Thứ Hai, 7 tháng 4, 2025

NOEL TRĂNG MẬT -Thơ Đỗ Chiêu Đức và Thơ Họa

 

NOEL TRĂNG MẬT

Lữ thứ lòng quê mãi vấn vương,
Năm mươi năm cũ lúc lên đường...
Lâm Viên bát ngát thông đưa gió,
Đà Lạt mộng mơ hoa ngát hương.
Trăng mật Giáng sinh tràn hạnh phúc,
Tân hôn dưới thế ngập niềm thương.
Cặp đôi Lục tỉnh hồn bay bổng...
Mật ngọt nhân sinh tuế nguyệt trường !...

Đỗ Chiêu Đức
12-25-2024


Thơ Họa:


1./ TRĂNG MẬT ĐÁNG YÊU

Bao lần nhắc lại vẫn hoài vương
Dạo bước tung tăng khắp nẻo đường
Cẩm Tú hoa tròn chi chít nhuỵ
Dã Quỳ cánh mỏng nhẹ nhàng hương
Năm mươi năm chẵn bền duyên kết
Hai trái tim nồng vững dạ thương
Đà Lạt nào quên nhiều kỷ niệm
Vầng trăng chứng giám giữa đêm trường!

Như Thu
04/03/2025


2./ LỄ VÀNG HẠNH PHÚC .

Thầy trò hi hữu đẹp tơ vương
Duyên số tao khang tới trọn đường
CHIÊU ĐỨC GIÁO SƯ NGƯỜI THỨC GIẢ
TỐ QUYÊN NỮ HỌC SINH THIÊN HƯƠNG
Kim hôn đông đủ quế hoè quý
Phu phụ tràn đầy bằng hữu thương
Kính chúc lễ vàng Xuân rực rỡ
Chung lời hoan hỉ mộng mơ trường …

Hawthorne 4 - 4 - 2025
CAO MỴ NHÂN



3./ LỨA ĐÔI HOÀN HẢO

Tơ duyên một thuở lứa đôi vương
Hợp cẩn trăm năm phúc mãn đường
Ơn Lão Nguyệt già xe chỉ thắm
Lòng Chiêu Đức gặp Tố Quyên hương
Quê xưa loạn lạc chung niềm nhớ
Hải ngoại yên bình vẹn nghĩa thương
Tóc bạc răng long, thời thế đổi
Tình yêu đích thực mãi viên trường !

Lý Đức Quỳnh
4/4/2025


4./ HẠNH PHÚC MỘT ĐỜI
( Đôi uyên ương Chiêu Đức- Tố Quyên )

Khung trời Đà Lạt luyến lưu vương
Đôi lứa dìu nhau khắp nẻo đường
Hẹn trước đồi xanh xào xạc gió
Thề cùng hoa thắm ngạt ngào hương
Kể từ khi ấy luôn chung thủy
Cho đến bây giờ mãi luyến thương
Ngày sánh vai kề xây tổ ấm
Đêm về chung gối mộng miên trường.

Sông Thu
( 05/04/2025 )


5./ 
TRỌN ĐỜI KHẮN KHÍT.
(CHIÊU ĐỨC -TỐ QUYÊN
(Hoạ 4 vận).

Đôi ta kết tóc lúc tơ vương 
Anh sẽ dìu em hết quãng đường 
Tình nghĩa đượm sâu hơn biển cả!
Ái ân thắm thiết ví trùng dương!
Bên nhau, mình đắp xây cầu hạnh
Sát cánh,gia hoà nối nhịp thương 
Đầu bạc nhưng hương yêu mãi đắm 
Trọn đời khắn khít, giấc mơ trường!

LAN


6./ HỌA: KỶ NIỆM KHÓ PHAI

Lòng buồn viễn xứ mãi lưu vương,
Nhớ thuở ngày xưa nhọc bước đường.
Thu đến bến thuyền xa ngóng bóng,
Hè sang trường bát ngát mùi hương.
Giáng sinh bên Chúa xin ân phúc,
Xuân Tết cô phòng quá nhớ thương.
Kỷ niệm bao giờ quay trở lại,
Chung vui dưới bóng phượng sân trường.
*
Hình ai bóng cũ mãi còn vương.

HỒ NGUYỄN (04-4-2025)


7./ Kính Họa Vận TÌNH YÊU VIÊN MÃN…

Duyên may hạnh phúc dạ tơ vương…
Chú Rễ Cô Dâu lạy Tổ Đường…
Trăng Mật, Lâm Viên, Đà Lạt phố 
Vợ Chồng, đôi bạn, khói trầm hương…
Giáng Sinh đại lễ, quen tình nhớ…
Dưới thế Tân Hôn biết vợ thương…
Lục Tỉnh Uyên Ương hồn điện Nguyệt 
Yêu đương viên mãn, mộng miên trường…

MAI XUÂN THANH 
Silicone Valley, April 05, 2025


8./ VƯƠNG

 Bao năm chung sống tình còn vương
Cùng bước bên nhau khắp nẻo đường
Đất vịnh Thunder lòng vẫn nhớ*
Vành đai Bramp-Miss dạ còn thương**
Bên nhau dẫu có niềm đau ngắn
Kề cận không gieo nỗi khổ trường
Đôi đũa so le đời bảo lệch
Thế mà tình cảm mãi đơm hương.

2025-04-05
Võ Ngô
* Thunder Bay
**Ngoại Ô Toronto

9./    MỘNG ĐÊM TRƯỜNG 

Đất trời cố quốc mãi tình vương 
Nam Bắc Trung nhau mấy dặm đường 
Rời khỏi xứ nhà luôn hứa hẹn 
Lìa xa đồng ruộng ngạt ngào hương 
Cù Mông hướng bấc từng ghi dấu 
Đèo Cả ranh nam nặng tích thương 
Núi Nhạn sông Đà hai mốt nhịp 
Nhớ quê khắc khoải mộng đêm trường ..
                        Yên Hà 
                       6/4/2025 

10./ Duyên Xưa Hạnh Ngộ

Tím ngát mua rừng khiến mãi vương
Vàng hoa quỳ nở rực trên đường
Xuân Hương Thủy Tạ trăng vờn sóng
Thung Lũng Tình Yêu cúc quyện hương
Sương trắng Lang Biang thờ thẫn nhớ
Thông xanh Cầu Đất dạt dào thương
Lạc Dương hạnh ngộ ngàn lưu luyến
Mộng ước trăm năm mộng cửu trường

ThanhSong ntkp
CA. 07/04/2025

💚💚💚💚💚💚
Xem Thêm :

Nét đẹp của sự bất toàn (わび・さび, 侘・寂)



Người Nhật có một lý lẽ sống rất hay. Đó là Sá tịch, hay còn gọi là Wabi - sabi (わび・さび, 侘・寂), tức là Thô -Tịch, triết lý về việc đề cao sự không hoàn mỹ, tìm thú vui và sự an nhiên trong tình trạng không hoàn hảo, là khái niệm về sự bất đối xứng, sự thô ráp, sự lược giản hoá, sự cần kiệm, sự khắc khổ, sự khiêm nhường, sự thân thiện, và sự am tường tính nguyên vẹn đơn sơ mà cách tự nhiên và vạn vật vận hành.
Đó là triết lý để đi tìm nét đẹp (Mỹ) trong sự không hoàn hảo (Bất toàn), như việc họ không vứt bỏ cái bát vỡ, mà gắn những mảnh vỡ lại, coi những vết nứt đó là nét đẹp riêng mà những vật khác không thể có được. Họ hướng tới sử dụng những vật dụng tự nhiên, thô ráp, gồ ghề, giản đơn để cảm nhận cái đẹp của thiên nhiên. Trong những túp lều đơn sơ, họ có thể sáng tác nhưng bài thơ haiku đậm chất thiền, vẽ được những bức tranh để đời cho hậu sinh...Triết lý đó cũng giúp hình thành phong cách kiến trúc Wabi-sabi, một phong cách hướng tới sự tối giản về cấu trúc, tối đa về thiên nhiên, ảnh hưởng tới nghệ thuật gốm, nhạc và nhất là phong cách Trà đạo.
Một sự tốt đẹp hoàn toàn, không một chút khiếm khuyết nào dù là nhỏ nhất, ta gọi cái đó là Hoàn hảo. Về cơ bản, không tồn tại sự Hoàn hảo. Tất nhiên, có thể Bạn không nghĩ thế. Nếu được, Bạn thử kể một vài sự Hoàn hảo Bạn từng thấy để cùng khảo nghiệm xem.
Có một sự thật là vạn vật, kể cả con người, dù có đang ở trạng thái tốt nhất thì cũng đang "hỏng" dần, "cũ" dần theo thời gian. Vật dụng cũ đi, sự sắc nét phai nhạt dần, con người cũng già đi, nhan sắc, thanh xuân mất dần. Bạn không thể cưỡng lại được vì đó là quy luật tự nhiên về Sinh - Lão - Bệnh - Tử, Sinh - Trụ - Hoại - Diệt. Nếu Bạn còn vướng chấp vào sự hoàn hảo, Bạn sẽ không thể chịu được, bị giày vò trong đau khổ, không muốn nhìn gương, không muốn ra đường gặp ai. Không có "bất hủ" trên đời này.
Người xưa đã dạy "nhân vô thập toàn, vật bất toàn mỹ" là bởi vậy. Hậu sinh không cam tâm chấp nhận, vẫn đi tìm sự Hoàn mỹ, thế là sinh ra cái tâm lý cầu toàn, thích tròn trịa và chính vì vậy, họ chưa bao giờ thảnh thơi, thoải mái, chỉ biết trách mình, trách người khi việc không vừa ý. Quả là một cảm giác rất thừa thãi, vô nghĩa.
Người biết lý lẽ ở đời phải là người biết chấp nhận với quy luật đó và an nhiên trước nó. Phải biết không chán đồ cũ, không buồn vì việc hỏng, không chê người già, không khinh kẻ yếu, không miệt thị cái xấu, không kinh cái ác và nhất là không sợ chết. Tóm lại, không coi sự hoàn hảo là chân lý, hãy cố gắng biết đủ, biết vừa. Bạn sẽ hạnh phúc hơn bây giờ rất nhiều vì không bao giờ bạn phải phiền lòng về những gì không theo ý muốn của Bạn nữa.
Mỗi người chúng ta đều không hoàn hảo và vạn vật cũng vậy. Đẹp ở mức cao nhất trên thực tế có lẽ là cái đẹp mà chỉ thiếu 1 chút nữa là đạt đến sự toàn bích, hoàn hảo, mãi mãi không có tuyệt đối, dù chỉ thiếu một chút rất nhỏ.

- Dương Chính Chức 

- Đặt thỉnh 4 ấn phẩm: https://phaphoan.com/category/tac-pham-xuat-ban/
1) 100 bài Waka-Haiku-Kanshi (nhiều tác giả)
2) 100 bài Haiku của Matsuo Basho
3) Trời Cao Gió Lộng (100 bài Waka Haiku Kanshi của thiền sư Ryokan Taigu)
4) Tám Vạn Bốn Nghìn Cây (100 bài Haiku của Pháp Hoan)
cùng 2 tập thơ qua comment, messenger hoặc qua email: conglapmai@gmail.com


Chủ Nhật, 6 tháng 4, 2025

DƯ ÂM MỘT CHUYỆN TÌNH- Thơ Songquang,Sông Thu, LAN.Như Thu,Cao Bồi Già,Lý Đức Quỳnh,Kiều Mộng Hà,Hồ Nguyễn



DƯ ÂM MỘT CHUYỆN TÌNH
(
Thể liên hoàn)

Dư âm tình lỡ mãi còn đây
Xao xuyến hồn ta suốt tháng ngày
Duyên đã không tròn lòng quyến luyến
Tình đà chẳng vẹn dạ thêm cay
Mơ xưa thuở ấy còn ray rứt
Mộng cũ bây giờ vẫn ngất ngây
Vết tích thời gian nào xóa được
Người ơi !nỗi nhớ cứ đong đầy!
*
Người ơi! Nỗi nhớ cứ đong đầy
Chẳng biết bao giờ mới khỏa khuây
Trông nắng, nắng nghiêng sau cánh lá
Nhìn trăng, trăng khuất dưới làn mây
Dạo đàn cung lạc nào rung cảm
Ca nhạc giọng khàn hết đắm say
Từ đấy cõi lòng như chết lặng
Dư âm tình lỡ mãi còn đây.

Songquang (31-3-202)



Thơ Họa:


 1./ BẢO LỘC, MỘT TRỜI THƯƠNG NHỚ

Bảo Lộc, mình ta trở lại đây
Trải qua dâu bể biết bao ngày
Cảnh xưa vẫn đó...còn nguyên vẹn
Người cũ đâu rồi...chỉ đắng cay !
Ngày ấy bên nhau, tình đắm đuối
Bây giờ lẻ bóng, dạ sầu ngây
Tần ngần đứng mãi, lòng chua xót
Nỗi nhớ trong tim cứ ngập đầy.


Nỗi nhớ trong tim cứ ngập đầy
Dẫu bao năm tháng chẳng nguôi khuây
Quỳ vàng vẫn nở trên đồi nắng
Núi tím còn mờ dưới bóng mây
Hồ nước in sâu lời thệ ước
Ngôi nhà khắc đậm mộng cuồng say
Thẫn thờ, đứng lặng trong chiều vắng
Bảo Lộc, mình ta trở lại đây.

Sông Thu
( 31/03/2025 )


2./ NỢ NGƯỜI.

Nhớ mãi tình ai thuở dại ngây
Vô tư, hờ hững suốt bao ngày
Tan trường khẽ bảo chờ anh đó
Vào lớp thì thầm giận nhỏ đây
Ước muốn se tơ xây mộng thắm
Thầm mong nâng chén chuốt men cay
Thương em nên ngỏ lời, tuôn ý
Ta sẽ bên nhau hạnh phúc đầy!

Ta sẽ bên nhau hạnh phúc đầy!
Nhưng do tâm sự khó nguôi khuây
Hằng mong tung cánh như chim biển
Vẫn thích du trời tựa áng mây
Chẳng phải chê người mà lẫn tránh
Khôn vì hám lụa mới mê say
Thôi đành cam chịu đời cô lẻ
Nhớ mãi tình ai thuở dại ngây.

LAN
(31/03/2025).



3./ NỖI NHỚ MIÊN MAN

Đã hẹn sao nàng chửa tới đây?
Chiều qua nhẩm đếm được mươi ngày!
Bơ phờ dáng lão nghe lòng nặng
Uể oải tim sầu ướp giọt cay
Cao vút lời ngâm hòa nghĩa đượm
Êm đềm giọng nói bủa hồn ngây
Thầm tin ý toại dường khôn thể
Ảo vọng hoài đơm lấp chẳng đầy!


Ảo vọng hoài đơm lấp chẳng đầy!
Xuân về Hạ đến vẫn chưa khuây!
Dừng chân cảm nhận im lìm núi
Ghé biển trông vời lãng mạn mây
Lắm lúc ru tình, tình mãi đẹp
Dăm lần chuốc rượu, rượu nào say?
Thu Đông vẫy gọi muôn điều nhắn
Đã hẹn sao nàng chửa tới đây?

Như Thu
03/31/2025



4./ DƯ ÂM THUỞ ẤY

Dư âm thuở ấy vẫn vương đây
Lưu luyến lòng ta tháng chất ngày
Kỷ niệm đong đầy mang nỗi nhớ
Cuộc tình dang dở nếm men cay
Canh khuya tìm giấc mong quên tiệt
Chén rượu dỗ hồn cố sảng ngâyh
Làn khói dưng đâu mà xới dậy
Khơi tro chuyện cũ cứ vơi đầy

Khơi tro chuyện cũ cứ vơi đầy
Chẳng biết bao giờ dạ mới khuây
Sương sớm hằng trong trên cánh lá
Nắng chiều vẫn nhạt cuối chân mây
dò lòng mãi thấy bùi ngùi luyến
Hỏi dạ còn nghe chất ngất say
Năm tháng trôi qua hằn dấu khắc
Dư âm thuở ấy vẫn vương đây

CAO BỒI GIÀ
1-4-2025




5./ QU
Á KHỨ THƯƠNG ĐAU

Thống khổ âm thầm nhức nhối đây
Di căn hệ lụy vẫn lưu ngày
Muốn quên cho trí dần thanh thản
Khơi nhớ chạnh niềm mãi đắng cay
Những tưởng sau già ôn chuyện cũ
Đâu dè khổ trước khiến hồn ngây
Thương đau tích lũy dài năm tháng
Nhắc đến càng bung lở loét đầy

Nhắc đến càng bung lở loét đầy
Ta cần giấc ngủ để tìm khuây
Van thu tạnh gió, yên cành lá
Khấn hạ che trời, mát bóng mây
Rượu chuốc thăng hoa, ừ hãy đắm
Thơ mời lãng mộng, cứ tràn say
Dây dưa quá khứ trong tim lão
Thống khổ âm thầm nhức nhối đây.

Lý Đức Quỳnh
1/4/2025




6./ NGƯỜI VẪN CÒN ĐÂY

Người đi kỷ niệm vẫn còn đây
Thoáng đã mà nay sắp giỗ ngày
Xuân đến xuyến xao hoa rộ nở
Năm qua héo úa lệ khô cay
Tường vi mơn mởn đùa theo gió
Nguyệt quế rộn ràng hương toả ngây
Có tiếng líu lo chim gọi bạn
Đìu hiu trong thương nhớ tràn đầy…

Đìu hiu trong thương nhớ tràn đầy
Người vẫn quanh đây khó tạm khuây
Chiều lặng bồi hồi như nổi sóng
Hoàng hôn lãng đãng vướng chân mây
Tịch nhan cánh nhỏ lung linh gió
Liễu rũ cành gầy lướt khướt say
Có phải người về trong lặng lẽ?
Ngồi bên chiếc ghế thuở nào đây

Kiều Mộng Hà
April01.2025



HỌA 7 : KỶ NIỆM XƯA

Tình cũ chưa nhòa vẫn mãi đây,
Bao năm không nhạt ..nhớ từng ngày.
Môi hồng má thắm tim xao xuyến,
Mắt biếc mi còng lệ thấm cay.
Tay nắm quanh vòng ôm tha thiết,
Bến chờ đón đợi ngất ngơ ngây.
Hương xưa nay nhắc thêm ngầy ngật,
Kỷ niệm như đem chất ngập đầy.
*
Kỷ niệm như đem chất ngập đầy,
Bao giờ vơi bớt thoáng vơi khuây.
Chiều thu sân đón tay gom lá,
Trưa hạ gốc chờ mắt ngắm mây.
Tình cũ đong đầy tim thắm thiết,
Nghĩa xưa tràn ngập dạ mê say.
Người ơi! Sao để ai chờ đợi,
Tình cũ chưa nhòa vẫn mãi đây.

HỒ NGUYỄN (03-4-2025)

Vì sao Bình Định, Phú Yên được gọi là ‘xứ Nẫu’?

 Vanvn- Nghe tên “xứ Nẫu”, nhiều người biết vùng đất đang được nói đến là Bình Định, Phú Yên, tuy nhiên không mấy người hiểu được nguồn gốc và ý nghĩa tên gọi này.

Xứ Nẫu là cụm từ thân thương và đặc biệt để nói về vùng đất Bình Định, Phú Yên. Để biết từ này bắt nguồn là từ đâu, xuất hiện từ khi nào, chúng ta phải quay ngược về thế kỷ 16.

Năm 1558, chúa Nguyễn Hoàng được vua Lê cử vào nhận trọng trách Tổng đốc Thuận Quảng (Thuận Hóa Quảng Nam), từ đó ra sức củng cố cơ nghiệp ở phương Nam theo lời tư vấn của Trạng trình Nguyễn Bỉnh Khiêm: “Hoành Sơn nhất đái, vạn đại dung thân” (Một dải hoành sơn đủ để tạo cơ nghiệp muôn đời). Lúc ấy, thừa tuyên (đơn vị hành chính cấp tỉnh) Quảng Nam kéo dài từ phía nam đèo Hải Vân đến đèo Cù Mông.

Năm 1578, chúa Nguyễn Hoàng cử Phù Nghĩa hầu Lương Văn Chánh làm Trấn biên quan, có bổn phận đưa lưu dân nghèo không sản nghiệp đi khai khẩn vùng đất mới từ nam đèo Cù Mông đến đèo Cả (tỉnh Phú yên bây giờ). Sau 33 năm khai phá giúp nơi đây hình thành làng mạc, năm 1611, chúa Nguyễn Hoàng thành lập phủ Phú Yên gồm hai huyện Đồng Xuân và Tuy Hòa.

                Hoàng hôn khiến Ghềnh Đá Dĩa chìm trong ánh nắng chiều tàn vô cùng lung linh

Vì sao Bình Định, Phú Yên được gọi là ‘xứ Nẫu’? (Trong ảnh là thắng cảnh Ghềnh Đá Đĩa của Phú Yên)

Năm 1629, chúa Nguyễn Phúc Nguyên (chúa Sãi) nâng cấp phủ Phú Yên thành đơn vị hành chính cấp tỉnh là dinh Trấn Biên (cả xứ Đàng Trong từ Quảng Bình vào Phú Yên có 7 dinh).

Do vùng đất mới dân cư còn thưa thớt nên các đơn vị hành chính của vùng biên viễn có những nét đặc thù. Dưới cấp huyện có cấp thuộc, dưới thuộc là các đơn vị hành chính nhỏ hơn như phường, nậu, man. Phường là các làng nghề có quy mô như phường Lụa, phường Sông Nhiễu. Nậu là tổ chức quản lý một nhóm nhỏ cùng làm một nghề, người đứng đầu gọi là đầu nậu. Ví dụ: “nậu nguồn” chỉ nhóm người khai thác rừng, “nậu nại” chỉ nhóm người làm muối, “nậu rổi” chỉ nhóm người bán cá, “nậu rớ” chỉ nhóm người đánh cá bằng rớ vùng nước lợ, “nậu cấy” chỉ nhóm người đi cấy mướn, “nậu vựa” chỉ nhóm người làm mắm.

Voi đá ở thành cổ Đồ Bàn – Bình Định

Do sự phát triển của Đàng Trong, năm 1726, chúa Nguyễn Phúc Chú (1697-1738) ra lệnh ban hành quy định phạm vi chức năng của các đơn vị hành chính. Các đơn vị như “thuộc”, “nậu” bị xóa bỏ. Từ “nậu” được biến nghĩa dùng để gọi người đứng đầu trong đám người nào đó và sau này trở thành đại từ nhân xưng ngôi thứ ba số ít. Từ “nậu” không xuất hiện độc lập mà chỉ có mặt trong các tổ hợp danh ngữ như:

Chiều chiều mây phủ Đá Bia

Đá Bia mây phủ chị kia mất chồng

Mất chồng như nậu mất trâu

Chạy lên chạy xuống cái đầu chôm bơm.

Phương ngữ Phú Yên – Bình Định rút gọn đại từ danh xưng ngôi thứ ba (cả số ít và số nhiều) bằng cách dùng dấu hỏi. Ví dụ “ông ấy”, “bà ấy” được thay bằng “ổng”, “bả”, “anh ấy”, “chị ấy” được thay bằng “ảnh”, “chỉ”. Và thế là “nậu” được thay bằng “nẩu”.

Phương ngữ Thuận Quảng (Thuận Hóa – Quảng Nam) với “mô, tề, răng, rứa, chừ” vượt qua đèo Bình Đê (ranh giới Bình Định – Quảng Ngãi) được đổi thành “đâu, kia, sao, vậy, giờ”. Và đặc trưng ngữ âm của vùng Nam Trung bộ (Bình Định – Phú Yên) không phân biệt rạch ròi cách phát âm dấu hỏi và dấu ngã. Đặc biệt, với bà con vùng biển từ Hoài Nhơn (Bình Định) đến Gành Đỏ (Sông Cầu – Phú Yên), các âm dấu ngã đều được phát âm thành dấu hỏi. Riêng người ở đồng bằng Tuy Hòa khi phát âm không phân biệt được dấu hỏi và dấu ngã.

Bởi vậy, “nẩu” hay được phát âm thành “nẫu”. Đồng bằng Tuy Hòa trù phú, nhiều nhà giàu cho con cái đi học chữ phương xa. Các vị có chữ nghĩa viết chữ “nẩu” cách theo phát âm quen miệng thành chữ “nẫu”.

Ví dụ: Thay vì hỏi “Hôm nay người ta đi đâu mà nhiều vậy?” thì người dân Bình Định và Phú Yên hỏi là “Hôm nay nẫu đi đâu mà nhiều dậy?” hay “Cái nhà này là của họ” thì “dân xứ Nẫu” sẽ nói là “Cái nhà nhà này là của nẫu”. Chính vì vậy mà khi hòa cùng tiếng nói của mọi miền đất nước, tiếng nẫu sẽ không lạc vào đâu được.

Dần về sau, tự “nậu” biến mất và được thay thế bằng từ “nẫu” mang ý nghĩa là đại từ nhân xưng ngôi thứ ba cả số ít và số nhiều. Vì “nẫu'” là “đặc sản” của cùng Phú Yên, Bình Định nên người ta gọi vùng này là “xứ Nẫu”.

HẠ VY (Tổng hợp)

Nguồn VTC News


Thứ Bảy, 5 tháng 4, 2025

ĐỜI NGƯỜI NGẮN NGỦI -Thơ Mai Xuân Thanh và Thơ .Họa

ĐỜI NGƯỜI NGẮN NGỦI -Thơ Mai Xuân Thanh và T.Họa

ĐỜI NGƯỜI NGẮN NGỦI

Thoáng chốc “thời gian” chỉ cuộc đời…
Phù du một kiếp sống ai ơi…!
Lành thăng chuyển hóa lên tiên dạo…
Dữ đọa luân hồi bỏ cuộc chơi…
Sanh ký bách niên người giác ngộ
Tử qui thiên cổ bến đò phơi
Năm canh ngắn ngủi trời vô định
Sáu khắc còn đâu đất thức thời…(?)

(Mai Xuân Thanh)
Silicon Valley 3/21/25

Thơ Họa:


1./ ĐOẠN CUỐI ĐƯỜNG ĐỜI

Mệt nhoài đi nốt quãng đường đời
Khúc khuỷu, gập ghềnh... khổ hỡi ơi !
Lúc trẻ, hăng say còn dạo ngắm
Khi già, mệt mỏi hết rong chơi
Thương mình một bóng cô đơn trải
Xót phận bao ngày nắng gió phơi
Ước muốn dừng chân, nào có thể
Số còn chưa tận, phải chờ thời !

Sông Thu
( 22/03/2025 )


2./ ĐỜI NGƯỜI

Thời gian sanh tử trải trần đời
Linh hoạt theo dòng quý hữu ơi!
Tâm niệm vô thường không chuyện giỡn
Tâm tư vô ngã chẳng trò chơi
Tiến trình văn hóa tinh hoa lộ
Khoa học văn minh lợi ích phơi
Thành tín thiện tâm người thoát khổ
“Ưng vô sở trụ” sống qua thời. (*)

(Phan Thượng Hải)
3/22/25


(*) Chú thích: Từ câu: "Ưng vô sở trụ, nhi sinh kỳ tâm" (Nên không bám chắc ở một chỗ, mà sinh ra kỳ tâm) trong Bát Nhã Kim Cương Kinh của PG Đại Thừa và Pháp Bảo Đàn Kinh của Đại Thừa Thiền Tông.


3./ CHUYỆN VU VƠ

Lặng bước vu vơ ngẫm chuyện đời
Thình lình nghe gọi, đáp liền: -ơi…
Trên rừng lộng gió vi vu thổi
Dưới biển khơi triều lả lướt chơi
Ảo giác đôi khi lòng chợt tới
Chân tình lắm lúc dạ đành phơi
Tà huy uốn lượn, cầu vồng nổi
Cái đẹp dường như biết chọn thời ?

Lý Đức Quỳnh
23/3/2025

4./ SỐNG CUỘC ĐỜI

Kẻ khóc người vui sống cuộc đời
Vinh hoa phú quý lắm trò ơi
Bon chen gian lận gom tiền của
Sa đoạ hung hăn thoả ý chơi
Cõi thế bao lâu niên bách trải
Trưng bày đen trắng cuối mùa phơi
Ăn năn thức tỉnh dồi kinh sách
Sám hối cầu xin cúng tứ thời ..

Yên Hà
23/3/2025



5./ NIẾT BÀN VĨNH CỬU

Áo quan tang trắng khép xong đời
Nhắm mắt… từ nay vắng bạn ơi
Trẩn thế không còn vương vấn nữa
Vĩnh hẳng thông thả bước rong chơi
Phiêu diêu buông bỏ hình hài tạm
An lạc quay vể bóng phất phơi
Tìm lại BẢN LAI quên DIỆN MỤC
Tự do ý niệm vốn vô thời…

Kiều Mộng Hà
March.23.2025


6./ TRẢ NỢ ĐỜi

Dường như trả hết nợ cho đời!
Chậm rãi sang thuyền viễn khách ơi!
Chán ngán dương trần nên ngại tỏ
Êm đềm giấc điệp hẳn dừng chơi
Màn đêm vắng vẻ thân nào động
Ánh nguyệt lu mờ bóng chẳng phơi
Nghiệp dĩ vừa trôi hồn đã tịnh
Chiều nay nhắc lại thủa sinh thời!

Như Thu
03/23/2025


7./ RỒI SẼ ĐẾN.

Rồi ta cũng giã biệt trần đời
Hãy sống chân thành hỡi bạn ơi!
Hiếu thảo, thiện lương luôn dạ đắc
Hiền từ, nhân hậu với người chơi
Lâm chung, phút cuối lòng thanh thản
Viên tịch,ân ngời đức sáng phơi
Là ngắn,hay dài vui vẻ đón
Trăm năm, nửa khắc một sinh thời!

LAN.
(23/03/2025).



8./ KHI XUÂN VÃN

Một phút lòng chùng, thấy chán đời
Thật ra, trọn kiếp đẹp tươi ơi
Nàng Thơ, tán mãi chưa than mỏi
Tri kỷ thương hoài, gọi nhớ chơi
Khốn khổ, đẩy nhanh vào cõi phế
Khó khăn, xua gấp đợi xuân phơi
Thế là ưng ý, hân hoan quá
Lão tuế, cao niên, khỏe mãn thời …

Rancho Palos Verdes 23 - 3 - 2025
CAO MỴ NHÂN



9./ ĐỜI NGƯỜI

Dài ngắn nhân duyên cũng một đời
Dở hay số mệnh đó người ơi
Đóng vai vua chúa tuồng vô mánh
Nhận kiếp tôi đòi cứ diễn chơi
Tích đức tu thân hòng hoán đổi
Gieo nhân gặt quả ắt bày phơi
Bước ra sân khấu làm tròn trịa
Vận khứ thì thôi, chớ hỏi thời!

(Phan Kim Thành)
3/23/25



10./ ĐỜI NGƯỜI …

Sinh tật bệnh lão nhuốm chặng đời
Vui buồn khổ hận não người ơi …!
Thân làm hiểm ác mình cam vậy
Tội chuốc dữ lành kiếp phải thời
Địa ngục tùy căn cơ phận cáng
Thiên đàng sắp đặt dẫn hồn phơi
Luân hồi đạo lý trời soi hướng
Nhân quả phân tường xác nghiệp chơi…

Mai Vân-VTT, 01/4/25.


11./ THỨC THỜI

Đã mấy mươi năm ở cõi đời
Biết bao nhiêu sóng gió người ơi
Lớn lên có lúc thầm mơ mộng
Già tới đôi lần chán dạo chơi
Thoảng chốc lợi danh mây khói phủ
Triền miên gian khổ chuyện lòng phơi
Tim nơi an phận rồi suy ngẫm
Hay chỉ riêng ta chẳng được thời.

Lê Mỹ Hoàn
3/2025.



12./ CŨNG XONG MỘT KIẾP NGƯỜI
Nương vận

Vượt thoát tìm cơ hội đổi đời
Chẳng ngờ vong mạng bạn hiền ơi
Giàn khoan cộng sản nhìn như bỡn
Chiến hạm Huê Kỳ đậu ngó chơi
Sáng tới mình trần chờ nắng chiếu
Đêm về bụng đói đợi sương phơi
Quăng thây chiến hữu vào lòng biển
Thổn thức thuơng người sinh lỡ thời
Nông gia hai lúa New Jersey

*Để tưởng nhớ bạn tôi, cố Bác sĩ Nguyễn Văn Chương, là người chínhtay tôi đã thủy táng anh xuống biển. Chuyến hải hành đã gặp một giàn khoan Nga, một chiến hạm Hoa Kỳ và 19 tàu buôn của các quốc gia khác nhau nhưng họ chỉ đậu lại nhìn và ... bỏ chạy luôn. Tới ngày thứ tám may mắn gặp được giàn khoan Nam Dương và đuọc họ cứu vì cơn bão lớn dang kéo tới


 1 3./ BỎ DỨT MÊ TRẦM

(Họa 4 vần)
Trần ai kiếp sống cảnh người đời,
Thoáng chốc rồi qua đó hỡi ơi!
Thân thế thực hư tuồng ảo mộng,
Tướng khanh bần khổ đấy trò chơi.
Tuần hoàn vũ trụ sanh rồi diệt,
Thế đổi cơ duyên chẳng đón mời.
Tâm trí biết buông rời tưởng vọng,
Trầm mê dứt bỏ biết an thời!

(Bài thơ nầy có thể đọc ngược)

Liêu Xuyên


Giai Thoại Văn Chương : DỊCH THỦY TỐNG BIỆT (Đỗ Chiêu Đức)

 Giai Thoại Văn Chương  :  

                                   DỊCH THỦY TỐNG BIỆT

  Năm Nghi Phụng thứ 3 đời Đường Cao Tông (678), Lạc Tân Vương 駱賓王, một trong Sơ ĐườNG Tứ Kiệt, đang giữ chức Thị Ngự Sử, ông nhiều lần dâng sớ can gián làm phật lòng Võ Hậu, nên bị giam vào ngục. Mùa thu năm sau (679), ông được xá tội. Mùa đông năm đó ông đi về đất Yên (thuộc tỉnh Hà Bắc hiện nay) làm Tham Quân trong một doanh trại, quyết lòng ra sức lập công báo quốc. Bài "Dịch Thủy Tống Biệt" được làm trong khoảng thời gian nầy khi ông cảm khái lúc đưa bạn qua dòng sông Dịch.

               易水送別         DỊCH THỦY TỐNG BIỆT
              此地別燕丹,      Thử địa biệt Yên Đan
              壯士髮衝冠。      Tráng sĩ phát xung quan.
              昔時人已沒,      Tích thời nhân dĩ một,
              今日水猶寒。      Kim nhật thủy do hàn !

       Ta đưa bạn ở nơi nầy, nơi mà Kinh Kha 荆軻 đã từng vẩy tay ly biệt với thái tử Đan của nước Yên. Người tráng sĩ ra đi (thích khách Tần Thủy Hoàng) bi hùng cảm khái đến nổi tóc dựng đứng đội cả mão lên. Bây giờ, người xưa tuy đã mất rồi, nhưng dòng nước nơi đây vẫn còn toát hơi lạnh lẽo...
                       Yên Đan giả biệt nơi nầy,
                     Anh hùng tóc dựng tràn đầy hùng ca.
                     Người xưa tuy đã lìa xa,
                     Hôm nay nước vẫn la đà lạnh căm !

       KINH KHA 荆軻 (?-227 trước Công nguyên) cuối thời Chiến Quốc. Kinh Kha vốn người nước Tề, sau thuyên cư sang nước Vệ. Thích đọc sách múa kiếm, người khảng khái trượng nghĩa, sống phóng túng, thích uống rượu. Khi đến nước Yên thì kết giao với một tên đồ tể bán thịt chó và rất thân với một danh sĩ rất giỏi về đàn trúc là Cao Tiệm Ly 高漸離. Mỗi ngày 3 người đều cùng nhậu thịt chó, gảy đàn, ca những khúc ca bi tráng đến nỗi khóc lóc bi thương, cả thành nước Yên họ đều xem như chỗ không người. Tuy nhiên lúc tỉnh táo thì Kinh Kha là người rất thâm trầm, thông kinh sách và giỏi võ nghệ, kết giao với nhiều danh sĩ của các nước lúc bấy giờ.
       Trong bài số 6 của "Vịnh Sử bát thủ 咏史八首" nhà thơ Tả Tư 左思 đời Ngụy Tấn có 4 câu thơ như sau :

                     荆軻飲燕市,    Kinh Kha ẩm Yên thị,
                     酒酣氣益震。    Tửu hàm khí ích chấn.
                     哀歌和漸離,    Ai ca hòa Tiệm Ly,
                     謂若傍無人。    Vị nhược bàng vô nhân !
       Có nghĩa :
                        Kinh Kha uống rượu chợ Yên,
                 Rượu say khí thế ngang nhiên bất phàm.
                        Tiệm Ly cùng hát họa đàn,
                 Thiên hạ mặc kệ ngang tàng như không ! 
 
       Hiệp khách danh sĩ của nước Yên là Điền Quang 田光 biết Kinh Kha không phải là kẻ tầm thường. Điền Quang là du hiệp đã về già nhưng rất nổi tiếng, nên được Thái Tử Đan rất trọng dụng. Lúc Bấy giờ đã cuối thời Chiến Quốc, nên chỉ còn lại có Chiến Quốc Thất Hùng (là Bảy nước hùng mạnh nhất), đó là : Hàn, Triệu, Ngụy, Tề, Sở, Yên và Tần. Nước Tần là nước mạnh nhất, nên có dã tâm muốn gồm thâu lục quốc. Trước mắt Tần đã đánh chiếm nước Hàn rồi, sẽ lăm le đánh chiếm nước Triệu trong nay mai. Sẵn đang căm thù vua Tần đã ngược đãi mình khi cùng làm con tin ở nước Triệu và cũng để giữ an toàn cho nước Yên, Thái tử Đan bàn với Điền Quang định ám sát vua Tần. Điền Quang bèn tiến cử Kinh Kha là người tài giỏi và còn trẻ hơn mình, rồi tự sát để cho Thái Tử Đan yên tâm mình không tiết lộ về chuyện muốn hành thích Tần Thủy Hoàng và để cho Kinh Kha hết lòng giúp Thái tử Đan.
       Sau khi Điền Quang chết, Thái tử Đan tiếp đãi Kinh Kha như một bậc thượng khanh, cho ở nhà cao cửa rộng, kẻ hầu người hạ toàn là người đẹp, ăn uống toàn là cao lương mỹ vị, lại thường tới lui thăm hỏi, dâng tặng lễ vật quý giá. Lúc bấy giờ có tướng Phàn Ô Kỳ 樊於期 (Tên người nên phải đọc Ư 於 thành Ô) của nước Tần là bạn cũ của Thái tử Đan, bỏ Tần theo về với Yên, cũng rất được Thái tử  Đan xem trọng. Khi ba người cùng cởi thiên lý mã đi săn bắn. Phàn Ô Kỳ nói với Kinh Kha là gan của thiên lý mã ăn rất ngon. Kinh Kha nói mình chưa được ăn qua và ao ước được ăn thử cho biết. Khi về cung, Thái tử Đan bèn cho người giết con thiên lý mã để lấy gan tặng cho Kinh Kha ăn. Lại một lần, cùng dạo chơi ở Đông Cung Trì, trông thấy có một con rùa nổi lên mặt nước, Kinh Kha nhặt một viên ngói định ném nó. Thái tử Đan ngăn lại và đưa cho Kinh Kha một thỏi vàng để ném rùa chơi cho vui. Lại một lần khác, khi cùng ăn tiệc ở Dương Hoa Đài trong cung, có một đoàn mỹ nữ ca múa giúp vui. Trong đó có một cô có đôi tay thật đẹp, múa thật hay. Kinh Kha buộc miệng khen :"Đôi tay đẹp quá !". Thế là sau buổi tiệc, Thái tử Đan cho chặt "đôi tay đẹp quá" của nàng cung nữ đặt lên mâm cho người mang đến tặng cho Kinh Kha ! Kinh Kha đã cảm khái thốt lên rằng : Thái tử đãi ta quá hậu !".
       Năm 227 trước Công nguyên, tướng Tần là Vương Tiễn đánh chiếm nước Triệu và bắt vua Triệu làm tù binh. Đại quân Tần đang lăm le biên giới phía nam của nước Yên bên bờ sông Dịch Thủy. Kinh Kha biết đã đến giờ hành động, bèn xin với Thái tử rằng :"Muốn tiếp cận được vua Tần không phải là chuyện dễ dàng, Thái tử cho thần xin hai món quà để được vua Tần triệu kiến. Một là Đầu của tướng quân Phàn Ô Kỳ mà vua Tần đã treo thưởng ngàn vàng và chức Vạn Hộ Hầu; Hai là Bản đồ vùng Đốc Kháng phì nhiêu của nước Yên để dâng lên cho vua Tần; thì chắc chắn vua Tần sẽ triệu kiến mà thôi." Thái tử Đan nói rằng : "Bản đồ không thành vấn đề, đất nước mất thì còn đâu là bản đồ nữa ! Nhưng Phàn Ô Kỳ là cố tri lại bỏ Tần về với ta, nên ta không nở lòng giết hại". Kinh Kha bèn tìm gặp để thuyết phục Phàn Ô Kỳ; cảm vì tấm chân tình của Thái tử, Phàn Ô Kỳ đã tự sát để hiến đầu mình. 
      Trong "Vịnh Sử Thi" bài "Xuân Thu Chiến Quốc Môn Kinh Kha 春秋戰國門荆軻" sau nầy của Chu Đàm 周曇, một thi sĩ thời Tàn Đường có câu :

                    有心為報懷權略,  Hữu tâm vị báo hoài quyền lược,
                    可在於期与地圖。  Khả tại Ô Kỳ dữ địa đồ.
       Có nghĩa :
                     Có lòng báo đáp mang thao lược,
                     Đầu của Ô Kỳ với bản đồ.

Thái tử Đan lại tìm gặp Từ Phu nhân của nước Triệu, dùng một trăm lương vàng để mua lại cây chủy thủ (dao găm) sắc bén, rồi cho thợ rèn nung nóng tẩm thuốc cực độc vào, hễ trầy da thấy máu là sẽ chết ngay. Mọi việc đều chuẩn bị xong xuôi đâu đó, Thái tử Đan lại phái một dũng sĩ của nước Yên là Tần Vũ Dương (Tên nầy đã biết giết người từ năm 13 tuổi) theo làm trợ thủ cho Kinh Kha. Buổi tiễn đưa bên bờ sông Dịch diễn ra thật bi hùng tráng, tất cả quan viên đưa tiễn đều mặc đồ tang trắng một cách trịnh trọng, Thái tử Đan đặt tiệc rượu tiễn hành bên bờ sông, Cao Tiệm Ly người bạn tri âm tri kỷ của Kinh Kha lại gãy tiễn đưa bạn bằng một khúc nhạc bi hùng. Kinh Kha đã rất xúc động và cảm khái mà nương theo tiếng đàn hát hai câu thơ bất hủ là :

               Phong tiêu tiêu hề Dịch thủy hàn,        風蕭蕭兮易水寒,
               Tráng sĩ nhất khứ hề, bất phục hoàn !  壯士一去兮不復還 !
Có nghĩa :
                 Gió hiu hiu hề ... nước sông Dịch lạnh,
                 Tráng sĩ một đi hề... chẳng trở về đâu !

       Tiếng đàn lại thánh thót chuyển sang âm Chủy hùng tráng cao vút, làm cho mọi người đều rùng mình sởn tóc gáy dựng đứng cả lên !  Trong bài thơ Vịnh Sử của nhà thơ Nguyễn Vũ 阮瑀 (165—212), một trong Kiến An Thất Tử cuối đời Đông Hán tả lại cảnh tiễn đưa trên bờ sông Dịch như sau :

                  燕丹善勇士。    Yên Đan thiện dũng sĩ,
                  荆軻為上賓。    Kinh Kha vi thượng tân.
                  ....
                  素車駕白馬。    Tố xa giá bạch mã,
                  相送易水津。    Tương tống Dịch Thủy tân.
                  漸離擊築歌。    Tiệm ly kích trúc ca,
                  悲聲感路人。    Bi thanh cảm lộ nhân.
                  舉坐同咨嗟。    Cử tọa đồng tư ta,
                  嘆氣若青雲。    Thán khí nhược thanh vân.
       Có nghĩa :
                     Thái tử Yên Đan trọng người hùng,
                   Kinh Kha là khách tột cùng trong cung.
                       .....
                       Áo trắng xe ngựa trắng trong,
                   Tiễn đưa sông Dịch mà lòng xót xa.
                        Tiệm ly đàn một khúc ca,
                   Qua đường người cũng chan hòa niềm thương
                        Nâng ly cảm khái lên đường,
                   Ngất trời hào khí thẳng đường mây xanh !
  Khi đến nước Tần, Kinh Kha lại mang lễ vật đáng giá ngàn vàng do Thái tử Đan chuẩn bị sẵn tặng cho cận thần sủng ái của Tần Vương là Mông Gia, nên rất nhanh đã được vua Tần triệu kiến. Hôm triều kiến Tần Vương Kinh Kha cầm chiếc hộp có đựng đầu lâu của tướng Phàn Ô Kỳ, còn bản đồ đất Yên cuộn tròn đựng trong một chiếc hộp khác do trợ thủ của Kinh Kha là Tần Vũ Dương cầm. Không ngờ khi vào chầu vua Tần ở chính điện, trông thấy khí thế uy nghiêm của triều đình vua Tần, Tần vũ Dương mất bình tĩnh tay run mặt tái. Sau khi trình đầu của phản tướng Phàn Ô Kỳ, Kinh Kha bèn giựt cái hộp đựng bản đồ trên tay Tần Vũ Dương mà biện minh với vua Tần : Đây là tên quê mùa hèn nhát chưa từng thấy qua vẻ uy nghiêm của bệ hạ, xin hãy thứ tội. Đoạn bước tới mở hộp trình cuộn bản đồ nhượng đất lên cho vua Tần. Khi mở đến cuối bức bản đồ thì một con dao găm (chủy thủ) hiện ra. Kinh Kha rất nhanh, tay trái nắm lấy tay áo của Tần Vương còn tay phải thì chụp con dao găm đâm thẳng vào ngực vua Tần. Nhưng vì trước đó vua Tần đã cảnh giác khi trông thấy thái độ run sợ kỳ lạ của Tần Vũ Dương nên đã có phòng bị. Trong cơn hoảng loạn vua Tần giựt rách tay áo, né khỏi con dao của Kinh Kha và chạy vòng quanh các cây cột lớn trong chánh điện để né tránh Kinh Kha truy đuổi. Các quan dưới điện trông thấy vội vã nhắc vua Tần rút lưỡi kiếm đang đeo phía sau lưng chém vào đùi Kinh Kha, Kinh Kha bị thương bèn phóng lưỡi chủy thủ về phía vua Tần, nhưng chủy thủ lại ghim vào cột điện... Mưu sát bất thành, Kinh Kha vong mạng và nước Yên cũng nhanh chóng rơi vào tay nước Tần...
      Vì tích trên mà ta lại có được môt thành ngữ nữa là ĐỒ CÙNG CHỦY HIỆN 圖窮匕見 là "cuối bản đồ thì dao găm hiện ra" để chỉ những việc gì đó đến mức cuối cùng cũng sẽ lộ ra chân tướng thật sự của nó mà thôi !     
      Thi sĩ nổi tiếng là khổ ngâm Giả Đảo ở buổi Tàn Đường cũng có bài thơ "Dịch Thủy Hoài Cổ 易水懷古" như sau :

                    荆卿重虚死,    Kinh Khanh trọng hư tử,
                    節烈書前史。    Tiết liệt thư tiền sử.
                    我嘆方寸心,    Ngã thán phương thốn tâm,
                    誰論一時事。    Thùy luận nhất thời sự.
                   至今易水橋,    Chí kim Dịch Thủy kiều,
                    寒風兮萧萧。    Hàn phong hề tiêu tiêu.
                    易水流得盡,    Dịch thủy lưu đắc tận,
                    荆卿名不消。    Kinh Khanh danh bất tiêu !
                  

        Có nghĩa :
                      Nhẹ xem cái chết Kinh Khanh,*
                   Tiết liệt còn đó sử xanh ghi vào.
                      Tấc lòng ta cảm biết bao,
                   Ai bàn thế sự luận vào nói ra.
                      Đến nay sông Dịch nước nhòa,
                  Hiu hiu gió thổi hề... hà lạnh căm.
                      Sông Dịch nước chảy quanh năm,
                  Kinh Khanh còn đó tiếng tăm muôn đời !

        * Kinh Khanh : Một cách gọi riêng tên của Kinh Kha.
                   
       Bài thơ thất ngôn tứ tuyệt "Kinh Kha 荆軻" của Trương Lỗi 張耒 đời Bắc Tống đã đánh giá bao quát về sự việc hành thích Tần Vương như sau :

                      燕丹計盡問田生,   Yên Đan kế tận vấn Điền sinh,
                      易水悲歌壯士行。   Dịch Thủy bi ca tráng sĩ hành.
                      嗟爾有心雖苦拙,   Ta nhĩ hữu tâm tuy khổ chuyết,
                      區區两死一無成。   Khu khu lưỡng tử nhất vô thành !
       Có nghĩa :
                      Yên Đan hết kế hỏi Điền Quang,
                      Sông Dịch bi ca tráng sĩ sang.
                      Tận lực khá thương tâm chẳng đạt,
                      Chẳng thành hai mạng lại chết oan !

       Không phải chỉ có 2 mạng (lưỡng tử) mà đến 4 người phải chết trong việc hành thích Tần Vương chẳng thành : Trước tiên là Điền Quang, rồi đến Phàn Ô Kỳ và sau hết là Tần Vũ Dương và Kinh Kha. Cho nên trong Việt Nam Thi Nhân Tiền Chiến nhà thơ Thâm Tâm Nguyễn Tuấn Trình đã viết trong bài VỌNG NHÂN HÀNH là :

                      Sông Hồng chẳng phải xưa sông Dịch
                      Ta ghét hoài câu “nhất khứ hề”...

     ... và lại làm cho ta nhớ đến bài TỐNG BIỆT HÀNH cũng của nhà thơ Thâm tâm thời Tiền Chiến :
                     Đưa người ta không đưa qua sông
                     Sao có tiếng sóng ở trong lòng ?
                     Bóng chiều không thắm, không vàng vọt,
                     Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong  !

       Không phải văn thi sĩ nào cũng ca ngợi và tán dương Kinh Kha; Chu Hy (1130~1200)một nhà thơ, nhà giáo, nhà tư tưởng... đời Nam Tống, đã nhận xét đánh giá về Kinh Kha như sau :

                     軻匹夫之勇,   Kha thất phu chi dũng,
                     其事無足言。   Kỳ sự vô túc ngôn !
       Có nghĩa :
                          Kinh Kha cái dũng thất phu,
                Chuyện làm chẳng đáng xuân thu lưu truyền !

       Nhà giáo dục, nhà tư tưởng Chu Hy cho rằng :"Kinh Kha chỉ là cái dũng của kẻ tầm thường, câu chuyện của anh ta chẳng có gì đáng bàn đáng nói cả !"

                    Inline image

       Theo ý bạn, thì bạn nghĩ như thế nào về nhân vật Kinh Kha ?!

       Hẹn bài viết tới !
                    
                                                                                      杜紹德
                                                                                  Đỗ Chiêu Đức


Mời Xem:




     




KÍNH MỜI XEM và HỌA (NẾU THÍCH) THƠ TRĂNG THU của HỒ NGUYỄN

TRĂNG THU Mây buồn kéo đám bám che trăng, Cuội ngóng chờ trông bóng chị Hằng. Chim mất tổ sầu kêu thảm thiết, Lá buông cành chiếc rớt tung ...