Thứ Ba, 1 tháng 6, 2021

Cái Bùa Hộ Mạng - Còn Nổi Đau Nào Hơn Cho Người

 Cái Bùa Hộ Mạng - Còn Nổi Đau Nào Hơn Cho Người


Dựa từ một chút sự thật, chuyện được viết bằng tưởng tượng, người viết tự dựng lại bối cảnh và nhân vật.


    Đoàn người di tản, từ Kontum Pleiku xuống từ mấy ngày đêm qua, không biết là bao nhiêu, phải nói là trùng trùng điệp điệp, cứ nối tiếp nhau, lặng lẽ đi, con đường lộ cũ, đầy bụi màu đỏ nhạt, rộng chỉ vừa một cái xe lính GMC chạy qua, chật cứng không còn khoảng trống, tay bồng tay bế, người trước kẻ sau, già trẻ bé lớn, quanh co, ngoằn ngoèo theo mặt đường, lúc cao lúc thấp, dài chắc cũng hơn cả năm mười cây số. Ở phía trước, không biết là đã đi tới đâu, mặt trời rựng lên, nắng cũng là cái nắng cao nguyên, giữa tháng ba, tờ mờ, chưa gì, đã hừng hực cao xuyên thấu sương rừng buổi sáng, pha chút bụi, xuống đất, cây cỏ dường như khô héo và gầy guộc, ướt đẩm, không thấy màu xanh, vẫn chưa đến mùa mưa. 

    Mới đó mà, trời nóng gay gắt hơn, có tiếng đạn đại bác nổ dữ dội, từng chập một, khá lâu, không phải đụng trận đánh nhau, vì không nghe tiếng súng, từ phía trên xa miệt Phú Túc, đoàn người đứng khựng lại, đưa mắt nhìn nhau chờ rồi, không ai bảo ai dừng lại, khi ngang qua chợ Phú Thiện, phố xá không một bóng người, chỉ thấy đám quạ đen, lửng thửng bay lên bay xuống, lại qua, hàng quán đếm không bao nhiêu cái, cửa kính cửa hở, hàng chữ tên chợ, bên dưới hình lá cờ vàng ba sọc đỏ, vẻ bằng nước sơn đã cũ, lờ mờ, ẩn hiện, nhìn vào trong xa một chút, cái cổng sắt của đường vào chi khu quận, nằm nghiêng một bên lô cốt gát, chất đầy bao cát, sụp xuống một phần, hàng rào kẽm gai chung quanh còn nguyên, bên trong, lác đác chòi canh và mấy dãy nhà tôn tiền chế, cửa mở toang, không có người, trên đất, rãi rác, lưa thưa, vương vải năm ba đống quân phục, nón sắt, nhuộm một màu đất ướt sũng bụi. Người ta lố nhố đứng ngồi, ngơ ngác, đăm chiêu, rã rời, lo lắng chờ, vẫn không thấy ai nhúc nhích như những lần ở các đoạn đường trước, gần trưa, tin từ đám người phía trước truyền đi, quân cộng sản Bắc việt pháo tới tấp vào đoàn người, chỗ đường sắp tới quận Phú Túc, từ bên núi trên cao, vì trong đó, có mấy chục chiếc quân xa và quân lính của VNCH, đi trước, nghe nói nhiều người chết. 

    Cũng như những lần trước, đoàn người lại tiếp tục, lầm lũi, lặng thinh, dắt díu nhau đi, trời đã lưng lửng trưa, đứng gió nhưng bụi mịt mù bụi, gần tới ngã rẽ vào chợ Phú Túc, họ không ngừng hẳn nhưng chậm lại rồi tản ra theo ven lề con đường, trước mặt, lố nhố năm sáu chục người ngồi  gục bên những xác chết, khóc lóc, kêu gào thảm thiết, trên một khoảng đường dài chừng trăm thước, trong kia, hơn phân nửa khu chợ sập nát, lửa vẫn còn âm ỉ cháy, đám người hơn cả trăm, tẻ ra, chạy ùa tới, nhìn quanh từng chỗ, xem ra muốn xem có người chết nào quen không, nhớ thằng bạn cùng khóa, nhận nhiệm sở cùng ngày, phó quận Phú Thiện, chắc cũng đã bỏ quận đi rồi, Duy len vào, đi từ từ quanh một vòng, ở một mé đường bên phía chợ, ngay cạnh bờ cái hố lớn, khá sâu, người đàn bà cúi người, quấn khăn màu hồng quân, bám đầy bụi đường, che kín đầu, mân mê hai bàn tay buông thòng trên ngực của cái xác chết đàn ông, nằm nửa trên nửa dưới miệng hố, lầm thầm nhưng không khóc mặc cho mấy người kế bên đó không xa, bù lu bù loa nước mắt. Duy bước lại gần, nhìn xuống cũng cùng lúc, người đàn bà quay lại, Duy giựt thót người, buộc miệng gọi “chị Đông”, chị níu lấy tay Duy run rẩy nghẹn ngào “ông Phó, ảnh chết rồi”, Duy ngồi xuống bên xác anh Đông, nước mắt ràn rụa, lắc đầu “trời ơi”. 

*

    Ra trường, Duy lên Kontum, nhận chức vụ Phó quận trưởng quận Kontum, thay cho một người khóa đàn anh đổi về Ninh Thuận, mang tiếng là quận châu thành nhưng nằm cách tỉnh lỵ, trên một cái đồi thấp, độ chừng hai ba cây số, không có nhà cửa gì nhiều, trừ chi khu, đối diện phía bên kia con đường, xem ra đông đảo lính tráng ra vào, bên này ngày nào cũng như ngày nào, vắng vẫn vắng, dù ngoài đường vẫn có người có xe chạy qua chạy lại. Văn phòng quận có chừng hơn hai mươi nhân viên, nhiều chị hơn là anh, lớn tuổi hơn Duy nhiều, làm việc dưới quyền của bốn người trưởng ban, anh Đông, trường ban công vụ, trẻ nhất nhưng cũng đã gần 40, anh bị thương tay trái, cong đi một chút xíu, hỏi ra, là người Kontum, dân Phương Quý, đi lính, bị thương rồi, xin được vào làm thư ký cho tòa hành chánh tỉnh, sau đó xuống làm dưới quận chừng chục năm nay, hiền hậu vui tính, cởi mở, vợ anh, chị Diên, cũng người ở đây, có cái sạp nhỏ bán quần áo ngoài đầu chợ, hai vợ chồng không có con, nhà ở phía sau nhà thờ chánh tòa không mấy xa.  

   Mấy ngày đầu, đang chờ tỉnh lo xe, không như Hòa, thằng bạn cùng khóa, nhận quận Dak Tô, cái quận đã bị quân Bắc việt đánh chiếm trong chiến dịch “xuân hè năm 1972” của họ, chuyển về đèo Sao Mai, “ăn nhờ ở đậu”trên phần đất của quận châu thành, thế mà chân ước chân ráo, hôm trước hôm sau, hắn đã có được chiếc xe Ford Bronco, không mới nhưng còn ngon lành, anh Đông sáng nào cũng lái xe Honda qua biệt điện, ngay đầu cầu vào tình lỵ, bên giòng Dakbla, con sông nước chảy ngược, nơi mấy tên công chức độc thân từ miền xa về đây làm việc ở, cho Duy quá giang đi làm, buỗi trưa cũng vậy, tới giờ nghỉ anh đưa về lại chợ, tới nhà hàng Bạch Đằng ăn cơm, với mấy thằng bạn trưởng ty khác, anh cũng nhất định mời Duy về nhà ăn cơm chiều cho bằng được, nhiều lần quá, rồi cũng phải nhận lời vài hôm, sợ anh chị buồn, chị Diên nói với anh “thấy ông phó, xa nhà, còn nhỏ mà thương”. Chẳng những vậy, chị còn mua một nãi chuối lớn trái, no tròn, với mấy cây nhang thơm, mang tới để Duy cùng mấy người bạn khác, đem ra cúng ở một gốc cây lớn, bên bờ sông, ngay trước cửa biệt điện, để “ra mắt vong hồn linh thiêng khuất mặt, vì là người lạ mới tới, xin phù hộ được bình an may mắn”.

    Buổi sáng, chờ mấy anh lính bên chi chu chuẩn bị xe, súng ống, đưa Duy xuống tham dự buổi họp, chuẩn bị bầu cử “hội đồng xã” cho xã Dak Tram, một xã đa số là người thượng sắc tộc Ba Na, trung tá Lộc, quận trưởng qua phòng làm việc của Duy, sau khi dặn dò Duy đi đứng nhớ cẩn thận, rồi cười cười hỏi “ông làm sao mà văn phòng, từ trên xuống dưới,  lúc này làm việc siêng năng và hát hò vui vẻ quá vậy”, Duy chẳng nghỉ ra điều đó, thật tình hỏi lại ông “dạ có vậy sao trung tá”, ông lại cười “ông cứ kêu từng nhân viên một vào hỏi đi, họ nói cho tôi biết đó”. Ông đi ra không lâu, thì anh Đông khệ nệ cặp xách đựng giấy tờ bước vào, đứng chờ, nhưng xem ra chần chừ muốn nói gì đó, Duy đoán vậy, chưa kịp lên tiếng, anh tháo sợi dây chỉ nhiều màu thật đẹp, giống như sợi dây chuyền đeo cổ, có treo một túi vải lụa nhỏ khoảng ba lóng tay, màu xanh dương đậm, không dầy lắm, đường chỉ may rất khéo, chậm rãi, vừa nói vừa đưa cho Duy “đây là cái túi hay cứ gọi là bùa hộ mạng, tôi mang theo người, trên xứ rừng này, nhiều hiểm nguy, rũi ro khó đoán trước được, ông phó không quen nước quen cái, cho nên, tôi biếu ông, ông mang nó để phòng thân, tai qua nạn khỏi”, nghe anh Đông nói vậy, rồi chợt nhớ tới đọc mấy cuốn sách “Ai hát giữa rừng khuya hay Thần hỗ” của TCHYA, Duy ngờ ngợ, cầm lấy, cám ơn rồi đeo vào cổ, bỏ lòn vào trong áo thung màu xanh rêu của lính, anh Đông khoan khoái, bỏ ra, lên ngồi trên xe trước, vì hôm nay anh tháp tùng theo Duy, và anh Đông cũng biết chút ít tiếng Ba Na, nên đở được nhiều chuyện, Duy  dặn anh lính người Thượng, gát phòng làm việc, nhớ đóng cửa cẩn thận trước khi về, vì chiều này có lẽ anh sẽ về trễ, không ghé lại đây. Trên đường đi, Duy hỏi anh Đông, về lời trung tá Lộc nói khi nãy, thì được anh cho biết “ ông phó trước, cũng trạc tuổi anh, người Bắc, khó tánh và nghiêm nghị nguyên tắc, không khí quan quyền cho nên văn phòng làm việc lúc nào cũng im phăng phắt, ai nấy cũng ù lì ra, không hăng hái, làm cho xong việc thôi, theo kiểu hết giờ hết việc, nhưng từ hôm ông phó lên thay, ai hát ai ca cái gì cũng được, bàn này bàn kia, ồn ào cười nói, cảm thấy hứng thú hơn trước, nhất là mấy chị cứ, một ông phó hai cũng ông phó, chắc vì vậy mà trung tá mới hỏi ông phó”. 

    Trước tết vài ngày, trên đường xuống xã Kon Dào, họp với xã để tìm chỗ làm địa điểm hồi cư cho một số dân chạy lánh nạn, về lại quận, trời mới quá xế trưa, cũng có năm ba người lính nghĩa quân quận đi theo như thường lệ, đám Duy bị phục kích tại một khoảng rẫy trồng mì rộng, rậm rạp không khác khu rừng, dọc đường lộ, cách ngã ba khỏi chợ xã khá xa, chắc là do quân du kích địa phương làm, vì họ bắn xối xả nhiều loạt súng trung liên nào đó, chát chúa, liên tục rồi ngưng ngay, hai chiếc xe không hề hấn gì, Duy không sao nhưng có anh nghĩa quân ngồi cuối xe, bị đạn trúng nhẹ ở cánh tay phải, không biết có phải là do cái bùa của anh Đông cho mà Duy đeo trong người linh ứng, sau lần thoát nạn đó, Duy cảm thấy an tâm và gìn giữ nó như là một báu vật, buổi sáng hôm sau, khi vào văn phòng, câu đầu tiên mà anh Đông hỏi Duy là “ông phó có đeo cái bùa theo không”. 

    Trời Kontum bây giờ là mùa khô, sau Tết, như thường lệ, cuối tuần nào cũng vậy, cả đám bạn bè, trưởng ty, phó quận độc thân xa nhà như Duy, trưa thứ bảy, cơm nước xong, kéo nhau xuống Pleiku chơi cho đở buồn, vì ở dưới, ít nhất là bản doanh của quân đoàn 2, có này có nọ, chứ trên Kontum này, không biết vui chỗ nào, cái rạp chiếu bóng duy nhất, khi chiếu khi không, phim thì ai cũng biết rồi, xứ gió lạnh mưa mù này thì khỏi hỏi, phố xá đi lên đi xuống, không bao lâu thì trời đã tối xầm, đèn đường vàng vàng vỏ vỏ, buồn hơn ba tiếng “buồn muôn thuở”, xuống nhập bọn với đám ở Pleiku, ít ra cũng có Phượng Hoàng, tiếng nhạc xập xình, thương vay khóc mướn, có bài bạc, có khu Hoàng Diệu, đèn xanh đèn đỏ để mà chọn mà lựa, mặc cho đường phố mù mờ bụi đỏ. Còn ham vui, chủ nhật hôm sau, Duy với thằng bạn trưởng ty Nội an Kontum ở lại cho tới gần chiều mới chịu rời Pleiku, trong khi mấy người khác đã về trước từ giữa trưa. Trời vẫn còn nắng khi hai người ra khỏi thành phố, nhưng lại tối nhanh không ngờ, xe ngang qua khoảng đèo Chu Pao, ngọn đồi không còn trọc như những ngày hai bên quân VNCH và cộng sản Bắc việt quần thảo nhau, trong trận đánh họ định chiếm Kontum của năm 1972 nhưng bất thành, súng đại liên từ trên một hốc đá trên đồi, bắn xối xả như mưa xuống hướng xe Duy đang tới, thằng bạn trưởng ty cầm lái xe, nhấn ga phóng như điên, tối tăm mặt mủi, Duy cũng nhắm mắt cầu trời, cũng may, về tới văn phòng quận Dak Tô của Hòa, mới chịu ngừng, hai người hú hồn ngồi trên xe thở dốc, trời tối thật tối, Hòa cầm đèn pin cùng với thiếu tá Hiến, quận trưởng đi ra, nhìn nhau cười mà không nói gì hết.

    Gần giữa tháng ba, Ban Mê Thuộc mất, trung tá Lộc được gọi về bộ quốc phòng, không biết chuyện gì nhưng trước khi từ giã quận, ông căn dặn Duy “cẩn thận, lo giữ thân, vì ông thấy tình hình này không ổn lắm đâu, có gì thì cố về Pleiku càng nhanh càng tốt”, chưa có quận trưởng mới thay, nên mọi việc, do Duy và thiếu tá Chi khu phó lo liệu. Sau hôm trung tá Lộc đi chừng hai ba ngày, giữa đêm, quân Bắc Việt pháo và cho tràn một số quân tấn công vào tỉnh lỵ Kontum, pháo rớt trúng chợ, khu nhà thương phế binh, trên sông Dakbla, nhà ông phó tỉnh trưởng, bộ chỉ huy Cảnh sát, văn phòng cố vấn Mỹ, sát cạnh rào biệt điện, có người chết, may mắn, biệt điện chỗ Duy ở, lại không bị hề hấn gì, lính Biệt động quân cùng địa phương quân tỉnh, chống trả mãnh liệt, ngay trên đường phố, gần tới sáng, quân Bắc việt rút lui, bỏ lại một số xác chết. Sáng  hôm sau, anh chị Đông chạy xe Honda qua rất sớm, lửa cháy tại mấy chỗ bị đạn, từ khuya chưa tắt dù sương đêm ướt sũng và dày đặc, anh chị mừng muốn khóc khi thấy Duy được bình an.

    Dân chúng Kontum, nhất là ở tại tỉnh lỵ, rục rịch bỏ đi, lúc đầu ít, rồi hàng hàng lớp lớp, sau khi nghe tin quân VNCH bỏ chuyện tái chiếm Ban Mê Thuộc, cùng lúc đó, tin từ dưới Pleiku về, bộ tư lệnh quân đoàn 2 đã di tản về Nha Trang và dân ở dưới cũng ùn ùn rời Pleiku từ mấy ngày trước rồi. Buổi họp Phượng Hoàng thường lệ của chi khu và cảnh sát quận chấm dứt một cách tẻ nhạt, trên tấm bản đồ, chung quanh lảnh thổ tình Kontum toàn là các chấm đỏ, tức là đã bị quân Bắc việt chiếm, chỉ còn một hai chấm màu xanh, trong đó là địa phận tỉnh lỵ, thiếu tá chi khu phó cũng như thiếu tá Nghệ, bắt tay Duy, lắc đầu bảo “ông phó tính sao thì tính”, Duy gật đầu mà không biết phải nói gì. Về lại văn phòng quận, gần trưa rồi mà trời vẫn còn lành lạnh, ngoài đường lộ, dân từ miệt trên các xã Thượng, người xe nối đuôi nhau đi về hướng chợ tỉnh, qua cầu là con đường duy nhất xuôi Nam, về Pleiku, vì ngược lên trên thì Quảng Ngải Quảng Nam không còn nữa, Duy cho họp toàn thể anh chị em nhân viên và mấy anh lính nghĩa quân canh gát văn phòng, nói lại cho họ nghe tình hình hiện tại, ai nấy ngồi im thinh thít, ngỡ ngàng, lo lắng nhìn nhau, không ai hỏi câu gì, cuối cùng Duy lập lại câu nói của thiếu tá chi khu phó “mấy anh chị tính sao thì tính” trước khi cho về nghỉ sớm, chờ họ bỏ đi hết rồi, anh Đông đẩy xe Honda ra dựng sát bên chiếc xe jeep, chờ Duy, hai anh em lặng lẽ đứng nhìn cảnh vật chung quanh một hồi lâu, anh Đông bùi ngùi nói nhỏ “thôi, tốt hơn ông phó nên đi sớm đi, như vậy hay hơn, người ta đã bỏ đi hết rồi, chúc ông phó gặp nhiều may mắn, nhớ đeo cái bùa theo trong người ”, Duy buồn buồn hỏi lại còn anh chị thì sao, anh cười gượng “dù sao nhà cửa tụi này ở đây, nhưng rồi chắc cũng phải tính thôi, hẹn ngày gặp lại”, hai người một lần nữa nhìn nhau, mắt đỏ hoe, rấm rức khóc, ra tới ngoài đường, trên xe nhìn kính chiếu hậu, không thấy xe Honda của anh Đông theo sau, có lẽ anh lẩn khuất đâu đó trong đoàn người vai gồng tay xách bỏ Kontum đi, mà không biết sẽ đi được tới đâu.

*

    Xế trưa, nắng vẫn nóng, không ai hỏi và cũng không ai bảo, mấy gia đình có người thân chết, trong đó có chị Diên, kéo nhau đến miếng đất cát đỏ, khá rộng, lưa thưa vài ba cây cỗ thụ cao, nằm bên cạnh hông cái nhà thờ cũ, mái ngói đã bạc màu nâu, cửa đóng kín, bám đầy bụi, cây thánh giá bằng gỗ đen trên nóc gác chuông nhỏ ngã một bên, trước sau lạnh vắng, khỏi ngã ba vào chợ quận không mấy xa, Duy lẵng lặng theo sau, đám người bắt đầu dùng mấy khúc cây khô rụng, nhặt quanh đó, hì hục đào từng lổ một, sâu vừa đủ thân người, đoàn người di tản vẫn còn ở phía trước, giống như họ, Duy và chị Diên cũng đào xong một chỗ, đám người ngồi nghỉ tay, buồn xo nhìn xuống đất.

    Chị Diên lặng thinh, tay quẹt nước mắt, tức tưởi, sụt sùi khóc, quỳ ôm nấm mồ vừa mới đấp, Duy ngồi một bên, cũng ràng rụa, không có mộ bia, họ lấy điểm tựa từ vách nhà thờ tính ra, đếm khoảng bằng bước chân, để biết ai nằm chỗ nào mà nhớ, trời bắt đầu nhá nhem chiều, phía cuối đường, trên miệt Phú Bổn xuống, một đoàn người nữa, đông như kiến đang đi tới xa xa, vừa lúc đó, đoàn người phía trước, kẻ nằm người ngồi, gọi nhau đứng dậy đi tiếp, từ từ, những người có thân nhân chết cũng bỏ theo sau gần hết, Duy chần chừ nhìn nấm mồ rồi nói với chị Diên “thôi mình đi chị Diên”, như người mất hồn, vẫn ngồi yên ở đó, chị ngước lên nhìn Duy “cám ơn ông phó, thôi ông phó đi đi, kẻo trễ, không kịp người ta, tôi muốn ở nán lại với anh Đông chút nữa, rồi sẽ đi sau, chúc ông phó đi đường bình an”.

    Duy lẳng lặng cổi sợi dây chỉ, có cái bùa hộ mạng, đã mang trong người, từ ngày anh Đông cho, ra khỏi cổ, ngồi xuống, đưa cho chị Diên, Duy đã may mắn ba lần thoát nạn, ngần ấy cũng đủ cho số phận mình, giờ phải đến phần chị có nó, Duy cầm tay chị, ngèn nghẹn “chị giữ cái này, chị cần có nó, anh Đông chắc là đang còn ở bên cạnh chị, cầu xin hương hồn anh phù hộ cho chị bình an và có một ngày nào đó, chị em mình gặp lại”, bất chợt chị òa lên khóc, đoàn rừng người phía sau vừa lên tới, đông nghẹt trên đường, đi ngang qua, hờ hững nhìn, Duy thẩn thờ bỏ đi, mắt cay xé, xót xa lòng, từ một khoảng xa trong đoàn người lầm lũi, giữa màn đêm vừa chập chững xuống thấp, cố nhìn lại, lờ mờ, ở đó, chị Diên vẫn còn ngồi gục một mình giữa những nấm mồ mới không tên không tuổi, đâu đây có tiếng bầy quạ đen đi đêm, kêu nhau về rờn rợn, trên trời một màu xám xịch.


Thuyên Huy

Tháng tư tha hương 2016

    



ẤN ĐỘ (Vietnamnet)


Câu chuyện Ấn Độ: Cực giàu, cực nghèo, cực giỏi, cực độc
Chưa biết khi nào thảm hoạ Covid-19 mới chấm dứt ở Ấn Độ? Chừng nào, vẫn còn một quốc gia thất thủ vì đại dịch thì cả thế giới vẫn chưa thể lạc quan. Nếu có các biến chủng mới, vắc-xin hiện nay cũng không giải quyết được.

LTS:Di Li - nữ nhà văn nổi tiếng với dòng tiểu thuyết trinh thám, kinh dị đã 4 lần đến Ấn Độ với một niềm đam mê đặc biệt. Cô yêu thích con người, cảnh vật, lịch sử và văn hóa nơi đây, đến nỗi có thể ‘sểnh ra là lại mua vé đi Ấn Độ”, ”có thể bay đến vài chục lần trong đời”, nhưng cũng vô cùng đau xót khi đất nước này đang phải trả giá cho sự cực đoan của mình.

Hệ thống đẳng cấp, sự phân chia giàu nghèo, hủ tục hồi môn, tục lệ hoả thiêu ở Ấn Độ, đời sống mất vệ sinh kinh hoàng trên sông Hằng đã được nữ nhà văn chia sẻ trong cuốn du ký “Cô đơn trên Everest”.

Nhân cơn địa chấn Covid-19 đang hoành hành dữ dội ở Ấn Độ, nhà văn Di Li đã chia sẻ những trải nghiệm của mình về đất nước này trên trang facebook cá nhân.

VietNamNet trân trọng giới thiệu tới bạn đọc:


Nhà văn Di Li đến thăm bảo tàng Victoria ở Kolkata, Ấn Độ (ảnh: Di Li)

Chê Ấn Độ nghèo và bẩn: góc nhìn một nửa

Số ca tử vong do Covid ở Ấn Độ đã lên tới 4.529 ca/ngày (con số chưa đầy đủ), cao nhất thế giới kể từ đầu mùa dịch đến giờ.

Dân Ấn có tục lệ hỏa thiêu, nên người chết nhiều quá thì họ sẽ bẻ luôn cành cây trong công viên rồi đốt xác đùng đùng ngay trên hè phố, nhà nghèo chả có tiền mua củi mà cũng không thể bẻ trộm cành cây công viên thì lén lút vác xác thân nhân đến cửa nhà tang lễ quẳng đấy rồi bỏ xác chạy lấy người, hoặc giản tiện hơn nữa là để nguyên xác tống xuống sông Hằng cho nổi lềnh bềnh. Virus trong xác cứ thế hòa lẫn vào nước sông rồi theo hạ nguồn trôi đi đâu thì trôi, dính tiếp vào ai thì dính, trong khi nước sông Hằng vốn vẫn chu du khắp châu Á.

Tôi đã đến Ấn Độ 4 lần (18/3 năm ngoái bị hủy chuyến vì Ấn Độ phong tỏa do Covid-19, chứ không là đã thành 5 lần). Trót đổi tiền rồi nên trong ngăn kéo vẫn cất một đống tiền Rupi.

Vì Ấn Độ là niềm đam mê, là điểm đến mà tôi có thể bay tới vài chục lần trong đời. Tóm lại, hễ cứ sểnh ra là tôi lại mua vé đi Ấn Độ. Nhiều người cứ chê Ấn Độ bẩn và nghèo, người Ấn Độ thì xấu xí, trai Ấn Độ thì hung tợn, Ấn Độ lạc hậu, Ấn Độ không văn minh… thì kỳ thực là mới chỉ nhìn thấy một nửa.

Ở New Delhi, có rất nhiều chỗ xanh, sạch, đẹp hơn châu Âu, với những công trình vĩ đại lâu đời từ nhiều thế kỷ. Ấn Độ là thung lũng silicon thứ hai của thế giới và chuẩn bị vượt mặt Mỹ về công suất phần mềm tin học. Nơi sản xuất nhiều phim điện ảnh nhất là Bollywood chứ không phải Hollywood.

Những quốc gia sở hữu nhiều hoa hậu Hoàn vũ nhất thế giới, ngoài mấy nước Nam Mỹ thì còn có Ấn Độ. Ấn Độ nhiều người đẹp, vì họ lai đa chủng.

Người thanh niên chít khăn trông như ngôi sao bóng đá là một tài xế xe tuk tuk ở làng tại Jaipur- ảnh chụp năm 2013 (ảnh: Di Li)

Ví như 2 anh thanh niên tôi gặp và chụp ảnh bừa ở Jaipur. Người thanh niên chít khăn trông như ngôi sao bóng đá là một tài xế xe tuk tuk ở làng (tôi chụp chân dung thôi vì nếu lướt xuống dưới thì… anh ấy mặc quần thủng).

Anh chàng Ấn Độ đeo kính đen mà tôi (Di Li) chụp chung là một gã bán hàng rong, khiến cả đoàn ngẩn ngơ vì như diễn viên Hollywood" -(ảnh: Di Li)

Anh đeo kính đen tôi chụp chung là một gã bán hàng rong, khiến cả đoàn chúng tôi ngẩn ngơ vì như diễn viên Hollywood. Anh ra mời mua hàng, tôi đứng chết lặng vì anh lần lượt hỏi bằng cả tiếng Anh, Pháp, Đức, Ý để xem tôi biết nói tiếng gì thì sẽ giao tiếp bằng tiếng ấy.
Đàn ông Ấn Độ kỳ thực hiền lành nhất trong các quốc gia tôi từng đến, thậm chí, những người bán hàng còn thường khúm núm, tội nghiệp. Có mắng cũng không dám phản ứng. Ở Việt Nam mà mắng, khéo còn bị đánh lại.
Tôi đã từng đi dọc ngang miền Bắc Ấn và vài lần đến New Dehli, toàn tự đi phượt nhưng vẫn an toàn, cũng chả bị ai nhòm ngó như thiên hạ đồn thổi.

Ấn Độ là một trong những nền triết học sớm nhất của thế giới, là cái nôi của văn hóa, kiến trúc và nghệ thuật, mà một trong những triết gia vĩ đại nhất là Đức Phật. Những người giàu nhất thế giới và những kẻ chịu chơi nhất thế giới cũng tập trung ở Ấn Độ.

Năm 2018, ái nữ của ông trùm Mukesh Ambani làm đám cưới (Ambani là người giàu nhất châu Á và thứ tư thế giới với gia sản 40 tỷ USD, thậm chí có năm từng vượt mặt Bill Gates) thì riêng tiền làm thiệp cưới khảm nạm, tính theo tiền Việt đã tốn hàng trăm tỷ đồng.

Cái giá của sự cực đoan


Nhưng khổ nỗi, Ấn Độ là một quốc gia cực đoan, ở nơi này cứ như chỉ tồn tại mỗi hai khái niệm. Hoặc là cực đẹp hoặc là cực xấu. Hoặc cực hiền lành, nhút nhát, hoặc cực hung dữ và biến thái. Hoặc cực sạch hoặc cực bẩn. Hoặc cực trí tuệ hoặc không biết chữ. Hoặc cực giàu hoặc nghèo đến nỗi không đủ tiền mua củi thiêu xác. Hoặc cực văn minh hoặc cực lạc hậu (đến nỗi giờ nhiều làng vẫn duy trì hủ tục vợ góa tự thiêu theo chồng). Hoặc cực thiền, thân tâm an lạc (nơi khai sinh ra Yoga), hoặc cực dâm đãng (cũng là nơi sinh ra Kama Sutra).

Phong cảnh có chỗ thì cực rét (dãy Himalaya), chỗ thì cực nóng (sa mạc Đại Ấn Độ). Món ăn cũng hoặc cực kinh (vừa đưa lên miệng phải nhè ra ngay) hoặc cực ngon.

Ấn Độ có những khách sạn xa xỉ nhất thế giới để khách nghỉ ở đó đê mê như miền cực lạc và cũng có những khu ổ chuột được coi như địa ngục trần gian.

Tất cả sự phân cực này là do hệ thống 5 đẳng cấp vẫn tồn tại ở Ấn Độ từ trước Công nguyên cho đến bây giờ. Khiến người nào đã bẩn, đã xấu, đã nghèo, đã mù chữ, đã mông muội thì truyền kiếp hàng trăm đời con cháu cơ bản vẫn thế. Chứ rất hiếm trường hợp như những nước khác là từ cậu bé đánh giày trở thành tỷ phú, từ con trai một bà mẹ không biết chữ có thể trở thành nhà khoa học, từ cô bé rửa bát thuê biến thành nữ hoàng sắc đẹp, từ cậu con nuôi vô thừa nhận thành phó thủ tướng.

Ở Ấn Độ, con sãi chùa lại quét lá đa, hãn hữu mới có trường hợp vượt rào nhảy từ đẳng cấp này sang đẳng cấp khác. Đa phần cứ định ngoi lên là bị dìm cho không mở mày mở mặt ra được.

Vì thế slogan du lịch do chính Ấn Độ đưa ra cũng đúng như họ tự nhận “Incredible India” (Ấn Độ lạ thường).

Covid-19 khi đến Ấn Độ nó cũng kỳ quái theo đất nước này, nó biến thể và gia tăng độc lực, và tất nhiên nó trừ người giàu ra. Vì người giàu họ đi phi cơ riêng sang Maldives hoặc Dubai nghỉ dưỡng trong resort 6 sao tránh bệnh, bao giờ hết dịch thì về. Họ tắm nắng, shopping kim cương, uống cocktail dưới ánh sao đêm và post hình lên phây (facebook).

Mà đã là người nghèo thì ở đâu cũng khổ trần ai, dù là Đông hay Tây, dù là Phật giáo hay Thiên chúa giáo, phong kiến hay hiện đại, xã hội phân đẳng cấp hay bình đẳng dân chủ. Khi quốc gia có sự gì xảy ra, chiến tranh, đảo chính, dịch bệnh, khủng hoảng kinh tế, thiên tai, biến đổi khí hậu thì người nghèo lĩnh đủ. Họ là những đối tượng chịu tổn thương nhiều nhất trong xã hội. Mà Ấn Độ thì nhiều người nghèo. GDP có cao đến đâu thì cũng chỉ nằm trong tay tầng lớp thượng lưu tỷ phú.

Mùng 7 Tết năm ngoái, tôi còn ở Ấn Độ. Lúc ấy, thấy báo đưa tin ở nhà đổ xô đi mua khẩu trang mà cháy hàng, nên hôm cuối cùng cả đoàn đi chợ không mua quà cáp gì mà chỉ tìm mua một đống khẩu trang nhét vali mang về. Dân Ấn thấy thế lạ lắm, nhún vai ngạc nhiên vì lúc đó Ấn chưa có ca nào.

Nhưng khi ấy tôi bảo: Covid-19 mà lan sang Ấn Độ thì khéo cả nước nhiễm, số ca dẫn đầu thế giới. Nhà thơ Nguyệt Vũ đi cùng sau này cứ bảo lời tôi có tính… tiên tri. Khổ, tiên tri gì đâu, Ấn Độ ngày thường lúc nào cũng nhung nhúc người thế, trông chả khác gì phim Zombie, không nhiễm mới là lạ. Thế giới cứ mắng Ấn Độ sao không phong tỏa. Nhưng họ không làm thế được.

Hàng nghìn người dân Ấn Độ vẫn tắm sông Hằng ở Haridwar lễ hội Kumbh Mela bất chấp dịch Covid-19

Thứ nhất là Ấn Độ nhiều lễ hội tôn giáo hàng đầu thế giới. Người chết ngay bên cạnh làm sao họ lại không biết, nhưng vẫn vài chục ngàn người Ấn tắm chung trong lễ hội tôn giáo Kumbh Mela. Chả mấy ai thèm đeo khẩu trang.

Họ dấp nước sông Hằng lên người, rồi úp mặt vào phân bò sền sệt bảo thần linh sẽ phù hộ. Họ thà chết Covid-19 cũng được chứ nhất định không chịu bỏ việc hành hương.

Thủ tướng cũng không thể cấm lễ hội được vì quyền lực của các giáo sĩ Bà la môn ở đây là tối thượng (Là đẳng cấp thứ nhất trong 5 đẳng cấp). Gọi là phép vua thua lệ làng. Lễ hội của ta cũng tập trung đông người như ở Ấn Độ nhưng Đảng và Chính phủ yêu cầu người dân ở nhà ngay là người dân nghe, cả nước răm rắp nghe theo.

Các nước vốn vẫn tự hào về nền dân chủ lâu đời không làm thế được. Vì trên bảo dưới không nghe, khéo dân còn mắng cho thêm chứ đừng nói là đòi người dân khai báo, truy vết Covid-19. Trong tình hình dịch bệnh thì đây gọi là mặt trái của dân chủ.

Thứ hai là tỷ lệ người nghèo của Ấn Độ rất nhiều. Nếu phong tỏa thì rất có thể số người chết đói còn hơn chết vì Covid-19. Ví dụ như Ram Vriksha Gaur, một trong những đạo diễn của “Cô dâu 8 tuổi”. Dịch bệnh khiến anh phá sản, phải chở xe đi bán rau quả.

Việc biến thể Covid Ấn Độ sẽ lan ra toàn thế giới, đặc biệt là châu Phi cũng không có gì ngạc nhiên.

Lúc ấy người trung lưu phá sản xuống thành cùng đinh là chuyện bình thường. Nên mấy ông nghỉ lễ đi chơi xa, không thèm đeo khẩu trang suốt chuyến, về nhà lại trốn khai báo xong vác thân đi lung tung tiếp xúc hết người nọ người kia thì chỉ hại nhất người nghèo. Bởi nhỡ dịch bùng ra thì người nghèo cũng không có nổi thúng rau quả mà bán.

Theo các báo cáo được truyền thông, nếu tiêm vắc- xin cật lực, Ấn Độ cũng phải mất… 10 năm mới tiêm đủ cho hơn 1 tỷ dân của họ.

Câu chuyện Ấn Độ khiến tôi thấy chưa có gì quá lạc quan về tình hình Covid-19 hiện nay. Bởi logic thứ nhất là chỉ khi nào vắc-xin được tiêm đủ trên toàn thế giới thì việc đi lại giữa các nước mới tự do hoàn toàn. Chừng nào vẫn còn quốc gia bị Covid-19, nó sẽ lây qua lây lại, thậm chí thêm các biến chủng mới mà vắc-xin chả giải quyết vấn đề gì.

Logic thứ 2 là biên giới đường bộ giữa các nước (trừ các quốc đảo) thường hở hông hốc mấy trăm cây số, toàn đồng không mông quạnh nên lây nhau là chuyện bình thường.

Giờ Ấn Độ, Philippines, Indonesia, Malaysia coi như thất thủ. Sắp tới có thể sẽ đến lượt Nepal thất thủ, quốc gia có mật độ dân số đông, y tế tệ hại, vệ sinh kém và không may lại chung đường biên rất dài với Ấn Độ. Nếu xảy ra chuyện gì thì kết quả có thể còn tồi tệ hơn cả Ấn Độ, vì họ nghèo hơn Ấn Độ rất nhiều, giao thông thì không khác gì phim Indiana Jones, muốn viện trợ, tiếp tế cũng khó.

Điều này thực sự rất đau lòng vì đây là 2 quốc gia mà tôi yêu mến nhất.

Nhà văn Di Li
Ông Ram Vriksha Gaur, một trong những đạo diễn của bộ phim truyền hình nổi tiếng “Cô dâu 8 tuổi” phá sản vì dịch bệnh, phải đi bán rau quả

❤❤❤❤

Xem Thêm :



CÂY THÔNG NHÀ SỐ 11- Bùi Tho- Trích Tuyển Tập"Chuyện Bây Giờ Mới Kể "


  Nếu có dịp ngang qua Bảo lộc từ hướng Sài Gòn đi Đa Lạt,,theo Quốc lộ 20, qua khỏi đình làng, nhìn về phía bắc lẩn khuất qua các nhà cao tầng dọc đường , ta sẽ thấy một tàng cây có hình chóp hiện lên nền trời . người hiểu biết về cây cối hay chính là anh em Nông Lâm Súc Bảo lộc sẽ biết ngay là loài cây thuộc họ tùng .

Đúng nó là cây thông, do chính tôi trồng trước sân bên trái của cư xá số 11 khi gia đình tôi đang ở tại đó. Nó được trồng trong đợt phát động chiến dịch MÁI TRƯỜNG XANH, cùng thời với cây thông ở cổng trường, đến năm nay (2017) nó đã được 44 năm, sự phát triển như thế này tôi cho là khá sung mãn, bởi lẻ đường kính gốc trên 1 mét 2, và chiều cao gần 30 mét, cành nhánh đâm xiên lên vững chải, là dày xanh rậm rịt, đặc biệt là tàng cây là một hình chóp phải nói là chúng ta ít thấy đối với những cây lớn như thế.

Làm tôi nhớ lúc nhận cây giống cho chiến dịch Mái Trường Xanh tại trung tâm Nghiên Cứu Lâm Nghiệp Lan Hanh, ông Quản đốc Nguyễn văn Tài giới thiệu một loại thông 3 lá của Hòa Lan vừa du nhập vào Việt Nam, và đã tặng cho trường 5 cây. Và đây là một trong 5 cây tôi đã nhận lúc đó.
Những năm gần đây, loanh quanh vùng Bảo Lộc này, bất chợt nhìn thấy chóp nhọn của cây thông nầy như là một nhắc nhở cho tôi biết đó là căn nhà số 11 căn nhà mà gia đình tôi đã sống tứ 1971 đến cuối năm 1978. Căn nhà mà trước đó, anh Phan Bá Sáu đã từng sống.

Về cây thông này, tôi muốn tâm sự một điều tạm gọi “ chuyện bây giờ mới kể “ . Được biết rằng trước năm 1975, tìm kiếm một nhánh thông trong dịp Noel không mấy khó, còn với nhân viên và giáo sư NLS lại càng dễ hơn vì trong trường trồng khá nhiều thông, việc chặt một nhánh thông cũng chẳng ai làm rầy rà, to chuyện vì có đáng là bao .
Chuyện rằng, trường sau khi tiếp thu không có ban Thủy Lâm cho nên Thủy Lâm và Canh Nông làm việc chung một phòng , vào một buổi chiều gần ngày Noel, anh Đỗ văn Quang cho biết mấy năm trước trong lễ giáng sinh đều có nhánh thông chưng trong nhà, bây giờ với việc quản lý mới, thêm vào đó việc đi lại chuyên chở cũng rất khó khăn, anh than thở” như vầy là năm nay gia đình không có thông noel rồi, rất tội cho bà cụ, vợ mình cũng như mấy cháu nhỏ”
Lúc ấy, đang trong cái thời mà khoai lang, khoai mì lên ngôi. Cái thời mà cái nhìn của tôi với cây với hoa không đẹp nữa , tôi đã quyết định chặt cây thông trồng trước sân nhà tặng cho Quang trong mùa Noel năm đó.
Nghĩ rằng, cây sẽ chêt đi, nào ngờ cây cho mầm mới…năm 1978 tôi rời khỏi căn nhà, rồi bộn bề trong cuộc sống, căn nhà xưa đôi khi qua lại vẫn còn trông thấy nhưng nào chú ý đến cây thông . Mấy năm trở lại đây, bản thân tôi cảm thấy thật vui, khi thấy ngọn tàng cao vút, nhưng cũng không ít lần lắng lòng nhớ lại mình đã làm đau nó vô cùng.
*Bà cụ mẹ vợ của Quang đã qui tiên, Quang cũng đã ra đi gần 4 năm rồi với bao thương tiếc, và mới đây chị Nguyễn thị Minh Hiển vợ Quang cũng đã được Chúa rước về. Như vậy là ba trong năm người bên nhánh thông Noel năm nào, lúc đó hai cháu Ngọc và Duy còn bé lắm.
Bây giờ, Ngọc và Duy nếu có dịp về lại đất xưa hãy tìm nhìn cho được ngọn thông cao vút, ở vùng trời Nông Lâm Súc Bảo Lộc, để biết rằng chiếc ngọn đầu tiên của nó đã đem niềm vui cho gia đình các con trong một mùa mùa giáng sinh đáng nhớ..

Vì sao Hoàng Đế Bảo Đại bất chấp tất cả để được làm rể gia đình Công giáo toàn tòng xứ Gò Công ?!?

NGHIÊN CƯU LICH SỬ 

Chuyện tình nào cũng ít được suông sẻ, kể cả nhà vua cũng vậy. Muốn làm rễ Gò Công không phải là dễ.
Gái Gò Công không tự cho mình là đẹp, nhưng tự hào có được Hoàng Hậu Nam Phương. Hoàng Hậu duy nhứt của triều Nguyễn, qua 12 – 13 đời vua, trị vì 153 năm, đó là bà Nguyễn Hữu Thị Lan – (Mariette Jeanne Nguyễn Hữu Thị Lan con của Ông Nguyễn Hữu Hào). Người đẹp nhứt thời bấy giờ, bà đã ba năm liền trúng giải hoa hậu Đông Dương. Người đã chiếm trọn trái tim Hoàng Đế Bảo Đại khi mới gặp mặt lần đầu tiên trên chiếc tàu D’Artagnan. Hoàng Đế si tình đến nỗi thà bỏ ngôi vua chớ không chịu bỏ làm rễ xứ Gò. Thật vậy, khi bị bà Từ Cung từ chối, Bảo Đại nói nếu không lấy được Thị Lan thì sẽ “ở vậy” suốt đời. Nếu chọn một trong hai, tôi sẽ chọn Thị Lan chớ không chọn ngai vàng. Đó là lời thuật của viên bí thư của Bảo Đại.
Ai ở Gò Công mà không biết Nguyễn Hữu Hào rễ của Ông Huyện Sỹ tức Lê Phát Đạt đã xây ba nhà thờ: Chợ Đũi, Hạnh Thông Tây và Thủ Đức để dâng cúng cho dân địa phương. Dân địa phương thường gọi là nhà thờ Huyện Sỹ.
Cái trở ngại lớn nhứt của Bảo Đại đó là triều đình nhà Nguyễn thì chủ trương chống lại công giáo, chống lại dân Tây mà Tây thì bị xem là kẻ xâm lược nước mình, còn gia tộc của Nguyễn Hữu Thị Lan thì quốc tịch Pháp và nặng nhứt là sùng đạo.
Người Nam Kỳ từ đầu thế kỷ 20 đã truyền miệng nhau câu “Nhất Sỹ, nhì Phương, tam Xường tứ Định”. Nghĩa là người giàu nhứt Nam Kỳ thời đó là gia đình Huyện Sỹ (Tỷ phú), tức ông ngoại của Nguyễn Hữu Thị Lan.
Nếu so với Hoàng Đế cuối cùng của Trung Hoa – vua Phổ Nghi sau khi bị hạ bệ thì bị đày đi nông trường cải tạo nhiều năm mới được cho về làm công dân Trung Quốc, thì Bảo Đại – người Rễ Gò Công nầy may mắn hơn nhiều, diễm phúc hơn nhiều cũng là nhờ bà Hoàng Hậu Nam Phương – Người con gái Gò Công làm nên lịch sử. Muốn làm rễ Gò Công không phải là dễ. Đầu tiên là việc chống đối của triều đình. Các quan đại thần, ông nào cũng có con gái lớn chạc bằng hoặc nhỏ tuổi hơn cũng đều muốn gả cho Bảo Đại. Đó là truyền thống, đó là danh dự suốt cuộc đời làm quan cho triều đình. Làm Quốc trượng ai ai mà không ham.
Trong đoạn hồi ký “Con Rồng An Nam” ông tâm sự: “M.J Lan có một vẽ đẹp thùy mị của người con gái miền Nam, hiền lành và quyến rũ làm tôi say mê.
Vì vậy tôi ngỏ ý xin cưới cô và cô đã đồng ý nhưng với điều kiện:
- Gia đình cô đồng ý trước đả.
Về phía gia đình cô Mariette Jeanne Lan cũng đồng ý nhưng phải thêm các điều kiện sau:
- Nguyễn Hữu Thị Lan phải được tấn phong Hoàng Hậu Chánh Cung ngay ngày cưới.
- Được giữ nguyên đạo Công Giáo, và các con khi sinh ra phải được rửa tội theo luật công giáo và giữ đạo.
-Riêng Bảo Đại thì vẫn giữ đạo cũ là Phật giáo.
-Phải được Tòa Thánh La Mã cho phép hai người buộc ai.
Tiếp đó cụ Tôn Thất Nhân nêu lý do: Thị Lan chỉ đậu tú tài toàn phần Pháp không thể so ra với Trạng Nguyên xứ ta, lại đòi làm Hoàng Hậu nữa thì không thể chấp nhận được.
Trước Hoàng Tộc, Bảo Đại thẳng thắn trả lời Tôn Nhân Phủ như sau: “Trẫm cưới vợ cho trẫm đâu phải cưới cho cụ Tôn Thất Hân và Triều đình đâu.” Câu nói lịch sử mà tất cả triều thần đều trố mắt nhìn nhau chịu thua. Tình yêu là sức mạnh. Tình yêu là trên tất cả.
Cuối cùng thì tình yêu đã thắng. Ngày cưới được ấn định vào ngày 20 tháng 3 năm 1934. Bảo Đại đúng 21 tuổi, và Nguyễn Hữu Thị Lan 19 tuổi. Bảo Đại chính thức là Rễ Gò Công. Ngày mùng 10 tháng 2 (tức tháng 3 năm 1934) lễ tấn phong Hoàng Hậu được diễn ra rất trọng thể ở điện Dưỡng Tâm.
Nhà vua phong Hoàng Hậu tước vị Nam Phương Hoàng Hậu. Bảo Đại giải thích thêm về hai chữ Nam Phương như sau: “Tôi đã chọn tên trị vì cho bà Hoàng Hậu mới là Nam Phương. Nam Phương có nghĩa là hương thơm của miền Nam (Parfume du Sud) và tôi cũng ra một chỉ dụ đặc biệt cho phép bà được phục sức màu vàng – màu dành riêng cho Hoàng Đế.” Người đàn bà duy nhứt trong lịch sử Việt Nam được chỉ dụ đặc biệt nầy.
Trong hồi ký . . . đã viết về Hoàng Hậu như sau: “Chân dung Nam Phương Hoàng Hậu mặc quốc phục thật xứng đáng là “Đệ Nhất Phu Nhân”. Trông gương mặt bà sang trọng mà không kiêu, hiền mà không tầm thường, dễ dãi. Nụ cười kín đáo nhưng không quá e lệ. Đôi mắt nhỏ mà tinh anh. Chiếc cổ tròn, thon và cao hợp với khuôn mặt. Dáng bà lại cao nên xứng đôi khi đi bên cạnh Bảo Đại. Nếu chỉ so sánh về sắc đẹp với những vị đệ nhất phu nhân khác trên thế giới như Hoàng Hậu xứ Monaco, Phi Luật Tân thì chắc chắn bà Nam Phương Hoàng Hậu phải được chấm giải nhứt. Nhất không phải chỉ riêng vì sắc đẹp, mà nhất về tư cách và đạo đức và cách sống của bà từ ngày trở thành Hoàng Hậu cho tới ngày tạ thế với tước vị Long Mỹ Hầu rồi tăng thêm là Long Mỹ Quận Công và Kim Khánh Bội Tinh đệ nhứt hạng cho mẹ vợ là bà Lê Thị Bình (Con ông tỷ phú Huyện Sỹ) với tước vị Mệnh Phụ Cung Đình đệ nhất hạng. Sau đây là vài chi tiết về người con rễ Gò Công nầy:
“Theo Đế Hệ Nguyễn tộc: Miên, Hồng, Ưng, Bửu, Vĩnh, Bảo, Quý, Định, Long, Trường, thì Bảo Đại thuộc về hệ thứ 5 tức là Vĩnh – Vĩnh Thụy. * Lên ngôi Hoàng Đế năm 12 tuổi (13 tuổi ta) ngày 8 tháng 1 năm 1925 lấy hiệu là Bảo Đại, và lại tiếp tục sang Pháp du học. *Bảo Đại hồi loan: Tàu D’Artagnan cập bến cảng Saint – Jacques (Vũng Tàu) đầu tháng 9 năm 1932. Ông ngỏ lời trước quốc dân là ông sẽ lãnh trách nhiệm làm cho toàn thể quốc dân được tiến hành trong công cuộc văn minh tiến bộ. Sau đó ông cải cách guồng máy chính trị cho phù hợp với thời gian lúc bấy giờ. Như lập thêm Bộ Xã Hội Kinh Tế, Bộ Tài Chánh. . . “Được phong làm Đông Cung Thái Tử năm vừa được 7 tuổi (năm Khải Định thứ 5) Chiếu chỉ ban ngày 20 tháng 2 năm 1920.
Sang Pháp du học ngày 24 tháng 2 năm 1922 ở biệt thự sang trọng đường Bourdonnais Paris. Ông vừa học chữ Hán, chữ Quốc Ngữ và cả chữ Pháp. Ông được nhập học trường Lycée Condorcet Puis Sciences Politique.
Ngoài giờ học ở trường, ông còn học thêm về âm nhạc, đàn dương cầm, chơi quần vợt, tập lái xe hơi, bơi lội, và tập khiêu vũ với những cô đầm non cùng lứa tuổi với ông.
*Thân thế: Nói đến chàng rễ Gò Công Bảo Đại, chúng ta chưa có một manh mối nào về cha ruột của người Hoàng Đế cuối cùng của Việt Nam nầy. Chỉ biết mẹ ruột là bà Hoàng Thị Cúc tức là bà Từ Cung sau nầy. Còn cha ruột? Trong sách sử cũng như các tư liệu đều nói rằng Ông Bửu Đảo tước hiệu là Phụng Hóa Công là vua Khải Định là cha trên giấy tờ là người bất lực, vô hậu.
Chỉ biết Bảo Đại tên thật là Nguyễn Phúc Vĩnh Thụy sinh ngày 22 tháng 10 năm Quý Sửu (1913) tại Huế. Theo nhà nghiên cứu Phan Thứ Lang thì sau khi lược qua những tập di cảo đồ xộ, lọc ra nhiều chi tiết có liên quan đến việc Vĩnh Thụy chính là con cụ Hường Đ. Hành động đầu tiên: Là một việc nhỏ nhưng lúc bấy giờ là một việc trọng đại, một cách mạng trong nghi lễ triều đình: Bỏ năm lạy, chỉ có xá ba xá là “Tam khấu lể”. Lý do là Ông muốn tôn trọng người lớn tuổi, đáng bậc chú, bậc cha, nếu các vị quan trong triều mà phủ phục quỳ lạy một người tuổi chỉ đáng hàng con cháu thì khó coi quá.Còn người ngoại quốc thì chỉ bắt tay theo phép xã giao Tây phương cho được thoải mái.
*Đồng bạc Bảo Đại: Đựơc đúc bằng đồng mỏng. Có giá trị bằng ½ tiền Khải Định Trong dân gian lúc bấy giờ có câu:
“Hai con đổi lấy một cha
Làm cho thiên hạ xót xa vì tiền”.
Sở thích: Gần như cái gì Bảo Đại cũng thích. Đánh bài, khiêu vũ, săn bắn, cởi voi, lái xe, đàn dương cầm. . .
Trong tài liệu nói rằng ông ném vô sòng bài chiếc du thuyền 250.000 đô lúc đó, đến nỗi cái lâu đài ở Cannes gần thành phố Nice – miền Nam nước Pháp – cũng đem nướng luôn. Nhưng cũng có lần được thắng thì cho bà Nam Phương đi mua sắm hả hê. Có lần đánh ở sòng bài quốc tế Monaco với các tiểu vương và các nhà tư bản giàu sụ ông thắng đậm và mua ngay cho bà Mộng Điệp chiếc nhẫn kim cương trị giá mấy triệu đô – là chiếc nhẫn kim cương lớn nhất vùng Đông Dương lúc bấy giờ.
*Hạ sanh Hoàng Tử: Đêm ngày 4 tháng 1 năm 1936, người dân đất thần kinh nghe những tiếng súng bắn mừng báo tin Nam Phương đã hạ sanh, và lờ mờ sáng lại một lần nữa 7 tiếng súng thần công làm lay động cả Hoàng Thành. Dân chúng biết đó là Hoàng Nam vì là 7 tiếng súng còn nếu là công chúa thì sẽ là 9 tiếng súng. Đó là Thái Tử Bảo Long.
Bảo Đại chính thức đã có với Nam Phương Hoàng Hậu năm người con: hai trai và ba gái:
Công chúa Phương Mai, ngày 1 – 4 năm 1937.
Công chúa Phương Liên, ngày 3 – 11 năm 1938.
Công chúa Phương Dung, ngày 5 – 2 năm 1942.
Hoàng tử Bảo Thắng năm 1948.
Những tình nhân của Bảo Đại:
Mộng Điệp: Được Bảo Đại cưng chiều chỉ sau Hoàng Hậu Nam Phương. Được Bảo Đại tín dụng truyền chỉ mang Ấn Kiếm (Nguyễn Triều Chi Bảo) sang Pháp cho bà Nam Phương cất giữ. Bảo Đại và Mộng Điệp có 3 người con:
Phương Thảo sanh năm 1946
Bảo Hồng sanh năm 1954
Bảo Sơn sanh năm 1957.
Lý Lệ Hà: là người đẹp đã theo sát Bảo Đại từ Việt Nam sang Trung Quốc lưu vong. Có người tả hai hàm răng của Lý Lệ Hà là hai hàng bạch ngọc và quý hơn ngọc đã làm cho Bảo Đại say mê và bà Nam Phương phải buồn lòng và lo lắng vì mối tình nầy.
Bà Đầm Monique Baudot: Người tình cuối cùng: Khi bà Nam Phương tạ thế thì cựu Hoàng mới có 65 tuổi còn bà đầm Monique Baudot 35 (chỉ nhỏ hơn cựu Hoàng 30 tuổi thôi mà). Bà đầm nầy với Bảo Long là nước với lửa. Đã choảng nhau, kiện tụng vì cái ấn kiếm. Ai là chủ quyền của Ấn Kiếm nầy? Và hiện nay đang ở đâu?
Cặp Ấn Kiếm – Mệnh danh là Nguyễn Triều Chi Bảo – nầy do vua Bảo Đại truyền chỉ cho thứ phi Mộng Điệp đã đem từ Việt Nam cùng hơn 600 món bảo vật đến tận tay bà Nam Phương Hoàng Hậu bảo quản. Trong lúc tiếp nhận có bốn ông giúp bà đưa vào tủ kiến (các ông Nguyễn Đệ, Nguyễn Duy Quang, Nguyễn Tiến Lãng và Phạm Bích – con của Phạm Quỳnh). Khi bà còn sanh tiền đã nhắc nhở Thái Tử Bảo Long rằng: Đừng bao giờ mở tủ kiến mà tách hai bảo vật nầy ra hai nơi. Đến khi Bảo Đại viết xong cuốn sách “Con Rồng An Nam” muốn mượn con dấu để đóng lên quyển sách cho thêm phần giá trị thì Bảo Long nhất quyết không cho, viện dẫn lý do là Mẫu Hậu đã có dặn. Vì thế mà có cuộc tranh chấp kiện tụng ra tòa. Tòa xử: “Bảo Đại giữ Quốc Ấn, còn Bảo Long được giữ Quốc Kiếm.” Đến nay không biết hai báu vật – hai linh vật nầy đang ở đâu?Một người Pháp nói rằng: “Chiếc ấn là vật có hồn.” Suy nghiệm thì ấn kiếm – Nguyễn Triều Chi Bảo là có hồn thật. Cây Quốc Kiếm vì lý do nào đó mà bị gãy đôi là điềm chia đôi đất nước 1954. Khi Quốc Ấn và Quốc Kiếm tách rời nhau thì dân Việt Nam cũng bị chia lìa, chồng xa vợ, vợ xa chồng vì tù đày, vì vượt biên, và mỗi người mỗi nẻo.
Những người suy tư đến vận mạng dân tộc, đất nước muốn hai linh vật nầy được châu về hợp phố vì hai báu vật nầy vốn là vật bất khả phân.*Phần Chót: Rễ Gò Công – Cựu Hoàng Bảo Đại – Vị vua cuối cùng của Triều Nguyễn cũng là vị vua cuối cùng của Việt Nam đã qua đời lúc 5 giờ sáng ngày thứ năm ngày 31 tháng 7 năm 1997, thọ 83 tuổi.
Đám tang của cựu Hoàng Bảo Đại đã được chính quyền nước Pháp, điện Elysée đứng ra lo liệu.
Ngày chúa nhật 5 tháng 10 năm 1997, tại chùa Viện Phật Giáo Pháp ở ngoại ô Paris, có tổ chức một lễ cầu siêu 49 ngày cho cựu Hoàng Bảo Đại rất trọng thể gồm 1000 người Việt Nam tham dự, có cả bà chị ruột của Nam Phương là bà Bá Tước Didelot (92 tuổi), Hoàng Tử Vĩnh San, con vua Duy Tân, giáo sư Vũ Quốc Thúc cùng nhiều Ông Bà cùng thời với ông tham dự. (Bà Thứ Phi Monique không có mặt vì không được mời).
Điều làm nhiều người Việt Nam tham dự ngạc nhiên và cảm động đến ứa lệ là Thái Tử Bảo Long – Mà người ta đồn rằng đã quên tiếng Việt – cảm tạ quan khách bằng tiếng Việt chững chạc, rõ ràng trên máy vi âm. Điểm đáng nói là các Hoàng Tử và Công Chúa mặc đại tang màu trắng tiến vào đại sảnh quỳ lạy trước bàn thờ rất thuần thục và đã lạy trả những người đến niệm hương. Sau buổi lễ các hoàng tử và công chúa trong tang phục đứng chờ ở cửa để ân cần cảm tạ quan khách từng người đúng cổ tục. Theo các báo chí, bưổi cầu siêu nầy đã quy tụ đầy đủ các tôn giáo như Công Giáo, Phật Giáo, Hòa Hảo, Cao Đài. Các người tham dự đều có một nhận xét chung là dù các con cái phải sống lưu vong nới đất khách từ lâu vẫn còn giữ truyền thống Việt Nam, thật xứng đáng là con của Cựu Hoàng.
Ngoài ra, buổi lễ có treo cờ vàng ba sọc đỏ, có cử quốc thiều, có cử bài “Đăng Đàn Cung” và giữ phút mặc niệm rất trang nghiêm. Điều nầy cũng ghi cảm xúc đầy ý nghĩa cho những người tham dự về tinh thần Quốc Gia Dân Tộc.

Trần Văn Nhựt
Có thể là hình ảnh về 6 người và mọi người đang đứng



KÍNH MỜI XEM và HỌA (NẾU THÍCH) THƠ TRĂNG THU của HỒ NGUYỄN

TRĂNG THU Mây buồn kéo đám bám che trăng, Cuội ngóng chờ trông bóng chị Hằng. Chim mất tổ sầu kêu thảm thiết, Lá buông cành chiếc rớt tung ...