Thứ Ba, 1 tháng 2, 2022

NGUYÊN ĐÁN THUẬT HOÀI,XUÂN ĐÁN CẢM TÁC,XUÂN HÀN : Thơ Cu Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm và Các Bài Cẩn Họa

  元 旦 述 懷               NGUYÊN ĐÁN THUẬT HOÀI

今我行年六十支,      Kim ngã hành niên lục thập chi,
老來卻與病相期。      Lão lai khước dữ bệnh tương kỳ.
惜春強勸數杯酒,      Tích xuân cưởng khuyến sổ bôi tửu,
憂國休言兩鬢絲。      Ưu quốc hưu ngôn lưỡng mấn ty.
織紝不勤嗟懶婦,      Chức nhẫm bất cần ta lãn phụ,
家庭無教笑癡兒。      Gia đình vô giáo tiếu si nhi.
閒中聊寓閒中趣,      Nhàn trung liêu ngụ nhàn trung thú,
豈為逢人說浪詩。      Khởi vị phùng nhân thuyết lãng thi.
        阮 秉 謙                                 Nguyễn Bỉnh Khiêm

Đỗ Chiêu Đức Diển Nôm
                   
                   Đến Tết ta đà sáu chục rồi,
                   Càng già bệnh tật lại theo đuôi.
                   Tiếc xuân miễn cưởng vài chung rượu,
                   Lo nước chớ màng tóc bạc vôi,
                   Canh cửi không siêng bà vợ biếng,
                   Ngu si thiếu dạy lũ con tồi.
                   Muốn nhàn thì cứ vui nhàn tản,
                   Sao phải vì ai lãng phí lời !


2/  Bài thơ XUÂN ĐÁN CẢM TÁC :

    春 旦 感 作               XUÂN ĐÁN CẢM TÁC

行年七十四年餘,    Hành niên thất thập tứ niên dư,
喜得投閒訪舊居。    Hỉ đắc đầu nhàn phỏng cựu cư.
歲始旁觀新宇宙,    Tuế thủy bàng quan tân vũ trụ,
家貧唯富舊詩書。    Gia bần duy phú cựu thi thư.
秀花野竹三春好,    Tú hoa dã trúc tam xuân hảo,
淨月明窗一室虛。    Tịnh nguyệt minh song nhất thất hư.
誰是誰非休說著,    Thùy thị thùy phi hưu thuyết trước
老狂自笑太庸疏。    Lão cuồng tự tiếu thái dung sơ !
         阮 秉 謙                                 Nguyễn Bỉnh Khiêm
 
 
Đỗ Chiêu Đức Diển Nôm
 
 
                Tuổi đà bảy chục lại thêm tư,
                  Mừng được nhàn thăm chốn cựu cư.
                  Năm mới vui còn xem vũ trụ,
                  Nhà nghèo giàu chỉ có thi thư.
                  Trúc hoang hoa đẹp ba xuân thắm,
                  Song sáng trăng thanh một thảo lư.
                  Phải trái ai người đừng nói đến,
                  Già ngông hời hợt tự cười trừ !

  春 寒                           XUÂN HÀN
十二韶光春一團,      Thập nhị thiều quang xuân nhất đoàn,    
一天料峭送餘寒.      Nhất thiên liệu tiễu tống dư hàn.
輕陰借雨侵花易,      Khinh âm tá vũ xâm hoa dị,
殘雪因風墜柳難.      Tàn tuyết nhân phong trụy liễu nan.
繡闥佳人低玉帳,      Tú thát giai nhân đê ngọc trướng,
香街醉客促金鞍.      Hương giai túy khách xúc kim an.
旋乾自有神功在,      Toàn kiền tự hữu thần công tại,   
已播陽和滿際蟠.      Dĩ bá dương hoà mãn tế bàn.
        阮 秉 謙                       Nguyễn Bỉnh Khiêm

Đỗ Chiêu Đức Diển Nôm
                 
                 Mười hai xuân sắc đã vầy đoàn,
                 Cái lạnh lui dần tiết mới sang.
                 Phơi phới mưa xuân hoa ướm nhụy,
                 Rao rao gió nhẹ tuyết dần tan.
                 Khuê phòng người đẹp buông rèm ngọc,
                 Trên phố khách say thúc ngựa vàng.
                 Chuyển đổi thần công trời lẫn đất,
                 Ánh xuân chan chứa khắp nhân gian.
 

HỌA: XUÂN LẠNH ĐI QUA

Xuân sắc gom vui hội kết đoàn,
Xuân tươi đẩy lạnh tiết xinh sang.
Xuân nồng thắm biếc hoa chào đón,
Xuân ấm bừng xua tuyết rả tan.
Xuân nhớ bến xưa phòng mở sáng,
Xuân thương chốn cũ mỉm môi vàng.
Xuân chào thân ái chan hòa nhịp,
Xuân xóa đau buồn …hưng thế gian.

HỒ NGUYỄN (27-01-2022)


 Họa :TIẾT KHÍ

Thời khí hai tư tiết tạo đoàn
Đại Hàn năm kết - Lập Xuân sang
Mưa phùn rả rích vờn mây bạc
Gió thoảng chênh chao giỡn ánh vàng
Thoảng chút hanh luồn se chạn tối
Xua làn lạnh phủ buốt chiều tan
Công năng vũ trụ vần tương tác
Dịch chuyển phân mùa cõi thế gian…

VănThiên Tùng, 02/02/2022.



 Họa :XUÂN HÀNH QUÂN
 
Xuân về nhuốm lạnh cả sư đoàn
Khí tiết mùa đông thoáng mới sang
Chiến đấu hành quân đâu ngán lạnh
Tuyết đông đóng đá cũng dần tan
Sa trường quyết tử trừ quân giặc
Đất nước thanh bình hát nhạc vàng
Quê mẹ không nhường ai tấc đất
Tiền đồ Tổ quốc tỏa nhân gian
Trần Đông Thành
 
 
Họa :XUÂN LẠNH NƠI LỮ QUÁN

Sắc thắm đào mai ánh lộ đoàn,
Khí còn hơil ạnh biết xuân sang.
Trà sen nhấp giọng lòng ngây ngất,
Pháo đỏ đầy sân xác xé tan,
Ta vẫn mơ về thời quê cũ,
Xuân còn hiển hiện thuở son vàng:
Thì ra ta mộng miền tiên cảnh
Sực tỉnh đây là nơi thế gian.

Đỗ QuangVinh
phụng hoạ 
 
 
Họa : XUÂN HÀN
 
Gom sắc trời quang tiết nhập đoàn,
Thời thay đổi vận sắp mùa sang.
Mua phùn ướt ẩm hoa đài hé,
Gió phất lào xào tuyết trắng tan.
Thềm ngọc nàng xinh buông trướng gấm,
Biên đường khách tuý thúc câu vàng.
Từng giây nắng ấm dần xoay chuyển,
Xuân mộng quyện hoà thoả thế gian.
Đặng Xuân Linh
07-02-2022
 
Họa :   XUÂN CẢM

Du dương Thánh Lễ tiếng Ca Đoàn
Chúa độ Xuân Hồng ấm nắng sang
Hỷ hả hoa cười ngời rạng rỡ
Đì đùng pháo rộ nổ giòn tan!
Chồi vươn thúc hạt mùa xanh thắm
Lộc trổ đơm bông lúa chín vàng
Vận hội hanh thông ,đời khởi sắc
Dân giầu, Nước mạnh hửng trần gian!
Xuân ND 2022
Nguyễn Huy Khôi
 
 
Họa : KHÓ KẾT ĐOÀN
 
Tiết lạnh miền Đông khó kết đoàn 
Hạ qua Thu lại cứ quay sang 
Bầu trời trắng xoá lòng tê buốt 
Chờ mãi hết Xuân tuyết mới tan 
Kiếp sống tha hương còn tiếp diễn!
Tuổi già khó ngủ nghĩ âm vang 
Ước chi trở sáng về quê cũ 
Gặp lại bà con cõi thế gian!…
                Yên Hà 
               8/2/2022

NHỚ TẾT NGÀY XƯA - Tản văn của Mạc Văn Trang - (Tểu Blog )

Cứ Tết đến, những kỷ niệm Tết xưa từ ngày thơ bé lại hiện về, gợi nhớ nao nao…Xin kể lại cái Tết của nhà mình vào trước cách mạng 1945.

Mình nhớ sâu đậm nhất là cái Tết vào năm 1944 (Giáp Thân) lúc mình 6 tuổi, “tuổi ta" là 7 tuổi. Sau đó là cách mạng 1945, rồi chiến tranh, không bao giờ còn cái Tết như ngày xưa nữa.

Trước Tết chừng một tháng đã thấy không khí rạo rực rồi. Trong nhà thấy ai cũng nói đến Tết. Trẻ con được sắm quần áo mới, không được cả bộ thì cũng được cái áo hay cái quần mới. Rồi cắt tóc hay cạo đầu mới. Mẹ, Dì hai rồi các thím, các chị thì nhuộm lại răng cho đen nhánh. Mình cứ tò mò xem nhuộm răng thế nào. Hoá ra thuốc nhuộm người ta đã quết sẵn vào những miếng lá nón bằng ngón tay trẻ con; buổi tối, các bà, các chị súc miệng, lau răng khô rồi dán thuốc vào răng, sáng hôm sau bóc miếng lá nón ra, răng đen nhánh. Nhưng phải ăn cháo cả ngày, đến hôm sau mới dám ăn cơm, để giữ cho thuốc nhuộm bám chắc. Tài thật, thế mà răng đen bền rất lâu. Cùng với đó là chuẩn bị mua trầu, cau, vỏ, lọ bình vôi cho đầy đủ để Tết ăn trầu cho ấm người, má hồng, môi đỏ…

Trẻ con rất tò mò thấy những người lạ gánh hàng Tết đi bán rong dọc làng, chủ yếu là vàng, hương, trầu, cau, vôi, vỏ, hạt tiêu … Hay nhất là mấy người thợ “rum", đi nhuộm thuê quần áo, chủ yếu là nhuộm yếm và các thắt lưng. Các bà thì thắt ‘bao tượng" đũi giản dị thôi. Nhưng các chị, các cô thì thích mặc yếm đào, áo mớ ba mớ bảy và thắt lưng ba bốn màu. Các màu ưa nhất là màu xanh lá mạ, màu đỏ tía hay hoa đào, màu vàng, màu mận chín... Chị Vượng còn có bộ dây “xà tích” bằng bạc để đeo cùng với mớ thắt lưng, khi đi, vừa thấy màu sắc thắt tung tẩy, vừa nghe tiếng “xà tích” lanh canh… Ra Tết, Hội làng, các chị, các cô mới thích diện, nhất là nhún cây đu cho thắt lưng rực rỡ tung bay và tiếng “xà tích" leng keng"...

Trước ngày cúng ông Công ông Táo, Bố dẫn mấy anh em đi TẢO MỘ. Bố vác cuốc, anh Trân hơn mình 4 tuổi thì cầm cái cái liềm với mồi rơm giữ lửa, mình cầm mấy thẻ hương. Trời gió rét mà 3 bố con cứ đi chân đất ra cánh đồng.

Bố dẫn đến mộ Ông nội ở bên kia đê, là ngôi mộ xa nhất, rồi giải thích tại sao lại để mộ Ông ở đây… 

Mộ Ông cỏ mọc um tùm. Bố lấy cuốc khua khua vào đám cỏ và bảo, có rắn rết thì nó chạy đi. Bố bảo anh Trân lấy liềm cắt cỏ trên mộ. Mộ Ông không xây gạch, không có bia như bây giờ. Mộ chỉ là một mô đất tròn tròn, cao nhô lên và có một cục đá xanh cắm ở bên để đánh dấu. Bố lấy cuốc vạc cỏ ở chung quanh mộ và đánh mấy vầng cỏ đắp vào chỗ lõm trên mộ…

Ngắm ngôi mộ sạch sẽ, tươm tất, mới mẻ, bố mới lấy 3 nén hương, châm mồi lửa thắp lên, cắm trên mộ và khấn vái. Hai anh em cũng làm theo bố. Bố giải thích là mời Ông về ăn Tết với con cháu.

Sau đó về Đống Con Cá rồi Đống Con Phượng sửa sang mộ của Cụ ông, Cụ Bà rồi mộ hai Bà… Tất cả đến 7-8 ngôi mộ.

Xong việc tảo mộ đến DỌN DẸP nhà cửa. Phải lấy cái chổi rơm mới, buộc vào đầu sào để quét mạng nhện trên mái nhà, vách nhà… Rồi lau dọn Bàn thờ gia tiên. Đồ thờ bằng đồng, bằng gỗ phải đem cọ rửa, lau khô và sắp đặt y như cũ… Mâm “ngũ quả” cũng toàn cây nhà lá vườn đơn sơ thôi. Bố chỉ bảo cho các con trai làm từng việc; còn Mẹ và con gái lo các thứ chuẩn bị gói bánh chưng và mâm cỗ cúng tất niên.

Ngày xưa chuẩn bị cho cái Tết từ nửa năm trời. Mấy nhà vào loại trung nông như nhà mình thường hẹn nhau đụng một con lợn, thường chọn con lợn ỷ, được nuôi cẩn thận, gần Tết vỗ béo, cho ăn nhiều cám, ít bèo...Rồi gà phải thiến trước 5-6 tháng; măng, mộc nhĩ phải phơi, cất gác bếp; lá dong gói bánh chưng trồng ngoài vườn, phải chăm sóc trước mấy tháng… Cái mo cau để bó giò xào, giò thủ cũng để sẵn trên gác bếp, đem ngâm nước cho mềm ra…

Trong nhà xong rồi thì dọn dẹp ngoài sân, vườn, cổng ngõ. Tất cả phải gọn gàng, sạch sẽ, kẻo năm mới bà con đến chúc Tết, người ta cười cho, có mà rông cả năm!

Nhà cửa tươm tất rồi, Bố mới dẫn mấy anh em ra bụi tre, chọn cây tre cao, thẳng, làm CÂY NÊU. Cây tre được róc nhẵn nhụi, chỉ để mấy cành lá trên ngọn, trên đó treo một mảnh vải điều, Bố viết mấy chữ Nho, mấy tua sợi xanh, đỏ, tím, vàng, mấy cái chuông, khánh nhỏ. Cây Nêu dựng lên, anh em có vẻ thích lắm: Cây Nêu nhà mình có khi cao nhất nhì trong xóm, và khoái chí thấy tấm vải điều, mấy sợi tua ngũ sắc cùng với cành lá tre bay phất phơ, tiếng chuông khánh kêu leng keng…

Tiết mục hồi hộp nhất là sáng 30 Tết MỔ LỢN. Trong xóm đã nghe tiếng lợn nhà ai kêu “éc ec"... rồi. Nhà mình cũng sắp mổ lợn. Ngày xưa trẻ con xúm đến xem mổ lợn, giã giò, gói bánh chưng... lại được khuyến khích: Này lũ trẻ, phải nhìn cho kỹ, sau này có cái ăn còn biết làm cho ra tấm ra miếng…

Con lợn ỷ chừng 60 cân hơi, mổ ra chắc được hơn 40kg cả xương lẫn thịt, chia 4 phần. Nhà mình đông người ăn “một góc”. Các nhà khác lại chia đôi, tức là ăn “một khoé" (⅛). Mấy đứa trẻ con tranh nhau cái bong bóng lợn. Người lớn phải phân giải: nhà thằng Trân nuôi lợn, lại ăn một góc nên nó được cái bong bóng. Nói vậy, nhưng cả đám trẻ xúm lại đem cái bóng lợn vào bếp, lấy tro nóng nhồi, bóp rồi rửa sạch, thổi phồng lên và ra tung, ném chơi với nhau….

Lạ nhất là món Tiết canh, lòng lợn. Mấy người lớn, “hãm" rồi “đánh" tiết canh thế nào mà nhà ăn một góc lợn được 2 bát, nhà ăn một “khoé" được một bát… Rồi những thứ đậu rang lên giã ra trộn với các thứ lá và tiết để dồi vào bộ lòng lợn. Lòng luộc xong cũng được chia phần như chia thịt.

Bố bỏ thịt vào cái nia, lọc xương ra, bảo để ninh măng. Thịt nạc thăn lọc ra, bảo chú Đạt với anh Vượng (anh cả) giã lấy cái giò nạc; thịt vai, mông thái ra ướp hạt tiêu, nước mắm để gói bánh chưng. Bố đã tính, thái 40 miếng thịt to đều nhau để gói 20 cái bánh chưng; mấy miếng thịt vụn để gói bánh chưng con cho mỗi đứa trẻ một cái.

Bố với anh cả Vượng làm mấy cái giò lụa, giò sỏ, giò xào rồi gói bánh chưng. Xế chiều mới bắc bếp luộc bánh ở góc sân. Trẻ con hồi hộp ngồi vây quanh nồi bánh, vừa sưởi ấm, vừa tiếp củi, vừa nướng ngô, khoai ăn với nhau và háo hức mong ngóng chiếc bánh chưng con.

Trong khi đó Mẹ, Thím Đạt, chị Sen (dưới anh cả Vượng) cùng với chị Vượng thì lo thịt gà, nấu cỗ làm cơm cúng tất niên. Vậy là mâm cúng tất niên chỉ có xôi, gà, thịt ba chỉ luộc và các món nấu, chưa có bánh chưng và các món giò…

Rượu thì cô Kham lấy chồng ở làng Hóp, chuyên nấu rượu, đem cho một vò. Cô Mùi lấy chồng ở Đồn Phao (Phả lại) chuyên làm nước mắm thì đem cho một hũ mắm ngon...

Nhưng bọn trẻ chưa được ăn. Người lớn thì đi gội đầu bằng nước nóng đun với cây Mùi già; trẻ con bị lôi ra góc sân tắm với loại nước thơm đó, rét run cầm cập...

Bố với chú Đạt cúng xong thì trải chiếu ra sân gạch, sắp ba mâm, vì cả nhà mình đã 10 người, cùng với bốn mẹ con thím Nhiên và vợ chồng chú Đạt, lúc đó cùng ở quây quần trên mảnh vườn của Ông Nội để lại. Cỗ 30 Tết cả nhà đông vui, lại có xôi, thịt gà, lòng lợn, thịt lợn luộc, các món xào nấu...Chỉ có Bố, Chú, các anh mới được ăn tiết canh, uống rượu. Nhưng với trẻ con, cỗ Tết thế này cũng ngon ơi là ngon...

Ăn cơm xong thấy anh Vượng, anh Trân lấy vôi ra vẽ ở góc sân một cái cung lắp mũi tên, bắn ra ngoài. Bốn góc sân đều vẽ như vậy. Anh Vượng bảo, các mũi tên chĩa ra bốn phía Đông, Tây, Nam, Bắc để trừ ma quái không dám vào nhà.

Bọn trẻ con chầu chực phải tối lâu lâu, bánh con mới được vớt ra, mỗi đứa một chiếc. Nhưng bánh nóng, nhũn quá, phải ngâm vào nước, nắn cho vuông, treo lên, sáng hôm sau mới được ăn… 

Sáng Mùng một cả nhà ai cũng hồi hộp, dậy sớm xem anh Vượng, anh Trân đốt pháo. Có 2 bánh pháo tép, đốt lên nổ đì đẹt, mùi khét khét, thơm thơm, xác pháo màu hoa đào, bay tung tóe trên sân trước cửa nhà. Để thế mới đẹp. Năm mới không được quét sân, quét nhà, hót của đổ đi!

Trẻ con được người lớn lôi ra rửa mặt bằng nước mùi thơm, đun lên pha nóng, mặc quần áo mới, ăn bánh chưng con và sướng nhất được mấy xu mừng tuổi... 

Thấy bố đặt bánh chưng và mấy thứ lên bàn thờ, thắp hương khấn vái, rồi bảo anh Trân với mình theo Bố ra lễ Đình làng. Mấy bà thì chuẩn bị đi lễ Chùa... 

Lần đầu tiên mình được mặc áo the (chưa có khăn xếp), nhưng được đi guốc theo Bố đi lễ. 

Sân Đình cắm đầy cờ Thần, bay phấp phới. Dân làng đã khá đông, chúc tụng nhau râm ran.

Bố giải thích về Thành hoàng làng có hai vị. Đệ nhất Thành hoàng là Tiến sĩ Tuấn Lương, Ngài làm quan đời Lý, khi nhà Trần lên, Ngài chạy về làng, lúc ấy là xóm Trại hẻo lánh bên sông để ở ẩn, rồi mở lớp dạy chữ cho dân làng, bảo ban dân làng mở mang làm ăn… Đệ nhị Thành hoàng là một tướng nhà Trần, đánh quân Tàu xâm lược trên sông Bạch Đằng, tử trận, trôi về bờ sông bên làng, đùn lên thành đống mối. Làng chôn cất Ngài ở Đống Nhất…

Buổi trưa Mồng một Lễ cúng gia tiên mới đúng là Tết, có đủ bánh chưng, giò nạc, giò thủ, giò xào, các món xào, nấu … Cơm cúng là cơm gạo Dự, cơm mới sôi lên ở dưới bếp đã thơm lừng cả nhà. Thường gia đình trung nông trở lên, nhà ai cũng cấy một - hai sào lúa Dự (giống như lúa Tám thơm) để ăn vào những dịp Giỗ, Tết. (Từ khi vào HTX thì giống lúa này tuyệt chủng, vì năng suất thấp).

Mọi người đã bàn đến cỗ cúng trưa Mùng ba hóa vàng, đây cũng là bữa cỗ to, kết thúc “ăn Tết". Rồi bàn đến “Vào Đám" mùng 6 tháng Giêng, giã bánh dày đi Hội… Thấy các bà, các chị bảo, năm nay Phường Chèo mãi đâu sẽ về diễn Quan Âm Thị Kính. Người thì bảo Quan Âm Thị Kính, năm kia xem rồi. Người khác lại bảo thì xem phường này diễn có hay không? Phường trước, con Thị Màu già quá, nhưng nó hát hay, diễn lẳng ơi là lẳng… Người khác lại bảo, sao bảo diễn vở Trương Viên hay Phạm Tải Ngọc Hoa… Xem ra các bà, các chị thuộc hết các vở chèo, nhưng cứ diễn đi, diễn lại, mỗi phường một khác nhau, vẫn hay…

Rồi con trai, con gái làng này lại đi sang các làng khác xem Hội của nhau. Đúng kiểu “Tháng Giêng là tháng ăn chơi"...

Nay nghĩ lại thấy, đời sống dân làng mình khá đồng đều, nên Tết cả làng rất vui. Làng có chừng 150 gia đình; có ba nhà xứng đáng là Địa chủ (họ giỏi làm ăn nhiều đời, chứ chả dám gây ác với dân làng; chuyện hách dịch thì có); có chừng 7 nhà Phú nông (cũng làm ăn giỏi, căn cơ); chừng 30 nhà Trung nông như nhà mình. Số còn lại ở mức nghèo khác nhau, nhưng ít người bị đói. Năm đói 1945, làng mình chỉ chết đói có hai người; một người già và một anh tên là Ất, mồ côi cả cha lẫn mẹ, đêm đi bẻ trộm ngô mãi bãi sông, về ngã xuống mương nước chết rét…

06/2/2021
MVT


MỪNG XUÂN ĐÃ VỀ - Thơ Mai Xuân Thanh,Yên Hà.Đặng Xuân Linh,Cao Mỵ Nhân


 “Mừng Xuân Hỷ Xả Thêm Công Đức
ĐÓN TẾT TỪ BI HẾT NÃO PHIỀN “
  ( Tung Hoành Trục Khoán)

MỪNG “Cọp” Tân Niên, dịch cũng yên
XUÂN mai cúc trúc cảnh đoàn viên
HỶ duyên may mắn chàng ta khỏe
XẢ nợ hanh thông thiếp vợ hiền
THÊM lộc cửa nhà, tu phước hậu
CÔNG quả thiền môn, dưỡng sinh tiền
ĐỨC tài bác ái, đâu lo lắng
ĐÓN TẾT TỪ BI HẾT NÃO PHIỀN ...!

Mai Xuân Thanh 

 

   Họa : MỪNG VUI NĂM MỚI

MỪNG vui năm mới cả làng yên 
XUÂN đến mọi nhà lễ tổ viên 
HỶ nộ ái ố cần thiết bỏ 
XẢ thân cầu đạo luyện tâm hiền 
THÊM tài bồi đức công tu tập 
CÔNG quả vẹn toàn giải nghiệp tiền
ĐỨC hạnh thuần lương đâu dễ kiếm 
ĐÓN TẾT TỪ BI HẾT NÃO PHIỀN…
                 Yên Hà
                   1/2/2022

 

 Họa : Từ Bi Xoá Ưu Phiền

Năm nay Cọp tới sẽ lành yên,
Xuân đến  nhà nhà cảnh trọn viên.
Hỷ được duyên may hoa nở thắm
Xả buồn thông thả trí thanh hiền.
Thêm tình nhân ái thu nhàn thiện,
Công quả tâm tim xoá nghiệp tiền.
Đức tính  ôn hoà nhiều phước lộc,
Đón mừng ngày Tết hết ưu phiền.
Đặng Xuân Linh
02-02-2022

 

 Họa : XUÂN AN TỊNH .

MỪNG sao hai chữ mãi bình yên
XUÂN mới chờ mong cảnh mãn viên
HỶ để chân tâm tu chánh đạo 
XẢ buông tạp niệm học chư hiền
THÊM lời huấn thị lòng nhân ái
CÔNG sức chiêu quân chốn trận tiền
ĐỨC trọng tài cao cùng hạnh ngộ
ĐÓN Từ Bi Tết hết buồn phiền ...
   Hawthorne  8 - 2 - 2022
         CAO MỴ NHÂN 


 

GÓC VIỆT THI : CHÙM THƠ XUÂN

 

1. Bài thơ NGUYÊN NHẬT :

        Lê Cảnh Tuân 黎景詢 (?-1416?) tên chữ là Tử Mưu, hiệu là Tỉnh Trai, người làng Mộ Trạch, huyện Đường An (nguyên trước ở làng Lão Lạt phủ Thanh Hoá). Không rõ ông sinh năm nào. Lê Cảnh Tuân đỗ Thái học sinh vào năm Canh thìn (1400), dưới triều Hồ. Ông là danh sĩ dưới triều Hồ. Hiện chỉ còn lưu lại 12 bài thơ chép trong Toàn Việt thi lục. Dưới đây là bài Ngũ Ngôn tuyệt cú của ông làm khi Tết đến mà không dám về quê.

  元日               Nguyên Nhật

旅館客仍在,    Lữ quán khách nhưng tại,
去年春復來。    Khứ niên xuân phục lai.
歸期何日是?    Quy kỳ hà nhật thị ?
老盡故園梅。    Lão tận cố viên mai!
          黎景詢                Lê Cảnh Tuân 

* Chú thích:
     - Nguyên Nhật 元日 : là Ngày đầu, ta phải hiểu là Ngày Đầu Của Một Năm, như chữ Nguyên Đán Là TẾT NGUYÊN ĐÁN của ta đó.
     - Nhưng 仍 : là Vẫn, Vẫn Cứ...
     - Phục 復 : là Lại, là Trở lại.
     - Quy Kỳ 歸期 : Cái kỳ hạn trở về, là Ngày Về.
     - Lão Tận 老盡 : là Già đến tận cùng, là Già khú, già chát, già khằng!

* Nghĩa Bài Thơ:
                                      NGÀY ĐẦU NĂM
       Người khách tha hương vẫn còn ở nơi quán trọ nầy, nhưng mùa xuân của năm rồi, năm nay lại trở lại. Biết ngày nào mới là ngày về đây? Chắc cành mai già ở quê nhà đã già cỗi hết rồi!

      Não nùng thay tâm trạng của người lìa quê xa xứ trong những ngày xuân đến Tết về. Câu "去年春復來 Khứ niên xuân phục lai" Mùa xuân năm trước lại trở về đây, cho ta thấy ít nhất Lê Cảnh Tuân cũng đã hai năm không được về quê ăn Tết rồi. Cội mai già còn cằn cỗi huống hồ chi là các đấng sanh thành ở quê nhà chắc cũng không tránh khỏi buồn thương sầu não mà càng héo tàn lụm cụm!

4. Diễn Nôm:

       NGUYÊN NHẬT

Khách còn nơi quán trọ,
Xuân năm trước lại sang.
Biết ngày nao trở lại ?
Cội mai đã cỗi tàn !

Lục bát:
            Trọ nơi lữ quán khách còn
            Mùa xuân năm trước lon ton lại về
            Ngày nao mới được hồi quê?
            Cội mai vườn cũ xuân về khẳng khiu!
                                         Đỗ Chiêu Đức diễn Nôm

2. Bài thơ SƠ XUÂN :

           Nguyễn Tử Thành 阮子成 hiệu là Tùng Hiên, đời Trần. Quê quán, năm sinh, năm mất cùng sự nghiệp của ông đều chưa rõ, chỉ còn 11 bài thơ chép trong Toàn Việt Thi Lục 全越詩錄.Dưới đây là một trong những bài thơ tiêu biểu của ông.

    初春                          SƠ XUÂN

臘梅開盡雪飄零,      Lạp mai khai tận, tuyết phiêu linh,
老大情懷節物驚。      Lão đại tình hoài tiết vật kinh.  
傍水人家楊柳嫩,      Bàng thủy nhân gia dương liễu nộn,
寒天客院半陰晴。      Hàn thiên khách viện bán âm tình .   
遊蜂摘蜜穿花去,      Du phong trích mật xuyên hoa khứ,            
野蝶偷香帶粉經。      Dã diệp thâu hương đới phấn kinh. 
檢點名園供勝賞,      Kiểm điểm danh viên cung thắng thưởng, 
春花一樣百般生。      Xuân hoa nhất dạng bách ban sinh.
              阮子成                                   Nguyễn Tử Thành   
  
* Chú thích :
    - SƠ XUÂN 初春 : Buổi ban sơ của mùa xuân; là ĐẦU XUÂN.
    - Lạp Mai 臘梅 : LẠP là Tháng Chạp; Nên LẠP MAI là Loại mai nở vào tháng 12 âm lịch.  
    - Tiết Vật 節物 : Thời tiết và cảnh vật.
    - Bàng Thủy 傍水 : Ở cạnh bờ nước; ở gần sông hồ.
    - Bán Âm Tình 半陰晴 : là Nửa râm nửa nắng.  
    - Trích Mật 摘蜜 : là Hái mật, chỉ ong hút mật.
    - Thâu Hương 偷香 : là Trộm hương, ở đây chỉ bướm hút phấn thơm của hoa.
    - Danh Viên 名園 : là Những vườn hoa nổi tiếng. 

* Nghĩa bài thơ : 
                          ĐẦU XUÂN
       Lạp mai trong tháng chạp đã nở cả rồi, tuyết chỉ còn rơi rải rác. Tâm tình của người già thấy thời tiết cảnh vật thay đổi mà phát kinh. Nhà ai bên bến nước dương liễu mới trổ xanh non, Trời còn lạnh nên phòng khách nửa râm nửa nắng. Những con ong bay lượn hút mật rồi bay xuyên qua những cánh hoa, và những con bướm hoang trộm hương hoa mang phấn bay đi. Kiểm điểm lại những vườn hoa nổi tiếng mà người ta thường tán thưởng thì thấy rằng : Hoa xuân nở ra trăm vẻ đều đẹp như nhau mà thôi. (Chớ không phải vườn nổi tiếng thì hoa nở mới đẹp, còn vườn bình thường thì hoa nở không đẹp !).

* Diễn Nôm :
                              ĐẦU XUÂN
                   

                    Tuyết rơi mai nở báo xuân sang,
                    Cảnh vật đổi thay luống ngỡ ngàng.
                    Bến nước nhà ai xanh liễu mới,
                    Trời râm phòng khách nắng hoe vàng.
                    Ong vui hái mật đùa bay lượn,
                    Bướm hút nhuỵ hoa vội tách ngang.
                    Điểm hết vườn xuân bao thắng cảnh,
                    Hoa xuân trăm vẻ đẹp mơ màng.
       Lục bát :
                    Tuyết rơi mai nở hết rồi,
                    Tuổi già thấy cảnh đổi dời mà kinh.
                    Nhà ai bến nước liễu xinh,
                    Nửa râm nửa nắng sân đình đìu hiu.
                    Ong bay hút mật dập dìu,
                    Bướm hoang lén trộm thật nhiều phấn hoa.
                    Vườn xuân nổi tiếng gần xa,
                    Hoa xuân trăm vẻ mặn mà như nhau.
                                                Đỗ Chiêu Đức diễn Nôm

3. Bài thơ XUÂN NHẬT HIỂU KHỞI :

           Nguyễn Văn Siêu 阮文超 (1798-1872) tên khác là Định 定, tự Tốn Ban 遜班, hiệu Phương Đình 方亭 và Thọ Xương cư sĩ 壽昌居士, thuỵ Chí Đạo 志道, người làng Kim Lũ, huyện Thanh Trì, tỉnh Hà Đông. Đỗ phó bảng năm 1838 đời vua Minh Mệnh. Ông là người cùng thời với Cao Bá Quát, hai người nổi tiếng có tài văn thơ mà dân gian hay truyền tụng là “thần Siêu thánh Quát”. Nguyễn Văn Siêu làm quan đến chức án sát, có sang sứ Trung Hoa. Sau đây là bài thơ tiêu biểu của ông trong ngày xuân.

春日曉起        XUÂN NHẬT HIỂU KHỞI 

宿火明書牖,    Túc hỏa minh thư dũ,
曉鍾聞佛臺。    Hiểu chung văn Phật đài.
主人催被起,    Chủ nhân thôi bị khởi,
小子報花開。    Tiểu tử báo hoa khai.
夜氣融孤竹,    Dạ khí dung cô trúc,
晴光弄小梅。    Tình quang lộng tiểu mai.
流鶯囀不已,    Lưu oanh chuyển bất dĩ,
應有故人來。    Ưng hữu cố nhân lai !
     阮文超                    Nguyễn Văn Siêu
  

* Chú Thích :
    - Túc Hỏa 宿火: Đèn hoặc nến ban đêm để thắp sáng.
    - Thư Dũ 書牖 : Cửa sổ bên bàn học.
    - Hiểu Chung 曉鍾 : Chuông chùa công phu buổi sáng.
    - Thôi Bị Khởi 催被起 : Đẩy cái mền ra ngồi dậy, ý chỉ thức giấc.
    - Tiểu Tử 小子 : Ở đây không có nghĩa là CON NHỎ mà là Tiểu Đồng, Thư Đồng để đối với chữ CHỦ NHÂN ở trên.
    - Dung 融 : là Hòa, Tan, lẫn vào.
    - Tình Quang 晴光 : là Ánh Nắng sáng.
    - Chuyển 囀 : Có bộ KHẨU 口 là Cái miệng bên trái, là (tiếng hót) Uyển Chuyển, véo von, líu lo.
    - Ưng Hữu 應有 : Chắc có, Có thể có.

* Nghĩa Bài Thơ :
                        SÁNG XUÂN THỨC GIẤC 
       Đèn đêm còn chiếu sáng song cửa sổ, đã nghe tiếng chuông công phu buổi sáng ở Phật đài rồi. Chủ nhân vừa tung chăn thức giấc thì tiểu đồng đã báo cho biết là hoa sáng cũng đã nở rồi. (Mở cửa ra thì thấy) Hơi đêm còn như đang tan vào bụi trúc cô đơn trước ngõ và ánh nắng ban mai le lói như đang ghẹo cành mai nhỏ trước sân, tiếng chim oanh bay lượn không ngừng hót líu lo, như báo trước chắc là có bạn cũ đến chơi.

* Diễn Nôm :
                      XUÂN NHẬT HIỂU KHỞI
                                    
                   Đèn đêm còn soi song cửa,
                   Đã nghe chuông sớm ngân nga.
                   Chủ nhân tung chăn thức giấc,
                   Tiểu đồng báo sáng nở hoa.
                   Hơi đêm tan vào tre lạnh,
                   Nắng sớm ghẹo cội mai già.
                   Tiếng oanh líu lo không ngớt,
                   Chắc là bạn đến thăm ta !

        Lục bát :
                   Đèn còn hắt sáng cửa song,
                   Phật đài đã vẳng chuông ngân đầu ngày.
                   Chủ nhân thức giấc vươn vai,
                   Thư đồng đã báo nở vài cành hoa.
                   Hơi đêm nhành trúc la đà,
                   Vài tia nắng sớm ghẹo hoa mai vàng.
                   Chim oanh ríu rít rộn ràng,
                   Chắc là có bạn thuận đàng ghé chơi !
                                                    Đỗ Chiêu Đức diễn Nôm

4. Bài thơ SƠ XUÂN của THÁI THUẬN :

           Thái Thuận 蔡順 (1440-?) tự Nghĩa Hoà, hiệu Lục Khê, biệt hiệu Lữ Đường, sinh 1440. Đậu tiến sĩ 1475 (niên hiệu Hồng Đức thứ 6). Làm quan ở nội các viện triều Lê Thánh Tông hơn 20 năm, sau được bổ làm tham chính ở Hải Dương, sau nữa được đặc cách giữ chức phó nguyên suý hội Tao Đàn. Tác phẩm còn lại: Lữ Đường Thi di cảo do con trai là Thái Khác và học trò là Đỗ Chính Mô sưu tầm, biên soạn.

   初春                      SƠ XUÂN

三冬過了一春歸,     Tam đông qúa liễu nhất xuân qui,
乍暖東風放放吹。     Sạ noãn đông phong phóng phóng xuy.  
冰雪凍痕鋪水面,     Băng tuyết đống ngân phô thủy diện, 
乾坤生意上林枝。     Càn khôn sanh ý thượng lâm chi. 
柳還舊綠鶯猶靜,     Liễu hoàn cựu lục oanh do tĩnh, 
桃試新紅蝶未知。     Đào thí tân hồng điệp vị tri. 
日暮鄉關迴首望,     Nhật mộ hương quan hồi thủ vọng, 
草心遊子不塍悲。     Thảo tâm du tử bất thăng bi !
               蔡順                                   Thái Thuận
    

* CHÚ THÍCH :
     - SƠ XUÂN 初春 : Mới bắt đầu mùa xuân, là Chớm Xuân, là Đầu Xuân.
     - TAM ĐÔNG 三冬 : Chỉ 3 tháng của mùa đông.
     - SẠ NOÃN 乍暖 : SẠ 乍 là Bất chợt, Bỗng nhiên. SẠ NOÃN là Chợt ấm lên.
     - NGÂN 痕 : là Vết sẹo, là Dấu vết.
     - SANH Ý 生意 : là Cái ý sống, cái ý sinh tồn. Sau dùng rộng ra chỉ Sự làm ăn buôn bán của con người để kiếm sống.
     - THẢO TÂM 草心 : Nỗi lòng của tấc cỏ.

* NGHĨA BÀI THƠ :
                           CHỚM XUÂN
       Mùa xuân vừa mới trở về sau ba tháng của mùa đông đã qua đi rồi. Trời chợt ấm lại nên gió xuân từ hướng đông đã hay hẩy thổi đến. Dấu ấn của băng tuyết còn sót lại bày ra trên mặt nước, và ý sống của đất trời đã nẩy mầm trên các cành ngọn của cây rừng. Liễu thì vẫn xanh tốt như xưa, và đào thì đã trổ màu hồng mới nhưng bướm vẫn còn chưa hay biết. Trời chiều quay đầu trông ngóng về phía quê xa, tấc lòng của người con du tử không tránh khỏi nỗi xót xa !

      Bài thơ Sơ Xuân của Thái Thuận đọc lên nghe như có âm vang hơi hám của thuở Thịnh Đường, ngay từ câu đầu tiên :

               三冬過了一春歸    Tam đông qúa liễu nhất xuân quy.

     Từ "Tam đông" làm ta nhớ đến từ "Tam xuân" trong 2 câu trong bài "Du Tử Ngâm" của Mạnh Giao đời Đường là :

                   誰言寸草心,      Thuỳ ngôn thốn thảo tâm,
                   報得三春暉.        Báo đắc Tam Xuân huy.

   mà cụ Nguyễn Du đã thoát dịch rất hay là :

               "Liều đem tấc cỏ quyết đền ba xuân"

   Ta thấy từ "Thảo Tâm Du Tử" : Tấc lòng của người con du tử, lại được Thái Thuận sử dung ở câu cuối :
           草心遊子不塍悲。    Thảo tâm du tử bất thăng bi ! (Tấm lòng như tấc cỏ của người con du tử không tránh khỏi buồn thương ray rức )...
   và nhất là câu:
                   日暮鄉關迴首望,   Nhật mộ hương quan hồi thủ vọng,

    lại làm cho ta nhớ đến 2 câu thơ cuối của Thôi Hiệu trong bài Hoàng Hạc Lâu là:

                   日暮鄉關何處是?   Nhật mộ hương quan hà xứ thị
                   煙波江上使人愁。   Yên ba giang thượng sử nhân sầu.
 ... mà Tản Đà đã dịch rất hay là :

                   Quê hương khuất bóng hoàng hôn,
                 Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai !
                     
* DIỄN NÔM :
                    CHỚM XUÂN

          Ba tháng đông qua xuân lại thay,
          Gió xuân hây hẩy ấm lòng ai.
          Dấu tàn băng tuyết in dòng nước,
          Chồi mới đất trời biếc ngọn cây.
          Liễu đã xanh om oanh vắng tiếng,
          Đào đà đỏ nụ bướm chưa hay.
          Quay nhìn quê cũ khi chiều xuống,
          Du tử bồi hồi mắt lệ cay !
 Lục bát :
          Đông qua nay lại chớm xuân,
          Khí trời chợt ấm gió đông lào xào.
          Nước trôi băng tuyết dạo nào,
          Rừng cây nẩy lộc chồi cao xanh cành.
          Liễu buồn oanh hãy vắng tanh,
          Đào buồn vắng bướm cành xanh ửng hồng.
          Trời chiều quê cũ vời trông,
          Bồi hồi du tử chạnh lòng xót xa !                                            
                               Đỗ Chiêu Đức diễn Nôm   

5. Bài thơ  XUÂN ĐÁN của CHU VĂN AN :
 
          春旦                         XUÂN ĐÁN                 
    寂寞山家鎮日閒,    Tịch mịch sơn gia trấn nhựt nhàn,
    竹扉斜擁護輕寒。    Trúc phi tà ủng hộ khinh hàn.
    碧迷草色天如醉,    Bích mê thảo sắc thiên như túy
    紅濕花梢露未乾。    Hồngthấp hoa tiêu lộ vị can.
    身與孤雲長戀岫,    Thân dữ cô vân trừơng luyến tụ
    心同古井不生瀾。    Tâm đồng cổ tỉnh bất sanh lan.
    柏薰半冷茶煙歇,    Bách huân bán lãnh trà yên yết,
    溪鳥一聲春夢殘。    Khê điểu nhất thanh xuân mộng tàn.
             朱文安                             Chu Văn An

  
* Chú thích :
    - Trấn Nhật 鎮日 : là Suốt cả ngày.
    - Tà Ủng 斜擁 : TÀ là Nghiêng , là Xiên; ỦNG là Ôm; nên TÀ ỦNG là Ôm Nghiêng, chỉ cánh cửa tre (trúc phi) xiêu vẹo nghiêng nghiêng ôm lấy cửa rào.
    - Bích Mê 碧迷 : là Xanh biêng biếc; BÍCH MÊ THẢO SẮC 碧迷草色 là màu cỏ xanh biêng biếc.
    - Hồng Thấp Hoa Tiêu 紅濕花梢 : là Đỏ ướt cả đầu cành hoa, vì Sương Chưa Khô : LỘ VỊ CAN 露未乾.
    - Tụ 岫 : Những cái hang trên đỉnh núi, thường có hơi bốc lên thành mây.
    - Lan 瀾 : là những gợn sóng nhỏ; BẤT SANH LAN 不生瀾 Không còn gợn sóng. 
    - Bách Huân 柏薰 : Cây Bách cây thông dùng để đốt lửa hong cho ấm.
    - Trà Yên 茶煙 : YÊN là Khói mà cũng có nghĩa là Thuốc hút nữa (thuốc Lào chẳng hạn); nên TRÀ YÊN là Trà và thuốc hút. 
   - Yết 歇 : là Nghỉ, là thôi, ở đây có nghĩa là Hết, là Cạn.

* Dịch Nghĩa : 
                     Sáng Ngày Xuân
       Suốt ngày nhàn hạ rảnh rổi với ngôi nhà quạnh quẽ vắng lặng ở trên núi nầy. Chiếc cửa tre xiêu vẹo ôm ấp lấy căn nhà che chắn bớt cái cơn lạnh nhè nhẹ đang lan tỏa. Nhìn xuống xa xa bãi cỏ non xanh biếc, bầu trời cũng xanh biếc như ngất ngây say. Những đóa hoa hồng lên trên cành rực rỡ với các giọt sương còn lóng lánh chưa khô. Tấm thân ta như đám mây đơn lẻ kia cứ mãi quyến luyến không nở rời đỉnh núi, và lòng ta thì đã khô cằn như chiếc giếng xưa kia đã không còn dậy sóng nữa. Những nhánh tùng bách cháy tàn nửa vời lạnh lẽo, trà thuốc cũng đã cạn rồi. Những con chim bên khe vổ cánh bay tiếng kêu oang oác làm chợt tỉnh giấc, mộng xuân cũng tàn lụi theo luôn.

* DIỄN NÔM :
                            XUÂN ĐÁN
                 

              Nhà tịch mịch núi cao nghe vắng vẻ,
              Cửa phên tre nghiêng ngã lạnh lan tràn.
              Trời như say thảm cỏ biếc mênh mang,
              Hoa đỏ thắm đầu cành sương chưa ráo.
              Thân nầy tựa như mây còn luyến núi,
              Lòng thì như giếng cạn sóng đà an.
              Lửa tắt trà khô thuốc hết đêm tàn,
              Chim oang oác giật mình tan giấc mộng !
Lục bát :
             Nhà cao vắng vẻ an nhàn,
             Cửa tre xiêu vẹo lạnh tràn gió đông.
             Trời xanh đồng cỏ mênh mông,
             Ngậm sương mấy đóa hoa hồng nở xinh.
             Thân như mây nổi linh đinh,
             Lòng như giếng cạn không sinh sóng hời.
             Đêm tàn lửa tắt trà vơi,
             Chim kêu tỉnh giấc một trời xuân mơ !
                                           Đỗ Chiêu Đức diễn Nôm

        Chúc mọi người đều có được một cái Tết BÌNH AN,  NHƯ Ý !

        Hẹn bài viết tới !
                                                                                            杜紹德
                                                                                        Đỗ Chiêu Đức




CHÚC MỪNG XUÂN NHÂM DẦN

 

Kính Chúc Quí Thân Hửu,Quí Độc Giả và Gia Đình :

Một Năm Mới Nhâm Dần Luôn Được VẠN SỰ NHƯ Ý 


 

NHỚ QUÊN - Thơ Sông Thu Và Thơ Họa

NHỚ...QUÊN... Tuổi già lúc nhớ lại khi quên Quên...nhớ...bao phen tạo lụy phiền Chuyện tự xa xưa lòng vẫn nhớ Điều vừa trước mắt dạ liền qu...