, có mấy đặc điểm sau :
1/. Hoa đào mọc nhiều như hoa dại, quá nhiều gần như quanh năm ,
2/ Bốn mùa sương khói, có nắng trưa, trong nắng vẫn có sương chưa tan hết.
Mời quý vị đọc bài họa “ HOA SƯƠNG “ của Thi Sĩ VÕ NGÔ . Phải ở một lâm nguyên nào mà sương kết thành hoa.Hoa Sương đó chưa nắm trong tay đã vỡ, mới thấy đôi khi điều huyễn hư cũng vô cùng đẹp chứ.
3/ CHAPA cận đại ( trước 1954 ) Không phải như SA PA hiện tại ,tuy là nơi an dưỡng cho người Tây toàn vùng ĐÔNG DƯƠNG nhưng rất ít khách du lịch , nên không có hình ảnh những cô Dao đỏ, Dao đen , H ‘ mong như hiện nay, có thể là các thiếu nữ miền xuôi lên … phụ với địa phương làm du lịch .
Thủa ấu thơ, gia đình ba tôi ở ngôi nhà kính trên một dốc cao, đầu đường chính dẫn xuống khu Nhà Thờ ĐÁ .
Bấy giờ SAPA chỉ toàn người MÈO ở các đỉnh núi cao, đi nhanh như thú rừng .
Lâu lâu lễ hội rừng gọi là đám rước của người Mèo, họ đi từ bản họ ra phố , rộn rã tiếng phèng la và những chiếc khèn thân mật nhưng xa vời lữ khách .
.
Sau 1975 , SAPA hốc hác, xác xơ hoa lá, rừng đào đã được thay thế bằng rừng HOA BAN TRẮNG, dành cho các Sĩ Quan chế độ cũ đi tù cải tạo chính trị , gọi là trại HOÀNG LIÊN SƠN.
Nhà thơ , Nhạc sĩ THỤC VŨ tức Thiếu Tá VNCH danh tiếng với chương trình THI NHẠC GIAO DUYÊN trước 1975, đã chết trong tù và được chôn ở đây.
Tuy nhiên , quý vị hãy thưởng lãm thật chan hòa tình ý “ LÀO CAI NGÀY NAY “ của LÝ ĐỨC QUỲNH, mới thấy lâm nguyên SAPA ngày nay Tân tiến, Thực dụng, phong cách Tây phương thế nào .
Tất nhiên, như tôi đã trình bầy qua thơ “ HOA SƯƠNG “ của VÕ NGÔ rằng: không có gì vĩnh cửu với thời gian , hỏi trăm năm nữa, rồi ngàn vạn năm sau , CHAPA hay SA PA sẽ thế nào, ôi chỉ có HOÁ CÔNG, hay chỉ có TRỜI mới biết được .

Xin CÁM ƠN LẦN NỮA. KÍNH CHÚC VẠN AN.
CAO MỴ NHÂN

CÁI NÔI SAPA
Họa Chapa (Sapa) Tuổi Mộng
 Nơi này xuân đến lá chen hoa
Đào nở hồng tươi rực sáng nhà
Khách ngoạn dập dìu khi trời sớm
Nhân (*) sinh ọ ọe lúc dương tà
Bao ngày xa vằng luôn tâm tưởng
Bẫy nỗi chia ly chẳng nhạt pha
Phố núi Hoàng Liên Sơn một thuở
Vui đùa dưới nắng yên oanh ca.
(*) Xin lỗi chị Cao Mỵ Nhân
 
Thái Huy 3/17/26

Thứ Ba, 6 tháng 1, 2026

CHA TÔI LẤY VỢ

Cuối cùng cha tôi cũng lấy được vợ sau bao nhiêu mong mỏi của bà nội và thành tâm khấn nguyện của tôi.
Sự tích lấy vợ của cha tôi quá hay luôn. Một lần tôi và bà nội đi làm công quả trên chùa, về qua gốc đa ở mé bến sông thấy có tiếng trẻ con ê a khóc. Mùa đông, nhá nhem tối không nom rõ mặt. Tôi sợ rúm lại đi nép bên bà. Trong đầu lởn vởn nghĩ đến đủ thứ ma mãnh trêu người hay hiện hình ở những nơi hoang vắng. Nhưng bà kéo tay tôi tiến lại gần gốc đa. Một đứa trẻ hai ba tuổi yếu ớt ngồi quờ quạng bên một người đàn bà nằm thiêm thiếp ngủ. Bà hối tôi chạy ngược lại chùa, mượn nhà chùa cái xe cải tiến.
Bà còn dặn tôi nhớ xin sư cụ thêm một mớ rơm khô vì trời rất lạnh, đứa trẻ và người đàn bà kia cần được ủ ấm. Thế là người đàn bà cùng đứa trẻ được tôi và bà kéo về nhà một năm sau trở thành mẹ của tôi và em tôi là thế.
Nhà tôi rất nghèo, nên cha tôi khó lấy vợ. Nghe người làng nói, hồi trẻ cha tôi đẹp trai và chịu khó, cha yêu một cô con gái nhà giàu có ở làng bên. Chính vì hai người quá yêu nhau, nhưng nhà bà nội tôi nghèo quá, đằng nhà gái cho rằng không thể thông gia với một nhà ‘’khố rách áo ôm’’ lại còn một mẹ một con như bà nội tôi nên gia đình họ ra sức cấm cản. Cái trò đời càng cấm lại càng say nhau. Chốt lại người yêu của cha tôi sau khi đã mang thai, và cái thai sau này là tôi thì bà bị cấm đoán, đánh đập tới mức suy nghĩ nhiều mà phát điên phát ngộ và cuối cùng sau khi đẻ ra cái đứa tôi, nhà ngoại ngay lập tức mang đi trả tôi cho bà nội. Mẹ tôi cứ điên dại thế và qua đời sau mấy tháng thất tình.
Cha tôi thù hận cái nghèo,ông cứ chán nản và cả thanh xuân chẳng thể yêu thương thêm một lần nào nữa.
Mỗi năm dịp Tết đến xuân về tôi thấy mình buồn tủi, nhà vắng vẻ chỉ có hai bà cháu bởi vì cha tôi theo bè buôn tre, gỗ về xuôi mãi tận giáp Tết mới về nhà.
Tôi theo bà nội hết việc đồng áng ,rau màu lại vào làm công quả hộ chùa làng. Lần nào những dịp cuối năm,tôi leo lên chính điện,len lỏi lau sau lưng những pho tượng, tôi đều vừa lau vừa thì thầm khấn nguyện. Tôi thì thầm: con chỉ muốn hỏi Chư Vị Phật Thánh, khi nào cha con có vợ có con cho bà nội con khỏi mỏi mòn trông ngóng?
Người đàn bà được bà và tôi vực vào nhà. Cô ấy sốt rất cao,mê man và đứa trẻ thì có vẻ như khóc quá nhiều đã mệt mỏi ngủ thiếp đi nom thật tội. Ngoài kia gió bấc bớt hun hút thổi, mưa dầm lạnh thấu xương. Bà tôi hun chậu trấu để gần giường hai mẹ con người lạ. Tô cháo tôi bê lên đúng vừa lúc đứa bé ọ ẹ trở mình. Bà tôi bế nó dậy, lấy nước và khăn lau khắp người mình mẩy cho đứa nhỏ. Trong lúc nó ngoan ngoãn ngồi há miệng như chim để tôi bón cháo cho nó thì bà tôi lại tiếp tục lau người cho người đàn bà. Bà đem tấm áo bông chần bà để dành suốt bao ngày lạnh cho cô ấy mặc và cả chiếc quần láng đen. Người đàn bà rơm rớm nước mắt nhìn đứa con sạch sẽ, ấm áp và đã ăn no cháo rồi nhìn bà cháu tôi, nước mắt cứ trào ra . Cô ấy mấp máy muốn nói những lời cảm ơn,nhưng bà tôi ngăn lại và vỗ về cho cô ấy ăn tô cháo tôi vừa mới đem lên.
Người làng kể rằng mối tình của cha tôi với người mẹ đã chết của tôi chẳng khác tiểu thuyết “Lá ngọc cành vàng’’ của Nguyễn Công Hoan là mấy. Cha tôi cũng như cậu học trò nghèo khổ kia bị đe nẹt. Bị đánh đập. Bà tôi thì không bán xôi chè Phố Phủ nhưng người mẹ đã chết của tôi cũng bị giam cầm, bị đánh phạt đến phát điên không kém gì cô Nga tiểu thư khuê các ấy. Khác một chỗ là tôi được sinh ra và được làm người. Được bà tôi nuôi nấng và che chở. Lớn lên tôi được nghe kinh Phật. Nghe và thấm hiểu về nhân quả qua các nhà sư. Chỉ có cha tôi ,ông luôn sầu hận về thân phận của mình. Ông cho rằng cái chết của mẹ tôi do cha tôi quá nghèo. Vì cha không đủ sang giàu và tư cách để yêu và cưới mẹ tôi.
Ngày tháng cứ trôi,Tết năm ấy nhà tôi vui lắm. Cha tôi về trong một ngày áp Tết hảnh nắng vàng ươm. Người đàn bà lang thang nọ đã khỏe trở lại. Sau khi nghe cô ấy kể về hoàn cảnh của mình. Cũng do nhà quá nghèo mà bị gả bán làm vợ lẽ người ta. Vợ cả ông chồng cô ấy không có con trai, bà ta và lũ con gái rất ác độc. Chỉ muốn cướp lấy đứa bé trai con cô rồi đuổi cô đi. Khó khăn lắm cô mới ôm con chạy trốn. Tiền không có, không có chỗ nương thân, sau nhiều bữa đói khát cô lạc đến đây và gặp được bà cháu tôi cứu mạng. Cô nói rằng nếu không có lòng nhân hậu của bà tôi. Chắc đêm mưa dầm gió bấc và đói khát đó cô và đứa trẻ đã bỏ mạng rồi.
Hơn một năm sau đó cha tôi làm đám cưới với cô ấy. Một mâm cơm nhỏ để cô và cha tôi lễ tạ gia tiên. Sư Thầy làm lễ cho thằng bé lấy họ cha tôi và đặt tên mới cho nó. Nó mang họ Nguyễn của cha. Nguyễn Văn Thiện, chữ Thiện trong lương thiện như bà tôi vẫn sống. Tôi đã có mẹ và có cả em, cha tôi đã gấp lại những oán hờn để sống cuộc đời bình thường. Sư già bảo tôi rằng,con hãy sống lương thiện như bà nội của con ,dù cuộc đời con có sóng gió dập vùi bởi phận số nhưng rồi con sẽ gặp phước báo. Và tôi tin sư già nói đúng. Ăn ở thiện lành ắt gặp thiện lành

(Loan Ngẫn) 

Jimmy Nguyen chuyển

Thứ Hai, 29 tháng 12, 2025

2 vị Trạng nguyên triều Mạc và những giai thoại thú vị

 Vanvn- Nếu như Trạng nguyên Phạm Duy Quyết là người có nhiều tên gọi nhất trong lịch sử khoa bảng, thì Nguyễn Kỳ lại là Trạng nguyên duy nhất về chùa vinh quy bái tổ.

Giai thoại thú vị về hai vị Trạng nguyên triều Mạc

Hai vị Trạng nguyên sở hữu những cái nhất này đều là những nhà khoa bảng triều nhà Mạc. Họ không chỉ được trời phú tài năng thiên bẩm, mà sức học của họ còn là bài học đáng suy ngẫm để hậu thế noi theo.

Khu mộ tổ dòng họ Phạm – dòng họ Trạng nguyên Phạm Duy Quyết. Ảnh: ITN

Triều Mạc “sùng nho” giữa chiến loạn

Nhà Mạc được thành lập vào năm Đinh Hợi (1527) khi Mạc Đăng Dung chính thức đoạt ngôi nhà Lê. Chỉ vài năm sau, từ năm Quý Tỵ (1533), lực lượng trung thành với họ Lê lập nên chính quyền riêng ở vùng phía Nam, tức triều Lê trung hưng, tiến hành nhiều chiến dịch nhằm khôi phục quyền lực. Sự đối đầu giữa hai thế lực này kéo dài, tạo nên cục diện nội chiến Nam – Bắc triều suốt nhiều thập niên.

Ngay từ buổi đầu nắm quyền, để củng cố lòng dân, thu hút hiền tài và tăng cường sức mạnh cho triều đại, nhà Mạc vẫn xem nho giáo là nền tảng trị quốc, duy trì mô hình giáo dục và khoa cử theo khuôn mẫu triều Lê. Sử liệu thời Nguyễn, đặc biệt trong “Hoàng Việt Giáp Tý niên biểu” của Nguyễn Bá Trác, vẫn nhắc đến nhà Mạc bằng cụm từ mang nhiều dư âm “Mạc thị sùng nho”, tức họ Mạc tôn sùng đạo nho.

Tinh thần trọng học ấy thể hiện rõ qua việc triều Mạc tiếp tục thờ phụng các bậc tiên hiền ở Văn Miếu và cho lập các văn chỉ tại nhiều địa phương. Riêng ở Thăng Long, triều đình nhiều lần tu sửa Văn Miếu – Quốc Tử Giám, đồng thời xây thêm các công trình như nhà Thái học, nhà Minh Luân, hành lang và hệ thống Xá sinh (Thượng xá sinh, Trung xá sinh…) làm nơi ăn ở cho học trò. Các vua nhà Mạc còn thường đến Văn Miếu tế lễ, khích lệ nho sinh chăm học và đề cao đạo học trong đời sống xã hội.

Nhà Mạc tổ chức kỳ thi đầu tiên vào năm Kỷ Sửu (1529). Việc mở trường thi không chỉ nhằm chọn người tài, mà còn hướng đến xây dựng đội ngũ trí thức trung thành, có khả năng phò tá cho triều đại. Chỉ trong 65 năm tồn tại với tư cách một vương triều (1527 – 1592), đóng đô tại Thăng Long, nhà Mạc đã tổ chức 22 khoa thi Hội, lấy đỗ 485 Tiến sĩ – một con số cho thấy sự coi trọng giáo dục và khoa cử.

Theo lệ từ thời Lê, nhà Mạc cũng dựng bia Tiến sĩ để ghi danh người đỗ đạt. Tuy việc dựng bia không diễn ra liên tục, nhưng vẫn là minh chứng quan trọng cho chính sách khuyến học, khuyến tài của triều đại. Tấm bia Tiến sĩ đầu tiên dưới thời Mạc dựng năm Kỷ Sửu (1529), ngay sau khoa thi khai mở, đã khẳng định rõ chủ trương đề cao người hiền và trọng việc học.

Sống vào thời Lê mạt, Phạm Đình Hổ đã đưa ra nhiều nhận xét đáng chú ý về nền khoa cử dưới triều Mạc. Ông cho rằng giới tao nhân, văn sĩ thời ấy tuy có phần chạy theo lối học phù phiếm, không còn tinh tấn như thời Tiền Lê (Lê sơ), nhưng nhìn chung “thói học chưa đến nỗi hủ lậu”, nên trình độ học vấn, văn chương, khả năng trị chính và công nghiệp của người đương thời “cũng không kém cổ nhân mấy”.

Đáng chú ý là nhận xét của ông về chất lượng đề thi thời Mạc, thường gồm khoảng 200 chữ, đặt ra những vấn đề rộng, mang tính bao quát. Người dự thi phải nắm vững kiến thức cổ kim, thông suốt kinh sử mới có thể làm bài. Chính kiểu ra đề ấy giúp tuyển lựa được nhiều nhân tài thực học, điều mà “những đời gần đây” – tức khoa cử thời Lê trung hưng khó có thể sánh kịp. Ông còn khẳng định rằng từ đời Diên Thành trở về trước, truyền thống nghiêm cẩn và hiệu quả này trong khoa cử triều Mạc vẫn còn được giữ vững.

Giới sĩ phu đỗ đạt thời Mạc vì thế nổi bật với những tên tuổi rực sáng như: Nguyễn Bỉnh Khiêm, Giáp Hải, Phạm Trấn, Nguyễn Tuấn Ngạn… Họ không chỉ là biểu tượng của một thời kỳ khoa cử thịnh đạt, mà còn là những gương mặt tiêu biểu trong lịch sử khoa bảng.

Tấm bia Tiến sĩ đầu tiên của nhà Mạc được dựng năm Kỷ Sửu (1529). Ảnh: T. Hòa

Vinh quy bái tổ tại chùa

Một trong những Trạng nổi bật của thời nhà Mạc là Nguyễn Kỳ sinh năm 1518, người làng Bình Dân, huyện Đông Yên, phủ Khoái Châu, trấn Sơn Nam Hạ (nay là xã Triệu Việt Vương, tỉnh Hưng Yên). Ông là nhà khoa bảng đỗ đạt cao nhất của huyện Đông Yên xưa, và để lại nhiều giai thoại thú vị.

Nguyễn Kỳ húy lúc nhỏ là Nguyễn Thời Lượng gắn với giai thoại “thần đồng chùa” bởi ngay từ khi mới ba, bốn tuổi, ông đã có thể đọc thuộc nhiều bộ kinh Phật. Tương truyền cha mẹ ông là những người hiền lành, sống cảnh nghèo khó và mãi đến tuổi tứ tuần vẫn chưa có con. Một hôm, gặp người am hiểu tướng số trong vùng, họ được phán rằng: “Ông bà sẽ sinh quý tử, nhưng số phải nương cửa Phật”.

Tin vào lời ấy, hai vợ chồng ngày ngày lên chùa dâng hoa, thắp hương lễ Phật. Hai năm sau, họ sinh được Nguyễn Thời Lượng. Khi tròn ba tuổi, cậu bé được gửi vào chùa làm con nuôi của nhà sư. Chỉ nghe tiếng tụng niệm mỗi ngày, cậu bé Lượng đã học thuộc kinh Phật một cách tự nhiên. Đến năm bốn tuổi, khả năng nhớ và đọc kinh trôi chảy của cậu khiến các nhà sư lẫn khách hành hương kinh ngạc, và từ đó danh xưng “thần đồng chùa” lan truyền khắp vùng.

Thời gian ở chùa, buổi sáng cậu được cho đi học chữ, buổi chiều trở về làm các công việc vặt trong chùa. Ban đêm, vì không có tiền mua dầu thắp đèn nên cậu bé cắp sách vào Tam bảo ngồi dưới chân tượng, học bài nhờ ánh sáng cây nến. Khi nến tắt hết mới đi ngủ. Sư thầy thấy vậy bèn thửa những cây nến dài hơn để cho cậu học.

Khoa Tân Sửu, niên hiệu Quảng Hoà thứ nhất (1541) triều Mạc mở khoa thi, Nguyễn Thời Lượng tham gia ứng thí. Đến kỳ thi Đình, sư thầy nằm mơ thấy có người tên là Nguyễn Kỳ đỗ Trạng nguyên, bèn đổi tên Nguyễn Thời Lượng thành Nguyễn Kỳ. Quả nhiên khoa thi Đình năm ấy, ông đỗ Trạng nguyên khi mới 21 tuổi.

Ngày vinh quy bái tổ, tân Trạng nguyên Nguyễn Kỳ đã xin dân làng rước mình từ chùa – nơi ông được nuôi dưỡng thuở nhỏ để trước hết tạ Phật và tri ân sư thầy đã dày công dạy dỗ. Chính hành động này đã khiến Nguyễn Kỳ trở thành vị đại khoa duy nhất trong lịch sử khoa bảng tổ chức vinh quy bái tổ tại chùa.

Chỉ sau nghi lễ ấy, ông mới trở về bái kiến tổ tiên và cha mẹ. Câu chuyện cảm động về lòng biết ơn của ông nhanh chóng lan truyền vào cung. Nghe tin, vua Mạc Phúc Hải khen Nguyễn Kỳ là người “tận trung, tận hiếu”, biết trọng đạo nghĩa trước sau. Nhà vua vì thế đã bổ nhiệm ông vào Viện Hàn lâm, sau ông làm quan đến chức Hàn lâm thị thư.

Bộ bút, nghiên, mực giấy bằng đá xanh lớn nhất Việt Nam tại Khu tưởng niệm Vương triều Mạc (Hải Phòng). Ảnh: ITN

Trạng nguyên có nhiều tên gọi

Trạng nguyên Phạm Duy Quyết sinh năm 1521, người xã Xác Khê, huyện Chí Linh, phủ Nam Sách, xứ Hải Dương (nay là xã An Phú, tỉnh Hải Phòng). Ông là Trạng nguyên sở hữu nhiều tên gọi khác nhau nhất trong lịch sử khoa bảng. Ngoài tên Phạm Duy Quyết, ông còn các tên khác là: Phạm Đăng Quyết, Phạm Duy Áng, Phạm Duy Ưởng, Phạm Duy Trĩ.

Theo sách “Các nhà khoa bảng Việt Nam 1075 – 1919”, cậu bé Phạm Duy Quyết mồ côi cha từ thuở nhỏ, gia cảnh nghèo khó nhưng được người mẹ tần tảo dốc sức nuôi nấng. Ngày con trai đến lớp học khai tâm, bà còn giết bò làm lễ tạ thần Phật, gia tiên và biếu thầy dạy học để bày tỏ kỳ vọng.

Thuở nhỏ, ông được đặt tên là Ưởng, đến khi đi học được thầy đổi tên thành Phạm Duy Quyết, chọn chữ “Quyết” có bộ ngọc với ngụ ý đứa trẻ sau này sẽ quý như ngọc. Từ bé, Quyết đã tỏ ra thông minh khác thường, học một biết mười, trí nhớ bền bỉ, lại có duyên ăn nói nên nhanh chóng vượt chúng bạn và nổi tiếng khắp vùng.

Những giai thoại thuở chăn trâu còn cho thấy sự lanh lợi, sắc sảo và tư duy lý lẽ mạch lạc của ông. Câu chuyện cậu bé cưỡi bò đối đáp với trọc phú trong làng về tấm bia “hạ mã” khiến đối phương cứng họng là một trong những minh chứng sống động.

Chuyện kể rằng, có lần cậu bé Quyết chăn bò về, phải qua một cánh đồng có lăng mộ thân nhân của lão trọc phú. Ông ta hống hách cho dựng tấm biển “hạ mã” đặt ở hai đầu đường, có ý người cưỡi ngựa qua đây phải xuống dắt bộ qua khu mộ mới được đi tiếp. Thấy cậu bé đứng thẳng trên lưng bò đi qua, trọc phú sai gia nhân bắt giữ, quát hỏi: “Mày có biết phạm tội gì không? Mày không nhìn thấy tấm bia hạ mã này à?”. Cậu bé giả vờ: “Hạ mã là thế nào?”.

Lão trọc phú nói: “Là xuống ngựa, dắt ngựa qua đây để tỏ lòng kính trọng với cụ tổ nhà ta”. Quyết cười sằng sặc: “Thế thì ông sai rồi. Tôi là mục đồng. Từ thượng cổ đến giờ, mục đồng nào mà không cưỡi trâu, cưỡi bò? Không cưỡi mới ngu. Mà ông đề bia xuống ngựa chứ có cấm cưỡi bò đâu. Thôi, tôi về đây kẻo mẹ tôi chờ”. Vừa nói cậu vừa nhảy phắt lên lưng bò. Con bò cong đuôi chạy đi. Lão nhà giàu uất tận cổ vì đuối lý, lại còn bị nói cạnh khóe là ngu.

Không chỉ thông minh, Quyết còn ham học đến mức quên cả việc chăn bò. Có lần nghe trộm bài giảng tại một lớp học gần đường, cậu đứng lặng ngoài ngõ để nghe chuyện về tấm gương hiếu hạnh của Lục Tích. Vì mải mê, bò ăn gần hết vạt khoai của hàng xóm; người mẹ nghèo phải đem chục trứng gà sang xin tha lỗi. Câu chuyện cho thấy cái tâm trong sáng và sự nuôi dưỡng đức hiếu học trong hoàn cảnh cơ hàn.

Lớn lên, Phạm Duy Quyết nổi tiếng đối đáp sắc sảo. Một vị khách của thầy giáo từng thử tài ông bằng câu đối có ý răn dạy chí khí trượng phu. Quyết ứng khẩu đối lại bằng một câu hàm súc, gợi khí tượng bậc đế vương, khiến người khách phải khẳng định: “Đấy là tư tưởng của bậc đại khoa danh”.

Thế nhưng đường khoa cử của ông lại vô cùng lận đận. Dù học giỏi, ông thi mãi vẫn không đỗ, đến ngoài ba mươi tuổi vẫn còn lều chõng long đong. Mãi đến khoa Nhâm Tuất, niên hiệu Quang Bảo 9 (1562) đời Mạc Phúc Nguyên, khi đã 42 tuổi, Phạm Duy Quyết mới đỗ Trạng nguyên.

Trong khoa thi này, ông và người thầy tên là Nguyễn Khắc Kính cùng ứng thí. Vì kính trọng thầy, Duy Quyết có ý định giảm bút lực của mình đi một chút để sao cho bài thi của thầy hơn bài thi của mình. Ông cho rằng đạo thầy trò là thầy phải ở trên trò. Nhưng Nguyễn Khắc Kính đoán được ý nghĩ ấy của học trò bèn nghiêm khắc nói:

“Thầy biết anh thực bụng muốn nhường ngôi thứ cao hơn cho thầy trong khoa thi này, nhưng thầy thấy làm như thế là sai. Anh phải phấn đấu hết sức mình để đạt danh vị cao nhất. Niềm vinh của anh chính là niềm vinh của thầy. Học trò mà vượt hơn thầy, đó chính là điều tốt đẹp trên đời”.

Nghe lời khuyên răn của thầy, Phạm Duy Quyết mới thật yên tâm trổ hết tài nghệ và kiến thức vào các quyển thi. Khoa thi năm ấy, ông đỗ Trạng nguyên, dưới ông một bậc chính là thầy học Nguyễn Khắc Kính, đỗ Bảng nhãn.

Theo sử liệu, Trạng nguyên Phạm Duy Quyết làm quan thanh liêm, giản dị, giữ các chức vụ quan trọng như Đông Các đại học sĩ, Tả thị lang, rồi Thượng thư bộ Lại. Sau này, ông được phong tước Xác Khê hầu. Gắn bó với quê nhà, ông từng tâu xin triều đình cho đắp con đường từ Xác Khê qua Thanh Lâm đến bến Hoàng Kênh, giúp dân đi lại an toàn. Con đường ấy về sau được gọi là “Dặm Tiều”, trở thành địa danh lưu truyền trong câu nói dân gian: “Thứ nhất thì dặm bà Hoa, thứ nhì dặm Liệt, thứ ba dặm Tiều”.

TRẦN SIÊU/ GDTD

KÍNH MỜI XEM và HỌA (NẾU THÍCH) THƠ TRĂNG THU của HỒ NGUYỄN

TRĂNG THU Mây buồn kéo đám bám che trăng, Cuội ngóng chờ trông bóng chị Hằng. Chim mất tổ sầu kêu thảm thiết, Lá buông cành chiếc rớt tung ...