Hiển thị bài đăng được sắp xếp theo mức độ liên quan cho truy vấn Điển Tích Văn Học: Cử Án Tề Mi. Sắp xếp theo ngày Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị bài đăng được sắp xếp theo mức độ liên quan cho truy vấn Điển Tích Văn Học: Cử Án Tề Mi. Sắp xếp theo ngày Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 15 tháng 12, 2018

ĐIỂN TÍCH VĂN HỌC 9 : CỬ ÁN TỀ MI

CỬ ÁN TỀ MI

                          Inline image

        CỬ 舉 là Nâng lên cao; ÁN 案 là Cái Mâm có chưn; TỀ 齊 là Ngang bằng; MI 眉 là Chân Mày. Nên CỬ ÁN TỀ MI 舉案齊眉 là : "Nâng cái mâm lên ngang bằng chân mày" để tỏ vẻ kính trọng. Trong Truyện Kiều, trong buổi đầu gặp gỡ khi Kim Trọng tỏ ý muốn nghe Thúy Kiều đàn, được Kiều đồng ý thì Kim đã ...
      
                      Hiên sau treo sẵn cầm trăng,
                 Vội vàng sinh đã tay Nâng Ngang Mày.

        Lịch sự và "ga-lăng" như Kim Trọng chỉ hợp với thời buổi ngày nay, còn lúc đó mà làm thế thì cũng ... "hơi quá đáng". Có thể cụ Nguyễn Du đã đi trước thời đại trong việc "cua gái", chả trách cô Kiều lại mê Kim Trọng đến thế ! Thực ra thì ...

        Điển Tích CỬ ÁN TỀ MI 舉案齊眉 hàm chứa một nội dung vô cùng phong kiến của thời buổi Trọng Nam Khinh Nữ, chồng chúa vợ tôi như sau :

        Ẩn sĩ đời Đông Hán Lương Hồng 梁鴻, tự là Bá Loan 伯鸞, người đất Phù Phong Bình Lăng (thuộc Hàm Dương tỉnh Thiểm Tây ngày nay). Hồng học rộng biết nhiều, nhà nghèo nhưng vẫn giữ khí tiết của kẻ sĩ, từng là Thái học sinh của hoàng gia lúc bấy giờ.

                  Inline image
        Do Lương Hồng có phẩm chất đạo đức thanh cao, nên rất nhiều người muốn gả con cho, nhưng đều bị Hồng từ chối. Cùng huyện có con gái của gia đình họ Mạnh rất khá giả, tên là Mạnh Quang, vừa đen vừa mập vừa xấu, lại có sức mạnh hơn người. Mạnh Thị đã hơn ba mươi tuổi mà vẫn chưa chịu lấy chồng, cha mẹ hỏi thì nói rằng : " Con muốn lấy người có đạo đức tốt như Lương Bá Loan vậy !". Lương Hồng nghe nói bèn cậy mai mối đến hỏi nàng về làm vợ.
       Mạnh Quang vô cùng mừng rỡ. Đêm động phòng hoa chúc, nàng trang điểm và ăn mặc thật đẹp để đợi chú rể mới vào. Nào ngờ, liên tiếp bảy đêm liền, chú rể Lương Hồng vẫn không thèm vào động phòng. Mạnh Quang bèn đến qùy trước mặt chồng mà nói rằng : " Thiếp đã sớm nghe tiếng cao nhã của chàng, nên lập chí quyết lấy cho được chàng; còn chàng thì cũng đã từ chối rất nhiều người, cuối cùng mới chọn thiếp làm vợ, nhưng không hiểu thiếp đã phạm phải lỗi lầm gì mà suốt bảy ngày nay chàng không thèm ngó ngàng đến thiếp vậy ?". Lương Hồng đáp rằng : " Ta vẫn luôn mong mõi có một người vợ " quần bố thoa kinh 荊釵布裙 ( hay Kinh Thoa Bố Quần, là Quần bằng vải, trâm cài bằng cỏ gai )" để cùng với ta ẩn cư nơi núi sâu rừng thẳm. Nay nàng mặc lụa là gấm vóc, trét phấn tô son, điểm trang đẹp đẽ thế nầy, thật không phải là người vợ lý tưởng của Lương Hồng nầy". Mạnh Quang nghe xong bèn thưa với chồng rằng : " Mấy hôm nay thiếp ăn mặc và trang điểm như thế nầy là cũng muốn xem coi chàng có thật là một hiền sĩ cao nhã không mà thôi. Thiếp cũng đã chuẩn bị sẵn y phục để chung sống với chàng rồi !". Nói đoạn, nàng bèn đi thay đồ bằng vải sô, xõa tóc mây xuống mà bới thành một búi tóc gọn ghẽ trên đầu, rồi ngồi vào khung cưởi mà dệt vải ngay. Lương Hồng trông thấy cả mừng, bèn bước tới thi lễ mà rằng : " Đây mới thật sự là vợ của Lương Hồng ta đó !".        
        Vợ chồng Lương Hồng vốn ở ẩn ở Bá Lăng ( Tây An ngày nay ), nhưng vì để tránh hiệu triệu của vua bắt ra làm quan, nên vời về đất Ngô ( tỉnh Giang Tô ngày nay ). Cả hai ở trọ trong căn phòng nhỏ dưới mái hiên bên trái của nhà Cao Bá Thông. Hằng ngày, Lương Hồng đi xay và giả gạo mướn ở trong làng để kiếm sống. Mỗi lần về nhà, Mạnh Quang đều dọn sẵn mâm cơm bưng ra nâng lên ngang mày để dâng cho chồng. Lương Hồng đở lấy mâm cơm đặt lên bàn rồi vợ chồng mới mời nhau cùng ăn, tương kính như tân 相敬如賓 ( kính trọng lẫn nhau như là đối đãi với khách vậy ). Cao Bá Thông trông thấy, giật mình, nghĩ rằng : " Một người đi làm công kiếm sống mà được vợ kính trọng như thế, ắt không phải là kẻ tầm thường".
       Sau khi dọ hỏi, biết được đó là ẩn sĩ Lương Hồng, bèn cung kính mời cả hai vợ chồng vào nhà trên ở và cung cấp đầy đủ lương thực. Nhờ thế mà Lương Hồng mới có thời gian rảnh rổi để lập thuyết và viết sách để lại cho đời sau.  

                         Inline image
       Từ câu truyện của Điển tích trên, cho ta đến 3 thành ngữ :
  
1. Kinh Thoa Bố Quần 荊釵布裙 : Ta hay nói trại đi thành Thoa Kinh Quần Bố hay Quần Bố Kinh Thoa để chỉ người đàn bà có nếp sống giản dị, bình thường , không xe xua đua đòi.

2. Tương Kính Như Tân 相敬如賓 : Chỉ vợ chồng kính trọng lẫn nhau, xem nhau như là khách quý của nhau vậy.

3. Cử Án Tề Mi 舉案齊眉 : Nâng án ngang mày, thường dùng để chỉ Vợ chồng thương yêu kính trọng lẫn nhau. Như trong truyện Quan Âm Thị Kính :

                        Án kia nâng ở Ngang Mày,
                Sạch trong một tiết, thảo ngay một bề.

                      Inline image

       Trong Nam Hải Tế Văn thì gọi là Án Họ Mạnh :

                   Án họ Mạnh Ngang Mày nẩy mực,
                   Ấm êm đàn hương lửa phải duyên.
      
        Hay như trong truyện Tây Sương Ký :
                       Mặt từ ví chẳng ngại ngùng,
                  Xắn tay cử Án xin Dâng Ngang Mày

            Inline image
     
     ... và như khi tả cảnh Hoài Nguyên đi cống Hồ trong NHỊ ĐỘ MAI, có làm bài thơ tặng cho Mai Lương Ngọc :

                    Ngang Mày Mạnh Thị chưa Nâng Án,
                    Thấy mặt Chiêu Quân đã hết tranh.
                   
                     Inline image

           Cử Án Tề My còn dùng để chỉ Tình Nghĩa Vợ Chồng hòa thuận thương yêu lẫn nhau chư câu chúc :

        " Chúc cho vợ chồng được suốt đời Cử Án Tề My !".

                           Image result for 舉案齊眉

         Trở lại với chàng Kim Trọng khi muốn nghe Thúy Kiều đờn, thấy " Hiên sau treo sẵn cầm trăng" thì :
              " Vội vàng sinh đã tay Nâng Ngang Mày"
để tỏ vẻ kính trọng và " ga-lăng " với người đẹp khi mới vừa thề thốt yêu nhau. Nên " Nâng Ngang Mày " vật gì đó để đưa cho người khác, đôi khi chỉ có nghĩa là tỏ lòng Kính Trọng đối với người đó mà thôi ! 

                                                       Đỗ Chiêu Đức  
Xem Thêm :ĐTVH : GƯƠNG VỠ LẠI LÀNH 
            ĐTVH:    LIỄU CHƯƠNG ĐÀI
      

Thứ Ba, 18 tháng 12, 2018

ĐIỂN TÍCH VĂN HỌC : ĐÁ VÀNG

ĐÁ VÀNG
                        Image result for Đá Vàng

       Đá Vàng hay Vàng Đá là hai vật chất cứng rắn và bền vững. Ta hay nghe nói Cứng như Đá và Vững như Vàng, chắc cũng vì thế mà ta có từ Vững Vàng chăng ?! Vàng cho dù có bị thiêu đốt bầm dập như thế nào thì vẫn giữ được màu Vàng cố hữu không phai lạt bao giờ. " Vàng thật không sợ lửa "mà ! Nên ...
       Tình Đá Vàng là tình bền vững, không dễ lung lay; Lời Vàng Đá là lời nói chắc chắn trước sau như một, như lời Kim Trọng đã nói với Vương Viên Ngoại lúc trở lại vườn Thúy tìm Kiều :

                       Cùng nhau thề thốt đã nhiều,
                Những lời Vàng Đá phải điều nói không ?!
      
       "Những Lời Vàng Đá" là Kim Thạch Chi Ngôn 金石之言. Kim là Kim loại qúy, còn Đá qúy thì người xưa gọi là Ngọc; nên Kim Thạch Chi Ngôn còn được nói thành Kim Ngọc Chi Ngôn 金玉之言, ngoài nghĩa là những lời thề thốt chắc chắn, còn là những lời nói đáng trân trọng, đáng nghe theo, như lời nói của Trương Quân Thụy nói với Thôi Oan Oanh trong Tây Sương Ký : "Tiểu thơ Kim Ngọc Chi Ngôn, tiểu sinh nhất nhất minh chi phế phủ  小姐金玉之言,小生一一銘之肺腑". Có nghĩa : Những lời vàng ngọc của tiểu thơ, tiểu sinh tôi đều ghi khắc ở trong lòng.
                   
                       Image result for tây sương ký
                             Tây Sương Ký
       Còn như Thúc Sinh khi muốn chuộc Thúy Kiều ra khỏi lầu xanh, mà cô Kiều còn e ngại, vì Thúc Sinh đã có Hoạn Thư ở nhà, thì Thúc đã dứt khoát một cách chắc chắn và liều mạng với Thúy Kiều rằng :

                         Đường xa chớ ngại Ngô Lào,
                   Trăm điều hãy cứ trông vào một ta.
                          Đã gần chi có đường xa,
                   Đá Vàng cũng quyết phong ba cũng liều !

       Đá Vàng ở đây cũng là Kim Thạch 金石, nhưng Kim Thạch ở đây chỉ Vũ Khí dùng để đánh nhau ngày xưa. Gươm đao giáo mác đều bằng kim loại và các loại ná đều bắn bằng đá. KIM THẠCH còn dùng để chỉ chung các loại Vũ Khí, theo như sách Chu Lễ có câu : Phàm quốc hữu đại cố, nhi dụng Kim Thạch, tắc chưởng kỳ lệnh 凡國有大故而用金石則掌其令. Có nghĩa : Hễ nước có biến cố lớn, thì phải dùng đến Vũ Khí ( chiến tranh ) để nắm quyền chỉ huy. Nên câu : "  Đá Vàng cũng quyết phong ba cũng liều ". Có nghĩa : Dù cho có dùng Vũ Khí ( để đâm chém cản ngăn ) thì cũng quyết lòng thương nhau, dù cho có sóng to gió lớn thì cũng liều chết với nhau. Liều mạng đến thế, chả trách Thúy Kiều phải nhắm mắt nghe theo !

             Image result for 矢石    Image result for 矢石
                  Kim Thạch, Thỉ Thạch : Vũ khí ngày xưa

       Khi tự đánh giá mình là " phận mỏng cánh chuồn " Thúy kiều đã lo lắng cho mối tình duyên của mình với Kim Trọng " Khuôn duyên biết có vuông tròn mà hay ?" thì Kim Trọng đã an ủi Thúy Kiều một cách chắc chắn là :

                       Ví dù giải kết đến điều,
                Thì đem VÀNG ĐÁ mà liều với thân !

      Quả là liều mạng cũng không thua Thúc Sinh chút nào cả !

      Thỉ Thạch 矢石 là Tên và Đá, cũng dùng để chỉ Vũ Khí và Chiến Tranh. Như khi Từ Hải bị Hồ Tôn Hiến phục binh đánh lén, Thúy Kiều chạy đến thì chỉ thấy :
                     Trong vòng TÊN ĐÁ bời bời,
                Thấy Từ còn đứng giữa trời trơ trơ !

      Còn bình thường, như lúc ban đầu Thúy Kiều nhận lời tỏ tình của Kim Trọng trong cảnh "Chiều xuân dễ khiến nét thu ngại ngùng" thì cũng đã khôn ngoan lí lắc mà đỗ thừa rằng :

                          Đã lòng quân tử đa mang,
                   Một lời vâng tạc Đá Vàng thủy chung !

      Đá Vàng ở trong câu nầy là lời hứa chắc chắn, bền vững và chung thủy trong tình yêu, sẽ không bao giờ lay chuyển đổi thay ! Nên trong đêm hò hẹn hội ngộ lần đầu, khi mà " Sóng tình dường đã xiêu xiêu, Xem trong âu yếm có chiều lả lơi ", thì Thúy Kiều đã "xì- tóp" Kim Trọng lại bằng tích :

                      Ngẫm duyên kỳ ngộ xưa nay.
                  Lứa đôi ai lại đẹp tày Thôi Trương ?
                       Mây mưa đánh đổ ĐÁ VÀNG,
                 Qúa chiều nên đã chán chường yến anh !
      
       Đá Vàng ở đây là Duyên Vàng Đá, là Nghĩa Đá Vàng. Đá Vàng là cái gì đó trân qúy, rất đáng trân trọng, là KIM THẠCH LƯƠNG DUYÊN 金石良緣 là mối lương duyên lâu bền vững chắc và tốt đẹp như Đá với Vàng.

      Đến như lần đầu tiên khi Từ Hải tìm đến gặp Thúy Kiều ở lầu xanh với lòng hiếu kỳ là : "Bấy lâu nghe tiếng má đào, Mắt xanh chẳng để ai vào có không ?", thì cô đã trả lời một cách khiêm tốn khôn ngoan và thực tế là :

                       Chút chi chọn ĐÁ thử VÀNG,
                  Biết đâu mà gởi cang tràng vào đâu ?!

                     Image result for há» từ tên hải vá»n ngưá»i viá»t Äông             

      Chọn Đá xem đá cứng hay bở; Thử Vàng xem Vàng thật hay giả. Ý của Thúy Kiều là muốn chắc lọc chọn lựa lấy cái tốt, muốn kiếm một tấm chồng cho xứng đáng để nương nhờ về sau. Ta hãy nghe cô nói tiếp :

                         Còn như vào trước ra sau,
                  Ai cho kén chon vàng thau tại mình !?

      Tội nghiệp cho các cô gái ở lầu xanh, muốn kiếm một tấm chồng đàng hoàng cũng đâu phải dễ !

      Ngoài ra, ĐÁ VÀNG còn dùng để chỉ cái gì đó rất thiêng liêng có thể lưu truyền mãi mãi về sau, như trong Đại nam Quốc Sử Diễn Ca của Lê Ngô Cát và Phạm Đình Toái Đoạn nói về Hai Bà Trưng :

                      Được thua mấy cỏi chiến trường,
                 Nghìn năm tiết nghĩa ĐÁ VÀNG lưu danh !
                    
                      Inline image
       " Đá Vàng Lưu Danh " ở đây ĐÁ là Bia Đá; còn VÀNG là Chuông Vàng hoặc Đĩnh Vàng có khắc chữ khắc tên ghi lại công lao chiến tích của người đã mất để lưu truyền lại cho đời sau.

       Nhưng thường thì trong các truyện Nôm của ta Đá Vàng hay Kim Thạch gì đều thường dùng để chỉ lời giao ước hứa hẹn với nhau, như trong Hoa Tiên Ký của Nguyễn Huy Tự và Nguyễn Thiện :
                      Duyên này chẳng được bàn dai,
                  Nhẹ đem Vàng Đá mà coi làm thường.
Và ...
        Như trong truyện Phương Hoa, quan Ngự Sử Trần Điện đã nói với quan Thượng Thư Trương Đài khi bàn về việc hôn nhân của Trần Phương Hoa và Trương Cảnh Yên :

                     Trần rằng : Kim Thạch nhất ngôn,
                     Còn trời còn đất hãy còn đấy đây. 

                  Inline image Inline image

        Tóm lại, Đá Vàng hay Vàng Đá có rất nhiều nghĩa như trên đã dẫn, nên tùy theo ngữ cảnh, tùy theo câu thơ đang diễn đạt sự việc gì để hiểu nghĩa của nó một cách chính xác. Nhưng thường thì Đá Vàng hay Vàng Đá là lời đính ước hẹn hò một cách chắn chắn chân thành giữa trai gái với nhau. Trước năm 1975, ở Miền Nam còn có một tuồng hát Cải Lương lấy tựa là Trọn Nghĩa Đá Vàng.

                                                           Đỗ Chiêu Đức

 Mời Xem :ĐTVH .CỬ ÁN TỀ MI

Thứ Bảy, 12 tháng 4, 2025

Tạp Ghi và Phiếm Luận : Chữ ĐỒ (Đỗ Chiêu Đức)

 Tạp Ghi và Phiếm Luận : 

                               Chữ  ĐỒ
   Lật Từ điển Hán Việt, ta sẽ thấy có đến 24 chữ ĐỒ; Nhưng ở đây ta chỉ đề cập đế 06 chữ mà thôi. Sáu chữ đó là...
      ĐỒ 圖 là Địa Đồ; ĐỒ 途 là Lộ Đồ; ĐỒ 屠 là Đồ Tể; ĐỒ 塗 là Hồ Đồ; ĐỒ 荼 là Đồ Mi; ĐỒ 徒 là Đồ Đệ, là Thầy Đồ... Ta sẽ lần lượt tìm hiểu và phiếm đàm về 6 chữ ĐỒ đã nêu trên đây.  Trước tiên...

      Ta thấy chữ ĐỒ 圖 là Địa Đồ nầy, gồm có 4 chữ Khẩu 口 và 1 chữ Thập 十 chất chồng lên nhau mà thành. Hình dạng trông giống như là một tấm bản đồ thu nhỏ lại. Nên nghĩa đầu tiên của chữ ĐỒ nầy là Địa Đồ 地 圖, còn gọi là Dư Đồ 輿 圖, vẽ lại non sông gấm vóc của các bậc tiền nhân dựng nước, của các ông cha khai phá tạo lập nên đất nước tươi đẹp của ngày hôm nay. Nói đến Dư Đồ lại nhớ đến bài thơ "Vịnh Bức Dư Đồ Rách" của Tản Đà trong thời Pháp thuộc:
                  Nọ bức dư đồ thử đứng coi,
                  Sông sông núi núi khéo bia cười.
                  Biết bao lúc mới công vờn vẽ,
                  Sao đến bây giờ rách tả tơi.
                  Ấy trước ông cha mua để lại,
                  Mà sau con cháu lấy làm chơi.
                  Thôi thôi có trách chi đàn trẻ,
                  Thôi để rồi ta sẽ liệu bồi.
      Là giọng điệu của một kẻ cả nhưng cũng thật cảm khái! Từ nghĩa Địa Đồ, ta có các nghĩa tương cận là ĐỒ HỌA 圖 畫 là Tranh vẽ; ĐỒ ÁN 圖 案 là Hình mẫu, là những nét phác họa các dự án, công trình... ĐỒ THƯ 圖 書 là sách vở nói chung, nên THƯ VIỆN người Hoa gọi là ĐỒ THƯ QUÁN 圖 書 館. Khi là động từ thì...
      ĐỒ là Ý Đồ 意 圖, là Mưu đồ 謀 圖, là toan tính, như ĐỒ DANH ĐỒ LỢI 圖 名 圖 利 là Tính toán mưu đồ như thế nào đó cho có được danh được lợi. Người xưa nói là THI ÂN BẤT ĐỒ BÁO 施 恩 不 圖 報, có nghĩa : Ban ơn không có toan tính người ta phải báo đáp lại cho mình; Bây giờ thì ta thường nghe nói THI ÂN BẤT CẦU BÁO 施 恩 不 求 報 là "Làm ơn không cầu phải có báo đáp". 
      Thành ngữ MƯU VƯƠNG ĐỒ BÁ 謀 王 圖 霸 là mưu toan tính toán để được làm vương làm bá, còn BÁ ĐỒ 霸 圖 là cái nghiệp bá đã tạo nên. Trong bài thơ Sở Vọng của cụ Nguyễn Du có câu:
  秋 風 落 日 皆 鄉 望,    Thu phong lạc nhật giai hương vọng,
  流 水 浮 雲 失 霸 圖。    Lưu thủy phù vân thất BÁ ĐỒ !
Có nghĩa :
               Gió thu chiều xuống trông quê,
               Mây trôi nước chảy ủ ê BÁ ĐỒ !

      Khi mặt trời về chiều chen lặn trong gió thu hiu hắt, ai là người không trông ngóng để nhớ về quê hương. Trước cảnh nước chảy mây trôi mọi ý niệm tranh bá đồ vương đều tan biến mất cả!
      ĐỒ lại làm cho ta nhớ tới điển tích: ĐỒ CÙNG CHỦY HIỆN 圖 窮 匕 見 (chữ KIẾN ở đây được đọc thành HIỆN) có nghĩa: "Cuối bức bản đồ thì con dao găm hiện ra" theo tích sau đây:
       Cuối thời Chiến Quốc, Tần Vương Doanh Chính muốn gồm thâu lục quốc, sau khi tiêu diệt Hàn và Triệu sẽ đánh chiếm nước Yên. Thái Tử Yên là Đan mưu đồ hành thích vua Tần, mới ngầm sai thích khách nổi tiếng lúc bấy giờ là Kinh Kha mang đầu của phản tướng Phàn Ô Kỳ và bản đồ đất Độc Kháng nhượng cho Tần để cầu hòa. Đầu của tướng Phàn Ô Kỳ do Kinh Kha cầm, còn Bản đồ cuộn tròn đựng trong một chiếc hộp khác do trợ thủ của Kinh Kha là Tần Vũ Dương cầm. Không ngờ khi vào chầu vua Tần ở chính điện, trông thấy khí thế uy nghiêm của triều đình vua Tần, Tần vũ Dương mất bình tĩnh tay run mặt tái. Sau khi trình đầu của phản tướng Ô Kỳ, Kinh Kha bèn giựt cái hộp đựng bản đồ trên tay Tần Vũ Dương mà biện minh với vua Tần: Đây là tên quê mùa hèn nhát chưa từng thấy qua vẻ uy nghiêm của bệ hạ, xin hãy thứ tội. Đoạn bước tới mở hộp trình cuộn bản đồ nhượng đất lên cho vua Tần. Khi mở đến cuối bức bản đồ thì một con dao găm (chủy thủ) hiện ra. Kinh Kha rất nhanh, tay trái nắm lấy tay áo của Tần Vương còn tay phải thì chụp con dao găm đâm thẳng vào ngực vua Tần. Nhưng, mưu sát... không thành, vì trước đó vua Tần đã cảnh giác khi trông thấy thái độ run sợ kỳ lạ của Tần Vũ Dương nên đã có phòng bị... (Mời xem Tạp ghi và Phiếm luận : DỊCH THỦY TỐNG BIỆT của Đỗ Chiêu Đức) .
       Vì tích trên mà ta có thành ngữ ĐỒ CÙNG CHỦY HIỆN 圖 窮 匕 見 để chỉ những việc gì đó đến mức cuối cùng cũng sẽ lộ ra chân tướng thật sự của nó mà thôi!

           Tích Kinh Kha sát Thủy Hoàng : ĐỒ CÙNG CHỦY HIỆN

     Để kết thúc chữ ĐỒ 圖 gồm có "Mười bốn cái miệng" (Thập tứ khẩu 十 四 口) nầy, ta có thành ngữ ĐẠI TRIỂN HỒNG ĐỒ 大 展 鴻 圖. ĐẠI TRIỂN là triển khai một cách lớn lao; HỒNG ĐỒ là Cơ Đồ lớn lao hùng vĩ, nên ĐẠI TRIỂN HỒNG ĐỒ 大 展 鴻 圖 là "Triển khai một cách quy mô cái cơ đồ làm ăn lớn lao". Câu nầy thường dùng để tặng cho những người mới khai trương hay mới bắt đầu kinh doanh một cơ sở làm ăn nào đó. Nên ta lại có từ...
     CƠ ĐỒ 基 圖 là Cơ nghiệp do kinh doanh tính toán làm ăn mà có được. Nhớ hồi năm 2018 khi gia đình chúng tôi ghé thăm di tích lịch sử "Nhà Công Tử Bạc Liêu" ở số 13 đường Điện Biên Phủ TP. Bạc Liêu thì có đọc được một đôi câu đối lớn cẩn xà cừ treo hai bên phòng khách lớn ở trên lầu như sau:

             富   壽  康   寧,   總   是  仁  慈   成   事    業,
            Phú Thọ Khang Ninh, tổng thị nhân từ thành sự nghiệp,
             貴   財  利  樂, 皆   由   忠    孝     永   基  圖。
            Quý tài lợi lạc, giai do trung hiếu vĩnh cơ đồ.
Nghĩa của Câu Đối :
      * Giàu có sống thọ khỏe mạnh bình yên đều do nơi ăn ở nhân hậu từ ái mà làm nên sự nghiệp.
      * Quý hiển giàu sang vui vẻ đều do làm người có trung có hiếu mà giữ vững được CƠ ĐỒ (của cha ông để lại) được vĩnh cửu lâu dài.

      Câu đối không biết do danh sĩ nào làm ra lúc bấy giờ, nhưng đã có ý vừa ca ngợi vừa khuyên răn: Giàu có bình yên là do có lòng nhân từ mà thành sự nghiệp, nên phải biết ăn ở cho có trung có hiếu thì mới giữ CƠ ĐỒ của ông cha được bền vững lâu dài.
      Rất tiếc là Công Tử Bạc Liêu lại theo Tây Học, sang Pháp chỉ biết ăn chơi trác táng, khi về nước lại cũng chỉ biết trác táng ăn chơi, mà không hiểu thấu đôi câu đối của tiền nhân nhắc nhở hằng ngày đập vào mắt khi đi lên xuống lầu. (Mời đọc "Tạp ghi và Phiếm luận: NHÀ CÔNG TỬ BẠC LIÊU" của Đỗ Chiêu Đức).
      
    Vợ chồng Đỗ Chiêu Đức cùng ông bà thông gia Huỳnh Thanh Sơn đứng giữa câu đối nêu trên.

      CƠ ĐỒ 基 圖 còn có nghĩa là cương thổ đất nước mà ta chiếm lĩnh hoặc mở mang tạo dựng nên được, như trong Truyện Kiều anh hùng Từ Hải đã tự hào:
                              Một tay gây dựng CƠ ĐỒ,
                       Bấy lâu bể Sở, sông Ngô tung hoành !

      ĐỒ 途 là Lộ Đồ, chữ ĐỒ nầy có bộ Xước 辶 là Đi ở bên trái, nên có nghĩa là Con Đường. Như các cụ Đồ xưa thường nói...
      TIỀN ĐỒ 前 途 là con đường trước mắt. Vừa nghĩa đen vừa nghĩa bóng, chỉ "Thời gian sắp tới và vận hạn may rủi của một người nào đó". Như "Tiền Đồ xán lạn rực rỡ", "Tiền Đồ đen tối u buồn"... Khác với TIỀN ĐÔ là Mỹ Kim mà ai cũng thích cả !
      TRƯỜNG ĐỒ 長 途 là con đường dài trước mặt. Ông bà ta cũng thường hay nhắc nhở con cháu bằng câu:

                  長 途 知 馬 力,   TRƯỜNG ĐỒ tri mã lực,
                  事 久 見 人 心。   Sự cửu kiến nhân tâm.
Có nghĩa :
         Đường dài mới biết sức ngựa (Bền hay không bền, Giỏi hay không giỏi).
         Chuyện gì đó lâu ngày mới thấy được lòng người (Tốt hay không tốt).

      ĐỒ 途 là con đường, nên ta phải biết chọn đường mà đi, mà theo đuổi, như QUANG MINH CHI ĐỒ 光 明 之 途 là Con đường sáng sủa, NHÂN NGHĨA CHI ĐỒ 仁 義 之 途 là con đường nhơn nghĩa. Không nên bỏ phế, bỏ dỡ nửa chừng những gì mà mình đang muốn thực hiện, vì như thế sẽ bị người đời cười nhạo là BÁN ĐỒ NHI PHẾ 半 途 而 廢 là bỏ phế giữa đường, trừ phi đã đi đến nước CÙNG ĐỒ MẠT LỘ 窮 途 末 路 là đến bước đường cùng, hết phương xoay sở. CÙNG ĐỒ 窮 途 là Cùng đường mà cũng có nghĩa là con đường nghèo khổ; Còn MẠT LỘ 末 路 là cuối đường, còn gọi là TUYỆT LỘ 絕 路 là đã hết đường để đi. 
      Nhớ những năm xưa vào thời Pháp thuộc, Thị Trấn Cái Răng ở Cần Thơ của chúng tôi có tiệm hút Á Phiện có môn bài đàng hoàng, dĩ nhiên trong đó cũng có các cô tiếp viên trẻ đẹp phục vụ cho những ông nhà giàu vào đó để "Đi mây về gió", và dĩ nhiên cũng có đầy đủ các giới, các hạng và các chàng trai trẻ học đòi ăn chơi tìm đến với "Nàng tiên nâu". Ông chủ cũng là tay ăn chơi nhưng lại rất hào phóng, đã cho phép một nhân sĩ có tiếng ở trong Thị Trấn (Síl-sáng Bó) làm đôi câu đối sau đây để dán lên hai bên cửa ra vào:

          鴉 片 三 分,蓋 世 英 雄 歸 絕 路; 
Nha phiến tam phân, cái thế anh hùng quy tuyệt lộ;
          嫖 賭 二 項,風 流 子 弟 入 窮 途。 
Phiêu đổ nhị hạng, phong lưu tử đệ nhập cùng đồ.
Có nghĩa :
           - Chỉ cần ba phân Á phiện, thì anh hùng cái thế cũng sẽ đi vào tuyệt lộ.
           - Chơi gái, cờ bạc hai thứ nầy, sẽ đưa con em phong lưu vào bước đường cùng.

      Câu đối mang đầy tính cảnh giác khuyên răn, chỉ cần 3 phân Á phiện thôi thì cho dù là anh hùng cái thế lúc lên cơn nghiện rồi thì cũng đành đi vào tuyệt lộ là con đường chết; Chơi bời (phiêu) cờ bạc (đổ) sẽ làm cho con em phong lưu đi vào bước đường cùng khó khăn nghèo khổ. Cảnh giác, khuyên răn là thế, mà ông chủ tiệm vẫn cho treo lên, và những người nghiện ngập ham chơi vẫn cứ lủi đầu vào như con thiêu thân chịu chết. Thế mới biết sức mạnh của TỨ ĐỔ TƯỜNG là như thế nào !!!...
      Ta lại có thành ngữ "NGỰA QUEN ĐƯỜNG CŨ" để chỉ những người nghiện ngập hoặc hay làm ác, bây giờ dù cho có cai nghiện hay cải tà quy chánh rồi, nhưng cũng sẽ rất dễ dàng làm ác hay nghiện ngập trở lại. Thực ra thành ngữ nầy có xuất xứ rất tích cực với tích "LÃO MÃ THỨC ĐỒ 老 馬 識 途". Có nghĩa: Con ngựa già có thể nhận biết được đường cũ đã đi qua. Với tích sau đây:
      Theo Hàn Phi Tử, Thuyết Lâm Thượng: Tề Hoàn Công theo yêu cầu của nước Yên, xuất quân đánh Sơn Nhung, bị lạc trong sa mạc núi non mù mịt không biết đường ra. Quản Trọng bèn thả những con ngựa già ra rồi cho quân đi theo. Qủa nhiên, ra khỏi được nơi bị lạc. Nên câu "LÃO MÃ THỨC ĐỒ" dùng để chỉ sự đắc dụng của những người có kinh nghiệm từng trãi. 
     

                                   LÃO MÃ THỨC ĐỒ 老 馬 識 途

       Lại nhớ những năm trước "Cô-Vít" (trước 2020), Tết năm nào tôi cũng chuẩn bị giấy mực viết Liễn Tết để gây quỹ cho chùa TỊNH LUẬT ở số 8703 Fairbanks N Houston Rd Houston, TX 77064. Để tạo dáng cho bàn viết thư pháp, ngoài chữ PHẬT 佛 to lớn được viết bằng nhũ vàng ở giữa, tôi còn làm đôi câu đối sau đây để trang trí hai bên chữ PHẬT như sau:

              淨 渡 十 方 迷 眾,同 登 彼 岸; 
TỊNH độ thập phương mê chúng, đồng đăng bỉ ngạn;
              律 行 八 介 清 規,速 捨 迷 途。 
LUẬT hành bát giới thanh quy, tốc xả MÊ ĐỒ.
* Chú thích :
       - TỊNH ĐỘ là Độ hết, Độ sạch sẽ không để sót một ai cả.
       - THẬP PHƯƠNG là mười phương : Đông, Tây, Nam, Bắc, đông bắc, tây bắc, đông nam, tây nạm, thượng phương và ha phương, vị chi là MƯỜI PHƯƠNG.
       - MÊ CHÚNG là quần chúng nhân dân còn đang mê muội.
       - ĐỒNG ĐĂNG cùng lên bờ; BỈ NGÃN là Bờ phía bên kia (tức là Bến Giác đó).
       - LUẬT HÀNH là Thực hành theo gii luật.
       - BÁT GIỚI là Tám giới cấm, ngoài Ngũ giới cấm là: Sát sanh, Trộm cắp, Tà dâm,  Nói dối, Uống rượu ra, còn phải giữ thêm 3 giới nữa là : Không phục sức đẹp đẽ, Không ở nhà cao cửa rộng, Không ăn mặn.
       - THANH QUY là Những quy định làm trong sạch con người tu hành.
       - TỐC XẢ là Nhanh chóng buông bỏ.
       - MÊ ĐỒ là Con đường mê muội.
* Nghĩa câu đối :
           - Độ hết quần chúng mê muội của mười phương, để cùng đến bến bờ bên kia.
           - Thực hành tám giới thanh quy, để nhanh chóng buông bỏ con đường mê muội.
        Rất tiếc là tôi không đủ tiền cúng dường để đưa câu đối nầy lên trước cổng chùa.
                  Cổng chùa TỊNH LUẬT, Chữ PHẬT và Câu đối tạo dáng 

     ĐỒ 屠 là Giết, Mổ, nên ĐỒ SÁT 屠 殺 là Chém giết. ĐỒ TỂ 屠 宰 là người chuyên giết súc vật để bán thịt. Tiêu biểu cho từ ĐỒ TỂ là những người bậm trợn to lớn bán thịt heo ở chợ. Từ ĐỒ lại làm cho ta nhớ đến hai câu thơ rất nổi tiếng trong bài thơ "Thuật Hoài 述 懷" của danh tướng Đặng Dung 鄧 容 dưới đời nhà Trần như sau: 

  時 來 屠 釣 成 功 易       Thời lai ĐỒ ĐIẾU thành công dị,
  運 去 英 雄 飲 恨 多       Vận khứ anh hùng ẩm hận đa. 
Có nghĩa :
            - Khi thời đến thì tên Đồ Tể và người Câu Cá (ĐIẾU) đều rất dễ thành công.
            - Khi thời vận đi qua rồi thì dù là anh hùng cũng đành nuốt hận mà thôi! 
                   Gặp thời ĐỒ ĐIẾU thành công dễ,
                   Hết vận anh hùng nuốt hận thôi.
                    

                
      ĐỒ TRƯ 屠 豬 là Mổ heo, ĐỒ DƯƠNG 屠 羊 là Mổ dê, ĐỒ CẨU 屠 狗 là tên chuyên giết và bán thịt chó: Cao Tiệm Ly bạn của thích khách Kinh Kha nước Yên thời Chiến Quốc. Còn ĐỒ LONG 屠 龍 là Giết Rồng, không phải là rồng thật, mà là chỉ vua Mông Cổ đang xâm chiếm nhà Tống lúc bấy giờ, như trong bộ tiểu thuyết võ hiệp nổi tiếng của nhà văn Kim Dung "Ỷ Thiên ĐỒ LONG Ký 倚 天 屠 龍 記" đã được các dịch giả ở Sài Gòn lúc bấy giờ dịch là "Cô Gái ĐỒ LONG" là "Cô Gái Giết Rồng". Thực ra ĐỒ LONG của Kim Dung viết là ĐỒ LONG ĐAO 屠 龍 刀, là thanh đao dùng để giết vua Mông Cổ với lời thiệu được truyền tụng trong võ lâm là:

 武 林 至 尊,寶 刀 屠 龍。  Võ lâm chí tôn, Bảo đao Đồ Long.
 號 令 天 下,莫 敢 不 從。  Hiệu lệnh thiên hạ, Mạc cảm bất                                                         tùng.
倚 天 不 出,誰 與 爭 鋒 ? Ỷ Thiên bất xuất, Thùy dữ tranh                                                        phong?
Có nghĩa :
       - Cây bảo đao ĐỒ LONG là vật chí tôn (tôn quý nhất) trong võ lâm.
       - Dùng cây đao nầy để ra lệnh cho người trong thiên hạ thì không ai dám không nghe theo.
       - Nếu cây Ỷ Thiên Kiếm không xuất hiện, thì vũ khí nào dám tranh là bén hơn cây đao ĐỒ LONG đây?! 
               


      ĐỒ ĐAO 屠 刀 là Cây dao dùng để giết người và súc vật. Phật giáo có câu "Phóng hạ ĐỒ ĐAO, lập địa thành phật 放 下 屠 刀,立 地 成 佛" có nghĩa: "Buông cây dao giết người và súc vật xuống thì sẽ thành Phật ngay tức thì. Ý muốn nói là: Trước kia dù cho có sát nhân ác đức tới đâu, nhưng nếu biết ăn năn hối cải, tu tâm dưỡng tánh thì cũng có thể thành Phật được như thường! Câu nói nầy có xuất xứ từ kinh "Phât Tổ Thống Kỷ Quyển 佛 祖 统 纪 卷" với câu truyện như sau:
      Có người ĐỒ TỂ họ Kinh ở đất Trường An vào đời Đường, thấy hàng thịt của mình sao mấy tháng nay mỗi ngày một ế thêm ra, thịt ôi thối dư đầy nhà, bèn đi dạo một vòng Tràng An để tìm hiểu nguyên nhân. Thì ra mấy tháng nay, có một vị Thiện Đạo hòa thượng đang thuyết pháp trong kinh thành, khuyên mọi người tin vào luật nhân quả, cải ác hướng thiện, ăn chay niệm Phật để được vãn sanh cực lạc. Mọi người đều nghe theo bỏ thịt ăn chay, nên hàng thịt của anh ta ế ẩm. Biết nguyên nhân, anh ta giận lắm, xách dao xông vào chùa định giết Thiện Đạo hòa thượng cho hả giận. Nào ngờ khi đến nơi thấy vẻ uy nghiêm hiền từ của nhà sư đang giảng về nghiệp duyên nhân quả trong tiếng mỏ tiếng kinh thiêng liêng huyền diệu. Hòa Thượng khuyên anh bỏ dao xuống để nghe về Lục đạo luân hồi, hồi hướng công đức để được vãng sanh Tây phương tịnh thổ, rồi vận dụng Phật lực chỉ tay về hướng Tây, trên không trung như mơ màng ẩn hiện ra cảnh Niết bàn Tây Phương cực lạc. Anh đồ tể họ Kinh buông đao chắp tay gục xuống đất, thần hồn xuất ra từ trên đầu lơ lửng nương theo chư Phật lẫn vào trong mây màu ngũ sắc... 
  
              Phóng hạ ĐỒ ĐAO, lập địa thành phật 放 下 屠 刀,立 地 成 佛

      Để kết thúc cho chữ ĐỒ 屠 nầy, ta còn có một câu nói khuyến thiện mà mọi người đều rất thường nghe thấy, đó chính là câu: "Cứu nhân nhất mệnh, thắng tạo thất cấp Phù Đồ 救 人 一 命 勝 造 七 級 浮 屠". PHÙ ĐỒ 浮 屠 là phiên âm Phạn ngữ của từ Buddha. Từ BUDDHA tùy theo ngữ cảnh, có bốn nghĩa như sau: 1. Buddha là Phật Đà; 2. Buddha là Phật Giáo; 3. Buddha là Hòa thượng; 4. Buddha là Tháp Chùa: Nơi để chôn các nhà sư viên tịch, nên câu: "Cứu nhân nhất mệnh, thắng tạo thất cấp Phù đồ" có nghĩa: Cứu một người còn sống, còn hơn xây bảy cái tháp để chôn người đã chết. Nhưng ta lại thường nói trại thành: "Cứu một mạng người còn hơn lập bảy kiểng chùa" là vậy. 
    
      ĐỒ 塗 chữ ĐỒ nầy có 3 chấm Thủy 氵là Nước ở bên trái, phía dưới lại có chữ Thổ 土 là đất; Đất gặp nước thì nhảo ra; nên ĐỒ là Bùn, là Sình. Động từ là Bôi, là Trây, là Trét, nên gặp HỒ 糊 là Bột nhảo  thành HỒ ĐỒ 糊 塗 là Trây trét tùm lum tà la; nghĩa bóng là "Lơ mơ","mù mờ", "Không rõ ràng", là "Xớn xác"... Chuyện gì đó chưa dám quyết định, còn phân vân do dự, chưa biết phải như thế nào thì cũng nói được là còn đang HỒ ĐỒ, như khi Hồ Tôn Hiến cho đem lễ vật đến để chiêu hàng thì Từ Hải dở khóc dở cười chưa biết phải như thế nào:
                       Tin vào gửi trước trung quân,
                  Từ công riêng hãy mười phân HỒ ĐỒ.  

      Ta lại có thành ngữ HỒ LÝ HỒ ĐỒ 糊 里 糊 塗 là "Ù ù cạc cạc", "Ngơ ngơ ngáo ngáo","Mơ mơ màng màng"... không phân biệt trắng đen phải trái gì cả. Còn...

      ĐỒ THÁN 塗炭 là Bùn và Than; Động từ có nghĩa là: Trét bùn trét than, chỉ nơi lầy lội, dơ bẩn, đen tối, cực khổ. Ta nói là Lầm than khổ nhọc, nên ta lại có thành ngữ : NHÂN DÂN ĐỒ THÁN 人 民 塗 炭 hay SINH LINH ĐỒ THÁN 生 靈 塗 炭 để chỉ đời sống cơ cực lầm than của dân chúng trong chiến tranh hay trong thiên tai đói kém. Thành ngữ nầy có xuất xứ từ Tấn Thư 晉 書 như sau:
      Cuối đời Đông Tấn, thiên hạ đại loạn, 16 nước tranh nhau xưng hùng, thảo phạt thôn tính lẫn nhau. Chiến loạn liên miên, Thừa tướng Vương Vĩnh 王 永 của nhà Tiền Tần tập hợp lực lượng các nơi lại để thảo phạt thủ lĩnh của Hậu Tần là Diêu Trường 姚 萇 và thủ lĩnh của Hậu Yên là Mộ Dung Thùy 慕 容 垂. Bản hịch văn hiệu triệu các nước viết rằng: Tiên đế bất hạnh, bị loạn thần khống chế, kinh sư Trường An thất thủ, đất nước điêu linh; đất đai hoang phế, đời sống dân chúng cơ cực như trong ao đầm lầy lội, như trong lò than thiêu đốt, khổ sở vô cùng... Mong các nơi trông thấy hịch văn nầy tức tốc điều động binh mã hội tụ về Trường An để cùng thảo phạt. 
      
          Nên SINH LINH ĐỒ THÁN 生 靈 塗 炭 là chỉ đời sống vất vả cơ cực lầm than, sống nay chết mai của dân chúng trong chiến tranh loạn lạc la vì thế.
 
                           

                 SINH LINH ĐỒ THÁN 生 靈 塗 炭

      ĐỒ 塗 là Bôi là trét, nên ta lại có thành ngữ ĐỒ CHI MẠT PHẤN 塗 脂 抹 粉 là "Tô son trét phấn" (Thay vì nói "Thoa son Dồi phấn") để chỉ sự trang điểm vụng về cẩu thả của các bà các cô; TÔ SON TRÉT PHẤN còn có một nghĩa nữa là chỉ sự trang điểm lòe loẹt không khéo léo đoan trang. Theo "Dược Vương Bồ-Tát bản sự 藥 王 菩 薩 本 事" trong kinh Pháp Hoa 法 華 經 lại có câu "HƯƠNG DU ĐỒ THÂN 香 油 塗 身" là lấy dầu thơm xoa khắp thân mình,  để... làm chi không biết! (Mời tìm đọc Kinh Pháp Hoa sẽ rõ).

      Ta lại có thành ngữ CAN NÃO ĐỒ ĐỊA 肝 腦 塗 地 nghĩa đen là: Gan óc lầy đất, chỉ cảnh nhiều người chết chóc một cách thảm thương; Sau được dùng để chỉ dù cho có chết một cách thê thảm để trả ơn cho ai đó cũng cam tâm tình nguyện. 
      Thành ngữ nầy có xuất xứ từ Tam Quốc Chí. Khi Quan Công đem quân vây đánh Tương Dương và Phàn Thành, tướng soái của Tào Tháo lúc bấy giờ là Vu Cấm, tiên phong là Bàng Đức. Cấm nghi ngờ Đức sẽ đầu hàng Quan Công, tâu với Tào Tháo thu hồi ấn Tiên phong của Bành Đức. Đức tâu với Tháo là mình dù cho có chết thảm đến đổi óc gan lầy đất ở chiến trường cũng nguyện trung thành với Tào Tháo. Tháo tin Đức nên vẫn cho giữ ấn Tiên phong. Để tỏ lòng trung thành, khi ra trận Bàng Đức cho mang theo cả quan tài để tỏ lòng quyết tâm tử chiến. Cuối cùng vẫn bị Quan Công chém chết vì Bàng Đức quyết không đầu hàng. Quả là một mãnh tướng trung can thà "Óc gan lầy đất" cũng quyết chiến đến cùng.

 
           CAN NÃO ĐỒ ĐỊA 肝 腦 塗 地

      Trong Truyện Kiều, khi Từ Hải đã giúp Thúy Kiều báo ân báo oán, Thúy Kiều cũng đã cảm kích mà: 
                     Tạ ân, lạy trước Từ công:
               “Chút thân bồ liễu nào mong có rày.
                     Trộm nhờ sấm sét ra oai,
               Tấc riêng như cất gánh đầy đổ đi.
                  Chạm xương, chép dạ xiết chi,
               Dễ đem GAN ÓC đền nghì trời mây!”

       Ý của Thúy Kiều là còn sống thì "Chạm xương, chép dạ", ta thường nói là "Ghi lòng tạc dạ"; hay có chết một cách thê thảm, cũng "... đem Gan Óc" mà đền nghĩa (nghì) cao như "trời mây" của Từ Hải đã làm cho nàng!

                                    

                                                   Thúy Kiều và Từ Hải 

      ĐỒ 荼 là Một loại rau Đắng, rất khó ăn. Ta có từ ĐỒ ĐỘC 荼 毒 là Rau đắng và Trùng độc; nên ĐỒ ĐỘC có nghĩa là Bị Tàn hại, ngược đãi, hành hạ, làm cho khổ sở... Ta hay nói thành "ĐẦU ĐỘC" và hiểu thành "bỏ thuốc độc cho ai đó..."
      ĐỒ 荼 còn là tên của một loài hoa trắng... như bông ! Đó là Hoa ĐỒ MI 荼 蘼. Nhắc đến hoa ĐỒ MI là người ta lại nhớ ngay đến Hồng Lâu Mộng, quyển tiểu thuyết nổi tiếng của Tào Tuyết Cần, trong đó tả lại trong một buổi tiệc vui chơi ở hồi thứ 63, một A hoàn của Giả Bảo Ngọc là Xạ Nguyệt đã rút nhằm cây xăm hoa có vẽ hình một cành hoa Đồ Mi với lời đề "Thiều Hoa Thắng Cực 韶 華 勝 極" có nghĩa "Thời gian hoa mộng đã đến hồi cùng cực rồi" và bên dưới lại kèm thêm một câu thơ cổ là "Khai đáo ĐỒ MI hoa sự liễu 開 到 荼 蘼 花 事 了" Có nghĩa: "Nở đến hoa ĐỒ MI là chuyện chơi hoa đã đến hồi kết thúc rồi!" Giả Bảo Ngọc cho là điềm chẳng lành nên giấu cây xăm đi. Tại sao? À, Thì ra Hoa ĐỒ MI rất trong trắng và xinh đẹp, nhưng lại nở vào cuối mùa Xuân đầu mùa Hạ, khi các loài hoa khác đã sắp tàn tạ hết rồi. Câu thơ trên có xuất xứ từ bài Thất ngôn tứ tuyệt "Xuân Mộ Du Tiểu Viên 春 暮 遊 小 園"(Cuối Xuân dạo vườn hoa nhỏ) của Vương Kỳ 王 淇 một nhà thơ đời Tống. Cả bài như sau:

 一 從 梅 粉 褪 殘 粧,   Nhất tòng mai phấn thoái tàn trang,
 塗 抹 新 紅 上 海 棠。   Đồ mạt tân hồng thướng hải đường.
 開 到 荼 蘼 花 事 了,   Khai đáo đồ mi hoa sự liễu,
 絲 絲 天 棘 出 莓 牆.    Ti ti thiên cức xuất môi tường !
           

              開 到 荼 蘼 花 事 了,   Khai đáo đồ mi hoa sự liễu,
Có nghĩa :
        - Bắt đầu từ hoa mai khi phấn nhạt hương tàn, thì...
        - Hải đường lại thoa son đánh phấn để thay thế. Nhưng...
        - Nở đến hoa Đồ Mi là viêc thưởng hoa đã đến hồi kết thúc rồi, Mặc dù...
        - Sau đó vẫn có dây leo gai góc bò ra ngoài trên bức tường rêu xanh (trông cũng đẹp chán!)
      Bài thơ diễn tả sự luân phiên thay đổi giữa các loài hoa trong mùa Xuân. Đầu Xuân là Hoa Mai nở sớm nhất, giữa Xuân là hoa Hải Đường, đến cuối Xuân là hoa ĐỒ MI trắng xóa nở trắng khắp đồng nội như thay lời chào cuối cùng của các hoa xuân. Thương xót cho loài hoa trinh trắng cuối cùng của mùa xuân, cụ Nguyễn Du đã dùng hình bóng của hoa Đồ Mi nầy để so sánh với thân phận của nàng Kiều khi thất thân với Mã Giám Sinh:
                       Tiếc thay một đóa ĐỒ MI,
                    Con ong đã tỏ đường đi lối về !
    ... Vì chữ TRÀ 茶 và chữ ĐỒ 荼 chỉ khác nhau có một nét, nên có rất nhiều người đọc nhầm chữ ĐỒ 荼 thành chữ TRÀ 茶, nên mới có người đọc sai là:
                       Tiếc thay một đóa TRÀ MI,
                    Con ong đã tỏ đường đi lối về !
                  

         Từ ĐỒ 荼 cuối cùng cho chữ ĐỒ 荼 nầy là THẦN ĐỒ UẤT LUẬT 神 荼 鬱 壘 thường hay bị đọc sai là THẦN TRÀ UẤT LŨY. Đây là hai vị Môn Thần, theo Sơn Hải Kinh 山 海 经 của Vương Sung 王 充 đời Hán:
       Trong thương hải mênh mông ở biển Đông, có núi Độ Sóc, trên núi có một cây đào lớn, cành lá vươn dài ba ngàn dặm. Ở giữa cành lá phía Đông bắc có một Quỹ môn là cửa của các loài quỹ ra vào hằng ngày. Phía trên cửa có hai vị thần, bên phải là THẦN ĐỒ 神 荼, bên trái là UẤT LUẬT 鬱 壘, chuyên trông coi và lãnh đạo chúng quỹ. Các con quỹ hung ác cứng đầu hay trốn đi hại người, thì sẽ bị hai vị thần dùng dây lạt trói lại đem cho bạch hỗ ăn thịt. Nên vua Huỳnh Đế mới cho dân chúng vẽ hình của Thần Đồ và Uất Luật vào hai bên cửa để cho các quỹ trông thấy mà tránh xa, không dám đến gần làm hại. Nhưng...
       Theo 《Tam Giáo Sưu Thần Đại Toàn 三 教 搜 神 大 全》 ghi rằng: Trong cung vua Đường hằng đêm đều nghe tiếng khóc than của các loài quỹ mị và tiếng ném gạch đá rổn rảng suốt đêm, khiến cho Đường Thái Tông không sao yên giấc được. Võ tướng Tần Quỳnh 秦 瓊 mặt vàng tâu với vua rằng: "Thần nguyện cùng Uất Trì Kính Đức 尉 遲 敬 德  mặt đen, đêm đêm sẽ nai nịt gọn gàng như đi đánh trận, cầm binh khí đứng gát ở trước của cung để trấn át các loài quỹ mị ma quái". Vua chuẩn y. Quả nhiên, khi hai võ tướng đứng gát trong đêm thì các ma quái quỹ mị im re không dám động tịnh gì nữa cả. Các quan trong triều rồi đến dân chúng trong kinh thành đều cho thợ vẽ vẽ hình của hai tướng treo hai bên cửa ra vào để trấn áp tà ma. Tần Quỳnh là TẦN THÚC BẢO 秦 叔 寶, còn Uất Trì Kính Đức là UẤT TRÌ CUNG 尉 遲 恭 đó .
           

    THẦN ĐỒ UẤT LUẬT 神 荼 鬱 壘  và  TẦN THÚC BẢO 秦 叔 寶, UẤT TRÌ                         CUNG 尉 遲 恭 

      ĐỒ 徒 : Thấy chữ ĐỒ nầy là người ta nghĩ ngay đến từ ĐỒ ĐỆ 徒 弟 là Học trò nói chung. Bất cứ theo học ngành nghề nào cũng đều gọi là ĐỒ ĐỆ được cả. Nếu không thích gọi là Đồ Đệ thì gọi là MÔN ĐỒ 門 徒 cũng được. Và nên nhớ đây là cách gọi theo xưa, còn hiện nay thì tất cà đều được gọi là HỌC SINH 學 生.
    - SƯ ĐỒ 師 徒 chỉ sự quan hệ Thầy Trò với nhau, như tình nghĩa Sư Đồ... 
    - CAO ĐỒ 高 徒 : Không phải là học trò có chiều cao thật cao, mà là "Học Trò Giỏi", như thành ngữ DANH SƯ XUẤT CAO ĐỒ 名 師 出 高 徒 Có nghĩa là "Thầy nổi tiếng sẽ dạy ra học trò giỏi giang". Trái với Cao Đồ là...
    - NGHỊCH ĐỒ 逆 徒, PHẢN ĐỒ 反 徒 là : Học trò ngổ ngáo, Học trò phản nghịch.
    - TÍN ĐỒ 信 徒 là Những người tin theo một Đạo giáo nào đó, nên còn được gọi là GIÁO ĐỒ 教 徒 như Tín Đồ Phật Giáo, Giáo Đồ Thiên Chúa Giáo, Giáo Đồ Hồi Giáo...
      ĐỒ 徒 ngoài nghĩa chỉ người tốt, người bình thường ra, còn để chỉ người xấu như:
    - PHỈ ĐỒ 匪 徒 : Chỉ quân du thủ du thực, phá làng phá xóm, dân du côn...
    - ÁC ĐỒ 惡 徒 : Quân Tàn ác, cũng dùng để chỉ Học trò xấu xa tàn ác.
    - TỬU SẮC CHI ĐỒ 酒 色 之 徒 : Chỉ những người ham mê tửu sắc, chữ ĐỒ ở đây đã được Nôm hóa thành: Thứ cái ĐỒ ham mê tửu sắc! Tương tự, ta có...
    - HIẾU SỰ CHI ĐỒ 好 事 之 徒 : Ta bảo là "Thứ cái ĐỒ nhiều chuyện!" Một từ nữa mà ta cũng rất thường nghe...
    - THỊ TỈNH CHI ĐỒ 市 井 之 徒 : là "Thứ cái ĐỒ dân chợ búa!"...

      ĐỒ 徒 còn là một chức quan lớn ở trong triều đại phong kiến: Quan TƯ ĐỒ 司 徒 thuộc hàng Tam Công, tương đương như chức Tể Tướng sau nầy. Quan Tư Đồ mà ta thường nghe nói nhất là TƯ ĐỒ Vương Doãn 王 允 (131-192) ở cuối đời Đông Hán. Ông đã dùng Điêu Thuyền, người đẹp Nguyệt Thẹn, làm mỹ nhân kế để ly gián cha con Lữ Bố và Đổng Trác đang chuyên quyền và thao túng nhà Hán, trong Tam Quốc Chí diễn nghĩa của La Quán Trung.
                                                    
      Ở nước ta, vào đời Hậu Lê, dưới đời vua Lê Thánh Tông năm 1466 những người thi đậu 3 trường của kỳ Thi Hương được gọi là SINH ĐỒ 生 徒; Đậu cả 4 trường thì gọi là HƯƠNG CỐNG 鄉 貢. (Đến năm 1828 vua Minh Mạng mới đổi cách gọi Sinh Đồ thành Tú Tài 秀 才. Hương Cống thành Cử Nhân 舉 人). Theo quy định của các vua Lê đậu Hương Cống mới được bổ nhiệm làm quan, còn muốn đi dạy học thì ít nhất phải đậu SINH ĐỒ, nên các thầy dạy học ngày xưa thường được gọi THẦY ĐỒ là vì thế.
      Như ta đã biết, ông Tú Vị Xuyên Trần Tế Xương "Tám khoa chưa khỏi phạm trường quy" nên đành làm Thầy Đồ dạy học cho 4 đứa con tên Uông, tên Bái, tên Bột, tên Bành để được... lãnh lương vợ. Ta hãy nghe ông kể trong bài "Phú Thầy Đồ" :
               ... Thầy Đồ thầy đạc,
                   Dạy học dạy hành...
                   Mấy quyển vở rách,
                   Dăm thằng trẻ ranh !...  

               Văn có hay đã đỗ làm quan, võng điều võng tía,
               Võ có giỏi đã ra giúp nước, khố đỏ khố xanh.

                   Ý hẳn thầy văn dốt vũ dát,
                   Cho nên thầy lẩn quẩn loanh quanh...

      Bỏ qua ông Tú Vị Xuyên, ta trở lại với bài hát nói "Giễu Thầy ĐỒ làng Cổ Nhuế" khi ông ta đi dạy học ở Phủ Vĩnh Tường:

             Thầy ĐỒ là người tài bộ,
             Quẩy cầm thư đi giáo thụ phủ Vĩnh Tường.
             Trước nha môn thiết một học trường,
             Dạy dăm đứa “chi, hồ, dã, giả”.
             Nhân lúc Thầy ĐỒ nhàn hạ,
             Ra hồ sen xem ả hái hoa.
             Ả hớ hênh ả để ĐỒ ra,
             ĐỒ trông thấy ĐỒ ngâm ngay tức khắc :

             Phong tiền lạn mạn hoa sinh sắc,    風 前 瀾 漫 花 生 色,
             Thuỷ diện vi mang bạng thổ thần.   水 面 微 茫 蚌 吐 唇.*

             ĐỒ ngâm rồi ĐỒ đứng tần ngần,
             ĐỒ nọ tưởng ĐỒ kia thêm thắc mắc.
             Suốt năm canh ĐỒ nằm khôn nhắp,
             Những mơ màng ĐỒ nọ tưởng ĐỒ kia!
             ĐỒ đâu gặp gỡ làm chi! 
   
       

* Chú thích :
      - PHONG TIỀN 風 前 : là Trước gió.
      - LẠN MẠN 瀾 漫 : chỉ Màu sắc xinh tươi rực rỡ.
      - HOA SINH SẮC 花 生 色 : là Hoa khoe màu sắc đẹp đẽ của mình.
      - THỦY DIỆN 水 面 : là Mặt nước.
      - VI MANG 微 茫 : là Ẩn hiện chập chờn.
      - BẠNG THỔ THẦN 蚌 吐 唇 : BẠNG 蚌 là con Trai, con Hến; THỔ 吐 là Nhổ ra, Lè ra; THẦN 唇 là Cái Môi.
 
* Nghĩa hai câu thơ chữ Nho :
      - Trước gió hoa sen cũng như người đẹp khoe vẻ xinh tươi rực rỡ của mình. Còn...
      - Mặt nước thì ẩn hiện chập chờn khi mờ khi tỏ hình dáng của con trai, con hến đang lè hai cái môi ra !...
        Quả là :
                      Gió lay rực rỡ hoa khoe sắc,
                      Nước gợn chập chờn hến lỏ môi !
                  


      Vì cái hình ảnh "chập chờn" của con "hến lỏ môi" ra, mà "ĐỒ ngâm rồi ĐỒ đứng tần ngần", và "ĐỒ nọ tưởng ĐỒ kia thêm thắc mắc". Rồi sau đó... 
                     Suốt năm canh ĐỒ nằm khôn nhắp,
                     Những mơ màng ĐỒ nọ tưởng ĐỒ kia!
... và ngẩn ngơ tự hỏi :
                                   ĐỒ đâu gặp gỡ làm chi ! 
    
      
           Thầy ĐỒ quả là người Tài Bộ, trông bộ dạng đã biết có tài, thầy đã rất tinh tế, rất khéo léo trong phép so sánh "Con trai lè hai cái môi ra" trong khi hình ảnh chỉ "chập chờn" trên mặt nước...

            Hẹn bài viết tới !
                                                             杜 紹 德
                                                          Đỗ Chiêu Đức



Mời Xem :






CÂU CÁ NGOÀI BIỂN -Thơ Phan Thượng Hải và T.Họa

  CÂU CÁ NGOÀI BIỂN Quanh quẩn sông hồ thiệt chán chê Câu ngoài biển cả hợp tài nghề Cá to cần tốt càng thêm hứng Trời rộng hồn mơ thấy cũng...