Hiển thị bài đăng được sắp xếp theo ngày cho truy vấn võ quang Yến. Sắp xếp theo mức độ liên quan Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị bài đăng được sắp xếp theo ngày cho truy vấn võ quang Yến. Sắp xếp theo mức độ liên quan Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 8 tháng 2, 2025

NGÀY MỚI ĐẦU NĂM -Thơ Duy Anh và Bài Họa của Các Thi Hửu


                        NGÀY MỚI ĐẦU NĂM

Thức dậy, kéo rèm, đón cái hên!

Vợ còn say ngủ, cuộn ôm mền.

Êm êm hơi thở đều kề cạnh

Dịu dịu mùi hương thoảng kế bên.

Sương muối ngoài vườn đang đọng lá

Bài thơ trong trí đã thành tên...

Nhâm nhi thưởng thức cà-phê sáng

Ngày Mới Đầu Năm, nắng đã lên!

DUY ANH

 1/1/2025


Thơ Họa:

 

BUỔI SÁNG ĐẦU NĂM

 

Lâu rồi quên bẵng chuyện xui, hên

Dẫu biết minh niên, vẫn quấn mền

Xác lão nằm trơ vơ giữa tết

Tay gầy níu rỗng trống hai bên

Vườn sau rộn bướm ong mừng tuổi

Ngõ trước vang tùng bách xướng tên

Hội trẩy xuân đời vui chúc tụng

Lửa lòng tôi nhóm đợi bùng lên

Lý Đức Quỳnh

    1/1/2025

 

SÁNG ĐẦU NĂM

 

Năm mới rồi ư , thấy quá hên

Đạp tung tất cả mớ chăn mền

Ra vườn chạnh nhớ, người xa tít

Vô bếp thả buồn, lửa sát bên

Lời hát mừng Xuân nghe rộn tuổi

Bài thơ chúc Tết gởi quen tên

Chờ nhau xông đất, cùng thăm viếng

Hoa nở ngạt ngào hương ngát lên …

   Hawthorne  31 - 12 - 2024

CAO MỴ NHÂN

 

MÌNH HÊN!

 

Năm sang hy vọng mọi điều hên,

Vợ vắng mình ên chỉ có mền.

Một bóng phòng không trơ kẻ cạnh,

Cô đơn chỉ có gối mền bên.

Ngoài hiên gió thổi lao xao lá,

Cạnh góc nhà kề vẳng gọi tên.

Trằn trọc suốt năm canh đến sáng,

Giựt mình cửa đập gọi “mau lên!”

                           *

Vẳng bên hàng xóm tiếng “mình hên!”

HỒ NGUYỄN

 (01-01-2025)

 

CẦU

 

Cầu chúc đôi người sẽ được hên

Xuân nầy được đắp lên da mền

Không cần vào bếp hơ hơi lửa

Chẳng muốn ra ngoài ngắm khói bên

Ai đốt pháo hoa vui đón tết

Mình nhìn khung cảnh vẻ ra tên

Cà phê buổi sáng cùng chiêm ngưỡng

Thời khắc êm đềm khẽ nói lên.

2024-0101

  Võ Ngô

 

THỬ VẬN ĐẦU NĂM.

 

Thử vận ngày đầu thiệt quá hên!!?

Bầu cua thua đậm mặt như mền

Bài cào bù mãi chung trơn túi

Xì dách hoắt hoài chạy đổi bên

Tiu nghỉu về nhà, lòng trách dạ

Âm thầm vô cửa, vợ kêu tên

Bao ngày dành dụm giờ bay sạch

Bà xã cằn nhằn,nổi đóa lên!!

LAN.

     (01/01/2024).

 

KHAI BÚT CHÀO NĂM MỚI

 

Thức trọn đêm đầu để lấy hên

Liền tay gõ phím …chẳng quên mền

Từng dòng chậm rãi dàn trãi cạnh

Bấy chỗ lừng khừng gạt xuống bên

Ngẫm lại suy đi chưa thuận ý

Truy cùng xét lại nỏ hợp tên

Nghiêng đầu một lúc trời đà sáng

Tỉnh dậy nom trời rạng hẳn lên…

Mai Vân-VTT

   01/01/25

 

ĐÔNG TỚI NƠI RỒI

 

Thức dậy,nhìn ra,số thật hên

Trời đông ấm áp ẩn trong mền

Bạc phơ tóc trắng còn kề cận,

Nhăn dúm đã mồi vẫn cạnh bên

Bạn hữu nhiều khi không nhớ tuổi

Người quen lắm lúc lại quên tên

Quên quên nhớ nhớ vui là thế

Sáng đợi chim ca,ánh nắng lên

ThanhHoà

 

CỤ TÚ THAN

 

Buồn thay chỉ thấy rủi nào hên!

Được tiếng đăng khoa cụ Tú Mền (*)

Bèn ả phù dung kề tận miệng,

Thêm nàng đào hát cặp kè bên?

Bao lần vác chõng vẫn là Tú,

Mấy lượt đề bảng chẳng có tên.

Khoa bảng ngày xưa sao khó thế!

Để đồ này ngóng muốn điên lên!

Đỗ Quang Vinh

ngày đầu năm 2025

Chú Thích:

(*) Tú, kép, mền, đụp là tên gọi dân gian chỉ các lần đỗ Tú tài trong khoa bảng nước ta thời phong kiến. Khoa thi Hương ở nước ta được tổ chức lần đầu tiên vào năm 1396 đời Trần Thuận Tông. Thi Hương được tổ chức tại các trường (“Hương” có nghĩa là quê hương của người thi), nhưng không phải tỉnh nào cũng được tổ chức. Trường thi chia ra làm nhiều vùng. Ba bốn trấn hoặc tỉnh cùng thi ở một nơi, thí dụ trường Nam là tập trung thí sinh ở các tỉnh chung quanh Nam Định, trường Hà tập trung thí sinh các tỉnh chung quanh Hà Nội...

Các đời vua Lê Thái Tông (1434-1439), Lê Nhân Tông (1443-1453), quy định thi Hương có 4 kỳ, gọi là bốn trường. Kỳ 1: kinh nghĩa, thư nghĩa; Kỳ 2: chiếu, chế, biểu; Kỳ 3: thơ phú; Kỳ 4: văn sách. Nếu thi qua cả bốn kỳ thì được đỗ Hương cống (sau năm 1828 gọi là Cử nhân). Ông Cống, ông Cử được bổ dụng làm quan ở các cơ quan cấp tỉnh, cấp trung ương, hoặc được đi làm quan các huyện, sau dần dần mới lên các chức vụ cao hơn. Nếu chỉ thi qua được 3 kỳ thì đỗ Sinh đồ (sau năm 1828 gọi là Tú tài), dân gian gọi ông Đồ, ông Tú có nguồn gốc từ đó. Tuy có tiếng thi đỗ nhưng các ông Đồ, ông Tú này thường không được bổ dụng ra làm quan. Nhiều người đi thi lại nhiều lần để cố đạt cho được học vị Cử nhân. Bởi theo lệ thường, những người đỗ Tú tài phải thi Hương lại cho đến khi nào đỗ Cử nhân mới được vào thi Hội. Vì thế, mới có những vị Tú Kép hay “ông Kép” (đỗ 2 khoa Tú tài), Tú Mền hay “ông Mền” (đỗ 3 khoa Tú tài), Tú Đụp hay “ông Đụp” (đỗ 4 khoa Tú tài).

Ở nước ta có nhà thơ Trần Tế Xương (1870-1907) người làng Vị Hoàng, thành phố Nam Định, đi thi trước sau 8 khoa nhưng vẫn chỉ đỗ Tú tài. Dân gian chỉ gọi tới mức 4 lần đỗ Tú tài là Tú Đụp, với nhà thơ Thành Nam đỗ 8 lần Tú tài, dân gian không biết gọi thế nào, chỉ đơn giản gọi là “Tú Xương”.

Dưới Tú Xương một bậc là người đồng hương Nam Định với ông, ông Đặng Viết Hòe đỗ 7 lần Tú tài, người làng Hành Thiện, nay thuộc xã Xuân Hồng, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định. Ông Hòe đỗ đến 3 lần Tú tài thì được dân làng gọi là “Mền Hòe”, ở nhà dạy con mình là Đặng Xuân Bảng và tiếp tục đi thi mấy khoa nữa. Xuân Bảng đỗ Tú tài năm 18 tuổi (năm 1846), đến khoa thi sau lại đỗ Tú tài một lần nữa, người đời gọi ônglà “Kép Bảng”. Đến năm 22 tuổi, triều vua Tự Đức, ông đỗ Cử nhân, được bổ làm Giáo thụ phủ Ninh Giang (Hải Dương).

Khoa thi Bính Thìn 1856, Xuân Bảng 28 tuổi, vào Huế thi Hội và đỗ Tiến sĩ, đỗ thứ nhì khoa ấy. Văn sách bài thi của ông lẽ ra đáng đỗ Hoàng giáp, nhưng cuối bài có câu can vua về thanh sắc tuần du khiến vua không ưng, hạ mức đỗ xuống đầu tam giáp Tiến sĩ. Khi vào lĩnh mũ áo, dự yến tiệc xong, vua hỏi “Người ở nhà học ai?”, Xuân Bảng bẩm: “Tâu bệ hạ, từ thuở bé đến lớn, hạ thần chỉ học cha ở nhà thôi”. “Cha ngươi đỗ gì?”. “Tâu bệ hạ, cha hạ thần đỗ bảy khoa Tú tài”. Vua liền ban cho bốn chữ “Giáo tử đăng khoa” (Cha dạy con thi đỗ Đại khoa). Như thế cũng đủ an ủi phần nào cho người cha 7 lần đỗ Tú tài!

 

GIAO THỪA

 

Giao thừa năm mới thức cầu hên

Ngái ngủ ông kêu bà quấn mền

Thêm nữa ngủ ngon rồi sẽ tính

Dần dà cứ sát cạnh gần bên

Đầu làng chuông đổ chùa kinh sáng

Mừng tuổi cháu con đứng nhắc tên

Nắng ấm ửng hồng chim ríu rít

Bình minh êm đẹp hẳn tươi lên ..

 Yên Hà

1/1/2025

 

HẠNH PHÚC ĐẦU NĂM

 

Sát Tết mà còn gặp dịp hên

Được mua giảm giá bộ drap mền

Cho con ấm dạ nằm kề cận

Để vợ an lòng ngủ kế bên

Trời lạnh càng thêm in đậm Tết

Thân mềm lại khiến khắc sâu tên

Gia đình hạnh phúc mừng xuân mới

Câu hát yêu đời ngân vút lên...

  Sông Thu

( 02/01/2025 )

 

XUÂN MỚI

 

Thức trọn countdown để được hên

Hải Đường ngày ấy vẫn nằm bên

Đầu kề chân tựa nghiêng làm gối

Thân giữ  chăn bao cuộn lấy mền

Tin nhắn vừa trao liền đáp bạn

Email sắp gởi mãi tìm tên

Bình minh ló dạng sau rèm cửa

Tia nắng xuân nồng ấm hẳn lên

Hưng Quốc

       Texas 1-1-2025

 

NĂM MỚI CHỜ AI

 

Cảm thấy sao mình có cái hên

Chắc là bởi áo ấm như mền

Cà phê trăng lạnh ai thương mến

Đêm giá khoác vai ngồi cạnh bên

Tình nở hoa chờ năm mới đến

Lòng vang nhạc điệp khúc không tên

Đời còn tựa bóng thuyền trên bến

Gặp được người trong mộng bước lên…

Hải Rừng

4/1/2025

 

NGÀY MỒNG MỘT

 

Yên bình thức dậy ước điều hên

Chẳng thể nằm thêm xếp dọn mền

Hứng thú chào Xuân cười vợ cạnh

Vui mừng đón Tết kéo con bên

Ngày đầu thảo chữ liền khai bút

Phút kế so đề sẵn đặt tên

Nắn nót bài thơ nhìn thỏa mãn

Sân ngoài bướm lượn nắng vừa lên

  Minh Thúy Thành Nội

Tháng 1/4/2025

 

NGÀY MỚI

 

Chỉ toàn võ đoán có chi hên

Cần phủ cho xong cứ lấy mền

Do Thái Gaza thôi ấy cạnh

Uk Xô Viết cũng ngay bên

Bom  rơi ít nhất tiêu vài đứa

Đạn nổ không thua chết chục tên

Nhìn đó xem kìa ra lóa mắt

Nỗi đau tự nó cứ trồi lên.

Thái Huy

Jan/06/25

 

CHÚC BẠN NĂM MỚI

 

Giao thừa chúc bạn gặp toàn hên

Mọi sự hanh thông khỏi đắp mền

Tết nhất tưng bừng tiền của đến

Tinh thần rạng rỡ cuộc đời lên

Thuyền xuân dậy sóng ngời bờ bến

Gia tộc khai nguồn thắm tuổi tên

Quý hữu thương yêu và cảm mến

Nàng thơ đẹp đẽ khoái gần bên.

 Đức Hạnh

18 01 2025

 

MONG MỎI ,

 

Đợi Tết khấn xin những chuyện hên

Đẩy xa phiền toái quấn chăn mền

Đêm ngày lần lửa chưa hề dứt

Năm tháng dằng co cứ nhặng lên

Đôi lúc lo âu đeo bám trụ

Nhiều khi rối rắm khuấy nên tên

Thôi thì chớ để điều xui ám

Mong mỏi xuân nay khởi sắc lên !

PHƯỢNG HỒNG



Thứ Năm, 2 tháng 1, 2025

NGÀY MỚI ĐẦU NĂM - Thơ Duy Anh Và Bài Họa Của Các Thi Hửu


NGÀY MỚI ĐẦU NĂM

Thức dậy, kéo rèm, đón cái hên!
Vợ còn say ngủ, cuộn ôm mền.
Êm êm hơi thở đều kề cạnh
Dịu dịu mùi hương thoảng kế bên.
Sương muối ngoài vườn đang đọng lá
Bài thơ trong trí đã thành tên...
Nhâm nhi thưởng thức cà-phê sáng
Ngày Mới Đầu Năm, nắng đã lên!
DUY ANH (01/01/2025)


Thơ Họa:

1./ BUỔI SÁNG ĐẦU NĂM

Lâu rồi quên bẵng chuyện xui, hên
Dẫu biết minh niên, vẫn quấn mền
Xác lão nằm trơ vơ giữa tết
Tay gầy níu rỗng trống hai bên
Vườn sau rộn bướm ong mừng tuổi
Ngõ trước vang tùng bách xướng tên
Hội trẩy xuân đời vui chúc tụng
Lửa lòng tôi nhóm đợi bùng lên
Lý Đức Quỳnh
1/1/2025

2./ SÁNG ĐẦU NĂM

Năm mới rồi ư , thấy quá hên
Đạp tung tất cả mớ chăn mền
Ra vườn chạnh nhớ, người xa tít
Vô bếp thả buồn, lửa sát bên
Lời hát mừng Xuân nghe rộn tuổi
Bài thơ chúc Tết gởi quen tên
Chờ nhau xông đất, cùng thăm viếng
Hoa nở ngạt ngào hương ngát lên …
Hawthorne 31 - 12 - 2024
CAO MỴ NHÂN



3./ CẦU


Cầu chúc đôi người sẽ được hên
Xuân nầy được đắp lên da mền
Không cần vào bếp hơ hơi lửa
Chẳng muốn ra ngoài ngắm khói bên
Ai đốt pháo hoa vui đón tết
Mình nhìn khung cảnh vẻ ra tên
Cà phê buổi sáng cùng chiêm ngưỡng
Thời khắc êm đềm khẽ nói lên.
2024-0101
Võ Ngô


HỌA 4 : MÌNH HÊN!

Năm sang hy vọng mọi điều hên,
Vợ vắng mình ên chỉ có mền.
Một bóng phòng không trơ kẻ cạnh,
Cô đơn chỉ có gối mền bên.
Ngoài hiên gió thổi lao xao lá,
Cạnh góc nhà kề vẳng gọi tên.
Trằn trọc suốt năm canh đến sáng,
Giựt mình cửa đập gọi “mau lên!”
*
Vẳng bên hàng xóm tiếng “mình hên!”
HỒ NGUYỄN (01-01-2025)


HỌA 5 : THỬ VẬN ĐẦU NĂM.

Thử vận ngày đầu thiệt quá hên!!?
Bầu cua thua đậm mặt như mền
Bài cào bù mãi chung trơn túi 
Xì dách hoắt hoài chạy đổi bên 
Tiu nghỉu về nhà, lòng trách dạ
Âm thầm vô cửa, vợ kêu tên 
Bao ngày dành dụm giờ bay sạch 
Bà xã cằn nhằn,nổi đóa lên!!
LAN.
(01/01/2024).


HỌA 6 :KHAI BÚT CHÀO NĂM MỚI

Thức trọn đêm đầu để lấy hên
Liền tay gõ phím …chẳng quên mền
Từng dòng chậm rãi dàn trãi cạnh
Bấy chỗ lừng khừng gạt xuống bên
Ngẫm lại suy đi chưa thuận ý
Truy cùng xét lại nỏ hợp tên
Nghiêng đầu một lúc trời đà sáng
Tỉnh dậy nom trời rạng hẳn lên…
Mai Vân-VTT, 01/01/25.

HỌA 7 :   GIAO THỪA

Giao thừa năm mới thức cầu hên 
Ngái ngủ ông kêu bà quấn mền 
Thêm nữa ngủ ngon rồi sẽ tính 
Dần dà cứ sát cạnh gần bên 
Đầu làng chuông đổ chùa kinh sáng 
Mừng tuổi cháu con đứng nhắc tên 
Nắng ấm ửng hồng chim ríu rít 
Bình minh êm đẹp hẳn tươi lên ..
                     Yên Hà 
                    1/1/2025 


HỌA 8 :CỤ TÚ THAN

Buồn thay chỉ thấy rủi nào hên!
Được tiếng đăng khoa cụ Tú Mền (*)
Bèn ả phù dung kề tận miệng,
Thêm nàng đào hát cặp kè bên?
Bao lần vác chõng vẫn là Tú,
Mấy lượt đề bảng chẳng có tên.
Khoa bảng ngày xưa sao khó thế!
Để đồ này ngóng muốn điên lên!
Đỗ Quang Vinh 
phụng họa
ngày đầu năm 2025

HỌA 9 :HẠNH PHÚC ĐẦU NĂM

Sát Tết mà còn gặp dịp hên
Được mua giảm giá bộ drap mền
Cho con ấm dạ nằm kề cận
Để vợ an lòng ngủ kế bên
Trời lạnh càng thêm in đậm Tết
Thân mềm lại khiến khắc sâu tên
Gia đình hạnh phúc mừng xuân mới
Câu hát yêu đời ngân vút lên...
Sông Thu
( 02/01/2025 )


HỌA 10./ XUÂN MỚ


Thức trọn countdown để được hên

Hải Đường ngày ấy vẫn nằm bên

Đầu kề chân tựa nghiêng làm gối

Thân giữ  chăn bao cuộn lấy mền

Tin nhắn vừa trao liền đáp bạn

Email sắp gởi mãi tìm tên

Bình minh ló dạng sau rèm cửa

Tia nắng xuân nồng ấm hẳn lên 

Hưng Quốc 

Texas 1-1-2025


Họa 11 : [Cảm họa: “NGÀY MỚI ĐẦU NĂM” thơ - DUY ANH]

***

CHÚC BẠN NĂM MỚI

 

Giao thừa chúc bạn gặp toàn hên

Mọi sự hanh thông khỏi đắp mền

Tết nhất tưng bừng tiền của đến

Tinh thần rạng rỡ cuộc đời lên

Thuyền xuân dậy sóng ngời bờ bến

Gia tộc khai nguồn thắm tuổi tên

Quý hữu thương yêu và cảm mến

Nàng thơ đẹp đẽ khoái gần bên.

 

Đức Hạnh

18 01 2025


Chú Thích của Đỗ Quang Vinh:
(*) Tú, kép, mền, đụp là tên gọi dân gian chỉ các lần đỗ Tú tài trong khoa bảng nước ta thời phong kiến. Khoa thi Hương ở nước ta được tổ chức lần đầu tiên vào năm 1396 đời Trần Thuận Tông. Thi Hương được tổ chức tại các trường (“Hương” có nghĩa là quê hương của người thi), nhưng không phải tỉnh nào cũng
được tổ chức. Trường thi chia ra làm nhiều vùng. Ba bốn trấn hoặc tỉnh cùng thi
ở một nơi, thí dụ trường Nam là tập trung thí sinh ở các tỉnh chung quanh Nam Định, trường Hà tập trung thí sinh các tỉnh chung
quanh Hà Nội...

Các đời vua Lê Thái Tông (1434-1439), Lê Nhân Tông (1443-1453), quy định thi
Hương có 4 kỳ, gọi là bốn trường. Kỳ 1: kinh nghĩa, thư nghĩa; Kỳ 2: chiếu, chế, biểu; Kỳ 3: thơ phú; Kỳ 4: văn sách. Nếu thi qua cả bốn kỳ thì được đỗ Hương cống (sau năm 1828 gọi là Cử nhân). Ông Cống, ông Cử được bổ dụng làm quan ở các cơ quan cấp tỉnh, cấp trung ương, hoặc được đi làm quan các huyện, sau dần dần mới lên các chức vụ cao hơn. Nếu chỉ thi qua được 3 kỳ thì đỗ Sinh đồ (sau năm 1828 gọi là Tú tài), dân gian gọi ông Đồ, ông Tú có nguồn gốc từ đó. Tuy có tiếng thi đỗ nhưng các ông Đồ, ông Tú này thường không được bổ dụng ra làm quan. Nhiều người đi thi lại nhiều lần để cố đạt cho được học vị Cử nhân. Bởi theo lệ thường, những người đỗ Tú tài phải thi Hương lại cho đến khi nào đỗ Cử nhân mới được vào thi Hội. Vì thế, mới có những vị Tú Kép hay “ông Kép” (đỗ 2 khoa Tú tài), Tú Mền hay “ông Mền” (đỗ 3 khoa Tú tài), Tú Đụp hay “ông Đụp” (đỗ 4 khoa Tú tài).

Ở nước ta có nhà thơ Trần Tế Xương (1870-1907) người làng Vị Hoàng, thành
phố Nam Định, đi thi trước sau 8 khoa nhưng vẫn chỉ đỗ Tú tài. Dân gian chỉ gọi tới mức 4 lần đỗ Tú tài là Tú Đụp, với nhà thơ Thành Nam đỗ 8 lần Tú tài, dân gian không biết gọi thế nào, chỉ đơn giản gọi là “Tú Xương”.
Dưới Tú Xương một bậc là người đồng hương Nam Định với ông, ông Đặng Viết
Hòe đỗ 7 lần Tú tài, người làng Hành Thiện, nay thuộc xã Xuân Hồng, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định. Ông Hòe đỗ đến 3 lần Tú tài thì được dân làng gọi là “Mền Hòe”, ở nhà dạy con mình là Đặng Xuân Bảng và tiếp tục đi thi mấy khoa nữa. Xuân Bảng đỗ Tú tài năm 18 tuổi (năm 1846), đến khoa thi sau lại đỗ Tú tài một lần nữa, người đời gọi ônglà “Kép Bảng”. Đến năm 22 tuổi, triều vua Tự Đức, ông đỗ Cử nhân, được bổ làm Giáo thụ phủ Ninh Giang (Hải Dương). 
Khoa thi Bính Thìn 1856, Xuân Bảng 28 tuổi, vào Huế thi Hội và đỗ Tiến sĩ, đỗ
thứ nhì khoa ấy. Văn sách bài thi của ông lẽ ra đáng đỗ Hoàng giáp, nhưng cuối bài có câu can vua về thanh sắc tuần du khiến vua không ưng, hạ mức đỗ xuống đầu tam giáp Tiến sĩ. Khi vào lĩnh mũ áo, dự yến tiệc xong, vua hỏi “Người ở nhà học ai?”, Xuân Bảng bẩm: “Tâu bệ hạ, từ thuở bé đến lớn, hạ thần chỉ học cha ở nhà thôi”. “Cha ngươi đỗ gì?”. “Tâu bệ hạ, cha hạ thần đỗ bảy khoa Tú tài”. Vua liền ban cho bốn chữ “Giáo tử đăng khoa” (Cha dạy con thi đỗ Đại khoa). Như thế cũng đủ an ủi phần nào cho người cha 7 lần đỗ Tú tài! 


Thứ Tư, 19 tháng 6, 2024

THÀNH NGỮ ĐIỂN TÍCH 111: THỪA, THƯỚC, THƯƠNG (Đỗ Chiêu Đức)

THÀNH NGỮ ĐIỂN TÍCH 111 : 

                 THỪA, THƯỚC, THƯƠNG
                            
                   
                  Trai anh hùng, gái thuyền quyên,
                 Phỉ nguyền sánh phượng đẹp duyên CỞI RỒNG.

      CỞI RỒNG chữ nho là THỪA LONG 乘 龍 có xuất xứ từ thành ngữ THỪA LONG KHOÁI TẾ 乘 龍 快 婿 chỉ có được chàng rể qúy hay có chồng qúy, theo tích sau đây:

      Theo Sách Liệt Tiên Truyện-Quyển thượng 列 仙 傳· 卷 上 : Thời Xuân Thu Chiến quốc, Tần Mục Công có cô con gái yêu là Lộng Ngọc 弄 玉, thích âm nhạc, nhất là thổi tiêu. Một hôm nằm mộng thấy một thanh niên anh tuấn thổi tiêu rất giỏi. Tỉnh ra mới kể với Tần Mục Công, Công bèn cho người đi tìm thanh niên trong mơ của con gái. Tìm đến Minh Tinh Nhai dưới núi Hoa Sơn, quả nhiên gặp được một chàng trai tuấn tú, tiên phong đạo cốt, tên là Tiêu Sử 蕭 史. Sứ giả mời về cung và được Tần Mục Công gả Công chúa Lộng Ngọc cho, lại cất cho một tòa lâu đài để vợ chồng cùng luyện tập thổi tiêu trên đó. Một đêm, vợ chồng đang thổi tiêu dưới ánh trăng, tiếng tiêu réo rắc đã làm cho một con Xích Long 赤 龍 (Rồng màu đỏ) và một con Tử Phụng 紫 鳳 (Phượng màu tím) bay đến. Vợ chồng cùng cởi xích long và tử phụng bay đi. Tần Mục Công cho người đuổi theo đến giữa núi Hoa Sơn thì mất dạng. Bèn cho lập miếu thờ ở Minh Tinh Nhai dưới chân núi Hoa Sơn mãi cho đến hiện nay.

        Tích trên đưa đến thành ngữ THỪA LONG KHOÁI TẾ 乘 龍 快 婿 và THỪA LONG KHÓA PHỤNG 乘 龍 跨 鳳 là Cởi Rồng Cởi Phụng, chỉ vợ chồng cùng lên tiên hay vợ chồng cùng xứng đôi với nhau. Trong Đại "Nam Quốc Sử Diễn Ca" của Lê Ngô Cát và Phạm Đình Toái có câu:

                       Gần xa nức tiếng cung trang,
                 THỪA LONG ai kẻ Đông sàng sánh vai ?

     Còn khi Từ Hải chuộc Thúy Kiều ra khỏi lầu xanh, cụ Nguyễn Du đã hạ câu:

                            Trai anh hùng, gái thuyền quyên,
                 Phỉ nguyền SÁNH PHƯỢNG đẹp duyên CỞI RỒNG.
                   
                       

           THỪA CƠ 乘 機 là Nhân cái cơ hội nào đó; là sẵn dịp may nào đó... như khi dấy binh khởi nghĩa, Từ Hải đã lập nên "Triều đình riêng một góc trời, gồm hai văn võ vạch đôi sơn hà" vì đã biết lợi dụng:

                      THỪA CƠ trúc chẻ ngói tan,
                  Binh uy từ ấy sấm vang trong ngoài.

      Còn khi gạt gẫm để dẫn dụ Thúy Kiều rơi vào bẫy của mình, Sở Khanh cũng đã lý luận với Thúy Kiều là:

                        THỪA CƠ lẻn bước ra đi,
                 Ba mươi sáu chước, chước gì là hơn ?! 

      Muốn cứu vớt người đẹp mà không dám quang minh chính đại bỏ tiền ra để chuộc thân cho nàng mà lại rủ người ta lén bỏ trốn. Qủa là thủ đoạn của một gả Sở khanh có khác!

      THỪA HOAN 乘 歡 là Nhân niềm vui, hay Nhân lúc đang vui vẻ... như khi được Đường Minh Hoàng yêu mến, Dương Qúy Phi đã hết lòng hầu hạ nhà vua không mệt mỏi:

                    乘 歡 侍 宴 無 閒 暇  
           THỪA HOAN thị yến vô nhàn hạ,                  
Có nghĩa :
        - Sẵn niềm vui khi được vua yêu mà hầu hạ nhà vua hết yến tiệc nầy đến yến tiệc khác không có thời gian mào rảnh rổi cả...

      Trong truyện thơ Nôm khuyết danh bằng Thất ngôn Bát cú "Lâm Tuyền Kỳ Ngộ" (Bạch Viên Tôn Các) của ta có câu:

           Một thơ giai lão lên lời chúc,
           Một chữ THỪA HOAN mượn chén khuyên.

                     
                         THƯỚC KIỀU 鵲 橋 : THƯỚC là tên chim có mầu đen, nên còn gọi là Ô Thước 烏 鵲 mà ta hay dịch là Qụa Đen. Thực ra THƯỚC là con Chim Khách. Theo tích xưa khi nghe chim khách kêu là báo hiệu nhà sắp có khách phương xa đến hay là có người đi xa sắp trở về, nên còn gọi là Khách Thước 客 鵲 là Chim Khách. Còn theo thần thoại dân gian trong truyện Ngưu Lang Chức Nữ thì THƯỚC là con chim bắt cầu mỗi năm vào đêm mùng bảy tháng bảy Âm lịch cho Ngưu Lang và Chức Nữ gặp nhau, nên còn gọi là HỈ THƯỚC 喜 鵲 là con chim Thước mang tin vui đến. Còn...
      KIỀU là Cầu, nên THƯỚC KIỀU là Cầu Ô Thước, cây cầu bắt qua sông Ngân Hà cho Ngưu Lang và Chức Nữ hội ngộ nhau trong đêm Thất Tịch. Sau dùng rộng ra cũng để chỉ vợ chồng lâu ngày hội ngộ nhau hoặc trai gái được nên duyên chồng vợ với nhau, như trong truyện thơ Nôm "Từ Thức Gặp Tiên" có câu:

                Ba sinh phận đẹp cưỡi rồng,
     THƯỚC KIỀU sẵn dịp, loan phòng sẵn duyên.

      THƯỚC KIỀU còn được gọi là CẦU Ô, như trong truyện thơ Nôm Phạm Tải -Ngọc Hoa (Phạm Công Cúc Hoa) có câu:

                Đưa thơ tính đã nhiều lần,
         CẦU Ô rắp bắt sông Ngân cùng nàng.

    ...hay còn gọi là CẦU THƯỚC như trong truyện Lâm Tuyền Kỳ Ngộ:

            CẦU THƯỚC phen nầy thênh dịp bước,
            Tấc gang riêng giữ nghĩa chung tình.
               
                     
     Cầu Ô THƯỚC theo truyền thuyết  và  cầu Ô THƯỚC hiện nay ở Tô Châu
        
       THƯƠNG CẨU 蒼 狗 : THƯƠNG 蒼 có bộ THẢO 艹 trên đầu, nên là Màu xanh của cây cỏ. THƯƠNG CẨU là con chó màu xanh, có xuất xứ từ hai câu thơ trong bài Khả Thán Thi 可 嘆 詩 của Thi Thánh Đỗ Phủ:

    Thiên thượng phù vân như bạch y,   天 上 浮 雲 如 白 衣,
    Tư tu cải biến như thương cẩu .       斯 須 改 變 如 蒼 狗。
Có nghĩa :
                      Mây nổi trên trời như áo trắng,
                      Phút giây chợt tựa chó xanh lơ.

    ... để chỉ sự biến đổi mau lẹ và vô chừng của mọi sự việc trên đời nầy, như trong truyện thơ Nôm khuyết danh "Trinh Thử" nàng chuột bạch đã kể lể về thân phận của mình như sau:

                          Thiếp nay ở mé đông lân,
               Vì cơ THƯƠNG CẨU lang quân tếch ngàn.
 
       Trong Cung Oán Ngâm Khúc của Ôn Như Hầu Nguyễn Gia Thiều thì gọi là VÂN CẨU 雲 狗 khi nàng cung phi thất sủng lý luận về cuộc đời:

                                 Lò cừ nung nấu sự đời,
                     Bức tranh VÂN CẨU vẽ người tang thương.
                  
                       
                    TANG THƯƠNG hay THƯƠNG TANG hay THƯƠNG HẢI 滄 海 là Biển (Bể) Xanh, đều là nói gọn lại của thành ngữ THƯƠNG HẢI TANG ĐIỀN 滄 海 桑 田 chỉ cuộc đời biến đổi vô chừng ra ngoài sự ước đoán và suy nghĩ của con người. Thành ngữ nầy có xuất xứ như sau:

       Theo Thái Bình Quảng Ký 太 平 廣 記, quyển 60 Thần Tiên Truyện 神 仙 傳 của Cát Hồng 葛 洪 đời Tấn: Vào đời Hán Hiếu Hoàn Đế có hai tiên nhân, một người là Vương Viễn, tự là Phương Bình; một người là Ma Cô Tiên cô. Có một bận, Vương Phương Bình giáng lâm nhà bạn là Thái Kinh với một đoàn tuỳ tùng tiền hô hậu ủng thật rình rang và ngồi trên tiên xa do năm con rồng kéo đến. Nhưng khi vừa giáng xuống sân nhà thì tất cả tùy tùng đều biến mất, chỉ thấy Vương Viễn uy phong lẫm liệt như một vị tướng quân. Sau khi ra mắt người nhà Thái Kinh, Vương bèn ngẩn đầu lên không trung đưa tay ngoắt ra dấu cho người đi mời Ma Cô Tiên. Một lát sau, sứ giả từ không trung báo xuống: " Ma Cô Tiên Cô bảo rằng đã hơn năm trăm năm chưa gặp được tiên sinh, nhưng vì bận phải đi tuần du tiên đảo Bồng Lai, sẽ đến trong chốc lát". Vương khẻ gật đầu. Ngồi đợi trong giây lát, bỗng  nghe trên không trung tiếng nhạc vang lừng, Ma Cô từ không trung giáng xuống với y trang rực rỡ, tóc mây buông dài trông như cô gái mười tám đôi mươi của thế gian. Sau khi cùng nhau hành lễ, Vương cho người nhà bày tiệc khoản đãi. Chỉ thấy toàn là các loại cây trái hoa qủa được bưng lên trong các mâm chậu thật đẹp, mùi hương của trái cây ngào ngạt khắp phòng.

     Trong buổi tiệc, Ma Cô nói với Vương Viễn rằng: "Kể từ ngày đắc đạo và nhận lấy thiên mệnh tuần tra đến nay, cũng đã ba lần thấy Đông Hải biến thành ruộng dâu. Mới vừa đây, khi tuần tra đảo Bồng Lai, thấy nước biển ở đây đã cạn đi một nửa, chắc biển lại muốn biến thành đất liền nữa rồi!" 

      Vương Phương Bình Thở dài mà rằng: "Đúng vậy, các thánh nhân đều bảo, nước biển đang cạn dần, chắc không bao lâu nữa nơi ấy sẽ là nơi đầy rẫy cả bụi hồng trần!"  Tiệc tan trong một ngày, nhưng ở thế gian đã là cả ngàn năm rồi, mới hay, không gian khác nhau thì thời gian cũng sẽ khác nhau. Trong mắt thần tiên chỉ một thoáng, nhưng ở thế gian thì bãi bể đã hoá nương dâu rồi .
       
                                              
     Điển tích TANG ĐIỀN THƯƠNG HẢI thường được nói gọn lại thành TANG THƯƠNG như trong Cung Oán Ngâm Khúc của Ôn Như Hầu:

                      Phong trần đến cả sơn khê,
               TANG THƯƠNG đến cả hoa kia cỏ này.

    ...hay lấy chữ đầu và chữ cuối mà nói thành TANG HẢI, như trong Truyện Từ Thức gặp Tiên:

                        Nguồn cơn biết ngỏ ai hay,
                Giận cơ TANG HẢI trách ngày thiếu niên.
            
     ...lắm lúc lại chỉ sử dụng một vế THƯƠNG HẢI mà thôi, như trong truyện Lưu Nữ Tướng:

                            Kìa đâu ngàn Sở bãi Tần,
                 Tưởng cơ THƯƠNG HẢI xoay vần kíp sao !

       Thương Hải Tang Điền còn được dịch thẳng ra tiếng Nôm là BÃI BỂ NƯƠNG DÂU, cũng trong Cung Oán của Nguyễn Gia Thiều:

                    Khóc vì nỗi thiết tha sự thế,
                    Ai bày trò BÃI BỂ NƯƠNG DÂU ? 
      
       Còn trong Truyện Kiều thì cụ Nguyễn Du đã mở đầu bằng những câu:

                    Trăm năm trong cõi người ta,
                Chữ TÀI chữ MỆNH khéo là ghét nhau.
                    Trải qua một cuộc BỂ DÂU,
                Những điều trông thấy mà đau đớn lòng.

và cụ đã đão ngược lại thành DÂU BỂ, khi cho Thúy Vân hỏi Kiều một cách thật vô tư đến... đáng trách là:

                       Cơ trời DÂU BỂ đa đoan,
                Một nhà để chị riêng oan một mình.
                      Cớ sao ngồi nhẫn tàn canh,
                Nỗi riêng còn mắc mối tình chi đây ?!

    Trong văn chương cận đại đã ít sử dụng điển tích văn học, nhưng  khi đọc đến bài thơ Sông Lấp của ông tú Vị Xuyên Trần Tế Xương, nghe như có cái gì đó nghèn nghẹn cho sự TANG THƯƠNG BIẾN ĐỔI khi dòng sông Vị Hoàng của quê ông bị lấp, ông đã làm bài thơ với đầy vẻ ưu thời mẫn thế như sau:

                   Sông kia rày đã nên đồng
               Chỗ làm nhà cửa, chỗ trồng ngô khoai
                   Vẳng nghe tiếng ếch bên tai
               Giật mình còn tưởng tiếng ai gọi đò !
                                                                      TTX.
     


      Hẹn bài viết tới !                                                                                                                                 杜 紹 德                                                                                                                 Đỗ Chiêu Đức   

Mời Xem :
 


NHỚ QUÊN - Thơ Sông Thu Và Thơ Họa

NHỚ...QUÊN... Tuổi già lúc nhớ lại khi quên Quên...nhớ...bao phen tạo lụy phiền Chuyện tự xa xưa lòng vẫn nhớ Điều vừa trước mắt dạ liền qu...