Thứ Sáu, 3 tháng 6, 2016

Thói đố kỵ – trọng bệnh của người Việt


Người Việt hay để ý của nhau nên mới biết nhà kia có gì hay, có gì hơn của nhà mình. Nếu thấy người ta mua được con xe máy đắt tiền thì cũng cố để mua được con xe… đắt tiền hơn. Thấy người ta xây căn nhà mới, nếu sau đó nhà mình cũng xây thì luôn cố gắng làm to hơn một tí, cao hơn một tí… Ngược lại, nếu mình không được như nhà hàng xóm thì sinh ra ganh ghét, so bì.
Nhà văn Tạ Duy Anh tổng kết rằng, thói tự mãn, nói dối và đố kỵ là ba thứ khiến người Việt không thể lớn. Trong đó, đố kỵ là bệnh nặng nhất của giới trí thức Việt, đồng thời cũng là bệnh nặng nhất của dân tộc. Vì sao vậy?
BỆNH NẶNG NHẤT CỦA GIỚI TRÍ THỨC
Nhà văn Tạ Duy Anh đau đáu khi bàn về tính đố kỵ của người Việt. Ông bảo, với người Việt thì thói đố kỵ là “vô cùng kinh hoàng”. “Khi gặp một người nào đó, chỉ cần xác định 3 điều: Đố kỵ, háo danh, nói dối thì khẳng định luôn là ông không có tài. Người có tài thì họ chỉ có một trong ba thứ đó thôi: Nói dối thì có thể vì làm thế mới sống được, chấp nhận được; có tài thì làm gì người ta phải háo danh nữa, vì họ hiểu danh hay không sẽ chẳng thể liên quan đến việc anh có muốn hay không mà phải là do sự nỗ lực, cố gắng của bản thân mới “hữu xạ tự nhiên hương”; nhưng đố kỵ là bệnh nặng nhất của giới trí thức Việt Nam, mà đã là giới trí thức thì đó cũng là bệnh của cả một dân tộc”, ông khẳng định.
Cũng theo nhà văn, đáng ra, người ta phải bài trừ những tính xấu này. Đằng này xã hội lại tạo danh tiếng cho người ta háo danh hơn bằng đủ các thể loại giấy khen, bằng khen, chứng nhận gia đình văn hóa, làng xã văn hóa… Nhà này thấy nhà kia đạt được danh hiệu thì cũng ấm ức trong lòng, quyết mua danh bằng được. Cứ thế mà thói đố kỵ đẩy lên.
Rồi chuyện hai nhà đang sống cạnh nhau thân thiết. Sau đó một nhà giàu có lên thì nhà kia sẽ không chơi nữa, nhưng nếu nhà giàu đó mà gặp chuyện tai ương thì nhà kia sẽ quay lại, chơi rất thật lòng. Trong một tập thể thì không ai ngoi lên được hoặc có ngoi lên sẽ bị gièm pha, nhòm ngó. Lại có ông giám đốc phấn đấu cả đời mới lên được chức ấy thì tự cao tự đại, coi mình là nhất. Những người không hợp phe cánh, phấn đấu mãi cũng chỉ làm cấp phó quay ra chống đối, cốt sao được ngoi lên cái chức vị ấy.
Ngay trong giới văn nghệ sĩ, nhiều người đạt được một giải thưởng nào đó thì tự đắc, coi mình tài giỏi lắm. Người khác thì chậc lưỡi “nó viết có ra cái gì đâu, chẳng qua là ăn may thôi”… “Thói đố kỵ ăn sâu đến nỗi nhiều khi tôi cũng giật mình xấu hổ vô cùng khi giả dụ thấy ai trúng vé số mấy tỷ, có một phần triệu giây trong ý nghĩ mong cho người ta bị vấn đề gì đó. Cực xấu hổ!”, ông chia sẻ.
ĐỐ KỴ VÌ KHÔNG CÓ TIÊU CHÍ VỀ ĐẠO ĐỨC, TÀI NĂNG
Theo nhà văn Tạ Duy Anh, sở dĩ người Việt đố kỵ vì cộng đồng không có tiêu chí về đạo đức, tài năng. Đó là một cộng đồng trọng tuổi “sống lâu lên lão làng” hơn là trọng tài, thích được ve vuốt hơn là nói thật. Tất cả những cái đó được tích tụ lại dẫn đến thói đố kỵ, không muốn ai hơn mình.
“Trong một cộng đồng không biết tôn vinh thủ lĩnh thì nó sẽ kéo nhau xuống. Có câu “chết cả đống còn hơn sống một mình” là nét khái quát nhất, thể hiện rõ nhất tính đố kỵ của người Việt. Thấy người ta viết tác phẩm hay thì nói xấu hòng kéo thanh danh của họ. Nhiều khi nói xấu chỉ để thỏa mãn bản thân chứ chẳng hại đến người ta, nhưng nó cũng cho thấy rõ ràng tính đố kỵ đã làm người ta không thể kiểm soát nổi mình”, nhà văn Tạ Duy Anh nói.
ĐỐ KỴ LÀM NGƯỜI VIỆT NHỎ NHEN
Còn theo PGS.TS Ngô Văn Giá thì cái gốc của thói đố kỵ là cấu trúc xã hội đẳng cấp, trọng tiêu chí hơn – kém, đúng – sai hơn là biết nhìn ra điểm khác biệt, ưu thế của mỗi cá nhân. Từ đó mà sinh ra so bì, đố kỵ, thóc mách, rất sợ người ta hơn mình và không muốn người ta hơn mình, không dám thừa nhận năng lực kém.
Còn ThS Trần Phương thì chỉ ra rằng, thói đố kỵ, so bì cũng có nguồn gốc “dây mơ rễ má” từ tính tò mò, tâm lý đám đông của người Việt. Ông phân tích: Người Việt hay để ý của nhau nên mới biết nhà kia có gì hay, có gì hơn của nhà mình. Nếu thấy người ta mua được con xe máy đắt tiền thì cũng cố để mua được con xe… đắt tiền hơn. Thấy người ta xây căn nhà mới, nếu sau đó nhà mình cũng xây thì luôn cố gắng làm to hơn một tí, cao hơn một tí… Ngược lại, nếu mình không được như nhà hàng xóm thì sinh ra ganh ghét, so bì, thậm chí còn viện lý do để an ủi bằng những suy nghĩ nhỏ nhen kiểu “chắc nó lại được bố mẹ, anh em cho”, “chắc gì tiền để làm những thứ ấy là trong sạch”, “trời không cho ai tất cả”…
Cũng theo ông Phương, chính vì văn hóa làng coi trọng tập thể hơn cá nhân; yếu tố “bản vị” coi cái gì của làng mình, của dòng họ, gia đình mình cũng là nhất nên khi thấy người khác hơn mình sẽ cảm thấy khó chịu. Cứ thế, thói đố kỵ làm người Việt luôn phải nhìn nhau, đề phòng nhau, hơn thua nhau thay vì cùng san sẻ với nhau. “Song có một điểm đáng chú ý là khi gặp thiên tai, ngoại xâm, tính đố kỵ dường như không còn chỗ nữa mà người Việt lại tương thân tương ái, lá lành đùm lá rách. Đó là tính hai mặt của văn hóa làng”, ông Phương bình luận.
LÀM SAO ĐỂ NGƯỜI VIỆT BỚT ĐỐ KỴ?
Thừa nhận đố kỵ, so bì cũng thuộc cơ chế tự vệ của con người, song theo GS Phạm Thành Nghị, Viện Tâm lý học thì cơ chế ấy ở mức độ nào, có thường xuyên xuất hiện hay không lại do môi trường xã hội chi phối. Ông nói: Khi môi trường xã hội không an toàn thì cơ chế này xuất hiện thường xuyên. Ngược lại, môi trường trong lành, mức sống của người dân ở đó được đảm bảo, con người có thể tồn tại dễ dàng, có thể kết bạn thì cơ chế ấy sẽ ít xuất hiện. Điều đó lý giải cho việc vì sao người phương Tây rất cởi mở, ít so bì, đố kỵ nhau hơn người Việt Nam, người miền Nam ít đố kỵ hơn người miền Bắc, vì ở đó mức sống cao hơn, cơ chế sòng phẳng hơn, đánh giá con người thông qua năng lực tốt hơn.
Vì thế, để giảm bớt tính đố kỵ của người Việt, theo ông Nghị, cần phải xây dựng rõ ràng tiêu chí đánh giá con người. Phải đánh giá bằng năng lực, có thang điểm cụ thể thay vì kiểu “sống lâu lên lão làng”. Phải khắc phục bằng thiết chế, thể chế, giáo dục.
Tuy nhiên, nói đến sự đổi mới của giáo dục nhằm hạn chế tính đố kỵ, nhà văn Tạ Duy Anh tỏ ra khá bi quan khi cho rằng, ngay trong giáo dục cũng đang tồn tại háo danh thông qua những bằng khen, giấy khen, phiếu bé ngoan, thầy cô giáo nhận tiền của phụ huynh để sửa điểm cho học sinh… thì thật khó để nghĩ đến sự thay đổi. Bên cạnh đó, giới trí thức – những người “dẫn đường chỉ lối” cho xã hội cũng mắc phải căn bệnh đố kỵ thì dường như, để hạn chế tính đố kỵ của người Việt vẫn còn là ước muốn khá xa vời. Song, “dù gì cũng cần phải làm một cái gì đó, trước hết và căn bản vẫn phải từ giáo dục”, ông nói.
“Người Việt có câu “thà chết cả đống còn hơn sống một mình” là câu cô đúc nhất về thói đố kỵ, không muốn ai hơn mình mà chỉ muốn kéo mọi người xuống ngang bằng với mình. Đó chính là nguyên do của việc Việt Nam bị chậm phát triển. Tất nhiên, ở một góc độ nào đó, tính đố kỵ làm cho con người ta có động lực để phấn đấu, cố cho bằng bạn bằng bè. Song về cơ bản nó vẫn kìm hãm sự phát triển, không thúc đẩy được sự sáng tạo cá nhân” – PGS.TS Ngô Văn Giá
Theo KIẾN THỨC

5 phát hiện khảo cổ đến nay vẫn chưa thể giải thích



Trong 2 thế kỷ gần đây, các nhà khảo cổ liên tục tìm được những công trình kiến trúc vĩ đại bị chôn vùi từ xa xưa, và giống như những Kim tự tháp Ai Cập, bí ẩn về việc xây dựng và công nghệ thời cổ đại vẫn là câu đố chưa có lời giải cho đến ngày nay.

Dưới đây là 5 phát hiện khảo cổ tiêu biểu cho huy hoàng của những nền văn minh cổ đại trên toàn thế giới.
1. L’Anse aux Meadows, Canada
Được phát hiện vào năm 1960, L’Anse aux Meadows là một địa điểm khảo cổ nằm ở mũi phía Bắc của đảo Newfoundland (Canada).
khảo cổ, Bí ần, Bài chọn lọc,
Qua nghiên cứu, các chuyên gia phát hiện công trình cổ xưa này được xây dựng bởi những người Viking và là di chỉ lớn nhất của người Bắc Âu ngoài Greenland.

Điểm thú vị là công trình này được xây dựng ở khu vực Bắc Mỹ 500 năm trước khi Columbus “phát hiện” ra châu lục mới. Vì thế nhiều giả thuyết cho rằng, chính những người Viking đã tìm ra châu Mỹ chứ không phải nhà thám hiểm Columbus.
Họ thậm chí còn tìm được những vết tích cho thấy người Viking đã từng rèn kim loại ở đây và trao đổi với những người thổ dân địa phương.
Bằng chứng là những vật dụng trong lều của thổ dân bản địa hay những sợi chão được bện lại từ những sợi lông thú ngắn đều được tạo ra bởi những người Viking ở Greenland. Lý do là bởi người bản địa chỉ khâu áo bằng lông thú và không hề biết dệt vải.
Tuy nhiên như thế vẫn chưa đủ để quyết định ai là người đã tìm ra châu Mỹ trước và vấn đề này vẫn còn gây nhiều tranh luận. Dẫu vậy, L’Anse aux Meadows được UNESCO công nhận là Di sản Văn hóa thế giới vào năm 1978..
2. Saksaywaman, Peru
Saksaywaman được xây dựng như một pháo đài hay một khu liên hợp bao phủ khu vực rộng lớn ở vùng ngoại ô phía Bắc thành phố Cusco (Peru). Tuy vậy tàn tích còn sót lại ngày nay chỉ chiếm 1/4 khu liên hợp ban đầu – nơi mà có thể chứa hơn 10.000 người.
khảo cổ, Bí ần, Bài chọn lọc,
Tàn tích là các bức tường lớn được xây dựng một cách kiên cố. Mặc dù những tảng đá này có hình dạng không đồng đều nhưng khi đặt chúng xếp chồng lên nhau lại cực vừa vặn đến mức ngay cả một tờ giấy cũng không thể lọt qua được các khe hở.
Ở phía bên trên các bức tường đá là nền móng tròn tọa lạc ba ngọn tháp sừng sững. Người ta có thể dễ dàng nhận thấy rằng nền móng này thấp hơn khi đứng cạnh những bức tường đá. Tảng đá lớn nhất được đặt làm nền có chiều cao 8,5m.
Một trong ba bức tường dài nhất có chiều dài là khoảng 400m và cao nhất là 6m. Một tảng đá đơn thuần được dùng để xây tường có trọng lượng ước tính từ 120 – 200 tấn.
Qua khảo sát, các chuyên gia nhận thấy, nền văn hóa Killke (văn hóa Killke chiếm đóng ở Nam Mỹ) đã dày công xây dựng công trình này vào thế kỷ XII. Sau đó đế chế Inca đã chiếm đóng và mở rộng công trình.
khảo cổ, Bí ần, Bài chọn lọc,
Dù tìm hiểu kỹ nhưng các chuyên gia vẫn chưa hiểu, công trình này được dựng xây với mục đích gì. Một vài nhà khảo cổ học tin rằng, tàn tích Saksaywaman có thể là một ngôi đền được dựng lên để dành cho việc thờ phụng Mặt trời.
Vào năm 1983, khu tàn tích Saksaywaman và thành phố Cusco đều được UNESCO công nhận là Di sản thế giới.
3. Mohenjo-daro, Pakistan
Mohenjo-daro – Ngọn núi của cái Chết – là một di chỉ khảo cổ nằm ở tỉnh Sindh, Pakistan. Đây là một trong những khu định cư lớn nhất của nền văn minh Indus và chỉ được phát hiện vào năm 1922.
khảo cổ, Bí ần, Bài chọn lọc,
Mohenjo-daro được xây dựng vào khoảng năm 2600 TCN, cùng lúc với sự hình thành của nền văn minh Ai Cập cổ đại, nền văn minh Lưỡng Hà.
Do nằm ở gần các con sông, đồng bằng màu mỡ nên Mohenjo-daro phần nào được tạo điều kiện để phát triển về mặt nông nghiệp. Các công trình trong thành phố được xây bằng đất nung, khác hẳn với những thành phố cùng thời đại khác được xây dựng bằng đá và đất.
Điều này chứng tỏ trình độ kiến trúc cao của nền văn minh Indus. Vào thời kỳ thịnh vượng nhất, thành phố có khoảng 35.000 cư dân, trở thành thành phố lớn nhất của nền văn minh Indus.
Điểm đáng chú ý hơn nữa là Mohenjo-daro được xây dựng theo mô hình thành phố hiện đại ngày nay với đường xá, hệ thống thoát nước ngầm… chỉ khác là thành phố này đã được xây dựng cách đây hơn 4.000 năm. Nhưng không biết vì lý do gì mà Mohenjo-daro đã chìm dần vào quên lãng.
khảo cổ, Bí ần, Bài chọn lọc,
Hiện, giới khảo cổ vẫn miệt mài nghiên cứu, khai quật những con dấu có chữ tượng hình cổ để khám phá nguyên nhân vì sao thành phố đột nhiên biến mất một cách bí ẩn như vậy. Mohenjo-daro được UNESCO công nhận là Di sản thế giới vào năm 1980.
4. Đền Göbekli Tepe, Thổ Nhĩ Kỳ
Được xây dựng cách đây 12.000 năm, ngôi đền Göbekli Tepe nằm trên đỉnh của một ngọn núi ở phía Đông Nam vùng Anatolia, Thổ Nhĩ Kỳ, cách mực nước biển 760m.
Khi được phát hiện, ngôi đền này dường như bị cố tình chôn vùi trong cát để không bị ai phát hiện. Tuy vậy, các nhà khảo cổ Đức đã đến đây và khai phá nhiều bí ẩn về ngôi đền cổ này.
khảo cổ, Bí ần, Bài chọn lọc,
Tại đây, giới khảo cổ tìm thấy nhiều tháp có hình dáng chữ T, với hình điêu khắc những loài động vật nguy hiểm chết người, như bọ cạp, sư tử, lợn rừng… nhưng lại không tìm được bất kì dụng cụ nông nghiệp nào.
Vậy bằng cách nào người xưa có thể tạo ra những chiếc cột cao gần 6m, điêu khắc bức hình hoàn hảo có niên đại từ 11.000 đến 12.000 năm trước mà không sử dụng bất kì loại dụng cụ nào?
khảo cổ, Bí ần, Bài chọn lọc,
Hơn thế, vì sao họ lại có thể xây dựng một công trình bằng đá khi có những viên đá nặng từ 100-300 tấn và mục đích xây dựng ngôi đền này của họ là gì? Tại sao lại phải chôn vùi ngôi đền dưới cát?
Theo giới khoa học, di chỉ khảo cổ này có ý nghĩa rất lớn đối với chúng ta về xã hội loài người cổ đại. Bởi công trình này được xây dựng vào khoảng năm 10.000 – 9.000 TCN, trước cả sự ra đời của nông nghiệp. Điều này chứng tỏ rằng niềm tin vào các vị thần mới thực sự là sự khởi đầu của một nền văn minh.
5. Động Long Du, Trung Quốc
Động Long Du là một loạt các hang động nhân tạo lớn nằm ở tỉnh Chiết Giang, Trung Quốc. Được phát hiện vào năm 1992, 36 hang động này ngày nay đã trở thành địa điểm lớn thu hút khách du lịch.
Các hang động được chạm khắc bằng bột kết, được cho là hình thành trước thờinhà Tần năm 212 TCN. Tất cả 36 hang động này đều được tạo nên riêng rẽ trong một khu vực vỏn vẹn 1km vuông. Nhưng điều lạ là không có bằng chứng khảo cổ nào về việc số lượng đá khổng lồ – 1 triệu mét khối đá đó đến và đi bằng cách nào.
khảo cổ, Bí ần, Bài chọn lọc,
Đồng thời cũng không có tài liệu lịch sử nào ghi chép về lịch sử ra đời của những hang động này. Mỗi bức tường trong từng hang đều được khắc các đường thẳng song song với độ chính xác tuyệt đối.
Theo ông Jia Gang – giáo sư tại trường Đại học Tongji chuyên về xây dựng dân dụng cho biết: “Muốn vào hang cần phải có đèn vì cửa hang động rất nhỏ, ánh sáng Mặt trời chỉ có thể chiếu sáng ở một vùng nhất định của hang động, vào thời gian nhất định. Nếu một người đi sâu hơn vào trong động, ánh sáng sẽ nhạt dần. Tại đáy động – ở độ sâu hàng chục mét so với cửa động, người ta khó mà có thể nhìn thấy gì”.
Tuy nhiên, người ta không tìm thấy vật dụng gì dùng để chiếu sáng trong ít nhất là hai ngàn năm trước đây. Vậy làm thế nào mà người cổ đại có thể làm một công việc đòi hỏi sự chính xác trong môi trường tối đen như mực?
Hơn nữa, nhờ sự trợ giúp của các thiết bị tối tân, người ta đo được những hang động này có sự tương đồng gần như tuyệt đối, giữa độ dày bức tường, góc cạnh, các đường thẳng chạm khắc… Vậy phương pháp xây dựng của họ là gì để đạt được độ chính xác này?
khảo cổ, Bí ần, Bài chọn lọc,
Có một số nhà khoa học cho rằng, các hang động này là nơi quân đội đóng quân và hoàng đế trong một thời kỳ quá khứ muốn che giấu binh lính khỏi tầm nhìn để giữ bí mật, chuẩn bị chiến tranh.
Tuy nhiên, những động này không phải chỉ được xây dựng trong một thời gian ngắn. Họ đã mất rất nhiều năm để xây dựng do vậy dường như là không phải để dùng cho mục đích chuẩn bị chiến tranh, vốn đòi hỏi mọi việc phải được làm nhanh gọn. Hơn nữa, cũng không có dấu hiệu nào về việc con người đã ở trong các động này. Bởi vậy, với giới chuyên gia, đây vẫn là một bí ẩn chưa được giải mã.

Theo Tri thức trẻ


Còn Nương Tựa Là Còn Dao Động


Có một ông phú hộ kia rất giàu có, nhưng ông không có hạnh phúc. Một hôm ông tuyên bố với mọi người rằng, ông có một viên ngọc quý báu nhất trong gia tài của mình, và ông hứa sẽ tặng cho người nào có thể chỉ cho ông biết cách làm sao để có hạnh phúc. Nhưng vẫn không ai có thể trả lời được câu hỏi ấy cho ông. Một hôm, có người nói với ông rằng có một vị đạo sĩ sống trên một ngọn đồi nọ, tuy ông ta sống một mình nhưng rất an lạc, nếu ông tìm đến hỏi thì có lẽ vị đạo sĩ ấy sẽ chỉ cho ông cách nào để có được hạnh phúc.

Ông phú hộ bèn mang viên ngọc quý của mình và lên đường đi tìm gặp vị đạo sĩ. Sau mấy ngày đường, ông gặp được vị đạo sĩ trong một khu rừng sâu. Ông nói, “Thưa ngài, xin ngài hãy chỉ cho tôi phương cách nào để có được hạnh phúc. Tôi có viên ngọc quý giá này, nó cũng là cả gia tài của tôi, và tôi sẽ sẵn sàng dâng tặng ngài, nếu như ngài có thể giúp cho tôi.”
Vị đạo sĩ thinh lặng hồi lâu rồi nói, “Thế viên ngọc của ông đâu hãy mang ra cho ta xem thử!” Ông phú hộ cầm viên ngọc quý ra và đưa cho vị đạo sĩ xem. Đột nhiên, vị đạo sĩ giựt lấy viên ngọc quý từ trong tay ông phú hộ và bước đi mất hút vào rừng sâu. Ông phú hộ hoảng hốt không kịp phản ứng vì sự việc xảy ra quá bất ngờ.
Sau khi lấy lại được bình tĩnh, ông vội vàng đi tìm vị đạo sĩ và trong lòng rất đau đớn vì vừa đánh mất hết cả gia sản của mình. Với một tâm trạng khổ đau và nuối tiếc ông lang thang khắp nơi tìm kiếm. Đến khi trời bắt đầu nhá nhem tối, ông mệt mỏi và tuyệt vọng ngồi xuống dưới một gốc cây. Khi ấy, từ xa ông chợt thấy bóng dáng của vị đạo sĩ đang chậm rãi đi lại nơi ông ngồi. Vị đạo sĩ không nói một lời nào, bước lại gần và cầm viên ngọc đưa trả lại cho ông. Trong giây phút ấy, ông phú hộ chợt thấy mình là một người rất hạnh phúc…
Chúng ta tuy không có một viên ngọc quý như ông phú hộ trong câu truyện ấy, nhưng chúng ta cũng có những thứ mà nếu mất đi chắc mình sẽ rất khổ đau. Và nhiều khi cũng như ông phú hộ ấy, ta lại cứ tưởng rằng mình đã có thể buông bỏ chúng được rồi. Mà nếu như ta chưa nhận thấy được điều ấy thì mình cũng khó thể nào có được hạnh phúc phải không bạn?

Còn nương tựa thì còn dao động
Có một vị thiền sư nói rằng, trong đạo Phật sự tu tập không phải là một sự rèn luyện để ta được trở thành một cái gì đó, cho dù đó là tốt đẹp hơn, mà tu tập là một sự buông bỏ để ta không trở thành một cái gì hết. Vì hễ còn trở thành một cái gì là nó vẫn còn cần có sự nương tựa, mà ‎”Cái gì có nương tựa, cái ấy có dao động. Cái gì không nương tựa, cái ấy không dao động. Không có dao động thì có khinh an. Có khinh an thì không có thiên về. Không có thiên về thì không có đến và đi; không có đến và đi thì không có diệt và sanh; không có diệt và sanh thì không có đời này, không có đời sau, không có đời ở giữa. Ðây là sự đoạn tận khổ đau.” (Kinh Phật Tự Thuyết – Udàna).
Chúng ta không có hạnh phúc, có lẽ là vì ta chưa thật sự nhìn thấy rõ được chính mình, bạn có nghĩ vậy không? Ta không thật sự thấy được những gì mình còn mong cầu, những gì mình vẫn còn đang nương tựa. Vị đạo sĩ ấy đã chỉ cho ông phú hộ thấy rõ rằng, ông không thể nào có được hạnh phúc nếu như ông vẫn chưa thật sự thấy được những gì mình vẫn còn đang bị dính mắc. Mà tôi nghĩ, vấn đề khổ đau phần lớn là do cái không-thấy-được ấy của mình. Vì một cái thấy sáng tỏ, chánh kiến, là bước đầu cần thiết trên con đường hạnh phúc.
Có lẽ ta không nhìn thấy được là vì mình vẫn chưa thành thật với chính mình, đôi khi cái nguyên nhân khổ đau cũng rõ rệt và hiển nhiên, nhưng chúng ta thì cứ mãi lo tìm kiếm ở một nơi xa xôi nào khác. Như câu truyện người mất chìa khóa. Có lần một người hàng xóm đi ngang thấy ông Nasrudin đang bò dưới đất ngoài đường. Anh dừng lại hỏi, “Ông đang tìm gì thế?” Ông trả lời, “Tìm cái chìa khóa của tôi.” Và cả hai người cùng bò xuống đất đi tìm. Tìm một hồi lâu không thấy, người hàng xóm hỏi, “Ông làm rơi chìa khóa ở nơi đâu vậy?” Nasruddin trả lời, “Tôi đánh mất chìa khóa trong nhà.” Người bạn thắc mắc, “Vậy chứ tại sao ông lại ra tìm chìa khóa ở đây?” Ông trả lời, “Bởi vì ở ngoài đây có nhiều ánh sáng hơn. Trong nhà tôi tối quá!”
Con đường tu học là một con đường hạnh phúc. Và trong đạo Phật thì hạnh phúc ấy chỉ thật sự có mặt khi ta biết buông bỏ và bớt dính mắc hơn. Nhưng nếu như ta chưa thấy rõ và thành thật với chính mình thì làm sao ta có thể buông bỏ được phải không bạn?

Ấm một bình minh
Trong một cuộc sống mà phần lớn những hạnh phúc của ta vẫn còn nương tựa và dao động, tôi thấy chút an ổn khi được đi thiền hành trên con đường nhỏ nhiều lá, hay những buổi sáng ban mai ngồi yên trên thiền đường, khi vạn vật ngoài kia còn lờ mờ tối. Bao quanh chúng tôi là một không gian rộng lớn.
Buổi sáng này, sau giờ ngồi thiền, mở mắt ra tôi thấy nắng ấm phủ núi đồi ngoài kia. Vạn vật lại mới tinh mơ. Bốn mùa chuyển đổi, nhưng bầu trời sáng nay vẫn xanh và trong, vì bản chất của nó bao giờ cũng vậy. Hôm qua và ngày mai, trong cuộc đời của chúng ta có thể sẽ có những ngày mưa, nhưng rồi cũng qua. Và những cơn mưa đôi khi lại làm bầu trời sáng nay trong hơn.
Tôi đoán buổi chiều sẽ trở lạnh. Sáng mai tôi sẽ dậy thật sớm, mặc thêm một chiếc áo khoác cho ấm, xuống thiền đường ngồi nghe tiếng chim hót và nhìn mặt trời hồng. Buổi sáng nơi này mặt trời mùa thu thật đẹp. Dãy núi xa, những đóa hoa dại bên đường, con suối giữa rừng, và con đường nhỏ phủ đầy lá trải dài ngoài kia cũng đang có mặt trong tôi, đang ngồi yên đây.
Bạn biết không, một trong những đặc tính của giáo pháp đức Phật là ehipasiko, cũng có nghĩa là trở về để thấy. Tôi nghĩ, ngồi lại cho yên, bước những bước thảnh thơi cũng là một cách quay trở về, nó giúp cho cái thấy của mình được chút sáng tỏ hơn, và hạnh phúc của ta cũng bớt chút gì dao động hơn. Ðặt nhẹ dùi vào chuông, tôi nguyện tiếng chuông này thỉnh lên sáng nay sẽ làm những bình minh trong cuộc đời thêm ấm áp.

Nguyễn Duy Nhiên.

Bài Xướng Họa : HÈ VỀ



XƯỚNG : HÈ VỀ

Sinh viên tốt nghiệp đã ra trường,
Báo hiệu hè về thấy vấn vương.
NẮng hạ chia tay từng lớp học,
Mùa hè tạm biệt bạn muôn phương.
Quê nhà nhảy nhót vui bơi lội,
Phố thị rong chơi kỷ niệm thường.
Nhớ mái trường xưa ngày họp mặt,
Thầy yêu bạn quý với tình thương.

Mai Xuân Thanh


HỌA  : VẤN VƯƠNG KỶ NIỆM

Cũng đã từ lâu biệt mái trường,
Mà bao kỷ niệm mãi còn vương.
Quên sao lớp học từng niên khóa,
Nhớ quá bạn bè khắp bốn phương.
Gốc phượng tán xòe không biến đổi,
Bồn hoa nụ thắm vẫn như thường.
Mỗi năm hè đến lòng xao xuyến,
Đầy ắp tâm tư nỗi luyến thương.

Phương Hà


BÀI HỌA : NHỚ HÈ XƯA

Ba tháng ve kêu lúc bãi trường,
Mấy mười năm cũ mãi còn vương.
Thị thành trốn nắng về quê ngoại,
Quê ngoại ra thành đi bốn phương.
Lưu bút ngậm ngùi thêm quyến luyến,
Phượng hồng đỏ thắm gởi vô thường.
Hè về mỗi độ lòng xao xuyến,
Mấy chục năm rồi vẫn luyến thương.

Đỗ Chiêu Đức

Ai còn nhớ những trò chơi trẻ em của một thời “dữ dội”?


Đó là những buổi trưa trốn cha mẹ ngủ chạy ra bãi trống đánh khăng, đánh đáo, đó là buổi chiều tan học mải mê nhảy dây, nhảy nụ quên giờ về….

truyền thống, trò chơi, ngày thiếu nhi, bộ ảnh, Bài chọn lọc,

Mùng 1/6 là lúc xin vé đi tuổi thơ với những trò chơi hiện về trong ký ức. Trong đó, bắn bi là trò không thể thiếu của các bé trai ngày trước. Cả nhóm túm tụm, không ngại ngồi, quỳ, thậm chí nằm sấp trên nền đất bụi để bắn bi sao cho trúng. Những viên bi đầy màu sắc từng trở thành vật bất ly thân và bây giờ nó chứa đựng cả ký ức tuổi thơ.
truyền thống, trò chơi, ngày thiếu nhi, bộ ảnh, Bài chọn lọc,
Thay vì những cuộc chiến gay cấn trong trò chơi điện tử hay bỏ tiền vào paintball như ngày nay, các cậu bé thời xưa tham gia những trận “đấu súng phốc” kịch liệt với vũ khí hoàn toàn tự chế từ tre và hạt cây nhỏ, tròn (hoặc giấy). Trò bắn súng thường chơi theo nhóm, càng đông càng vui, có thể không cần phân phe phái. Cái hay của trò này nằm ở âm thanh phát ra khi bắn súng và cảm giác phấn khích từ trận giả.
truyền thống, trò chơi, ngày thiếu nhi, bộ ảnh, Bài chọn lọc,
Chơi cù phổ biến với các bé trai. Nhiều thanh niên, cụ già cũng bị trò này hấp dẫn. Người chơi chuẩn bị con quay đẽo từ gỗ và đóng đinh cùng đoạn dây quay. Thông thường, họ thích tự đẽo gỗ để làm con quay phù hợp. Cách chơi rất đơn giản, chỉ cần quấn chặt dây xung quanh con quay rồi văng ra hay bổ xuống. Tuy nhiên, để con cù có thể quay đúng theo yêu cầu của luật chơi, các cậu bé phải biết ra lực tay phù hợp, khéo léo.
truyền thống, trò chơi, ngày thiếu nhi, bộ ảnh, Bài chọn lọc,

Chơi chuyền cũng là trò khiến thế hệ 8X nhớ về tuổi thơ. Với bộ chuyền gồm 10 que tre (có thể thay bằng que nhựa, thậm chí loại cây có đường kính nhỏ) và một quả bóng hay trái cây tròn, cả nhóm có thể mải mê chơi không biết chán. Các bé gái tung quả bóng lên, nhặt số que chuyền rồi nhanh chóng cầm lại bóng, bóng rơi là mất lượt. Trò chơi đòi hỏi tay, mắt phối hợp nhịp nhàng, linh hoạt.
truyền thống, trò chơi, ngày thiếu nhi, bộ ảnh, Bài chọn lọc,
Đánh khăng cùng khẩu lệnh quen thuộc “Mắm 30 bắt chưa” hẳn sẽ khiến nhiều bạn nam nhớ lại ngày nhỏ. Chỉ với hai thanh gỗ (hoặc tre) vừa tay, thanh dài, thanh ngắn, nhóm bạn đã có thể trải qua khoảng thời gian vui vẻ trên bãi đất trống với đủ trò thú vị.
truyền thống, trò chơi, ngày thiếu nhi, bộ ảnh, Bài chọn lọc,
Ngày trước, cặp sách của các bé gái thường không thiếu các đoạn dây chun. Chỉ với dụng cụ đơn giản như vậy, các em có thể trải qua trò nhảy dây vui nhộn mỗi giờ ra chơi. Cách chơi rất đa dạng, chủ yếu rèn tính linh hoạt.
truyền thống, trò chơi, ngày thiếu nhi, bộ ảnh, Bài chọn lọc,
Nhảy nụ là cái tên xa lại với trẻ em ngày nay nhưng với thế hệ thời bao cấp trò này là dấu ấn tuổi thơ. Trò nhảy nụ thử thách khả năng nhảy cao của người chơi. “Chướng ngại vật” được tạo bằng cách xếp chồng bàn chân, bàn tay của hai người lên nhau với độ cao tăng dần.
truyền thống, trò chơi, ngày thiếu nhi, bộ ảnh, Bài chọn lọc,
Trong trò Nu na nu nống, thắng thua không quan trọng. Mọi người ngồi xếp hàng hoặc ngồi theo hình tròn, duỗi chân ra, cùng đọc một bài đồng dao (có nhiều phiên bản) bắt đầu bằng câu “nu na nu nống”. Kết thúc bài, chỉ vào chân ai người đó rụt chân lại. Hết vòng, người chơi bắt đầu lượt mới.
truyền thống, trò chơi, ngày thiếu nhi, bộ ảnh, Bài chọn lọc,
Ô ăn quan là trò quen thuộc, chủ yếu dành cho các bé gái và thường có hai người chơi. Ô được kẻ trên mặt đất, sân gạch và dùng sỏi hoặc viên đá nhỏ. Ngày này, người ta có thêm bàn vẽ sẵn và dùng vật liệu bằng nhựa thay thế sỏi, đá. Trò ô ăn quan không chỉ để giải trí mà còn rèn khả năng tính toán, lối tư duy.
truyền thống, trò chơi, ngày thiếu nhi, bộ ảnh, Bài chọn lọc,
Rồng rắn lên mây là trò chơi tập thể vui nhộn, các em nắm áo hoặc eo người đứng trước. Người đứng đầu có nhiệm vụ lèo lái “đoàn tàu” tàu phía sau, bảo vệ bạn chơi trước “thầy thuốc” sau khi người này chỉ định sẽ bắt khúc đầu, khúc giữa hay khúc cuối. Bài đồng dao “Rồng rắn lên mây” là khúc ca tuổi nhỏ hồn nhiên, vui vẻ.
Theo Zing.
  Xem thêm : NGHỀ ĐÁ DẾ - NGUYỄN CANG (k.2 SPSG)  

Trung Quốc trở thành nền kinh tế lớn thứ 2 thế giới nhờ hủy hoại môi trường


Là nền kinh tế lớn thứ 2 thế giới và tăng trưởng nhanh đến chóng mặt, đó là những gì mọi người nhìn thấy ở 1 nước Trung Quốc ngày nay. Tuy nhiên để giành được vị trí đó, chính quyền Bắc Kinh đã vắt kiệt tài nguyên thiên nhiên, hủy hoại môi trường trầm trọng và tạo thành 1 xã hội có đạo đức suy đồi, đầy rẫy bất công, tội ác và phân biệt giàu nghèo…

Tình trạng ô nhiễm ở thu đô Bắc Kinh đã vượt hết mọi thang đo về ô nhiễm, vào ban ngày người dân cũng khó có thể nhìn thấy ánh Mặt Trời


Tình trạng ô nhiễm ở thu đô Bắc Kinh đã vượt hết mọi thang đo về ô nhiễm, vào ban ngày người dân cũng khó có thể nhìn thấy ánh Mặt Trời
Theo các báo cáo của Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF) và Ngân hàng Thế giới (World Bank), Trung Quốc là quốc gia ô nhiễm nhất thế giới, quốc gia này thải ra 1/4 lượng khí thải nhà kính của toàn cầu.

Trung Quốc hiện có 16 trong 20 đô thị ô nhiễm nhất trên thế giới; 4 đô thị tệ nhất nằm ở vùng Đông Bắc giàu than đá (70% nhu cầu năng lượng của Trung quốc lấy từ than đá). Mưa acid chứa SO2 từ các nhà máy điện than đá thải ra rơi trên 1/4 lãnh thổ Trung Quốc, làm giảm năng suất mùa màng và ăn mòn mọi công trình xây dựng.
Đất đai Trung Quốc cũng tàn lụi vì phát triển. Phá rừng, song song với khai thác quá mức đồng cỏ để nuôi súc vật và canh tác, đã biến các vùng ở Đông Bắc Trung Quốc thành sa mạc. Sa mạc Gôbi đang dần xâm chiếm miền Tây và Bắc Trung Quốc, lan rộng mỗi năm khoảng nửa triệu hecta.
1/4 lãnh thổ Trung Quốc nay đã thành sa mạc do mất rừng. Cục Lâm vụ Trung Quốc ước lượng là hiện tượng sa mạc hoá đã biến 400 triệu dân Trung Quốc thành người tị nạn môi sinh, phải tìm kiếm nơi ở mới. Đất đai bị ô nhiễm cũng gây lo ngại về an toàn thực phẩm.

Trung Quốc, ô nhiễm,
Theo hình ảnh chụp từ vệ tinh, phần lớn lãnh thổ Trung Quốc đã bị sa mạc hóa (phần màu vàng là màu của sa mạc)
Sông Dương Tử và sông Hoàng Hà là 2 nguồn cung cấp nước quan trọng nhất cho Trung Quốc bị ô nhiễm nặng. Sông Dương Tử tiếp nhận 40% nước cống, hơn 80% nước thải chưa qua xử lý. Sông Hoàng Hà cung cấp nước cho 150 triệu người và nước tưới cho 15% đất nông nghiệp Trung Quốc, nhưng 2/3 nước sông này không an toàn và 10% vào loại nước cống thải.
Theo báo cáo của cơ quan nước ngọt Trung Quốc dự báo, lượng mưa ở lưu vực 3 con sông trong 7 lưu vực chính của Trung Quốc, nghĩa là các vùng xung quanh sông Hoài, sông Liêu và sông Hải sẽ giảm, làm mất đi 37% sản lượng lúa mì, lúa gạo và bắp vào năm 2050. Để sản xuất một đơn vị hàng hoá, Trung Quốc phải tiêu thụ tài nguyên gấp 7 lần so với Nhật Bản, 6 lần so với Hoa Kỳ và 3 lần so với Ấn Độ.

Theo nhiều dự báo, nếu con người cứ khai thác như mức hiện nay, trong số các tài nguyên khoáng vật (tài nguyên không tái tạo được) có thể duy trì: sắt được 173 năm, than được 150 năm, nhôm được 55 năm, đồng được 48 năm, vàng được 29 năm; các nguồn tài nguyên sinh vật, rừng rậm trong 170 năm nữa sẽ bị đốn hết, trong đó, mưa rừng nhiệt đới có thể hết nhẵn sau 40 năm nữa.
Các nhà khoa học chỉ ra rằng, hiện nay trên trái đất đã không còn tìm thấy một vùng đất nào hoàn toàn không bị ô nhiễm. Sự ô nhiễm nghiêm trọng môi trường trái đất không chỉ tạo ra khủng hoảng sinh thái mà còn tạo ra khủng hoảng sinh tồn của con người.
Xem thêm :
Nguồn nước ở Trung Quốc bị làm ô nhiễm đến mức độ nào?

Phát hiện khuôn mặt khổng lồ bí ẩn ở thánh địa Machu Picchu


Machu Picchu là hiện thân của nền văn minh rực rỡ Inca, chứa đựng nhiều điều huyền bí về khoa học kĩ thuật và các truyền thuyết thần thoại. Điều thú vị hơn là khi các nhà nghiên cứu phát hiện 1 gương mặt người khổng lồ được sắp đặt cạnh thành phố.

Machu Picchu nằm trên một sườn núi trong thung lũng Urubamba ở Peru, cách thành phố Cusco khoảng 80 km về phía Tây Bắc, thông qua các dòng sông Urubamba. Machu Picchu được xây dựng theo lệnh của hoàng đế Inca Pachacuti (1438-1472) để ăn mừng chiến thắng sau khi thu phục được bộ tộc Chancas. Nơi đây thường được gọi là “Thành phố bị mất của người Inca”.

Từ “bị mất” là bởi nó chỉ được tái phát hiện vào năm 1911 bởi sử gia người Mỹ Hiram Bingham. Machu Picchu được mô tả như “một kiệt tác kiến trúc tuyệt vời và là một chứng ngôn độc đáo của nền văn minh Inca”. Nó được xây dựng theo phong cách cổ điển của người Inca, gồm các bức tường đá khô không dùng vữa. Nhiều mối nối hoàn hảo đến mức thậm chí không thể lách một lưỡi dao vào giữa các phiến đá.

Machu Picchu được UNESCO công nhận là di sản thế giới vào năm 1983, và năm 2007 được cộng đồng thế giới bình chọn là một trong 7 kì quan thế giới thông qua mạng xã hội. Năm 1981, Peru tuyên bố diện tích 325,92 km2 xung quanh Machu Picchu là khu đền đài lịch sử. Ngoài các di tích này, khu bảo tồn còn bao gồm một phần lớn những khu vực liền kề rất phong phú với hệ thực vật và động vật.
Tuy nhiên, có một điều vô cùng bí ẩn cạnh thành phố này…

thánh địa Machu Picchu, phat hien, khuôn khổng lồ, Bí ần,
Nhìn kĩ vào bức hình này….và xoay 90 độ
Nếu xoay bức ảnh chụp hình Machu Pichu 90 độ, với ánh sáng thích hợp chiếu trong ngày thì người ta sẽ nhìn thấy rõ hình ảnh của 1 khuôn mặt thổ dân được tạo nên bởi dãy núi gần thành phố này.

thánh địa Machu Picchu, phat hien, khuôn khổng lồ, Bí ần,
Khuôn mặt một thổ dân.

Đây chắc hẳn không thể là một hiện tượng tự nhiên ngẫu nhiên. Nói cách khác, nó giống như một sự sắp xếp hữu ý của tạo hóa với đầy ẩn ý.
Thành phố Machu Pichu xưa kia có lẽ nó là ở dưới mặt đất, không phải ở trên núi cao như bây giờ, trải qua biến động địa chất, có những vùng đất bị chìm xuống và có vùng khác thì lại bị đẩy lên cao. Machu Pichu có thể là đã được hữu ý giữ lại và bị đẩy lên cao do sự biến địa chất, cùng với đó là khối núi bên cạnh cũng được đẩy lên và tạo thành hình khuôn mặt nhìn lên trời như vậy.
Tất cả các dân tộc ở các nền văn minh xưa đều thờ các vị thần của họ, mỗi nền văn minh đều để lại những thành tựu mà con người hiện nay khó lý giải nổi.

Tổng hợp

KÍNH MỜI XEM và HỌA (NẾU THÍCH) THƠ TRĂNG THU của HỒ NGUYỄN

TRĂNG THU Mây buồn kéo đám bám che trăng, Cuội ngóng chờ trông bóng chị Hằng. Chim mất tổ sầu kêu thảm thiết, Lá buông cành chiếc rớt tung ...