Hiển thị bài đăng được sắp xếp theo mức độ liên quan cho truy vấn kỷ niệm với phố Tây Ninh. Sắp xếp theo ngày Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị bài đăng được sắp xếp theo mức độ liên quan cho truy vấn kỷ niệm với phố Tây Ninh. Sắp xếp theo ngày Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 2 tháng 3, 2023

KỶ NIỆM VỚI PHỐ TÂY NINH. - Trịnh thị Hảo


Ngồi ở Cali, đọc Fb của bạn Hoàng Tùng, kể về con phố Tây Ninh với món bánh mì xíu mại, tiệm Quảng Hải… gợi cho tôi nhớ lại những ngày xưa cũ…)
***
Đường phố Tây Ninh ngắn ngủn đến độ thầy Vinh ( thầy dạy ở trường Nữ trung học, hình như môn Lý ) chê rằng phố gì mà đi bộ chưa đến năm phút đã hết… Quả đúng như vậy, theo ký ức củ tôi phố xá Tây Ninh thua xa khu Tòa Thánh Cao Đài..
Trên con phố Gia Long “đi dăm phút đã về chốn cũ “ ấy, phía tay phải từ cầu đi xuống, có có một tiệm đóng xăng đan mà ba tôi vẫn dắt tôi đi đo ni đóng giày mỗi mùa nhập học. Hình như nhà cô Hạnh thì phải. Xuống chút nữa là hai tiệm chụp hình là Ngọc Dung và Kim Dung. Về sau tôi biết ở bên kia đường có một tiệm chụp ành khác là Xuân Mỹ. ( biết là do đó là nhà một bạn học Sư Phạm: Trần Thị Mai - ở San Jose - mà tôi có dịp ghé thăm. ( nhà chị có cây hồng dòn sai trĩu quả , tiếc thay khi tôi đén , trái còn xanh rất xanh !!!) .
Cuối con đường là rạp chiếu bóng Lạc Thanh. Ba tôi làm ở Ty thuế vụ nên có vé mời thường trực ở Lạc Thanh, ( mỗi phim được xem một lần, hai vé) , nhưng thỉnh thoảng chúng tôi mới được ba cho phép xem. Đến bây giờ tôi vẫn nhớ phim Bạch Viên Tôn Các , có diễn viên đóng vai con khỉ leo núi thoăn thoắt, nhớ một phim cô Thẩm Thuý Hằng đóng vai Tam Tạng ngồi khóc trước bọn nữ yêu thật là đẹp. Và có phim cả nhà tôi cùng xem là phim Ben Hur… Con em tôi mê phim chưởng , thuộc vanh vách tên các tài tử Hồng Kông luôn…
Còn có một rạp để diễn cải lương nữa là rạp Thanh Sơn. Má tôi thích cải lương hơn. Mỗi khi có đoàn hát về, ba tôi cũng có vé mời. Má tôi thích kép Út Hậu. Còn tôi đi theo và biết được thêm chữ “ Vãn” gắn ở mép tấm màn nhung đỏ, có nghĩa là hết tuồng…
***
Bên kia đường có tiệm Quảng Hải mà bạn Tùng kể , tôi nhớ nó có tên chính thức là “Quảng Hải trà gia” , nơi lần đầu tiên bọn nhóc chúng tôi được ba dắt cả nhà đi ăn tiệm. Và dư vị của món ăn đầu tiên đó – mì hoành thánh - còn đọng mãi trong ký ức của tôi…, đến nỗi sau này tôi không muốn ăn món mì hoành thánh nào thêm nữa để không bị vỡ mộng về một món ăn ngon thuở ngây thơ và nghèo nàn .
Cũng tiệm ăn này, mỗi mùa Trung Thu , ba tôi hay mang về hai hộp bánh nướng : thập cẩm và đậu xanh với một hộp trà. Tôi nhớ trung thu nào bọn tôi cũng ngồi chầu hẩu ở đầu nhà ngóng trông ba đi làm về. Đám nhỏ tụi tôi hít hà ngắm nghía cái hình vẽ, săm soi mấy chữ Tàu trên hộp, tôi hỏi ba , thì ba chỉ : “Trung thu nguyệt bỉnh”. Tôi biết được mấy chữ nho đơn giản ( chữ trung và chữ nguyệt) từ đó.
Rồi sốt ruột chờ mong tối đến! Thôi thì khỏi nói, miếng bánh nhỏ tí được để trên mảnh giấy trắng tươm mỡ béo ngậy, ngọt sắc được bọn tôi trân trọng cầm trên tay ropòi lại ngắm nghía hít hà… Xong thì liếm láp từng chút một : chút hột dưa,, chút mỡ, chút lạp xưởng, chút lá chanh.. ,và cố kéo dài thời gian nhất có thể được, để thưởng thức món quà sang trọng hấp dẫn đó, nhất là khi may mắn được ba phát cho phần bánh có miếng hột vịt muối to hơn…
Nhất định không để sót lại vụn bánh nào !!!
***
Những món quà đó vào thời đó sao mà ngon, vui, tuyệt vời và đấm ấm đến như vậy? Bởi vì bây giờ no đủ hơn, có thể lựa chọn được nhiều món ngon hơn, với thương hiệu nổi tiếng hơn, vật liệu cao cấp hơn… nhưng lạ lùng là ăn gì cũng không thể tìm lại được cái hương vị của ngày xa xưa ấy !!!
***
Ngoài ra mỗi hè, các anh chị tôi học ở Sài gòn đều về nhà, khi ấy chúng tôi vui lắm. Các anh chị dắt chúng tôi ra phố ăn chè sâm bổ lượng mát rượi ví nước đá ,( lại nhớ mất trí táo tàu trong ly ) , khi về thì hai tay hai nắm mấy trái cà na gói trong miếng giấy quấn thành một dải dài, chúng tôi ngồi trên “ lầu” ( thực sự là cái nhà sàn) ngồi ăn và thả hột xuống đất , sung sướng nhìn lũ trẻ hàng xóm ganh tỵ với mình…
***
Tây Ninh còn có một con dốc cao nổi tiếng là dốc Toà, vì có tòa nhà Hành chính ở đó, ( nhưng dân vẫn gọi là dốc tà ) . Mỗi khi đi chợ, má tôi đều đi bộ trên con dốc này. Ngày đó, muốn ra phố, hay đi chợ, chúng tôi thường đi bộ, còn nếu sang hơn thì đi bằng “xe lôi”: người ta dùng một chiếc xe đạp ( gọi là xe lôi đạp) , hoặc xe gắn máy ( gọi là xe lôi máy) , gắn thêm một cái “rơ mooc” đặc biệt phía sau để chở người. Đúng nguyên tắc, xe chỉ “lôi” được hai người, nhưng để có thể chở đông khách, chủ xe thường nhận một lúc bảy nhân mạng . Ai ngồi trên tấm sắt hình tam giác ở đầu xe là phải cẩn thận , vì khi xe quẹo vòng tròn như đi ngang vòng xoay bùng binh chẳng hạn, không khéo sẽ văng khỏi xe như chơi. Má tôi thường kể có bà mặc áo dài ngồi xe vô ý để tà áo quấn vào trục xe , lãnh tai nạn rất thương tâm!
Một phương tiện di chuyển khác tôi rất thích là ngồi xe ngựa. Leng keng leng keng, chuông kêu theo nhịp ngựa chạy, vó câu khấp khểnh thong dong, mà mình ngồi trên cũng nhấp nhổm theo nhịp phi của ngựa. Ngỗi xe ngừa thích nhất là chỗ chung với bác chủ xe ( con nít thường hay đườc ngồi) , hoặc hai chỗ ngồi ở cuối, có thể thoải mái thòng chân đong đưa theo nhịp ngựa phi, vừa ngắm cảnh, chứ ngồi bó rọ bên trong thì chán chết!
***
Với dinh tỉnh trưởng ngày xưa, chị em chúng tôi cũng có một kỷ niệm: Vào dịp Trung Thu, em Út của tôi được chọn để đọc diễn văn ở dinh tỉnh trưởng, chúng tôi ra sức làm một cái lồng đèn thật đẹp cho nó xách. Lồng đèn có hình đầu lân, dán bằng giấy bóng kiếng màu đỏ với các chòm râu tua rua màu trắng. Dưới con mắt trẻ thơ, chúng tôi thấy nó thật oách, nên vô cùng hãnh diện vì nó. Trong lúc chúng tôi làm lồng đèn thì nhỏ Út luyện đọc diễn văn. Ngay mới mở đầu nó đã đọc trật trà trật trưỡng rồi. Nếu nó đọc đúng chữ Trung thì ba chữ sau biến thành “trá trỉnh trưởng”, còn nếu sửa đúng hai chữ sau thì nó lại đọc thành “Tung tá tỉnh tưởng!”. Đến bây giờ tôi vẫn còn mang chuyện đó ra ghẹo nó hoài. Nhưng sau đây mới là chuyện chính : Cái đầu lân đã xong, thì thằng em trai lấy đi rước đèn sớm trên núi Đức Mẹ cùng các bạn và bị cháy… Chúng tôi bèn trao cho Út cái đèn thô sơ của chúng tôi: ba cái vòng tròn nhỏ kết lại với nhau và dán bằng giấy bóng mờ! Con nhỏ phụng phịu nhưng cũng phải chịu thôi chứ biết làm sao được?
Vậy mà khi về, nó cười tươi roi rói: Lồng đèn của nó đạt giải ba hay giải an ủi gì đó! Ôi trời đất ơi , vì sao thế? Nó lỏn lẻn kể lại là nó ngồi kế bên ông Tỉnh Trưởng, ông thấy cái đèn của nó đơn sơ quá nên hỏi, và nó kể lể sự tình, thế là nó được giải!!! Thật sự thì với lồng đèn đầu lân, chúng tôi cũng không thể có một tia hy vọng gì, vì có rất nhiều lồng đèn đẹp đẽ, lung linh, hoành tráng do người lớn làm để dự thi như chiếc đèn con thỏ to, khắp mình bọc bông gòn trắng tinh , đẹp vô cùng của nhà Ngọc Khuê… Vậy thì mấy thứ con nít chúng tôi tự nghĩ, tự làm bì sao được? Cái đèn nhỏ xíu ấy sở dĩ được giải có lẽ do nó mang đầy nét ngô nghê vụng về trẻ con, hay do con em tôi dễ thương… hoặc do may mắn ngồi bên cạnh ông tỉnh trưởng… chăng?
***
Xin thú rằng, tuy nhà tại thị xã, nhưng vốn là đứa mù đường, ít quan sát, nên tôi không nhớ rõ nhiều về con phố Tây Ninh ngắn ngủn này. Lúc mới dạy học, ngày hai buồi đi xe lam ngang qua, cũng như khi phải khi tự đạp xe đi dạy, ký ức của tôi cũng không có nhiều. Có lẽ chỉ còn đọng lại những kỷ niệm với nó mà thôi. Nhưng hào quang của kỷ niệm thường được mình tô vẽ hơi nhiều, bởi vì khi trí óc đã bị bụi thời gian phủ dầy, thì những gì phai nhạt, mờ nhoà trong quá khứ, sẽ được nó tự động tô trát, dặm vẽ thêm trong vô thức… đến nỗi mình nghĩ nó là thật, mà té ra là trật lất… Vì thế nếu có sai lệch so với sự thật… Xin thông cảm cho tôi nhé, hỡi người Tây Ninh!
30/7/2018
***
Phụ thêm:
Đọc trên mạng tôi mới biết con đường tới nhà Thình thủơ xưa mang tên Yết Ma Lượng vốn là tên một vị sư rất nổi tiếng ở miền Nam, với pháp danh là thiền sư Minh Đạt. Ông là người sáng lập chùa Thiền Lâm cổ, một trong những ngôi chùa đầu tiên ở TP. Tây Ninh. Và vô mạng tôi mới biết bạn Lê Trung Ngân cũng có một trang hình ảnh về Tây Ninh thuở xưa…

 


 

Thứ Hai, 28 tháng 2, 2022

KỶ NIỆM VỚI PHỐ TÂY NINH. - Trịnh thị Hảo

 
Đường phố Tây Ninh ngắn ngủn đến độ thầy Vinh ( thầy dạy ở trường Nữ trung học, hình như môn Lý ) chê rằng phố gì mà đi bộ chưa đến năm phút đã hết… Quả đúng như vậy, theo ký ức củ tôi phố xá Tây Ninh thua xa khu Tòa Thánh Cao Đài..
Trên con phố Gia Long “đi dăm phút đã về chốn cũ “ ấy, phía tay phải từ cầu đi xuống, có có một tiệm đóng xăng đan mà ba tôi vẫn dắt tôi đi đo ni đóng giày mỗi mùa nhập học. Hình như nhà cô Hạnh thì phải. Xuống chút nữa là hai tiệm chụp hình là Ngọc Dung và Kim Dung. Về sau tôi biết ở bên kia đường có một tiệm chụp ành khác là Xuân Mỹ. ( biết là do đó là nhà một bạn học Sư Phạm: Trần Thị Mai - ở San Jose - mà tôi có dịp ghé thăm. ( nhà chị có cây hồng dòn sai trĩu quả , tiếc thay khi tôi đén , trái còn xanh rất xanh !!!) .
Cuối con đường là rạp chiếu bóng Lạc Thanh. Ba tôi làm ở Ty thuế vụ nên có vé mời thường trực ở Lạc Thanh, ( mỗi phim được xem một lần, hai vé) , nhưng thỉnh thoảng chúng tôi mới được ba cho phép xem. Đến bây giờ tôi vẫn nhớ phim Bạch Viên Tôn Các , có diễn viên đóng vai con khỉ leo núi thoăn thoắt, nhớ một phim cô Thẩm Thuý Hằng đóng vai Tam Tạng ngồi khóc trước bọn nữ yêu thật là đẹp. Và có phim cả nhà tôi cùng xem là phim Ben Hur… Con em tôi mê phim chưởng , thuộc vanh vách tên các tài tử Hồng Kông luôn…
Còn có một rạp để diễn cải lương nữa là rạp Thanh Sơn. Má tôi thích cải lương hơn. Mỗi khi có đoàn hát về, ba tôi cũng có vé mời. Má tôi thích kép Út Hậu. Còn tôi đi theo và biết được thêm chữ “ Vãn” gắn ở mép tấm màn nhung đỏ, có nghĩa là hết tuồng…
***
Bên kia đường có tiệm Quảng Hải mà bạn Tùng kể , tôi nhớ nó có tên chính thức là “Quảng Hải trà gia” , nơi lần đầu tiên bọn nhóc chúng tôi được ba dắt cả nhà đi ăn tiệm. Và dư vị của món ăn đầu tiên đó – mì hoành thánh - còn đọng mãi trong ký ức của tôi…, đến nỗi sau này tôi không muốn ăn món mì hoành thánh nào thêm nữa để không bị vỡ mộng về một món ăn ngon thuở ngây thơ và nghèo nàn .
Cũng tiệm ăn này, mỗi mùa Trung Thu , ba tôi hay mang về hai hộp bánh nướng : thập cẩm và đậu xanh với một hộp trà. Tôi nhớ trung thu nào bọn tôi cũng ngồi chầu hẩu ở đầu nhà ngóng trông ba đi làm về. Đám nhỏ tụi tôi hít hà ngắm nghía cái hình vẽ, săm soi mấy chữ Tàu trên hộp, tôi hỏi ba , thì ba chỉ : “Trung thu nguyệt bỉnh”. Tôi biết được mấy chữ nho đơn giản ( chữ trung và chữ nguyệt) từ đó.
Rồi sốt ruột chờ mong tối đến! Thôi thì khỏi nói, miếng bánh nhỏ tí được để trên mảnh giấy trắng tươm mỡ béo ngậy, ngọt sắc được bọn tôi trân trọng cầm trên tay ropòi lại ngắm nghía hít hà… Xong thì liếm láp từng chút một : chút hột dưa,, chút mỡ, chút lạp xưởng, chút lá chanh.. ,và cố kéo dài thời gian nhất có thể được, để thưởng thức món quà sang trọng hấp dẫn đó, nhất là khi may mắn được ba phát cho phần bánh có miếng hột vịt muối to hơn…
Nhất định không để sót lại vụn bánh nào !!!
***
Những món quà đó vào thời đó sao mà ngon, vui, tuyệt vời và đấm ấm đến như vậy? Bởi vì bây giờ no đủ hơn, có thể lựa chọn được nhiều món ngon hơn, với thương hiệu nổi tiếng hơn, vật liệu cao cấp hơn… nhưng lạ lùng là ăn gì cũng không thể tìm lại được cái hương vị của ngày xa xưa ấy !!!
***
Ngoài ra mỗi hè, các anh chị tôi học ở Sài gòn đều về nhà, khi ấy chúng tôi vui lắm. Các anh chị dắt chúng tôi ra phố ăn chè sâm bổ lượng mát rượi ví nước đá ,( lại nhớ mất trí táo tàu trong ly ) , khi về thì hai tay hai nắm mấy trái cà na gói trong miếng giấy quấn thành một dải dài, chúng tôi ngồi trên “ lầu” ( thực sự là cái nhà sàn) ngồi ăn và thả hột xuống đất , sung sướng nhìn lũ trẻ hàng xóm ganh tỵ với mình…
***
Tây Ninh còn có một con dốc cao nổi tiếng là dốc Toà, vì có tòa nhà Hành chính ở đó, ( nhưng dân vẫn gọi là dốc tà ) . Mỗi khi đi chợ, má tôi đều đi bộ trên con dốc này. Ngày đó, muốn ra phố, hay đi chợ, chúng tôi thường đi bộ, còn nếu sang hơn thì đi bằng “xe lôi”: người ta dùng một chiếc xe đạp ( gọi là xe lôi đạp) , hoặc xe gắn máy ( gọi là xe lôi máy) , gắn thêm một cái “rơ mooc” đặc biệt phía sau để chở người. Đúng nguyên tắc, xe chỉ “lôi” được hai người, nhưng để có thể chở đông khách, chủ xe thường nhận một lúc bảy nhân mạng . Ai ngồi trên tấm sắt hình tam giác ở đầu xe là phải cẩn thận , vì khi xe quẹo vòng tròn như đi ngang vòng xoay bùng binh chẳng hạn, không khéo sẽ văng khỏi xe như chơi. Má tôi thường kể có bà mặc áo dài ngồi xe vô ý để tà áo quấn vào trục xe , lãnh tai nạn rất thương tâm!
Một phương tiện di chuyển khác tôi rất thích là ngồi xe ngựa. Leng keng leng keng, chuông kêu theo nhịp ngựa chạy, vó câu khấp khểnh thong dong, mà mình ngồi trên cũng nhấp nhổm theo nhịp phi của ngựa. Ngỗi xe ngừa thích nhất là chỗ chung với bác chủ xe ( con nít thường hay đườc ngồi) , hoặc hai chỗ ngồi ở cuối, có thể thoải mái thòng chân đong đưa theo nhịp ngựa phi, vừa ngắm cảnh, chứ ngồi bó rọ bên trong thì chán chết!
***
Với dinh tỉnh trưởng ngày xưa, chị em chúng tôi cũng có một kỷ niệm: Vào dịp Trung Thu, em Út của tôi được chọn để đọc diễn văn ở dinh tỉnh trưởng, chúng tôi ra sức làm một cái lồng đèn thật đẹp cho nó xách. Lồng đèn có hình đầu lân, dán bằng giấy bóng kiếng màu đỏ với các chòm râu tua rua màu trắng. Dưới con mắt trẻ thơ, chúng tôi thấy nó thật oách, nên vô cùng hãnh diện vì nó. Trong lúc chúng tôi làm lồng đèn thì nhỏ Út luyện đọc diễn văn. Ngay mới mở đầu nó đã đọc trật trà trật trưỡng rồi. Nếu nó đọc đúng chữ Trung thì ba chữ sau biến thành “trá trỉnh trưởng”, còn nếu sửa đúng hai chữ sau thì nó lại đọc thành “Tung tá tỉnh tưởng!”. Đến bây giờ tôi vẫn còn mang chuyện đó ra ghẹo nó hoài. Nhưng sau đây mới là chuyện chính : Cái đầu lân đã xong, thì thằng em trai lấy đi rước đèn sớm trên núi Đức Mẹ cùng các bạn và bị cháy… Chúng tôi bèn trao cho Út cái đèn thô sơ của chúng tôi: ba cái vòng tròn nhỏ kết lại với nhau và dán bằng giấy bóng mờ! Con nhỏ phụng phịu nhưng cũng phải chịu thôi chứ biết làm sao được?
Vậy mà khi về, nó cười tươi roi rói: Lồng đèn của nó đạt giải ba hay giải an ủi gì đó! Ôi trời đất ơi , vì sao thế? Nó lỏn lẻn kể lại là nó ngồi kế bên ông Tỉnh Trưởng, ông thấy cái đèn của nó đơn sơ quá nên hỏi, và nó kể lể sự tình, thế là nó được giải!!! Thật sự thì với lồng đèn đầu lân, chúng tôi cũng không thể có một tia hy vọng gì, vì có rất nhiều lồng đèn đẹp đẽ, lung linh, hoành tráng do người lớn làm để dự thi như chiếc đèn con thỏ to, khắp mình bọc bông gòn trắng tinh , đẹp vô cùng của nhà Ngọc Khuê… Vậy thì mấy thứ con nít chúng tôi tự nghĩ, tự làm bì sao được? Cái đèn nhỏ xíu ấy sở dĩ được giải có lẽ do nó mang đầy nét ngô nghê vụng về trẻ con, hay do con em tôi dễ thương… hoặc do may mắn ngồi bên cạnh ông tỉnh trưởng… chăng?
***
Xin thú rằng, tuy nhà tại thị xã, nhưng vốn là đứa mù đường, ít quan sát, nên tôi không nhớ rõ nhiều về con phố Tây Ninh ngắn ngủn này. Lúc mới dạy học, ngày hai buồi đi xe lam ngang qua, cũng như khi phải khi tự đạp xe đi dạy, ký ức của tôi cũng không có nhiều. Có lẽ chỉ còn đọng lại những kỷ niệm với nó mà thôi. Nhưng hào quang của kỷ niệm thường được mình tô vẽ hơi nhiều, bởi vì khi trí óc đã bị bụi thời gian phủ dầy, thì những gì phai nhạt, mờ nhoà trong quá khứ, sẽ được nó tự động tô trát, dặm vẽ thêm trong vô thức… đến nỗi mình nghĩ nó là thật, mà té ra là trật lất… Vì thế nếu có sai lệch so với sự thật… Xin thông cảm cho tôi nhé, hỡi người Tây Ninh!
30/7/2018
***
Phụ thêm:
Đọc trên mạng tôi mới biết con đường tới nhà Thình thủơ xưa mang tên Yết Ma Lượng vốn là tên một vị sư rất nổi tiếng ở miền Nam, với pháp danh là thiền sư Minh Đạt. Ông là người sáng lập chùa Thiền Lâm cổ, một trong những ngôi chùa đầu tiên ở TP. Tây Ninh. Và vô mạng tôi mới biết bạn Lê Trung Ngân cũng có một trang hình ảnh về Tây Ninh thuở xưa…

Ảnh 1: Đường Gia Long xưa
         2; Cầu Quan xưa
Tiệm mì Quảng Hải
Rạp Lac Thanh và xe lôi xưa

 

Thứ Hai, 17 tháng 7, 2023

Tây Ninh Đồng Hương Hội và Liên Trường Tây Ninh họp mặt Hè 2023

Lâm Hoài Thạch/Người Việt

WESTMINSTER, California (NV) – Tây Ninh Đồng Hương Hội và cựu học sinh Liên Trường Tây Ninh vừa tổ chức buổi họp mặt Hè 2023 vào sáng Chủ Nhật, 9 Tháng Bảy, tại công viên Sigler Park, thành phố Westminster.

 

Mọi người vui mừng gặp nhau tại buổi hội ngộ. (Hình: Lâm Hoài Thạch/Ng

Đây cũng là sinh hoạt thường niên của hội, mục đích giúp đồng hương Tây Ninh và thân hữu tề tựu bên nhau, chung vui trong không khí nắng Hè tại Little Saigon, và cùng nhau hâm nóng lại tình đồng hương nơi xứ lạ quê người. Đồng thời cùng nhớ về những kỷ niệm ngày xưa trên quê hương yêu dấu. Vì Tây Ninh Đồng Hương Hội không chỉ được thành lập tại Little Saigon, mà trước 1975, hội đã được thành lập từ trong nước.

Theo ban tổ chức, Tây Ninh Đồng Hương Hội được thành lập vào khoảng năm 1930 tại Sài Gòn. Sau thời gian hoạt động, hội được chính quyền cấp cho một nơi để làm trụ sở, và cũng là nơi các công chức, tư chức và đồng bào quê quán ở Tây Ninh quy tụ lại để sinh hoạt, giúp đỡ lẫn nhau coi như “anh em bà con” chung một nhà.

Hai vị hội trưởng sau cùng của Tây Ninh Đồng Hương Hội, Sài Gòn là Giáo Sư Trần Văn Thử, cựu hiệu trưởng Trung Học Công Lập Tây Ninh và Trung Học Petrus Ký Sài Gòn; và Đốc Sự Đỗ Văn Rỡ, cựu đổng lý văn phòng Bộ Nội Vụ Việt Nam Cộng Hòa.

Dược Sĩ Lê Quốc Huy bên cạnh lò BBQ. (Hình: Lâm Hoài Thạch/Người Việt)

Sau nhiều năm tị nạn cộng sản tại Hoa Kỳ, để tiếp nối truyền thống tốt đẹp của các bậc tiền bối đã xây dựng nên Tây Ninh Đồng Hương Hội trong nước, thế hệ thứ nhất của đồng hương Tây Ninh đã quy tụ lại và thành lập Tây Ninh Đồng Hương Hội Hoa Kỳ vào năm 1999 tại Little Saigon.

Mùa Hè tại Little Saigon, trong buổi sáng sớm vẫn mát rượi với những cơn gió nhẹ từ biển đưa vào công viên Sigler Park. Khoảng 8 giờ sáng, có nhiều thành viên trong ban tổ chức đã đến sớm để trang hoàng khuôn viên tổ chức, một số đàn ông và trai trẻ treo biểu ngữ, xếp đặt bàn ghế, đặt dàn âm thanh trong sân khấu ca nhạc dã chiến.

Quan trọng nhất là ban ẩm thực, họ đều đến sớm để chuẩn bị những món ăn thuần túy Việt Nam và những món đặc biệt của người dân Tây Ninh, gồm có chả giò, nem cuốn, bì cuốn, bún bì, cơm chiên, gỏi và còn nhiều món khác, đặc biệt nhất là không thể thiếu món BBQ.

Đông đảo đồng hương tham dự. (Hình: Lâm Hoài Thạch/Người Việt)

Dược Sĩ Lê Quốc Huy, đứng gần lò BBQ, cho hay: “Tôi thì không biết nấu những món ăn, cũng không biết ca hát, nên ban tổ chức đã giao phó cho tôi phụ giúp đứng nướng thịt, vụ này thì tôi làm được. Vì thịt do mấy cô bác đã ướp sẵn, mình chỉ đứng nướng mà thôi. Hôm nay, tôi phải nướng trên 30 pound thịt heo và thịt gà.”

Nắng bên ngoài mỗi lúc càng rực rỡ hơn, bà con cũng đã tề tụ đông đảo. Mùi thơm thịt nướng cũng bắt đầu lan tỏa thơm phức nơi tổ chức. Mấy bà, mấy cô mang đến nhiều món ăn được ban ẩm thực trưng bày trên dãy bàn dài. Ban tổ chức mời mọi người đến tự lấy thức ăn không cần phải “khách sáo” chi cả.

Tuy chương trình văn nghệ với tính cách “cùng hát cho nhau nghe,” nhưng cũng rất vui, vì những người lên hát đều là những người không chuyên nghiệp mà lại thích hát.

Ông Phạm Ngọc Lân, hội trưởng Tây Ninh Đồng Hương Hội, chia sẻ với phóng viên nhật báo Người Việt: “Xứ Tây Ninh có rất nhiều đạo hữu của Cao Đài Giáo, một trong những đạo truyền thống của người Việt. Nổi tiếng nhất là Tòa Thánh Tây Ninh. Lúc còn trong nước, người dân xứ tôi tình cảm đầy đặn chân tình, và luôn đùm bọc lẫn nhau. Khi ra hải ngoại, tình người xứ Tây Ninh lại càng thắt chặt thêm nữa. Cho nên, hội thường tổ chức những buổi họp mặt để đồng hương và con cháu được quen biết nhau, cũng như giúp cho giới trẻ Tây Ninh hiểu biết về truyền thống của quê mình.”

Ban tổ chức và các cựu giáo sư. (Hình: Lâm Hoài Thạch/Người Việt)

Trong số đồng hương đến dự, ông Nguyễn Ngọc Sơn tâm tình: “Tôi là rể của đồng hương Tây Ninh. Khi đất nước còn chiến tranh, tôi là một thông dịch viên của ban cố vấn MACV Hoa Kỳ tại Việt Nam, và cũng có đi công tác nhiều lần tại Tây Ninh. Vì thế, tôi đã gặp được vợ của tôi tại Tây Ninh. Tại Việt Nam, tôi cũng là một lực sĩ thể hình. Khi định cư tại Hoa Kỳ, tôi vẫn tiếp tục tập thể hình. Nhưng bây giờ, tôi đã gần 80 rồi nên không còn tập kéo tạ như lúc còn trẻ nữa. Nhưng để tìm vui trong cuộc sống thì hiện nay, tôi nghiên cứu về bonsai và cây xương rồng. Và tôi là sáng lập viên Hội Việt Bonsai và Hội Xương Rồng (Cactus Club).”

Ngoài những cựu học sinh từ Little Saigon và những vùng phụ cận đến, còn có những thầy cô như cựu giáo sư Lê Hữu Khoan, Dương Hồng Quân, Bùi Đức Tốn, và còn nhiều vị khác đến dự.

Tây Ninh Đồng Hương Hội và cựu học sinh Liên Trường Tây Ninh họp mặt Hè 2023. (Hình: Lâm Hoài Thạch/Người Việt)

Bác Sĩ Nguyễn Cát Tường, cựu giáo sư của Đại Học Cao Đài Tây Ninh và trường Nữ Trung Học Tây Ninh, kể lại: “Vài ngày trước khi xảy ra biến cố 30 Tháng Tư, 1975, các vị chức sắc trong Tòa Thánh Tây Ninh đã khuyên tôi nên về Sài Gòn ngay, và chính xe của Tòa Thánh sẽ đưa tôi rời khỏi Tây Ninh, thì có thể không gặp những chuyện nguy hiểm, vì lúc đó cộng sản đang tiến về Sài Gòn. Đó là điều mà tôi không bao giờ quên được, và rất cám ơn Tòa Thánh Tây Ninh đã có nhã ý đưa tôi về với gia đình tại Sài Gòn được an toàn trước ngày miền Nam bị thất thủ.”

Ngoài Tòa Thánh Cao Đài Tây Ninh, núi Bà Đen cũng là một di tích lịch sử của tỉnh Tây Ninh trước 1975 cho đến bây giờ. Hằng năm có hàng triệu du khách đến thăm viếng. Các trường trung học tại Tây Ninh trước 1975 gồm có Đạo Đức Học Đường, Lê Văn Trung, Trung Học Công Lập Tây Ninh, Văn Học, Văn Thanh, Trình Minh Thế, và còn nhiều trường khác. [qd]

Nguồn :https://www.nguoi-viet.com/little-saigon/tay-ninh-dong-huong-hoi-va-lien-truong-tay-ninh-hop-mat-he-2023/

Thứ Hai, 20 tháng 11, 2017

VỀ CỤ TRẦN VĂN GIẢNG - 1 Nhà Giáo Khả Kính ở Tây Ninh Thập Niên 1950



Lê Tấn Tài viết với sự góp ý,  tài liệu của Tiểu Tử
Võ Hoài Nam và Đào Anh Dũng


Trong thập niên 1950, Tây Ninh là một tỉnh nghèo. Đặc biệt, sự giáo dục còn giới hạn. Tuy nhiên, Tây Ninh đã có một buổi họp mặt đầy ý nghĩa, để nêu cao tình thầy trò của các môn đệ đối với thầy cũ. Vị thầy cũ đó là nhà giáo khả kính Trần Văn Giảng, mà học trò gọi thân thương là cụ Đốc Giảng.

Cụ Đốc Trần Văn Giảng, tự Đào Thanh Giảng, sanh năm 1875 tại làng Hiệp Ninh, tỉnh Tây Ninh. Tổ phụ của cụ gốc miền Trung, di dân vào tỉnh Tây Ninh giữa thế kỷ 19. Gia đình cụ làm nghề nông.  Sau khi đậu tiểu học, cụ được học bổng đi học trường Hậu Bổ (Sài Gòn). Ra trường, cụ được bổ đi dạy học ở trường Đất Hộ, tỉnh Gia Định. Sau vài năm, cụ được bổ về nguyên quán là Tây Ninh. Lúc cụ làm thầy nhứt trường tiểu học Tây Ninh, gia đình cụ lãnh nuôi học trò có học bổng nhà nước tại nhà. Trong số học trò ngụ cùng gia đình của cụ năm xưa, có Thủ Tướng Nguyễn Văn Tâm, Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc, Giáo Sư Võ Thành Cứ… Cụ về hưu năm 60 tuổi. Đức Quốc Trưởng Bảo Đại ân thưởng cho cụ Bảo Quốc Huân Chương Đệ Tứ hạng, năm 1953, để vinh danh cụ, một đời cống hiến cho công tác giáo dục tại tỉnh Tây Ninh.

Cụ có 13 người con, nay mất hết, chỉ còn ba người con gái ở tuổi bát và cửu tuần, một sống tại Việt nam, một tại Canada, một tại Hoa Kỳ. Hai người con trai của cụ, là ông Trần Văn Mẩn và Trần Văn Sen, con gái là bà Trần Thị Tuất và chồng là ông Nguyễn Văn Mạnh, con dâu là bà Lê Thị Bình tiếp nối công tác giáo dục của cụ tại tỉnh Tây Ninh.

Năm 1953, lúc đang học lớp nhì tại trường tiểu học tỉnh lỵ Tây Ninh, tôi may mắn được thầy hướng dẫn tham dự buổi lễ gắn Bảo Quốc Huân Chương cho cụ. Buổi lễ diễn ra đã 55 năm rồi, nhưng ý nghĩa và sự long trọng của nó vẫn còn in đậm trong ký ức tôi. Năm ấy, tôi lên 10 tuổi, là một học trò nhà quê, cùng với các học trò khác tại trường tiểu học tỉnh lỵ, đứng chen chúc với dân chúng ở hai bên đường, từ tòa bố chạy xuống ngả tư chợ cũ để chờ đợi nghinh đón phái đoàn Thủ Tướng Nguyễn Văn Tâm. Tôi còn nhớ, cụ đốc Giảng đạo mạo và uy nghi ngồi trên chiếc xe xích lô đạp. Cụ mặc áo dài gấm màu xanh dương. Hai bên đường đông dầy dân chúng và học trò đang háo hức chờ đón phái đoàn.

Sau 55 năm, tôi có dịp biết thêm đôi điều về thời niên thiếu của cụ. Anh Tiểu Tử Võ Hoài Nam, con trai giáo sư Võ Thành Cứ, cư ngụ tại Pháp, và anh Trần Anh Dũng, cháu nội cụ, cư ngụ tại Hoa Kỳ, kể: “Cụ đốc Giảng và học trò là Võ Thành Cứ đều xuất thân từ gia đình nghèo. Cụ đốc Giảng thì chăn trâu đến năm 12 tuổi mới được đi học thế cho con một gia đình giàu có trong làng. Giáo sư Cứ thì gia đình nghèo đến đổi không có tiền mua dầu thắp đèn để học bài. Giáo sư Cứ đọc truyện mướn. Các bà không biết đọc, nhưng lại thích truyện tàu nên mướn ông đọc. Họ nghe một lúc thì ngủ thiếp đi. Ông Cứ lợi dụng có đèn, đem bài ra học”. Ý chí cầu tiến và chăm chỉ học hành của hai vị rất đáng đề cao. Gương cần mẩn, chăm chỉ của người học trò nghèo khiến tôi ngưỡng mộ vô ngần. Tôi tự nghĩ, bản thân mình cũng xuất thân từ gia đình nông dân nghèo khổ, đồng cảnh ngộ vất vả, nên rất khâm phục sự phấn đấu vươn lên của hai vị.

Ngoài ra, cụ đốc còn thương học trò, tận tâm giáo huấn, khiến cho học trò kính yêu cụ như đấng từ phụ. Thật vậy, gương học trò biết ơn thầy và tinh thần “Tôn Sư Trọng Đạo” của các môn đệ của cụ là gương sáng cho hậu thế. Trong bối cảnh đạo đức suy đồi ở trong nước, còn tại hải ngoại, người Việt đua đòi chạy theo nền văn hóa trọng vật chất, nên việc nhắc lại gương đạo đức của người xưa để duy trì và bảo tồn nền văn hóa cổ truyền cao đẹp của dân Việt là cần thiết.

Sau đây, xin quay về dĩ vãng của 55 năm trước để theo dõi buổi lễ gắn Bảo Quốc Huân Chương cho cụ. Trích bản tin của Nha Thông Tin Nam Phần năm 1953, như sau:

“Ngày 18-8-53, tỉnh Tây Ninh lại lộng lẫy với những đường phố rực rỡ quốc kỳ, nỗi hẳn lên giữa cảnh núi rừng hùng vĩ, để hớn hở tiếp nghinh Ngài Thủ Tướng Chánh Phủ Việt Nam…
   
    Hôm nay, đồng bào Tây Ninh tổ chức một cuộc tiếp đón Ngài Thủ Tướng rất nồng nhiệt, vì mọi người đều hay tin rằng "y cẩm vinh qui" - đây là một câu trên biểu ngữ của dân chúng. Ngài Thủ Tướng về tỉnh nhà để gắn huy chương cho cụ Trần Văn Giảng, thầy học cũ của Ngài. Cụ Trần Văn Giảng không lạ gì với mọi giới trong tỉnh Tây Ninh, những người trọng tuổi trong tỉnh này phần nhiều là môn sanh của Cụ Giảng, và những thiếu niên hiện nay cũng phần nhiều đều là học trò của các môn đệ của Cụ ngày xưa.

    Ngoài các thường dân theo Phật Giáo và Thiên Chúa Giáo, hôm nay đồng bào Cao Đài Giáo dự cuộc tiếp đón Ngài Thủ Tướng cũng rất đông, vì chính Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc cũng là một cựu môn sanh của Cụ Giảng…
        Sau đấy, ông Tỉnh Trưởng Tây Ninh đọc một bài diễn văn tỏ nỗi hân hoan của dân chúng Tây Ninh được đón tiếp Ngài Thủ Tướng Nguyễn Văn Tâm:
“Thưa Ngài Thủ tướng,

    Từ ngày có tin Ngài về viếng tỉnh nhà để gắn Bảo Quốc Huân Chương cho ông Thầy cũ, thì cả Tây Ninh ai ai cũng hân hoan nô nức sửa soạn đón tiếp đứa con cưng của tỉnh nhà, vị anh hùng của dân tộc…
       
    Tôi còn nhớ rõ rệt câu Ngài đã dặn tôi, lúc tôi được lịnh đổi đi Tây Ninh:

    "Ở trển tôi còn một ông Thầy tuổi trọng, thương tôi như con đẻ, và tôi tôn kính như cha già. Ông lên trển tôi gởi gấm thầy tôi."

    Câu nói đã làm cho tôi vô cùng cảm động.

    Rồi hôm được tin Ngài lên gắn huy chương cho Cụ Trần đại-nhơn, tôi có đến viếng Đức Giáo Chủ Đại Đạo Cao Đài, Ngài mừng rỡ mà rằng:

    "Tôi tính chúng tôi, học trò cũ của Thầy, sẽ ra áo kẻ củi người nồi, nấu mừng Thầy chúng tôi một buổi tiệc thân mật."

    Quí hóa thay những lời châu ngọc.

    Trọn nghĩa với Thầy, trọn đạo với nước, một dân tộc như thế không thể suy vong.

    Hôm vừa đáo nhậm tỉnh Tây Ninh, tôi có thốt rằng tôi rất hân hoan mà được phụng sự đồng bào một tỉnh tuy nghèo tiền mà rất giàu tinh thần và đạo đức. Thật quả không sai...
             
Thủ Tướng Nguyễn Văn Tâm gắn huy chương vào ngực cụ Trần Văn Giảng.
Bên cạnh là Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc.

    Kế đến là giáo sư Võ Thành Cứ, cũng là học trò của Cụ Giảng, nối tiếp ca ngợi sự nghiệp "lập công" vẻ vang của bậc thầy cũ. Ông nói:
   
    “Xét về thuyết "tam lập" của Nho Gia, Thầy không lập đức, Thầy không lập ngôn. Thầy chỉ lập công thôi, mà lập công một cách rở ràng, hiển hách. Lập công, không phải như các võ tướng ra tài thao lược trên bãi chiến trường, cốt xây dựng sự nghiệp trên đống thây tử sĩ. Thầy lập công bằng trí não, bằng tâm can.

    Trót 40 năm trời đăng đẳng, chẳng hề lui bước trước những trở lực của nghề nghiệp thanh cao, Thầy un đúc, dồi mài, rèn luyện bao nhiêu thế hệ thanh niên cho nên người hữu dụng. Nhờ sức tận tụy của Thầy mà xứ sở đã được lắm bộ óc kinh luân, nhiều bực thông minh tài tuấn. Gần nửa thế kỷ cần lao, hao hơi, mệt trí nhọc lòng, Thầy đem lại cho quê nhà bao nhiêu cán bộ hữu danh trên các ngành hoạt động…


    Thầy đã tận tâm với chức nghiệp và lập nhiều công trạng với xứ sở. Chỉ có thế thôi. Chính cũng vì thế mà chúng con hôm nay quanh quẩn bên Thầy, lòng tràn ngập một niềm vui sướng thanh khiết. Thầy rất xứng đáng với sự tôn sùng của chúng con. Đối với thế nhơn, chúng con hết sức tự đắc mỗi khi nhìn nhận là: môn đồ của cụ TRẦN VĂN GIẢNG, của bực "LINH SƠN PHU TỬ" vậy.”
         
                      
Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc chúc mừng thầy học cũ.
    Rất muốn đáp từ, song vì tuổi cao, sức yếu, cụ Giảng ngỏ lời để cho trưởng nam của cụ là ông Trần Văn Mẩn, Giám Đốc rường Tây Ninh đọc diễn từ tỏ lòng tri ân Đức Quốc Trưởng và cám ơn các quan khách. Cụ nói:
        “Tôi rất hân hạnh được tiếp rước quí Ngài chẳng nệ công lao tề tựu rất đông đủ tại tệ xá của tôi mà mừng cho tôi được Đức Quốc Trưởng ban tứ đẳng Bảo Quốc Huân Chương và được Ngài Thủ Tướng phế thì giờ quí báu đến gắn khuê bài cho tôi.

    Tôi thành thật thâm cảm ơn của Đức Quốc Trưởng, Ngài Thủ Tướng có lòng quảng đại xin đặc ân ấy cho tôi, và quí Quan. Tôi rất cảm động là vì hôm nay, là ngày rất vinh diệu cho đời sống của tôi là một giáo học, Thanh Tra hàng tỉnh, hồi hưu.

    Vinh diệu bao nhiêu, tôi càng thêm cảm động, vì nhờ toàn cả học trò cựu của tôi, nhờ công lao cực nhọc, tôi đã rèn đúc từ thuở thơ ấu, đến sau nhờ phước đức của Ông Bà, Cha Mẹ để lại và sự sáng suốt của các trò, nay cả thảy đã thành danh, làm cho sáng lạn rực rở xứ Tây Ninh là xứ nhỏ nhen, nghèo cực, rừng rú, mà được sanh biết bao nhiêu anh tài, đúng như lời của Ngài Thủ Tướng Nguyễn Văn Tâm đã nhắc trong ngày 9 tháng Giêng năm Quí Tỵ, nhơn dịp lễ kỷ niệm Quân Đội Cao Đài xuất chiến chống Cộng.”

    Đoạn bằng những lời lẽ rất cao quý, Cụ ngỏ lời huấn dụ các học trò cũ của cụ như sau:

“Hỡi các trò yêu dấu,
    Trong bui chiu ca thy, s vui mng ca thy không làm sao t cho đ, khi thy nhn thy các trò có bn tánh quí hóa nh ơn và luôn luôn tôn kính thy...”(1)

Cụ quy tiên ngày 31 tháng bảy năm 1964, nhằm ngày 23 tháng 6 năm Giáp Thìn tại nhà riêng, số 82 đường Trần Hưng Đạo, tỉnh Tây Ninh. Thi hài cụ được liệm trong chiếc áo dài màu xanh dương do Đức Hộ Quốc Huân Chương, theo lời trăn trối của cụ trước khi mất. Pháp Phạm Công Tắc kính tặng thầy học cũ trong buổi lễ gắn Bảo
                                            
Cụ Trần Văn Giảng cùng hai môn sanh là Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc và Thủ Tướng Nguyễn Văn Tâm trong ngày lễ gắn huy chương.

Cụ được an táng trong ngôi nhà mồ tại thị xã Tây Ninh. Ngôi nhà mồ nầy do Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc giúp xây cất lúc sanh thời, theo mô hình giống như ngôi Báo Ân Từ tại chợ Long Hoa, gần Tòa Thánh Tây Ninh.

“Ngoài sự cư tang báo hiếu của gia đình, một Ủy Ban cúng tế Thầy học do các môn sanh, đệ tử nam nữ hiện ở châu thành Tây Ninh được thành lập. Chánh tế là ông Phủ Trần Văn Giáo, niên trưởng trong các môn sanh, đệ tử…

Thừa ủy nhiệm của các sư huynh, sư đệ, giáo sư Võ Thành Cứ đọc một bài điếu văn:

“Thưa tôn sư,
Trong vòng ba mươi năm vừa qua, khi Thầy hồi hưu dưỡng lão, khi Thầy được ban thưởng Bảo Quốc Huân Chương, khi Chánh Quyền Quốc Gia ân tứ Huân Chương cho Thầy, khi ăn lễ bát tuần cho Thầy, từ bốn phương chúng con hân hoan kéo nhau về quây quần bên chơn Thầy, nâng cao chén quỳnh tương, hòa mình trong cảnh thân mật, vui tươi hoan lạc.

Rồi… ngày hôm nay, cũng đám con tinh thần của Thầy, lại tề tựu về quê, không phải để chia vui với Thầy, mà lại khóc dâng từ phụ trở đầu về Núi.

Ôi! Ngọn hải đăng đã tắt, còn đâu nữa ánh sáng huy hoàng để rọi nẻo, chỉ đàng cho đám môn sanh giữa khổ hãi mênh mông đầy sóng cuồng, gió loạn. Thầy ôi, chúng con đau đớn lắm.

Sinh thời, Thầy đã hiến thân cho nền giáo dục, đem cả tài cao, đức trọng hoàn thành sứ mạng thiêng liêng…

Sau 90 năm tạm trú chốn hồng trần, nợ đời đã trả sạch, Thầy trở bước về Tiên Cảnh, đáng lẽ chúng con nên vui mừng với anh linh Thầy, nhưng, kính Tôn Sư, ở cõi tạm nầy của nhơn loại đầy tình cảm, có đau đớn nào bằng cảnh sanh ly tử biệt.

Từ đây, thể phách Thầy đã chôn chặt vào lòng đất, hình dạng Thầy vắng hẳn trên thế gian, chúng con đâu còn trông được đôi mắt hiền từ của Thầy, chúng con đâu còn nghe được giọng nói hiền lành của Thầy dùng để an ủi, khuyến khích, vổ về các con trong những ngày đen tối.
Nhớ Thầy, chúng con chỉ có thấy linh sàng khói tỏa màn trắng treo cao, nhớ Thầy, chúng con chỉ trông vào cảnh cũ vắng bóng Thầy, mà lòng đau quặn thắt.

Giờ đây, chúng con đành gạt lụy, thành tâm cầu nguyện cho anh linh Thầy được tiêu diêu miền Cực Lạc.
Tôn sư ôi! Chúng con xin vĩnh biệt. (2)
Cựu Thủ Tướng Nguyễn Văn Tâm, cư ngụ tại Pháp, không thể về Việt Nam dự tang lễ của thầy được, nên làm bài thơ “Khóc Thầy”, như sau:

“Được tin Thầy đã thoát ly trần
Phách lạc hồn xiêu ruột tợ dần
Dìu dắt tình sư cao vạn trượng
Đền bồi nghĩa đệ nặng ngàn cân
Tử phần luốn đợi ngày xum hiệp
Tiên tục nào ngờ phút rẻ phân
Giọt lụy chứa chan trời đất chứng
Có chăng còn được thấy mồ phần?”

Gương học trò biết ơn thầy của các môn đệ của cụ, so với người xưa, thật đặc biệt và trang trọng. Ông Carnot, một quan to của nước Pháp, chỉ tình cờ đi ngang qua trường xưa, nhân lúc rảnh việc, thấy thầy cũ đang dạy học, ghé vào thăm và chào hỏi. (3) Việc thăm viếng thầy cũ của ông Carnot chỉ là tình cờ, không được chuẩn bị chu đáo và tổ chức long trọng, mà có tính cách riêng lẽ. Tình thầy trò của các môn đệ đối với cụ Đốc Giảng trong ngày 18 tháng 8 năm 1953, nhân buổi lễ gắn Bảo Quốc Huân Chương, là sự tri ân thầy cũ, trong tinh thần “Tôn Sư Trọng Đạo”, được tổ chức quy củ, long trọng, tưng bừng của chánh quyền đương thời và tập thể môn đệ của cụ. Môn đệ của cụ, tuy đạt vinh hiển tột cùng trong xã hội, nhưng vẫn một lòng kính yêu và quý trọng cụ, như tình của con đối với cha: Đó là Thủ Tướng Chánh Phủ đương quyền, Đức Hộ Pháp của Đạo Cao Đài, và đông đủ các học trò cũ của cụ, nay đã là bác sĩ, giáo sư, kỹ sư, công thương kỹ nghệ gia, điền chủ…

Hình cụ đốc Trần Văn Giảng  được treo trong thư phòng của Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc, tại Trí Huệ Cung, Tây Ninh.
Tình cảm gắn bó và sự tôn kính của môn đệ đối với ân sư thật vô cùng cao quý: Trong thư phòng  của Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc tại Trí Huệ Cung vẫn còn treo hình cụ. Người cai quản Trí Huệ Cung cho biết, lúc sanh tiền, Đức Hộ Pháp cho biết đây là tấm hình của vị ân sư của Đức Hộ Pháp:

Tình thương của cụ dành cho học trò bao la như cha mẹ thương con, nên môn đệ thương kính cụ như đấng sanh thành. Anh Tiểu Tử Võ Hoài Nam kể câu chuyện cụ tặng áo dài cho thân phụ anh, giáo sư Võ Thành Cứ, như sau: “Giáo sư Võ Thành Cứ là một trong các học trò thường gần gủi và thăm viếng cụ. Sau khi được học bổng đi học ở Sài Gòn, giáo sư Cứ tốt nghiệp, được bổ làm thầy giáo. Trước ngày đi nhậm chức, giáo sư Cứ về Tây Ninh thăm và từ giả thầy cũ. Cụ vui mừng dặn dò mọi điều cần thiết, và cũng không quên hỏi thăm nơi ăn, chốn ở và áo quần có đầy đủ không? Lúc ấy, thời buổi khó khăn, hàng vải khan hiếm. Giáo sư Cứ thú thật không có được cái áo dài tươm tất để đi dạy học. Cụ đốc liền gọi bà đốc mang chiếc áo dài còn mới của cụ để sửa lại cho giáo sư Cứ, vì cụ đốc thì ốm và cao, còn giáo sư Cứ chỉ đứng ngang vai của cụ. Giáo sư Cứ biết cụ đốc cũng chỉ có vỏn vẹn hai cái áo dài, nên giáo sư Cứ năn nỉ cụ đốc hết sức, chỉ dám nhận cái áo cũ, để cụ đốc có áo thay đổi mà đi dạy học.”

Cụ Đốc Giảng, trong lúc sanh thời, đã được hạnh phúc nhìn thấy môn đệ yêu dấu của mình “công thành, danh toại”. Cụ hảnh diện nhận lãnh Bảo Quốc Huân Chương do Đức Quốc Trưởng Bảo Đại ban thưởng, để vinh danh một nhà giáo cống hiến suốt cuộc đời cho ngành giáo dục, và đào tạo những môn đệ ưu tú. Cụ có lẽ cũng mãn nguyện khi nhìn thấy thành tích của môn đệ, và nhất là, dù đã đạt địa vị cao quý trong xã hội, nhưng môn đệ của cụ vẫn một lòng tôn kính và biết ơn cụ. Đây là tấm gương sáng của nền đạo đức cổ truyền, tinh thần “Tôn Sư Trọng Đạo” của người xưa, đáng lưu lại cho hậu thế. Đây cũng là chứng minh sự thành công của một nền giáo dục thấm nhuần đạo đức cổ truyền.

Sydney, thứ bảy, ngày 15 tháng 11 năm 2008

Tài liệu tham khảo:

  1. Bản tin của Nha Thông Tin Nam Phần năm 1953, từ trang 1 đến trang 24.

  1. Cụ Trần Văn Giảng, nhà mô phạm lão thành được suy tôn là bậc: “Linh Sơn Phu Tử”, Tây Ninh Xưa và Nay, Huỳnh Minh, loại sách sưu khảo do tác giả xuất bản năm 1972, các trang 119-126.


  1. Học trò biết ơn thầy, Quốc Văn Giáo Khoa Thư, Sách nầy do Nha Học Chính Đông Pháp giao cho các ông Trần Trọng Kim, Nguyễn Văn Ngọc, Đặng Đình Phúc, Đỗ Thận soạn, Nha Học Chính Đông Pháp xuất bản năm 1953, in lần thứ 10, trang 53.
  

Trang Thơ Ngô Kế Đang ( T.3.2026.2 );THỰC TRẠNG , MỘ CHỜ , SANG SÔNG

T HỰC TRẠNG 1/ Người sai , người được lên cao nữa ! Cũng khéo , trò đời chẳng hiểu sao ! Chắc tại khách quan nên khó sửa Đời hưu đến chết ...