Hiển thị bài đăng được sắp xếp theo ngày cho truy vấn Tống Táo Thi. Sắp xếp theo mức độ liên quan Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị bài đăng được sắp xếp theo ngày cho truy vấn Tống Táo Thi. Sắp xếp theo mức độ liên quan Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 9 tháng 5, 2025

Mê Cung - Truyện Ngắn Của Đào Văn Bình


 Mê cung là một nhạc sĩ tài hoa nhưng nghèo,  nghèo là vì chàng không có máu con buôn. Trong khi những cai thầu văn nghệ nhờ phát hành băng nhạc, tổ chức đại nhạc hội trở nên giầu có, những cô ca sĩ nhờ hát nhạc của chàng mà trở nên nổi tiếng, lấy được chồng giàu sang thì chàng vẫn nghèo. Nói tóm lại chàng giống như  cây cải bị lũ rầy cai thầu văn nghệ nhung nhúc bám vào thân hình. Còn những bông cải vàng rực kia lại bị lũ buớm – tức mấy cô ca sĩ bay đến hút nhụy rồi lại nhởn nhơ bay đi hút mật ở những chùm hoa khác làm cho cây cải mỗi lúc mỗi trở nên héo tàn. Chính vì vậy mà chàng đâm ra hận đời rồi từ đó chán đời. Từ hận đời, chán đời nên chàng không muốn chơi với đời nữa mà lại muốn chơi với ma. Mê Cung cho rằng ma chính là người ta đã chết đi. Một khi đã chết rồi, từ dưới âm phủ ma quay nhìn lại cuộc đời thì thấy cuộc đời tựa như một giấc chiêm bao, chẳng ra cái quái gì cho nên chẳng còn muốn giành giựt hơn thua với đời nữa. Một khi chẳng muốn hơn thua với đời thì chắc hẳn ma rất dễ thương ? Từ đó chàng có ý tìm ma để sinh sống.

Thế nhưng trong khi nhịp độ đô thị hóa tăng nhanh như thế này thì làm gì còn có chỗ nào gọi là “ma thiên lãnh“ để cho ma trú ngụ nữa ? Chàng đã vào Nghĩa Địa Bình Hòa ngủ thử vài đêm nhưng cũng chẳng thấy ma đâu cả. Thất vọng đã toan bỏ cuộc, trong khi đi hớt tóc ở Chợ Bà Chiểu chàng nghe lóm được mẩu đối thoại của hai cụ già đang ngồi đánh cờ tướng. Một cụ nói:

– Tôi chẳng bao giờ tin chuyện ma quỷ ấy thế mà cũng phải tin. Này, bác có biết chuyện con ma nhà Ông Đội Trạch không ?

Cụ già thứ hai ngưng một nước cờ, nói :  

– Có phải bác muốn nói  con ma ở ngôi nhà cổ cuối đường Ngô Tùng Châu không ?

Cụ già thứ nhất vội đáp : 

– Đúng vậy. Câu chuyện này tôi đã được nghe ông cụ tôi kể từ hồi tôi còn bé. Ông Đội Trạch lúc nhỏ có tên là Thằng Cu Trạch, là con của một người giữ ngựa cho Tây sau được xung vào lính pạc-ti-dăng. Nhờ gan dạ, dám trá hàng đầu phục nghĩa quân của Cụ Nguyễn Trung Trực rồi sau đó dẫn Tây đến đánh úp mà Tây phong đến chức đội xếp, được Thống Đốc Nam Kỳ sắc phong Bắc Đẩu Bội Tinh và được treo cờ Tam Tài (1) trong nhà. Nhờ thế lực đó mà Đội Trạch trở nên giàu có nức tiếng ở Gia Định. Đội Trạch có cô con gái tên Mộng Nguyệt. Vì là con thứ hai trong gia đình cho nên người ăn người làm trong nhà thường gọi là Cô Ba. Mộng Nguyệt có một sắc đẹp thật não nùng. Vợ chồng Đội Trạch cưng như cưng trứng, hứng như hứng hoa nên cho học đánh đàn dương cầm, nữ công gia chánh, học trường đầm. Khi Cô Mộng Nguyệït đậu xong bằng Đíp-lôm (2) và cũng vừa tới tuổi cập kê, vợ chồng Đội Trạch ý muốn làm xuôi với gia đình Đốc Phủ Chương ở Chợ Lớn. Gia đình Đốc Phủ Chương có người con trai lớn là Cậu Hai André năm đó đã đậu xong bằng Bắc Đơ (3). Khi hai người gặp nhau thì Cậu Hai André mê đắm ngay sắc đẹp của Cô Ba Mộng Nguyệt. Còn Cô Ba thì cũng bị những nét hào hoa, đẹp trai của Cậu Hai André chinh phục. Thế nhưng đời cũng có lắm cái trớ trêu. Tuy cùng làm tay sai cho Thực Dân Pháp nhưng Đốc Phủ Chương lại chê Đội Trạch là dân lính tẩy không có học, không xứng đáng làm xuôi gia cho nên tìm cách chia uyên rẽ thúy. Khi nghe tin Cậu Hai André kết hôn  với con gái của một ông hội đồng ở miệt Hậu Giang thì thì Cô Ba ngất xỉu. Cô ốm tương tư vì nhớ thương cậu Hai André và cũng vì uất hận nữa.  Sau đó bệnh mỗi ngày mỗi nặng không thuốc nào chữa khỏi và cổ qua đời lúc mới vừa mười chín tuổi. Ông bà Đội Trạch cho chôn con gái ở vườn sau nhà, giữ gìn lại tất cả đồ đạc, kỷ niệm và bữa cơm nào cũng làm một mâm cơm để bên cạnh giường cũ như thể Cô Ba vẫn còn sống. Ít năm sau, vì quá nhớ thương con, Bà Đội lâm bệnh rồi qua đời rồi vài năm sau, ông cũng theo bà về nơi tiên cảnh. Người ta đồn rằng hình như Cô Ba chết nhằm giờ linh cho nên cô không đầu thai được. Vả lại cổ hận Cậu Hai bạc tình cho nên thường hiện lên để trêu ghẹo người ta và có đêm bắt cả đàn ông, con trai vào ân ái để trả thù Cậu Hai nữa.

            Tới đây thì ông già thứ hai ngắt lời:

 – Chuyện đó thì tôi không được rõ lắm. Mặc dù ngôi nhà cổ không ai ở nhưng thỉnh thoảng đêm tối đi ngang qua tôi thấy trên lầu đèn thắp sáng, thấp thoáng có bóng của một cô  gái trong bộ đồ ngủ và cả tiếng đàn dương cầm vang lên thánh thót!

            Nghe tới đây thì gai ốc trong người Mê Cung nổi cả lên nhưng từ nỗi lo sợ lại nẩy lên một niềm khát khao là chàng sẽ được gặp ma và sống với ma. Sau khi trả tiền xong, Mê Cung hối hả về nhà để sắp đặt một chương trình theo đúng như mộng ước của chàng.

♦ ♦ ♦

Hôm ấy là ngày chủ nhật vào khoảng mười giờ sáng, Mê Cung thuê xe xích-lô để đi tới ngôi nhà cổ đúng như câu chuyện mà chàng đã nghe được. Trả tiền xong, xốc lại chiếc ba-lô mà trong đó chàng có mang theo mấy bộ quần áo, vật dụng cá nhân, chàng mạnh dạn tiến tới chiếc cổng sắt. Đây đúng là một tòa dinh thự cổ của một gia đình quyền quý năm xưa. Trong sân, những tàng cây cổ thụ cành lá la đà làm cho khung cảnh trở nên âm u. Dường như căn nhà ít được ai chăm sóc, quyét dọn cho nên lá khô và rêu xanh phủ khắp cho nên tất cả tỏa ra một cái gì đó trông rờn rợn. Sau khi đã giật một vài hồi chuông, loại chuông kéo bằng giây, Mê Cung hồi hộp đứng chờ. Chờ một lúc không thấy ai trả lời, chàng giật thêm vài hồi nữa nhưng vẫn không có tiếng ai đáp lại. Cuối cùng chàng đánh bạo thò đầu qua song của sắt gọi lớn vào bên trong:

– Có ai trong nhà không, cho hỏi thăm với ?

Chàng phải gọi đi gọi lại như thế hai ba lần thì từ mé vườn phía sau mới có một bóng người lẹp xẹp bước ra. Đó là một ông già gù, đi chân đất, mặc một bộ đồ bà ba màu cháo lòng. Vì mái tóc bạc phủ xuống trán, nhất là đôi mắt lé, cái miệng lại méo cho nên ông ta trông giống nhân vật Quasimodo trong câu truyện Thằng Gù Nhà Thờ Đức Bà. Nhìn thấy ông ta Mê Cung muốn thoái lui nhưng tới nông nỗi này thì chàng đâu còn đường nào khác nữa. Chàng đánh bạo lên tiếng:

– Thưa bác cháu muốn hỏi thăm…

Không để chàng nói hết câu, ông già gù chặn ngang với giọng bực bội:

– Cậu là ai ? Tới đây có chuyện gì ?

Mê Cung nhanh nhẹn đáp:

– Cháu là nhạc sĩ Mê Cung…, (chàng định nói thêm  “rất nổi tiếng” nhưng may mà kềm lại được) xin được vào thăm căn nhà này.

            Lão già gù cau mày nói:

– Ngôi nhà này có cái gì lạ đâu mà cậu muốn vào thăm ? Nè, nhạc sĩ thì ra cái quái gì đâu mà khoe ?

Nghe câu nói móc họng như vậy Mê Cung hiểu rằng nếu chàng còn giải thích lằng nhằng thêm nữa thì câu chuyện tất không xong. Chàng thò tay vào túi, móc ra tờ giấy một trăm đồng, ấn vội vào tay ông già gù, hạ giọng nói:

– Bác cầm lấy để uống cà phê. Làm ơn  cho cháu vào xem một chút thôi !

Dường như tiền bạc cũng có khả năng làm thay đổi tình cảm của con người cho nên sau một vài giây ngần ngừ, lão già “ hừ “ lên một tiếng rồi từ từ rút trong cạp quần ra một xâu chìa khóa – loại chìa khóa cổ mỗi chiếc dài gần bằng cả một gang tay. Khi lão già tra chiếc chìa khóa, mở cánh của sắt thì chàng lanh lẹ lách mình vào. Sau khi đã khóa cánh cửa sắt trở lại, lão già khập khễnh đi trước còn Mê Cung lặng lẽ theo sau.  

Trên đường đi hai người băng qua một sân lát gạch rộng. Có lẽ tiếng xào xạc đạp lên lá khô đã làm kinh động mấy con dơi quạ đang đeo mình trên mấy cành cây cho nên chúng bay túa ra ngoài làm Mê Cung thất kinh hồn vía. Lão già dẫn Mê Cung đi vòng ra phía sau, tới một khu nhà vừa là bếp vừa là nhà ở của đám gia nhân trước đây – giờ thì đóng cửa im ỉm, chỉ có một căn với cánh cửa khép hờ. Có lẽ chỉ có mình lão già ở trong căn phòng cho nên đồ đạc thật đơn sơ, trên nóc mạng nhện giăng tứ tung. Sau khi ấm trà đã được dọn ra, nhấp vội một ngụm, Mê Cung thành thực kể cho lão già nghe câu chuyện nghe được ở Chợ Bà Chiểu cùng ý định của chàng khi đến căn nhà này. Nghe xong lão  già cười khẩy, nói:

– Thời buổi này mà còn tin chuyện ma! Nhà này làm gì có ma. Chuyện ma là chuyện mua vui, để hù dọa con nít, để trám chỗ trống trên mấy tờ báo !

Rồi bằng một giọng trầm trầm lão già kể:

– Sau khi Cụ Đội chết đi thì mười năm sau ông già lão cũng qua đời. Lão thay cha làm quản gia cho cái dinh này cũng đã hơn bốn mươi năm rồi.  Lúc sanh tiền Cụ Đội có người con trai là Cậu Hai Albert du học bên Pháp.  Khi cha còn sống, Cậu Hai thỉnh thoảng có về đây nhưng kể từ khi Cậu Hai qua đời thì  con cháu cậu ít khi về và chỉ gửi tiền để trả tiền công cho ta làm quản gia coi sóc căn nhà. Nói tóm lại cái dinh này nay trở thành nhà tự của dòng họ Cụ Đội chứ có phải căn nhà ma đâu.

Nói đến đây lão già ngừng lại, lấy tay chỉ ra ngoài rồi nheo mắt nói:

–  Đấy mả của Cô Ba nằm đó. Cô Ba mất cách đây hơn năm mươi năm rồi.  

Theo ngón tay của lão già, Mê Cung nhìn ra ngoài.  Đó là một ngôi mả đá bao quanh bởi một bồn hoa trồng bông mười giờ, giờ này đang bắt đầu nở rộ.  Bên trên là một tấm bia thật lớn có cẩn một tấm hình thật đẹp của Cô Ba Mộng Nguyệt. Mặc dù lão già nói thế nhưng trước khung cảnh âm u của toà dinh thự, hơn nữa vì lão già bị lé cho nên con mắt lão trở nên tinh quái. Cái miệng méo làm cho nụ cười của lão trở nên hóm hỉnh cho nên càng kích thích sự tò mò của Mê Cung.  Mê Cung nghĩ rằng lão già cố bịa chuyện để tống chàng đi cho rảnh nợ cho nên chàng khẩn khoản:

– Thưa bác, dù biết vậy nhưng cũng xin cho cháu ở lại đây một đêm thôi. Nếu cháu có làm chuyện gì bậy bạ thì cũng chạy đâu cho thoát, có phải vậy không bác ?

Lão gìa lại “hừ “ một tiếng rồi nói:

– Dĩ nhiên ta chẳng sợ chú mày làm chuyện bậy bạ, song có điều….

Lão chợt dừng lại, tư lự giây lát rồi gật gù nói:

– Thôi được rồi. Âu cũng là điều trùng hợp. Đáng lý ra hôm nay đã tới kỳ vợ ta từ dưới quê lên thăm nhưng không hiểu có chuyện gì không mà bả trễ hẹn làm ta nóng ruột quá.  Đã mấy năm nay ta cũng chưa có dịp về thăm nhà ở miệt Cao Lãnh. Thấy chú mày là người thiệt thà ta cũng có cảm tình. Ta sẽ giao chìa khóa cho chú mày và sẽ trở về nội trong ngày mai. Chú mày có thể xem một vòng cho biết nhưng tuyệt đối không được đưa người lạ vào đây nghe chưa.  

Nghe nói vậy, Mê Cung mừng rỡ ôm lấy lão già,  cám ơn rối rít. Sau đó lão già gù gom một mớ quần áo, vật dụng bỏ vào tay nải. Mê Cung tiễn lão ra ngoài cửa, gọi xích-lô để chở lão ra bến xe.  

Khi lão già đi rồi, Mê Cung cũng đi bộ ra ngoài Chợ Bà Chiểu mua ổ bánh mì, khoanh chả lụa và vài chai bia rồi quay trở lại tòa dinh thự. Ngay dưới tàng cây soài cổ thụ là một chiếc bàn đá và mấy chiếc ghế bành bằng mây. Chàng thoải mái ngồi dựa ngửa ở đó để uống bia và trong lòng thầm cầu mong sao tối nay sẽ được gặp ma tâm sự cho thỏa tình mong ước. Do men rượu, do bầu không khí tịch mịch, do ngọn gió hiu hiu gợi cảm, Mê Cung đã thiếp đi vào giấc ngủ trưa lúc nào không hay. Khi Mê Cung tỉnh giấc thì trời đã về chiều. Vì toà dinh thự được bao phủ bởi những tàng cây cổ thụ cho nên bên trong sân trời tối nhanh hơn ở bên ngoài. Mê Cung đã toan đi xuống nhà bếp để gom góp đồ đạc rồi sau đó sẽ mở cánh cửa hông của tòa dinh thự để bước vào bên trong thì có tiếng ai réo gọi ở ngoài cổng. Chàng vội chạy ra và trước sự ngạc nhiên của chàng, người đang đứng đó  không ai khác hơn là một cô gái trạc độ mười chín, hai mươi tuổi. Đứng sát vào cổng sắt chàng lên tiếng hỏi:

– Cô tìm ai ?

Thay vì trả lời, cô gái lại hỏi chàng:

– Ba em có nhà không ? Sao em gọi mãi mà không thấy ai trả lời ?

Mê Cung ngạc nhiên hỏi:

– Ba nào ?

– Ủa ? Anh ở đây mà không biết ba em à ? Ba em là ông già, ông già quản gia của cái dinh này đó ! Anh mở cửa cho em vô đi.

            À thì ra đây là cô con gái của lão già gù. Mê Cung vội vã mở cổng cho cô gái lách mình vào. Cô gái đầu đội chiếc nón lá, mặc áo bà ba trắng và chiếc quần lãnh đen, tay xách một chiếc giỏ. Dù lúc này trời đã xâm xẩm tối, tuy không nhìn thấy rõ mặt nhưng Mê Cung nhận thấy cô gái có thân hình hết sức cân đối, dáng đi uyển chuyển. Vừa bước vào bên trong cô gái đã liến thoắng hỏi:

– Thế ba em đâu rồi ?

Mê Cung vội đáp:

– Sáng nay chờ mãi không thấy ai lên, bác nóng ruột lấy xe về dưới quê rồi.

Nghe trả lời vậy cô gái nói với giọng có pha một chút ân hận:

– Âu cũng là lỗi tại em. Bắc Mỹ Thuận tối qua bị kẹt cho nên em không sao lên đây đúng hẹn làm ba nóng ruột phải về dưới đó. Không biết về ba có quở không. Nếu có gì thì xin anh cũng nói giúp em một tiếng.

Rồi không đợi chàng hỏi gì thêm, cô gái nồng nàn kể lể:

– Cứ ba tháng một lần mẹ em đều sai em lên đây để thăm  và mang một số đồ tiếp tế cho ba. Em đã lên đây từ lúc mười mấy tuổi cho nên toà nhà này em rành lắm. Mà ủa, anh tới đây để làm gì ?

Bằng giọng nói thành thực Mê Cung kể cho cô gái lý do tại sao mà chàng có mặt tại ngôi nhà cổ này. Nghe xong cô gái cười khúch khích, nói:

– Trông anh bảnh trai thế mà cũng tin chuyện ma qủy. Chắc anh chọn lầm chỗ rồi đó. Căn nhà này không có ma đâu nhưng cũng có cái ngồ ngộ, để lát nữa em chỉ cho anh coi.  

Nói xong cô gái lanh lẹn cầm lấy chùm chìa khóa, mở cửa hông để hai người cùng bước vào. Trước sự ngạc nhiên của Mê Cung, mặc dù bên trong trời tối như thế mà cô gái vừa đi vừa chỉ rõ nơi nào là chỗ bật điện, nơi nào là chỗ bật quạt trần, nơi nào là chỗ bật đèn ngủ v.v.. Sau khi căn phòng đã tỏa sáng, cô gái hướng dẫn Mê Cung bước lên lầu. Cũng giống như ở dưới nhà, cô gái quen thuộc từng nơi, từng chỗ như thể cô ta là chủ nhân của căn nhà này. Sau khi đèn đã được bật lên, trước mắt Mê Cung hiện ra một căn phòng khách thật sang của một gia đình quyền quý năm xưa. Những đồ đạc kê trong phòng đều là những đồ cổ đắt giá như những chiếc ghế sa-lông cẩn ốc sà-cừ, cặp ngà voi, những chiếc lục bình, những chiếc thống, chậu hoa, một chiếc máy hát quay tay với hiệu con chó ngồi xổm kê ở một góc. Trên bức tường cao, ngay trên nóc cầu thang từ dưới nhà bước lên là tấm hình khá lớn của Ông Đội trong bộ khăn đóng áo dài, với bộ râu mép trông rất uy dũng, vai choàng một cái đai cờ tam tài, ngực gắn chiếc huy chương Bắc Đẩu Bội Tinh. Bên cạnh là hình Bà Đội đeo bông tai, quấn tóc trần, mặc áo dài nhung, cổ đeo kiềng vàng ra dáng con người quyền thế.

Trong khi Mê Cung còn đang say mê ngắm nghía thì thì cô gái đã lanh lẹn kéo những tấm rèm cửa sổ sang một bên. Giờ đây từ bên trong người ta có thể nhìn thấy những tàng cây cổ thụ ở ngoài sân, lấp lánh dưới ánh trăng đang đong đưa theo ngọn gió nhẹ. Khi đã kéo những tấm màn cửa sang một bên, cô gái quay trở lại, cầm lấy tay Mê Cung rồi vui vẻ nói:

– Em sẽ cho anh xem phòng của Cô Ba năm xưa.

Thế rồi dưới sự hướng dẫn của cô gái, Mê Cung bước vào căn phòng phía sau. Quả như lời giới thiệu, đây đúng là phòng ngủ của một tiểu thư con nhà khuê các.  Một chiếc giường Hồng-Kông với những cây trụ bằng đồng kê sát vào tường nằm ngay chính giữa của bức vách, bên trên trải  khăn hồng với một chiếc gối thêu hình chim phượng, một chiếc gối ôm bằng vải sa-tanh  màu hoàng cúc và một con gấu búp-bê màu nâu đậm. Hai bên chiếc giường là một chiếc đèn ngủ và một kệ nhỏ để sách. Kế đó là hai chiếc tủ áo với những cánh cửa bằng kính. Đối diện với chiếc giường ngủ là chiếc bàn trang điểm trạm trổ rất tinh vi có gắn một tấm gương Tàu hình trái soan. Trên mặt bàn trang điểm là một vài thỏi son môi, một chiếc gương cầm tay và một vài cái lược. Ngay trên nóc chiếc bàn trang điểm, một tấm hình bán thân rọi lớn của Cô Ba Mộng Nguyệt được trang trọng treo trên tường. Trong khi Mê Cung còn đang mải mê ngắm nhìn những đồ vật trong phòng thì cô gái đã nhanh nhẹn mở cánh cửa tủ, lấy ở trong đó ra một bộ đồ ngủ rồi nhoẻn miệng cười, nói:

– Trời nóng nực quá em phải đi tắm và thay đồ. Có lẽ khi em tắm xong anh cũng nên tắm cho mát.

Nói xong cô gái đi về phía cuối căn phòng ngủ, đẩy cánh cửa phòng tắm, bật đèn rồi bước vào. Chỉ thoáng sau Mê Cung đã nghe thấy tiếng nước chảy rào rào tỏa ra từ chiếc hương sen ở bên trong.

Còn một mình trong phòng, Mê Cung tò mò nhặt con gấu búp-bê lên coi. Lông con gấu vẫn còn mượt nhưng bên trên phủ một lớp bụi và có mùi ẩm mốc. Nhìn con búp-bê Mê Cung liên tưởng tới cuộc sống đài các của con nhà quyền quý năm xưa – mười chín tuổi đầu rồi mà vẫn còn chơi búp-bê! Bỏ con búp-bê xuống, chàng tiến tới chiếc tủ áo. Bên trong chiếc tủ treo đủ thứ loại quần áo như áo dài, áo đầm, áo ngủ, áo mặc ở nhà, tất cả đều được thêu rất tỉ mỉ. Ngay dưới chân, sát tường là chiếc kệ để giầy bên trên bày hầu như nguyên vẹn tất cả những đôi giầy đôi hài mà Cô Ba chết đi để lại. Vừa cầm một chiếc lên coi thì Mê Cung thất kinh hồn vía. Một vật gì từ trong chiếc giày phóng vọt ra ngoài. Định thần nhìn kỹ lại thì ra đó là một con chuột nhắt làm ổ ở bên trong. Bị động chú chuột vọt ra và chạy biến vào dưới gầm giường. Chàng vừa hoàn hồn xong thì cánh cửa phòng tắm cũng xịch mở và cô gái từ bên trong bước ra. Nhìn thấy nàng, Mê Cung đứng xững như trời trồng. Trong chiếc áo ngủ xanh màu hồ thủy, cô gái gần như lột xác hoàn toàn ! Hình ảnh một cô gái quê mặc quần áo bà ba lúc nãy biến đâu mất. Nàng hiện nguyên hình thành một cô gái thật đẹp, thật quyến rũ. Thân thể nàng lồ lộ dưới làn voan mỏng của chiếc áo ngủ. Dường như không chú ý  đến sự kinh ngạc của Mê Cung, cô gái từ từ tiến tới bàn trang điểm. Nàng lấy lược chải tóc rồi hồn nhiên ngắm nhìn mình trong gương. Sau giây phút hoảng hốt, một ý nghĩ tò mò nảy ra trong óc. Mê Cung tiến về phía chiếc giường, ngồi xuống và bình tĩnh ngắm nhìn cô gái hiện trong gương. Rồi hoàn toàn do sự vô tình, chàng ngửng đầu nhìn lên tường. Không hiểu mắt chàng có bị ảo giác hay không mà người đang đứng trước  tấm gương và hình Cô Ba treo trên tường giống nhau như hai giọt nước! Chàng kinh hãi kêu lên :

– Giống quá ! Trời ơi giống quá !

Nói xong Mê Cung hốt hoảng đứng dậy, dựa lưng vào tường, mắt mở trừng trừng như người vừa trông thấy ma. Trước thái độ hoảng hốt của Mê Cung, cô gái quay lại. Nhưng thay vì làm một cử chỉ gì đó khiến Mê Cung có thể kinh hãi thêm, nàng chỉ nhoẻn miệng cười và nói với giọng hết sức hồn nhiên:

– Anh cũng như ba em vậy đó. Cứ mỗi lần em lên đây là ba em đều nói “ Sao con giống Cô Ba quá ! Hay con là Cô Ba đầu thai lại vào nhà ta ?” Nghe ba nói thế em cãi lại “Cô Ba là con nhà quyền quý thiếu gì nơi đầu thai tại sao phải đầu thai vào chỗ nghèo hèn như nhà mình ? Vả lại người ta giống nhau cũng là chuyện thường. Biết đâu trong lúc má cấn thai, ba lúc nào cũng nghĩ đến Cô Ba cho nên đẻ con ra giống Cô Ba chứ gì? “ Nghe em giải thích thế từ đó ba em mới không còn thắc mắc nữa.

Còn đang bán tín bán nghi với lời giải thích thì cô  gái lại lên tiếng. Nhưng lần này giọng nói của nàng có pha một chút nghẹn ngào:

– Anh biết không. Em bất hạnh sinh vào một gia đình nghèo ở dưới quê suốt đời mặc quần thô áo vải. Năm mười sáu tuổi, lần đầu tiên lên thăm ba, em được ba dẫn lên đây chơi. Nhìn quần áo, giày dép, giường ngủ trong căn phòng  em cứ tấm tức khen Cô Ba tốt phước quá. Khi ba xuống nhà dưới, em lén lấy quần áo của Cô Ba ra mặc. Dù không biết đánh đàn dương cầm nhưng em cũng ngồi vào ghế rồi đánh đại vài tiếng. Em mở tung cả các cánh cửa sổ  thò đầu nhìn ra ngoài đường phố để có cái cảm giác của một cô gái sống ở nơi đài các. Đêm đó em ngủ ngay trên giường của Cô Ba. Sáng hôm sau biết được, ba quở em quá chừng nhưng rốt cuộc ổng chỉ mắng thế nhưng vẫn thương vì ổng chỉ có mình em. Từ đó em càng làm nư. Cứ mỗi lần lên đây em đều lấy quần áo của Cô Ba ra mặc, ngủ ngay tại giường này, thét rồi cũng đâm quen, ba thấy vậy cũng chẳng nói gì. Vậy thì anh cũng đừng có ngạc nhiên làm gì nhe !  

Lời nói của cô gái làm Mê Cung nhớ tới câu chuyện đối đáp qua lại giữa hai ông già mà chàng nghe được ở Chợ Bà Chiểu. Thì ra cái hình ảnh cô gái ma trong bộ đồ ngủ, đêm khuya hiện ra trên lầu của căn nhà này với tiếng đàn dương cầm thánh thót là do sự tinh ma, ranh mãnh của cô gái này đây. Chính lời giải thích đó đã làm chàng vững tin. Do đó cái cảm nghĩ cô gái có thể là ma hiện hình thoáng một giây hiện ra trong đầu chàng cũng theo đó mà tan biến mất. Mê Cung chợt thấy thông cảm và thật tội nghiệp cho cô gái. Trong lúc chàng còn đang lúng túng chưa biết phải phản ứng như thế nào thì cô gái lại lên tiếng:

– Em chỉ mong mong một ngày được sống như Cô Ba có chết cũng cam tâm ! Con gái nhà nghèo sống cô đơn buồn tủi lắm anh ạ! Anh không nghe báo chí tiểu thuyết bây giờ người ta thường hay nói “Thà một phút huy hoàng rồi chợt tắt ! Còn hơn le lói suốt năm canh” sao ?  

Là một nhạc sĩ tài hoa, vốn thuộc nòi tình. Ngoài cái bất hạnh của chính đời mình, người nhạc sĩ cũng còn hay bỏ vào tác phẩm của họ cả những thương vay khóc mướn của nhân thế, cho nên nghe nói vậy Mê Cung cảm thấy xót thương cô gái vô hạn. Chàng tiến tới, cầm lấy tay cô gái, an ủi:

– Anh thông cảm được những gì em nói. Nhưng em đẹp thế này thì lo gì ?

            Dường như tìm được người tri kỷ, cô gái khẽ gục đầu vào ngực Mê Cung. Do phản ứng rất tự nhiên, Mê Cung vòng tay ôm chặt cô gái vào lòng. Mùi hương thoang thoảng như hoa ngọc lan và da thịt mềm mại của cô gái làm chàng ngất ngây. Thế nhưng chỉ giây lát sau, cô gái đã gỡ tay Mê Cung ra rồi nàng bật cười khúc khích, nói:

– Chút xíu nữa em quên mất anh là nhạc sĩ. Tối nay anh đàn cho em nghe có được không ?

Nói xong nàng nũng nịu cầm tay Mê Cung kéo ra ngoài phòng khách. Quả thật lúc này chàng Mê Cung nhà ta dường như đã lạc vào mê hồn trận. Chàng líu ríu bước theo cô gái rồi hai người tiến tới chiếc đàn dương cầm. Quả thật trong đời chưa bao giờ Mê Cung trải qua những phút giây lạ kỳ như vậy. Giữa tòa lâu đài cổ, ngồi bên cạnh chàng là một cô gái thật quyến rũ, thật ngây thơ và cũng thật dễ thương. Bên ngoài vầng trăng đã lên cao và ném vào căn phòng một thứ ánh sáng màu sáng đục lả lơi. Thỉnh thoảng một ngọn gió nhẹ làm đong đưa đám cành lá lúc này dường như cũng đã ướt mềm như sương khuya, làm cho cảnh vật về đêm càng êm đềm, gợi cảm. Mê Cung bắt đầu dạo nhạc và chàng đã dồn hết tâm trí để chơi bản Dạ Khúc của Schubert. Khi tiếng đàn vừa cất lên thì cô gái cũng khẽ ngả đầu vào vai chàng như thể quá xúc động. Nàng nhắm nghiền đôi mắt như để tận hưởng những cung bậc du dương, mời gọi, da diết của một bản nhạc trữ tình. Mê Cung đã chơi bản nhạc giữa trạng thái ngất ngây, nửa tỉnh, nửa mê như thể chàng đã xuất hồn để tấu nhạc trong một đêm thần thoại của một cõi thần linh, ma quỷ.

Khi chàng vừa chơi dứt bản nhạc thì căn phòng đột ngột nhiên trở nên im lặng – nhưng là một sự yên lặng nhiệm màu và khó hiểu. Dường như không gian vẫn còn vương vấn và phảng phất những cung bậc thánh thót mà mới một vài giây phút trước đây nó đã ngự trị trong căn phòng này. Trong trạng thái hoang mang, bí ẩn và đầy quyến rũ đó, hơi ấm tỏa ra từ thân thể của cô gái như một chất men ma quái làm Mê Cung nóng ran cả người. Không còn kềm chế nổi dục tình, Mê Cung ôm choàng lấy cô gái, hôn lên môi nàng. Rồi chàng bế xốc cô gái và bồng nàng vào trong phòng.

♦ ♦ ♦

Khi Mê Cung giật mình tỉnh giấc thì mặt trời đã lên khá cao. Chiếc đồng quả lắc cổ trong phòng khách thong thả điểm mười tiếng. Việc đầu tiên mà chàng nhận thức được là bên cạnh mớ chăn gối, khăn trải giường bị xô lệch, Mê Cung không thấy cô gái đâu cả. Trong lúc đầu óc chưa hoàn toàn tỉnh hẳn chàng nhớ đêm qua chàng đã trải qua một cuộc ân ái thật mặn nồng với cô gái. Dấu vết của đêm truy hoan còn để lại trên thân xác thật uể oải, miệng khô và khát nước của chàng. Nhưng giờ này cô gái ở đâu ? Trong một thoáng giây chàng nghĩ có thể cô gái đang ở trong phòng tắm. Chàng chạy vội vào đó nhưng nàng không có ở đó ! Hay nàng đang thơ thẩn chơi ở dưới sân, hoặc làm công việïc gì đó ở dưới nhà bếp ? Mê Cung vội vã chạy xuống dưới kêu réo, lục lọi  khắp nơi nhưng cũng chẳng thấy nàng đâu cả !  Rồi  hình như do linh tính mách bảo, chàng chạy ngược trở lên phòng ngủ của Cô Ba Mộng Nguyệt. Một tờ giấy nhỏ nằm ngay trên mặt chiếc bàn học. Chàng vội vã cầm lên đọc. Mẩu giấy viết như sau: “ Xin lỗi anh, em phải về dưới quê sớm. Nếu ba về biết chuyện này chắc ba quở  em dữ lắm. Hy vọng chúng mình sẽ gặp nhau vào một dịp khác !” Vò nát mẩu giấy trên tay rồi  nhét vào túi áo, Mê Cung ngồi thẫn thờ như pho tượng đá. Một niềm nhớ thương lẫn xót xa lại xâm chiếm cả tâm hồn. Tại sao trên đời lại có một cô gái đẹp, ngây thơ, dễ thương và đa tình đến thế ? Chàng cứ ngồi thẫn thờ như kẻ mất hồn cho đến khi chiếc đồng hồ thong thả điểm mười một tiếng. Thu vén lại khăn trải giường cho gọn ghẽ, đặt con gấu búp-bê ngay ngắn bên cạnh chiếc gối ôm màu hoàng cúc, đứng lặng yên ngắm nhìn tấm hình của Cô Ba Mộng Nguyệt treo trên tường một hồi, chàng buông tiếng thở dài rồi thong thả bước xuống nhà dưới. Chàng mò vào bếp châm lửa nấu nước pha một bình  trà để uống cho đầu óc tỉnh táo trở lại mà cũng để chuẩn bị đón lão già quản gia như đã ước hẹn với lão sáng qua.

Khoảng sáu giờ chiều khi nắng đã ngả sang màu vàng úa và những đốm sáng từ từ rơi rụng trên đám cành lá thì bầy dơi quạ cũng bắt đầu túa ra từ những tàng cây cổ thụ để khởi đầu chuyến ăn đêm thường lệ. Dường như có tiếng ai giật chuông ở ngoài cửa. Mê Cung hối hả chạy ra và người đang đứng ở ngoài cổng không ai khác hơn là lão già gù. Sau khi mở cổng, giúp lão khiêng vào bên trong một quầy chuối, một bao gạo nhỏ  và một cặp gà, Mê Cung mau mắn hỏi:

– Bác về dưới đó có gì vui không ?

        Nhếch cặp mắt lé lên nhìn Mê Cung lão già đáp :

– Bà xã của ta bị đau bất ngờ. May mà ta quyết định về dưới đó nếu không thì hư hết mọi truyện. Đồ ăn, gạo thóc ở trên này cũng hết cả rồi !

      Trước câu trả lời của lão già, Mê Cung ngạc nhiên hỏi tiếp:

– Thế bác gái không nói gì về chuyện con gái bác lên đây thăm bác à ?

Nghe Mê Cung hỏi thế lão già cau mặt, gặng hỏi:

– Con gái nào ?

Mê Cung thành thật đáp:

– Con gái bác lên thăm bác bị kẹt tại Bắc Mỹ Thuận mãi chiều hôm qua mới  tới đây. Đêm qua cổ ngủ tạm ở ….dưới nhà bếp. Sáng nay cổ về dưới quê sớm lắm vì sợ bác quở. Cô ấy đẹp và dễ thương lắm ! Cổ đẹp như Cô Ba vậy đó !

Dường như lão già vẫn chưa hiểu Mê Cung nói gì. Lão đứng ngơ ngơ ngác một hồi, hếch đôi mắt lé nhìn trừng trừng vào mặt Mê Cung rồi lẩm bẩm:

–  Ta mà có con gái à ? Lão già gù xấu xí như thế này mà có cô con gái đẹp như Cô Ba? Con gái ta hôm qua ngủ đêm tại đây à ? Chú mày rỡn chơi phải không ?

– Cháu không nói rỡn chơi đâu, thật vậy đó !

Nghe Mê Cung nói vậy lão phá lên cười. Cười một hồi, lão bóp trán suy nghĩ rồi đột ngột lấy tay chỉ  vào mặt Mê Cung, nói:

– À, ta hiểu rồi ! Thảo nào ! Thật quá lắm ! Đã đem gái vào đây ngủ lại còn bịa chuyện nói dối đó là con gái ta.  

Nói tới đây lão già ngừng lại, đưa mắt nhìn Mê Cung, nhìn từ trên xuống dưới như nhìn một người phạm tội. Rồi lão lấy tay xua :

– Đi ! Đi ! Đi khỏi nơi đây ngay ! Ta không muốn nhìn con người trai lơ như thế này nữa ! Ta đã dặn rồi. Khi ta đi không được dẫn ai vào đây thế mà …  

Vì sự việc diễn ra ngoài dự liệu của Mê Cung cho nên chàng ta đứng chết trân, miệng ú ớ:

-Bác, bác, cháu!

– Không bác cháu gì hết, đi khỏi nơi đây ngay ! Người đời nói không sai mà! Ca sĩ, nhạc sĩ hay bầu gánh gì cũng đều một ruộc như nhau cả !

Nói xong lão gà gù hung hãn lấy hai tay xô mạnh vào thân hình Mê Cung. Khi đã đẩy Mê Cung ra ngoài, và không quên quẳng chiếc ba-lô của chàng qua khung cửa, lão già phủi tay rồi khập khiễng bước vào bên trong. Trước tình hình diễn ra đầy bất ngờ như thế Mê Cung chết điếng cả người. Mặc dù hình bóng của lão già gù đã mất hút vào vào màn tối mênh mông của ngôi nhà cổ mà Mê Cung vẫn còn  bàng hoàng đứng đó. Trong sự hoang mang và chán nản tột cùng, bao nhiêu lời giải thích cứ thi nhau nhảy múa trong đầu chàng: Phải chăng lão già gù xua đuổi chàng chỉ vì muốn tránh tiếng con gái lão đã ngủ đêm lại đây với một chàng  thanh niên xa lạ ? Hay cô gái chính là Cô Ba Mộng Nguyệt hiện về để ân ái với chàng để rửa mối hận tình muôn thuở với Cậu Hai André như câu chuyện mà hai ông già đã kể cho nhau nghe ngoài Chợ Bà Chiểu ?  

Giờ đây con đường Ngô Tùng Châu rải rác một vài căn nhà đã lên đèn. Mê Cung đưa mắt nhìn lên tòa gác cổ giờ này đang đứng đó, bí hiểm, im lìm, cô đơn và lạnh lẽo. Nó trông tựa như một sân khấu buồn bã đã khép màn. Màn kịch ân ái đêm qua giờ chỉ còn trong mộng, xót xa và tiếc nuối. Khoác chiếc ba-lô lên vai, trong bóng tối chập choạng, vừa bước đi Mê Cung vừa lẩm bẩm:

– Quái lạ thật! Quái lạ thật ! Cuộc đời vẫn còn những chuyện không thể nào hiểu được! Tại sao trên đời lại có một cô gái đẹp, đa tình và ngây thơ đến như thế ? Nàng là người hay là ma?

 Ghi chú :Cờ tam tài: Cờ Pháp với ba màu xanh, trắng, đỏ.

Đíp-lôm: Bằng Trung Học Đệ Nhất Cấp chương trình Pháp

Bắc-đơ: Bằng Tú Tài II chương trình Pháp.

(*) Tuyển tập truyện ngắn Mê Cung do Ananda Viet Foundation xb năm 2019)

Thứ Bảy, 5 tháng 4, 2025

Giai Thoại Văn Chương : DỊCH THỦY TỐNG BIỆT (Đỗ Chiêu Đức)

 Giai Thoại Văn Chương  :  

                                   DỊCH THỦY TỐNG BIỆT

  Năm Nghi Phụng thứ 3 đời Đường Cao Tông (678), Lạc Tân Vương 駱賓王, một trong Sơ ĐườNG Tứ Kiệt, đang giữ chức Thị Ngự Sử, ông nhiều lần dâng sớ can gián làm phật lòng Võ Hậu, nên bị giam vào ngục. Mùa thu năm sau (679), ông được xá tội. Mùa đông năm đó ông đi về đất Yên (thuộc tỉnh Hà Bắc hiện nay) làm Tham Quân trong một doanh trại, quyết lòng ra sức lập công báo quốc. Bài "Dịch Thủy Tống Biệt" được làm trong khoảng thời gian nầy khi ông cảm khái lúc đưa bạn qua dòng sông Dịch.

               易水送別         DỊCH THỦY TỐNG BIỆT
              此地別燕丹,      Thử địa biệt Yên Đan
              壯士髮衝冠。      Tráng sĩ phát xung quan.
              昔時人已沒,      Tích thời nhân dĩ một,
              今日水猶寒。      Kim nhật thủy do hàn !

       Ta đưa bạn ở nơi nầy, nơi mà Kinh Kha 荆軻 đã từng vẩy tay ly biệt với thái tử Đan của nước Yên. Người tráng sĩ ra đi (thích khách Tần Thủy Hoàng) bi hùng cảm khái đến nổi tóc dựng đứng đội cả mão lên. Bây giờ, người xưa tuy đã mất rồi, nhưng dòng nước nơi đây vẫn còn toát hơi lạnh lẽo...
                       Yên Đan giả biệt nơi nầy,
                     Anh hùng tóc dựng tràn đầy hùng ca.
                     Người xưa tuy đã lìa xa,
                     Hôm nay nước vẫn la đà lạnh căm !

       KINH KHA 荆軻 (?-227 trước Công nguyên) cuối thời Chiến Quốc. Kinh Kha vốn người nước Tề, sau thuyên cư sang nước Vệ. Thích đọc sách múa kiếm, người khảng khái trượng nghĩa, sống phóng túng, thích uống rượu. Khi đến nước Yên thì kết giao với một tên đồ tể bán thịt chó và rất thân với một danh sĩ rất giỏi về đàn trúc là Cao Tiệm Ly 高漸離. Mỗi ngày 3 người đều cùng nhậu thịt chó, gảy đàn, ca những khúc ca bi tráng đến nỗi khóc lóc bi thương, cả thành nước Yên họ đều xem như chỗ không người. Tuy nhiên lúc tỉnh táo thì Kinh Kha là người rất thâm trầm, thông kinh sách và giỏi võ nghệ, kết giao với nhiều danh sĩ của các nước lúc bấy giờ.
       Trong bài số 6 của "Vịnh Sử bát thủ 咏史八首" nhà thơ Tả Tư 左思 đời Ngụy Tấn có 4 câu thơ như sau :

                     荆軻飲燕市,    Kinh Kha ẩm Yên thị,
                     酒酣氣益震。    Tửu hàm khí ích chấn.
                     哀歌和漸離,    Ai ca hòa Tiệm Ly,
                     謂若傍無人。    Vị nhược bàng vô nhân !
       Có nghĩa :
                        Kinh Kha uống rượu chợ Yên,
                 Rượu say khí thế ngang nhiên bất phàm.
                        Tiệm Ly cùng hát họa đàn,
                 Thiên hạ mặc kệ ngang tàng như không ! 
 
       Hiệp khách danh sĩ của nước Yên là Điền Quang 田光 biết Kinh Kha không phải là kẻ tầm thường. Điền Quang là du hiệp đã về già nhưng rất nổi tiếng, nên được Thái Tử Đan rất trọng dụng. Lúc Bấy giờ đã cuối thời Chiến Quốc, nên chỉ còn lại có Chiến Quốc Thất Hùng (là Bảy nước hùng mạnh nhất), đó là : Hàn, Triệu, Ngụy, Tề, Sở, Yên và Tần. Nước Tần là nước mạnh nhất, nên có dã tâm muốn gồm thâu lục quốc. Trước mắt Tần đã đánh chiếm nước Hàn rồi, sẽ lăm le đánh chiếm nước Triệu trong nay mai. Sẵn đang căm thù vua Tần đã ngược đãi mình khi cùng làm con tin ở nước Triệu và cũng để giữ an toàn cho nước Yên, Thái tử Đan bàn với Điền Quang định ám sát vua Tần. Điền Quang bèn tiến cử Kinh Kha là người tài giỏi và còn trẻ hơn mình, rồi tự sát để cho Thái Tử Đan yên tâm mình không tiết lộ về chuyện muốn hành thích Tần Thủy Hoàng và để cho Kinh Kha hết lòng giúp Thái tử Đan.
       Sau khi Điền Quang chết, Thái tử Đan tiếp đãi Kinh Kha như một bậc thượng khanh, cho ở nhà cao cửa rộng, kẻ hầu người hạ toàn là người đẹp, ăn uống toàn là cao lương mỹ vị, lại thường tới lui thăm hỏi, dâng tặng lễ vật quý giá. Lúc bấy giờ có tướng Phàn Ô Kỳ 樊於期 (Tên người nên phải đọc Ư 於 thành Ô) của nước Tần là bạn cũ của Thái tử Đan, bỏ Tần theo về với Yên, cũng rất được Thái tử  Đan xem trọng. Khi ba người cùng cởi thiên lý mã đi săn bắn. Phàn Ô Kỳ nói với Kinh Kha là gan của thiên lý mã ăn rất ngon. Kinh Kha nói mình chưa được ăn qua và ao ước được ăn thử cho biết. Khi về cung, Thái tử Đan bèn cho người giết con thiên lý mã để lấy gan tặng cho Kinh Kha ăn. Lại một lần, cùng dạo chơi ở Đông Cung Trì, trông thấy có một con rùa nổi lên mặt nước, Kinh Kha nhặt một viên ngói định ném nó. Thái tử Đan ngăn lại và đưa cho Kinh Kha một thỏi vàng để ném rùa chơi cho vui. Lại một lần khác, khi cùng ăn tiệc ở Dương Hoa Đài trong cung, có một đoàn mỹ nữ ca múa giúp vui. Trong đó có một cô có đôi tay thật đẹp, múa thật hay. Kinh Kha buộc miệng khen :"Đôi tay đẹp quá !". Thế là sau buổi tiệc, Thái tử Đan cho chặt "đôi tay đẹp quá" của nàng cung nữ đặt lên mâm cho người mang đến tặng cho Kinh Kha ! Kinh Kha đã cảm khái thốt lên rằng : Thái tử đãi ta quá hậu !".
       Năm 227 trước Công nguyên, tướng Tần là Vương Tiễn đánh chiếm nước Triệu và bắt vua Triệu làm tù binh. Đại quân Tần đang lăm le biên giới phía nam của nước Yên bên bờ sông Dịch Thủy. Kinh Kha biết đã đến giờ hành động, bèn xin với Thái tử rằng :"Muốn tiếp cận được vua Tần không phải là chuyện dễ dàng, Thái tử cho thần xin hai món quà để được vua Tần triệu kiến. Một là Đầu của tướng quân Phàn Ô Kỳ mà vua Tần đã treo thưởng ngàn vàng và chức Vạn Hộ Hầu; Hai là Bản đồ vùng Đốc Kháng phì nhiêu của nước Yên để dâng lên cho vua Tần; thì chắc chắn vua Tần sẽ triệu kiến mà thôi." Thái tử Đan nói rằng : "Bản đồ không thành vấn đề, đất nước mất thì còn đâu là bản đồ nữa ! Nhưng Phàn Ô Kỳ là cố tri lại bỏ Tần về với ta, nên ta không nở lòng giết hại". Kinh Kha bèn tìm gặp để thuyết phục Phàn Ô Kỳ; cảm vì tấm chân tình của Thái tử, Phàn Ô Kỳ đã tự sát để hiến đầu mình. 
      Trong "Vịnh Sử Thi" bài "Xuân Thu Chiến Quốc Môn Kinh Kha 春秋戰國門荆軻" sau nầy của Chu Đàm 周曇, một thi sĩ thời Tàn Đường có câu :

                    有心為報懷權略,  Hữu tâm vị báo hoài quyền lược,
                    可在於期与地圖。  Khả tại Ô Kỳ dữ địa đồ.
       Có nghĩa :
                     Có lòng báo đáp mang thao lược,
                     Đầu của Ô Kỳ với bản đồ.

Thái tử Đan lại tìm gặp Từ Phu nhân của nước Triệu, dùng một trăm lương vàng để mua lại cây chủy thủ (dao găm) sắc bén, rồi cho thợ rèn nung nóng tẩm thuốc cực độc vào, hễ trầy da thấy máu là sẽ chết ngay. Mọi việc đều chuẩn bị xong xuôi đâu đó, Thái tử Đan lại phái một dũng sĩ của nước Yên là Tần Vũ Dương (Tên nầy đã biết giết người từ năm 13 tuổi) theo làm trợ thủ cho Kinh Kha. Buổi tiễn đưa bên bờ sông Dịch diễn ra thật bi hùng tráng, tất cả quan viên đưa tiễn đều mặc đồ tang trắng một cách trịnh trọng, Thái tử Đan đặt tiệc rượu tiễn hành bên bờ sông, Cao Tiệm Ly người bạn tri âm tri kỷ của Kinh Kha lại gãy tiễn đưa bạn bằng một khúc nhạc bi hùng. Kinh Kha đã rất xúc động và cảm khái mà nương theo tiếng đàn hát hai câu thơ bất hủ là :

               Phong tiêu tiêu hề Dịch thủy hàn,        風蕭蕭兮易水寒,
               Tráng sĩ nhất khứ hề, bất phục hoàn !  壯士一去兮不復還 !
Có nghĩa :
                 Gió hiu hiu hề ... nước sông Dịch lạnh,
                 Tráng sĩ một đi hề... chẳng trở về đâu !

       Tiếng đàn lại thánh thót chuyển sang âm Chủy hùng tráng cao vút, làm cho mọi người đều rùng mình sởn tóc gáy dựng đứng cả lên !  Trong bài thơ Vịnh Sử của nhà thơ Nguyễn Vũ 阮瑀 (165—212), một trong Kiến An Thất Tử cuối đời Đông Hán tả lại cảnh tiễn đưa trên bờ sông Dịch như sau :

                  燕丹善勇士。    Yên Đan thiện dũng sĩ,
                  荆軻為上賓。    Kinh Kha vi thượng tân.
                  ....
                  素車駕白馬。    Tố xa giá bạch mã,
                  相送易水津。    Tương tống Dịch Thủy tân.
                  漸離擊築歌。    Tiệm ly kích trúc ca,
                  悲聲感路人。    Bi thanh cảm lộ nhân.
                  舉坐同咨嗟。    Cử tọa đồng tư ta,
                  嘆氣若青雲。    Thán khí nhược thanh vân.
       Có nghĩa :
                     Thái tử Yên Đan trọng người hùng,
                   Kinh Kha là khách tột cùng trong cung.
                       .....
                       Áo trắng xe ngựa trắng trong,
                   Tiễn đưa sông Dịch mà lòng xót xa.
                        Tiệm ly đàn một khúc ca,
                   Qua đường người cũng chan hòa niềm thương
                        Nâng ly cảm khái lên đường,
                   Ngất trời hào khí thẳng đường mây xanh !
  Khi đến nước Tần, Kinh Kha lại mang lễ vật đáng giá ngàn vàng do Thái tử Đan chuẩn bị sẵn tặng cho cận thần sủng ái của Tần Vương là Mông Gia, nên rất nhanh đã được vua Tần triệu kiến. Hôm triều kiến Tần Vương Kinh Kha cầm chiếc hộp có đựng đầu lâu của tướng Phàn Ô Kỳ, còn bản đồ đất Yên cuộn tròn đựng trong một chiếc hộp khác do trợ thủ của Kinh Kha là Tần Vũ Dương cầm. Không ngờ khi vào chầu vua Tần ở chính điện, trông thấy khí thế uy nghiêm của triều đình vua Tần, Tần vũ Dương mất bình tĩnh tay run mặt tái. Sau khi trình đầu của phản tướng Phàn Ô Kỳ, Kinh Kha bèn giựt cái hộp đựng bản đồ trên tay Tần Vũ Dương mà biện minh với vua Tần : Đây là tên quê mùa hèn nhát chưa từng thấy qua vẻ uy nghiêm của bệ hạ, xin hãy thứ tội. Đoạn bước tới mở hộp trình cuộn bản đồ nhượng đất lên cho vua Tần. Khi mở đến cuối bức bản đồ thì một con dao găm (chủy thủ) hiện ra. Kinh Kha rất nhanh, tay trái nắm lấy tay áo của Tần Vương còn tay phải thì chụp con dao găm đâm thẳng vào ngực vua Tần. Nhưng vì trước đó vua Tần đã cảnh giác khi trông thấy thái độ run sợ kỳ lạ của Tần Vũ Dương nên đã có phòng bị. Trong cơn hoảng loạn vua Tần giựt rách tay áo, né khỏi con dao của Kinh Kha và chạy vòng quanh các cây cột lớn trong chánh điện để né tránh Kinh Kha truy đuổi. Các quan dưới điện trông thấy vội vã nhắc vua Tần rút lưỡi kiếm đang đeo phía sau lưng chém vào đùi Kinh Kha, Kinh Kha bị thương bèn phóng lưỡi chủy thủ về phía vua Tần, nhưng chủy thủ lại ghim vào cột điện... Mưu sát bất thành, Kinh Kha vong mạng và nước Yên cũng nhanh chóng rơi vào tay nước Tần...
      Vì tích trên mà ta lại có được môt thành ngữ nữa là ĐỒ CÙNG CHỦY HIỆN 圖窮匕見 là "cuối bản đồ thì dao găm hiện ra" để chỉ những việc gì đó đến mức cuối cùng cũng sẽ lộ ra chân tướng thật sự của nó mà thôi !     
      Thi sĩ nổi tiếng là khổ ngâm Giả Đảo ở buổi Tàn Đường cũng có bài thơ "Dịch Thủy Hoài Cổ 易水懷古" như sau :

                    荆卿重虚死,    Kinh Khanh trọng hư tử,
                    節烈書前史。    Tiết liệt thư tiền sử.
                    我嘆方寸心,    Ngã thán phương thốn tâm,
                    誰論一時事。    Thùy luận nhất thời sự.
                   至今易水橋,    Chí kim Dịch Thủy kiều,
                    寒風兮萧萧。    Hàn phong hề tiêu tiêu.
                    易水流得盡,    Dịch thủy lưu đắc tận,
                    荆卿名不消。    Kinh Khanh danh bất tiêu !
                  

        Có nghĩa :
                      Nhẹ xem cái chết Kinh Khanh,*
                   Tiết liệt còn đó sử xanh ghi vào.
                      Tấc lòng ta cảm biết bao,
                   Ai bàn thế sự luận vào nói ra.
                      Đến nay sông Dịch nước nhòa,
                  Hiu hiu gió thổi hề... hà lạnh căm.
                      Sông Dịch nước chảy quanh năm,
                  Kinh Khanh còn đó tiếng tăm muôn đời !

        * Kinh Khanh : Một cách gọi riêng tên của Kinh Kha.
                   
       Bài thơ thất ngôn tứ tuyệt "Kinh Kha 荆軻" của Trương Lỗi 張耒 đời Bắc Tống đã đánh giá bao quát về sự việc hành thích Tần Vương như sau :

                      燕丹計盡問田生,   Yên Đan kế tận vấn Điền sinh,
                      易水悲歌壯士行。   Dịch Thủy bi ca tráng sĩ hành.
                      嗟爾有心雖苦拙,   Ta nhĩ hữu tâm tuy khổ chuyết,
                      區區两死一無成。   Khu khu lưỡng tử nhất vô thành !
       Có nghĩa :
                      Yên Đan hết kế hỏi Điền Quang,
                      Sông Dịch bi ca tráng sĩ sang.
                      Tận lực khá thương tâm chẳng đạt,
                      Chẳng thành hai mạng lại chết oan !

       Không phải chỉ có 2 mạng (lưỡng tử) mà đến 4 người phải chết trong việc hành thích Tần Vương chẳng thành : Trước tiên là Điền Quang, rồi đến Phàn Ô Kỳ và sau hết là Tần Vũ Dương và Kinh Kha. Cho nên trong Việt Nam Thi Nhân Tiền Chiến nhà thơ Thâm Tâm Nguyễn Tuấn Trình đã viết trong bài VỌNG NHÂN HÀNH là :

                      Sông Hồng chẳng phải xưa sông Dịch
                      Ta ghét hoài câu “nhất khứ hề”...

     ... và lại làm cho ta nhớ đến bài TỐNG BIỆT HÀNH cũng của nhà thơ Thâm tâm thời Tiền Chiến :
                     Đưa người ta không đưa qua sông
                     Sao có tiếng sóng ở trong lòng ?
                     Bóng chiều không thắm, không vàng vọt,
                     Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong  !

       Không phải văn thi sĩ nào cũng ca ngợi và tán dương Kinh Kha; Chu Hy (1130~1200)một nhà thơ, nhà giáo, nhà tư tưởng... đời Nam Tống, đã nhận xét đánh giá về Kinh Kha như sau :

                     軻匹夫之勇,   Kha thất phu chi dũng,
                     其事無足言。   Kỳ sự vô túc ngôn !
       Có nghĩa :
                          Kinh Kha cái dũng thất phu,
                Chuyện làm chẳng đáng xuân thu lưu truyền !

       Nhà giáo dục, nhà tư tưởng Chu Hy cho rằng :"Kinh Kha chỉ là cái dũng của kẻ tầm thường, câu chuyện của anh ta chẳng có gì đáng bàn đáng nói cả !"

                    Inline image

       Theo ý bạn, thì bạn nghĩ như thế nào về nhân vật Kinh Kha ?!

       Hẹn bài viết tới !
                    
                                                                                      杜紹德
                                                                                  Đỗ Chiêu Đức


Mời Xem:




     




Thứ Sáu, 14 tháng 2, 2025

SÁNG MỒNG MỘT TẾT ĐI LỄ CHÙA - Thơ Hồ Mỹ Đức và Thơ Họa

 


SÁNG MỒNG MỘT TẾT ĐI LỄ CHÙA

Gió mới sang mùa thay tiết Đông
Màu xanh nở rộ tự trên không
Cỏ cây ca hát trong sương sớm
Muông thú reo vui dưới nắng hồng
Lời tụng rền vang miền lục đạo
Hương sen lan tỏa cõi thiền tông
Đất trời gặp gỡ đêm trừ tịch
Vũ trụ giao hòa điệu biến thông.

(Hồ Mỹ Đức)
1/25/23

Thơ Họa:


1./ LỄ CHÙA DỊP TẾT

Mừng Xuân vui Tết biệt sầu Đông
Bá tánh lễ chùa ngộ sắc không
Hoa thắm lá xanh màu ngói đỏ
Bụt vàng tượng trắng đóa sen hồng
Cửa thiền thăm viếng nương thiền tịnh
Phật giáo noi theo tựa giáo tông
Hoan hỉ thiện nam cùng tín nữ
Đầu năm hái lộc phước hanh thông.

(Phan Thượng Hải)
1/25/23


2./ TẾT BUỒN

Tết buồn… dù chẳng bấc, phùn Đông
Lóng ngóng nhìn trời đất trống không
Viễn thẳm vài chim bay tí tẹo
Vời xa chút nắng dợn hơi hồng
Sông dài nước chảy tìm bờ bến
Xứ lạ ta ngồi nhớ tổ tông
Suốt kiếp chôn vùi trong mộng tưởng
Mơ đời sở đắc phép thần thông (!).

Lý Đức Quỳnh
3/2/2025


3./ TÂM TƯ XUÂN

Từ buổi già tôi ngại đám đông
Xuân xưa để lại cõi hư không
Thấy người nhàn hạ vun hoa thắm
Biết khách gian truân thả bụi hồng
Vẫn chẳng dám về chùa Phật tổ
Lại càng xa cách nẻo Thi tông
Chạnh nghe pháo nổ tưng bừng Tết
Kính chúc tha nhân vạn sự thông...

Rancho Palos Verdes 4 - 2 - 2025
CAO MỴ NHÂN

4./ MỪNG TẾT
 NGUYÊN ĐÁN
(Xuân Ất Tỵ V
iệt Nam)

Hăm ba tiễn Táo, chợ người đông…
Xuân Tết đi chùa ngộ sắc không…
Tống cựu Giáp Thìn mưa tối sớm
Nghinh tân Ất Tỵ nắng mai hồng
Trầm nhang lan tỏa Thiên Bàn Phật
Hương khói bay lên Cửa Đạo Tông
Nhập định, Giao Thừa nghe pháo Tết
Tham thiền, Nguyên Đán được hanh thông…

MAI XUÂN THANH
Silicone Valley February 03, 2025



5./ TẾT AUSTIN

Tết này tuyết phủ bởi vào Đông
Lác đác hoa hoa trời nhuộm trắng không
Những đám mây bay màu úa xám
Cụm bông cắt tỉa chợt phai hồng
Ba mươi bếp ấm mời gia tộc
Tối đón giao thừa lạy tổ tông
Lò sưởi lửa cời reo tí tách
Một mình trà nhạt…lệ rơi thông ?

Kiều Mộng Hà
Feb.04.2024


6./ NGÀY TẾT

Trời se se lạnh ngỡ còn Đông
Én liệng rộn ràng giữa quãng không
Tươi mát, cỏ cây ngời sắc biếc
Lung linh, ánh nắng nhuộm mây hồng
Rượu trà thơm ngát mời thi hữu
Đèn nến sáng bừng cúng tổ tông
Pháo nổ đì đùng vang tứ phía
Cụng ly mời mọc chúc hanh thông.

Sông Thu
( 05/02/2025 )


7./ KẸT XE NGÀY XUÂN

Ngày Xuân cao tốc kẹt, xe đông
Chầm chậm, nhích lần có mệt không?
Cảnh sát phân luồng từ chạng vạng
Mặt trời ló dạng rực màu hồng
Tuyến đường bị chốt vì ben(*) đụng
Tại nạn xảy ra bởi tải(*) tông
Suốt buổi chờ trông, buồn bã đợi
Và kìa! Còi báo đã khai thông.

LAN
(05/02/2025)


(*)Ben = xe ben.
(*)Tải = xe tải.



8./ PHẬT GIÁO (Họa 2)

Trải qua Xuân Hạ với Thu Đông
Sự vật vô thường, giác ngộ Không
Tự Tánh từ bi soi đuốc tuệ
Chân Như đoạn hoặc tựa sen hồng
Tôn thờ tụng niệm Di Đà Phật
Tín ngưỡng quy y Tịnh Độ Tông
Hành kiến kỳ tâm vô sở trụ
Thoát vòng khổ nghiệp, đạo hanh thông.

(Phan Thượng Hải)
1/23/23


9./ 
KÍNH HỌA:  TẾT VẪN CÒN ĐÔNG.

Đón Tết Năm nay cảnh giá Đông,
Tuyết rơi lả tả ngồi nhà không.
Chợ Hoa ế ẩm ít người viếng.
Mua kiểng chậu Mai lẩn Huệ Hồng.
Chùa Thất ít Người thăm kính bái
Ở nhà cúng Phật kiến Tổ Tông.
Cơm chay đạm bạc dâng bày lễ
Cầu nguyện Năm nầy đươc hạnh thông.

Mỹ Nga, 05/02/2025 AL,07/01/Ất Tỵ.




Thứ Sáu, 24 tháng 1, 2025

KHAI XUÂN - Thơ Trần Văn Hạng và Bài Họa Của Các Thi Hửu


  • Bài xướng:

    KHAI XUÂN
    Xuân về nhựa sống trải muôn nơi

  • Hoa lá ngày xuân đẹp tuyệt vời
    Lộc nõn đầu xuân khai tiết mới
    Chồi non Ất tỵ lập xuân thời
    Chào xuân ngọc điểm lan hương ngát
    Đón tết mai xuân rộ sắc ngời
    Sặc sỡ cảnh xuân khoe vạn lối
    Cùng vui hòa nhịp với xuân đời
    Trần văn Hạng

    Thơ Họa :


    1./ XUÂN MỘNG MƠ

    Xuân về rộn rã khắp nơi nơi
    Thăm thẳm trời xuân nét vợi vời
    Khúc nhạc xuân mơ chào nắng mới
    Bài thơ xuân mộng đắm hoa ngời
    Bướm xuân giỡn gió màn luân vũ
    Cây cỏ mừng xuân búp lộc thời
    Thiếu nữ vào xuân tràn sức sống
    Đón chờ xuân thắm đến trong đời.
    SôngThu
    ( 19/01/2025 )


    2./ XUÂN BẤT TẬN.

  • MỪNG XUÂN khai bút gởi muôn nơi

  • Cố quận Xuân xưa đã cách vời
    Vội gởi Thiệp Xuân vui mấy thủa
    Rồi trao Xuân tứ tới bao thời
    Xuân chào quê cũ còn tươi thắm
    Xuân chúc phương này mãi rạng ngời
    Mới biết Xuân muôn trùng vạn nẻo
    Bởi chưng Xuân bất tận trong đời …
    Los Angeles. 20 - 1 - 2025
    CAO MỴ NHÂN


  • 3./ LẨM CẨM ĐẦU NĂM

    Khai bút đầu Xuân thắm mọi nơi
    Đề thơ mơ tưởng mộng xa vời
    Luận đàm thế sự Trump toàn thắng
    Theo sát thông tin Musk hợp thời
    Mong muốn ngày mai rồi rực sáng
    Ước sao năm mới được xanh ngời
    Bài văn lẩm cẩm còn như đợi
    Lẽ sống chung vui với cuộc đời.

    Lê Mỹ Hoàn
    1/202
    5 

  • ./ 

    4./ MỪNG XUÂN ẤT TỴ… !

    Ất Tỵ Xuân về rộn khắp nơi…
    Trăm hoa đào cúc nét xinh vời
    Tao nhân xướng họa mùa Xuân mới
    Mặc khách say sưa khí hậu thời
    Tống cựu Giáp Thìn Xuân sắc điểm
    Nghinh tân Ất Tỵ ánh dương ngời
    Xuân vui “Ái Hữu” cùng nâng cốc
    Đón Tết đào mai nở giữa đời…!

    MAI XUÂN THANH
    Silicone Valley January 18, 2025



    5./ TÌNH XUÂN


    Hớn hở xuân bèn viếng mọi nơi

    Nàng xuân chuyện vãn xóa trông vời
!
    Mai đào tỏa nụ xuân vừa ý
    Huệ cúc mừng xuân cảnh hợp thời

    Khẽ ghẹo xuân hồng thêm tuổi mới
    Thầm khen nguyệt tỏ kết xuân ngời
    Xuân tình vạn kiếp hoài chung thủy
    Bến nguyện chờ xuân cả một đời!

    Như Thu
    01/19/2025



    6./ XUÂN NÀY VẮNG ANH.

    Lại một tân xuân sắp đến nơi
    Hoa mai khoe sắc đón xuân vời
    Vui xuân, nhà cửa tô sơn vách
    Lạnh tiết, tầm xuân nở kịp thời
    Đường phố ngày xuân thêm rộn rã
    Thuyền xuân du lịch đẹp xinh ngời
    Xuân này anh vắng không về được
    Hẹn đến xuân sau kết nợ đời.

    LAN.
    (20/01/2025).

    7./ SANG XUÂN

    Cảnh thế XUÂN tràn khắp mọi nơi
    Tình XUÂN dào dạt thắm tô đời
    Sắc nào vị đó nghinh XUÂN rộn
    XUÂN đấy màu kia hóng Tết thời
    XUÂN đến mai đào bung cánh rực
    XUÂN khai búp nụ nhú thân ngời
    Trời nam XUÂN rạng hoa sặc sỡ
    Nẻo Bắc XUÂN hanh lộc nõn vời…

    Mai Vân-VTT
    21/01/2025.



    8/ KHAI BÚT ĐẦU XUÂN

  • Tuần hoàn thiên địa chuyển nơi nơi
    Hoa nở đầu xuân đẹp rạng ngời
    Sặc sỡ mai đào năm khởi mới
    Yêu kiều lan cúc tiết giao thời
    Nhởn nhơ đàn bướm vui đùa dạo
    Ríu rít đôi chim quấn quýt vời
    Cơn gió nhẹ nhàng rung chiếc lá
    Thi nhân xao xuyến dệt thơ đời

    Hưng Quốc
    Texas 1-21-2025



    9./ ĐIỂM XUÂN

    Cảnh vật Xuân bừng sáng khắp nơi
    Nàng Xuân rực rỡ chiếu dâng vời
    Xuân hồng bút mộng khơi từng thủa
    Lá biếc mầm Xuân dệt bấy thời
    Lũ bướm Xuân chuyền lồng nắng đẹp
    Đàn chim giọng hót trỗi Xuân ngời
    Hoa Xuân sắc rộ khoe trần thế
    Cảm khái tình Xuân thắm cuộc đời

    Minh Thúy Thành Nội
    Tháng 1/21/2025


    10./ KHAI XUÂN

    Xuân vẫy bút màu vẽ khắp nơi
    Rộn nghe xuân gọi nắng xa vời
    Sông xuân, đạm thủy hòa kim sắc
    Ánh nhật, tân xuân tiễn cựu thời
    Bướm lượn vườn hoa, xuân mộng thắm
    Hương theo ngõ ý, dáng xuân ngời
    Xuân về chẳng rực cành mai cỗi
    Trảy lá, mong xuân trổ với đời…

    Lý Đức Quỳnh
    23/1/2025

  • 11./ THỜI

    Năm nầy con rắn sẽ an nơi
    Biết nó về đây có giúp đời
    Giữa lúc chiến chinh khắp thế giới
    Trong khi dịch bệnh lại đương thời*
    Nga Tàu liên kết chưa thành đạt
    Mỹ Nhật bắt tay chẳng vẽ vời
    Riêng khối Nato đang yếu sức
    Đài Loan đông hải nước lên ngời.
    * HMPV đang hoành hành ở Trung Quốc
    Võ Ngô 
12./ HỌA: ĐÓN XUÂN VUI

Xuân đến hoa bùng sắc khắp nơi,
Tỏa hương thơm hức thoáng xa vời.
Đóa đào mụ mẩm hồng tươi mới,
Nàng cúc xinh ươm đẹp một thời.
Huệ ẩn nét tình yêu bát ngát,
Mai bung nụ sáng kéo tim ngời.
Trời cao mây né cho tia nắng,
Đón Tết muôn nơi sáng rực đời.
*
Thơ tình xướng họa chuyển không vơi!

HỒ NGUYỄN (24-01-2025)

13./ NÀNG XUÂN


ăm mới giao hòa chúc khắp nơi

n vui hạnh phúc chẳng xa vời

àng xuân yểu điệu chào muôn giới

ia thế yên vui trải mọi thời

X ào xạc đồi xuân thay áo mới

ng dung suối mộng nở hoa ngời

 n tình nẩy nở lòng phơi phới

N ụ nở xuân reo rạng rỡ đời.

Đức Hạnh

23 01 2025


14./ LỆ TẾT CỔ TRUYỀN
( Bát vận đồng âm).

Cổ tục xưa rày khắp mọi nơi
Hai ba khởi Tết Táo lên trời
Sân đình ngất ngưởng nêu quần vợi
Nẻo xóm tưng bừng phướn lả lơi
Đâu cũng câu chào đồng giọng ới...
Cùng bao khách dạo lẫn mua thời
Niềm vui lễ hội dần dà tới
Tận sướt qua rằm mới vãn chơi …
Mai Vân-VT
T, 23/12/25( 24/Th.Chạp/GT).

15./ NGHĨ XUÂN MÀ…
Nương vận họa vui: Khai Xuân

Xuân gợi cho đây nhớ một nơi
Nghĩ thôi chứ chẳng mộng Xuân vời
Đẹp như Xuân ấy luôn hợp cảnh
Chán thể Xuân nay quá lỗi thời
Tờ lịch xé đi Xuân hết rạng
Xuân xanh tóp lại mắt sao ngời?
Bút khai chiếu lệ Xuân tồn cổ
Bàn riết về Xuân chán mớ đời.

Thái Huy Jan/20/25

Kính Mời Đọc Thơ MÂY của Lý Đức Quỳnh và Các Bài HỌA

MÂY Mây tung cánh lãng mộng xa gần Đón gió phiêu tình hẹn ái ân Cõi nhớ mù giăng nhòa ảo ảnh Đường mơ khói tỏa lộng hư trần Thường trôi xác...