Thứ Sáu, 6 tháng 3, 2020

Tôi Góp Mùa Thu Trả Lại Người - Thơ Thuyên Huy

Nhớ một người tên K của những ngày ở trọ nơi xóm đạo Tây Ninh

Tôi góp mùa thu trả lại người
Những mùa thu muộn nắng chia dôi
Phố người ngõ trúc vàng màu lá
Nhà tôi đường phượng úa lâu rồi

Cũng lá màu xưa áo thu vàng
Lối về vẫn bầy sáo đi hoang
Giáo đường thiếu khúc kinh cầu muộn
Chiều xót xa đưa giọt nắng tàn

Từ đó phố người quên lên đèn
Nhà tôi đường phượng đã đổi tên
Ngỏ hẹp xanh xao làm khách lạ
Cửa khép một đời thu lãng quên

Người đi đâu biết cây cỏ sầu
Mùa thu vẫn những thoáng mưa mau
Góc vườn xưa đốt thư tình cũ
Chôn mộng ban đầu dưới mộ sâu

Thuyên Huy
St Albans một chiều mưa đến muộn 2018
Mời xem Thơ Thuyên Huy :Xin Chở Giùm Tôi Ngọn Gió Thu

TRÊN ĐỒI LÀ LÔ CỐT- Lữ Kiều

Phía tây thành phố Huế có một ngọn đồi không cao lắm. Trên đồi có một lô cốt bỏ hoang. Trên mặt lô cốt thì có những hòn đá, hòn sỏi mà tụi con nít leo lên chơi bỏ lại. Những hòn đá nằm vô tội và hòa bình hết sức. Tôi chỉ cho người con gái đi cạnh tôi xem những viên đá ấy, nàng không để ý, chỉ bâng khuâng hỏi:
– Lúc trước, mấy người ở trong lô cốt chắc nóng lắm…
Một lần khác, tôi thấy một họa sĩ đặt giá vẽ lên trên mặt lô cốt. Ông ta còn trẻ và muốn vẽ dòng sông dưới chân đồi. Tôi nói: “Đẹp”. Ông ta trả lời: “Đẹp”. Thật ra, ông không có dáng nghệ sĩ lắm. Tôi tin là ông hoàn toàn không để tâm thắc mắc đến những người đã sống trong lô cốt này có nóng không.
_________________
Ở Huế, tôi phải gọi những người em gái của cha tôi là O. Ở Bắc thì Cô. Ở Nam, người ta lẫn lộn cô với thím. Trong liên hệ ấy, tôi phải gọi người con gái đi cạnh tôi trên đồi là O. Căn nhà O ở nằm bên một con đường vắng. Ở Huế, phần nhiều những con đường đều vắng như vậy. Tôi biết O đã lớn lên nơi đây, bên con đường này, thở không khí này. Tôi biết O mười bảy tuổi, học lớp đệ nhị trường Đồng Khánh, ban vạn vật… Tôi biết đã bao năm, O mỗi ngày đạp chiếc xe đạp con gái sơn trắng, qua trường rồi trở về, đều đặn trên con đường yên tĩnh. Tôi còn biết O chưa hề yêu một người con trai nào. Sự nhận biết sau cùng này òa vỡ trong tôi những xúc động nửa bâng quơ, nửa cấp thiết.
Làm sao và làm sao cắt nghĩa điều đó, làm sao cắt nghĩa được sự kiện người con gái mười bảy tuổi, lớn lên nơi đây, không hề nghĩ đến một người con trai? Nhất là khi người con gái ấy đẹp. Những đêm dạo chơi với những người bạn dưới vòm trời đầy sao, đi ngang nhà O, tôi vẫn có thói quen ngó vào để nhìn khuôn cửa mở rộng, ánh đèn trắng xanh, và bóng O ngồi dưới bóng đèn ấy. Đẹp. O ngồi trước bàn học, hai tay bình yên nắm cuốn vở, mái tóc đen ôm lấy vai, khuôn mặt cúi xuống, hai bờ vai mảnh dẻ, gầy đến xót xa. Tôi nghĩ rằng không còn hình ảnh nào an phận hơn hình ảnh một người con gái ngồi một mình dưới ánh đèn. Dáng người của O làm tôi có cảm tưởng O đang buồn trong khi tôi hiểu rằng O không hay buồn. Nhưng ở O có một điều gì đó ngăn cách O với thế giới bên ngoài khuôn cửa kia, ánh đèn trắng xanh kia. Trong thế giới của O có nỗi bình yên và trầm tĩnh, cái gì đơn độc và quạnh hiu, những điều ấy vây bọc lấy dáng bé nhỏ của người O.
Nhìn O, tôi vẫn thường mang cái cảm giác se sắt. Tôi định nói điều ấy với O, nhưng tôi biết là không thể nào nói được. O thường ở nhà và ít bạn. O có đôi mắt to và đen. Tôi nói với O rằng đôi mắt O đẹp lắm. O cười ngượng ngùng và nói rằng O không thích tôi nói như vậy. O có cái dáng thản nhiên và bình yên lạ lùng. Không bao giờ tôi thấy O hốt hoảng hay mất bình tĩnh. Khuôn mặt O không hề biểu lộ một biến động tình cảm nào, nhưng tôi biết O chưa hề nghĩ đến một người con trai, phải tôi biết, O mười bảy tuổi và chưa hề nghĩ đến một người con trai. Dáng bình yên của O nói lên điều đó. Nhiều điều không cắt nghĩa được đã nói lên điều đó. Thật ra có thể tôi nhầm. Nhưng tôi không hề nghĩ như vậy.
Những ngày trời mưa, trời nắng, những ngày mùa thu, mùa xuân, mọi sự đều trôi qua bên cạnh O hay chính O trôi bên cạnh mọi sự. Cái sinh hoạt đầy biến động của tuổi trẻ hoàn toàn xa vắng trên khuôn mặt O. Mỗi lần nhìn O, tôi muốn hòa đồng vào cái thế giới của O để quên đi những cái đang ở trong tầm tay và ngoài tầm tay mình.
O rất ít nói. Tôi vẫn thường qua thăm O những buổi sáng chúa nhật. Bấy giờ nắng trên những cánh cửa màu xanh. O ngồi bên cạnh tôi. O có mái tóc thề đẹp hết sức. Những người con gái ở Huế thường có mái tóc ấy. Những sợi tóc đen và mềm làm tôi mang cái ước muốn lồng mười ngón tay của mình trong rừng tóc ấy. Đôi lúc tôi làm điều tôi muốn. Tôi thấy những ngón tay mình phàm phu vô cùng. Còn O, những lần đó, O chỉ khẽ gỡ tay tôi ra và nói với tôi là O không thích tôi làm như vậy, tóc O sẽ rối lên.
O hay ngồi im lặng nghe tôi nói chuyện. Bao giờ tôi cũng có nhiều chuyện để kể với O. Tôi vẫn thường mang cảm tưởng rằng nói được với O, tôi sẽ đỡ khổ sở một mình. Có những điều tôi nói ra mà biết là O không hiểu. Có những điều tôi bịa. Nhờ O, tôi được nói một mình mà không cảm thấy độc thoại. O không bao giờ hỏi. O không tò mò. O chỉ ngồi và nghe. Thỉnh thoảng O cười. Còn tôi thì thích vừa nói vừa nắm lấy bàn tay O. Bàn tay bình yên và hiền dịu, vô tội và con gái. Tôi nói với O rằng tôi biết nhiều người con gái, nhưng không ai có bàn tay thánh thiện như O. O chỉ khẽ cười và rụt tay lại.
Thành phố Huế hiện ra trên O. Nên tôi nghĩ khi xa Huế, mỗi lần nhớ đến thành phố cũ, tôi sẽ nhớ đến O. Cũng như mỗi lần nhớ đến O, tôi sẽ nhớ Huế. Nhớ lắm.
_______________
Tôi biết rằng thế nào mình cũng xa Huế. Tôi đã lớn lên nơi đây, đã thuộc vào lớp người thân yêu của thành phố, nhưng thế nào tôi cũng phải đi. Thế nào cũng phải chia tay. Phải rứt khỏi những ràng buộc với sinh hoạt thường ngày và quen thuộc này. Phải nhận lấy đổi thay. Phải chọn lựa. Phải tham dự. Những người bạn đã ra đi. Một tên lái máy bay viết thư về kể cho tôi nghe rằng y bắt đầu được dự vào những chuyến bay đêm. Y nói đến những vì sao trên trời và bảo rằng mỗi lần nhìn thấy vì sao hôm, y lại nhớ Huế hết sức. Một tên trấn đóng cái đồn ở vùng Cao nguyên kể chuyện các cô gái Thượng và mơ ước nhìn lại những mái tóc thề. Nhiều tên nữa. Đứa nào cũng nói là nhớ Huế, nhớ Huế, nhớ Huế lắm.
Tôi viết thư cho chúng nó: “Hạnh phúc cho chúng ta còn có một quê hương để nhớ đến.” Tôi biết những người ở đây khi đi xa, bao giờ cũng mang sau lưng những ràng buộc dai dẳng với thành phố cũ. Trong cái nhìn bình yên và an nghỉ của Huế vẫn có một cái gì đang phấp phỏng, nôn nóng, lo âu, chờ đợi. Kẻ ở xa, mỗi lần nhớ đến cái dáng ấy, không thể nào bình tâm được.
Những ngày mùa hạ này, tôi thường đi một mình qua rất nhiều con đường của thành phố. Đi từ Đập Đá, theo con đường Lê Lợi, dọc theo sông An Cựu rồi lên núi Ngự. Nhìn xuống: Thành phố nhỏ vô cùng! Qua Thành Nội vào Tây Lộc đi dọc theo bờ thành Nội, trở ra con phố nhỏ với hai dãy phố không bao giờ đổi thay. Góc phố đó, cửa hàng đó, vẻ bày biện đó và những khuôn mặt đó. Huế có một bề ngoài nhàn nhã. Rất nhiều, rất nhiều người đi xe đạp, đi bộ trên hè phố, để nhìn nhau, cái nhìn ám tàng ý nghĩa nhận biết và quen thân. Chỉ những người của thành phố này mới nhìn nhau kiểu như vậy. Cái nhìn vừa phải, không lãnh đạm cũng không vồn vã. Nó chỉ nói lên điều này: Chúng ta là dân Huế.
Huế như thế đó. Ai đi xa mà không nhớ. Nhưng tôi phải đi. Sự nuông chiều của thành phố làm tôi bé nhỏ mãi. Tôi phải lớn lên. Phải sống đúng kích thước của mình. Nằm trong lòng Huế, tôi an toàn với những giấc ngủ bình yên. Không một tiếng súng ở xa. Không một tiếng thét dữ dội nào. Nhưng tôi không thể làm kẻ ở lại khi các bè bạn đồng lứa đã đi xa. Tôi biết mình không có quyền nằm ngủ những giấc bình yên. Tôi được tin nhiều người bạn đã chết và bị thương trong những cuộc hành quân. Tôi biết thế hệ mình chưa thể an nghỉ trong niềm vui nhỏ của con phố nhỏ. Tôi phải đi. Để khỏi cảm thấy mình ở cái vị trí không thể khinh ai nên chỉ biết khinh chính mình. Tôi phải đi.
Tôi muốn cắt nghĩa với O dài dòng hơn về những điều đó. Nhưng tôi biết O mười bảy tuổi, lớn lên bên con đường vắng vẻ này, chưa hề yêu một người con trai, làm sao và làm sao O hiểu được.
Nên trong những ngày cuối cùng ở lại với Huế, tôi rủ O đạp xe lên ngọn đồi phía tây thành phố.
Dưới đồi là nghĩa địa dòng họ chúng tôi. Khi tôi và O lên đó thì trời đã về chiều. Bấy giờ O ngồi xuống cạnh mộ cha, nét mặt nghiêm nghị và ngơ ngác. Tôi nhìn O và thấy thương O vô cùng. O không còn là O nữa, O hiện ra dưới mắt tôi như một người con gái mười bảy tuổi, đẹp thùy mị, ngồi bên mộ người thân, người con gái mặc áo lụa trắng, và nắng trên tóc nàng, trên cái nón để ngửa cạnh nàng. Nàng nói sao ở đây buồn và vắng. Tôi cười. Nàng gượng cười theo, vừa lấy tay khoác những sợi tóc vướng trên vừng trán đẫm mồ hôi. Nàng nói đạp xe lên những cái dốc vừa rồi, nàng mệt lắm vì chưa khi nào nàng đi chơi xa thế này.
Tôi ngồi yên lặng ngó lên bầu trời và ngạc nhiên thấy trời quá xanh. Tôi nhìn lên đồi, lên con đường cong queo dẫn lên đồi và trông thấy cái lô cốt sừng sững trên ấy. Cái lô cốt bỏ hoang từ hồi đình chiến. Bao lần tôi nhìn nó, và lần nào cái vẻ hoang tàn của nó cũng làm tôi xúc động. Tôi rủ O khóa hai chiếc xe đạp lại rồi lên đồi chơi. O cười nhỏ nhẹ và gật đầu.
Tôi đi cạnh O lên đồi. Gió thổi làm áo O bay. Dạo trước, khi còn đông đủ, tôi với những tên bạn thỉnh thoảng lên đây vào buổi chiều. Bây giờ thì đứa ở xa, đứa thì đã mất. Tôi nghe thức dậy trong lòng chút hạnh phúc nhỏ của người ở lại trở về nơi cũ. Mà bên cạnh thì còn có một người con gái đẹp. Tuổi trẻ, có những lúc, chỉ ước mơ có thế.
Tiếng O thoảng bên tai tôi, ấm và nhẹ:
– Hoa chi đây?
– Hoa dại…
– Đẹp.
O cúi xuống ngắt mấy cánh hoa. Cái lưng thon dài của O thật dịu mát. O đưa cho tôi xem mấy cái hoa trắng, cười bằng mắt. Tôi hỏi O thích hoa màu tím không. O ngạc nhiên hỏi tại sao tôi đi hỏi vậy. Tôi nói rằng những người con gái Huế phần đông thích màu tím. O khẽ cười và không nói gì cả.
Khi đứng trên đồi, tôi nhìn thấy cái lô cốt, và nhìn dòng sông ở dưới. O cùng đứng bên tôi, nhìn lô cốt và nhìn dòng sông ở dưới. Nắng trên sông. Tự nhiên, tôi thấy lòng se sắt và muốn kể cho O nghe chuyện về cái lô cốt này. Nhưng tôi không nói gì. Chúng tôi đứng yên lặng bên nhau thật lâu. Ngọn đồi vắng. Cỏ thì đầy cả bóng chiều, chạy dài xuống chân đồi. Tôi nhìn những ngón tay hiền từ của O lồng trong nắng. Tôi muốn nắm chặt lấy, nhưng O ở bên tôi, trong trắng vô cùng, thánh thiện vô cùng, nên không dám làm cái cử chỉ phàm phu ấy.
______________
Người ta thường bảo rằng con sông ở Huế đẹp, thật ra, con sông còn quyến rũ. Đẹp chưa đủ. Con sông như cánh tay với dãy núi lam xa xôi. Con sông như một tiếng gọi tha thiết và nhỏ nhẹ. Như giọng nói của những người con gái Huế. Nghĩa là quyến rũ lắm. Vào mỗi chiều, đạp xe qua cầu Bạch Hổ, nhìn dòng sông và dãy núi, tôi thường bị xúc động trước vẻ đẹp tràn lan của con sông. Xa Huế, nhớ sông, chắc tôi sẽ nhớ đến hình ảnh ấy. Cầu Bạch Hổ sơn đen, dùng cho những chuyến tàu lửa chạy qua. Đứng trên cầu, cái nhìn tôi rộng và bao quát. Nhìn lên: núi. Nhìn xuống: cột cờ, cầu Tràng Tiền trắng long lanh, tàn cây rậm rạp của công viên. Hôm ở trên đồi trở về, O với tôi dừng lại trên cầu. Cầu bấy giờ vắng. Tự nhiên O quay sang nhìn tôi và khẽ nói với tôi rằng tôi đi, O sẽ buồn và nhớ. Nói xong O cười e thẹn và giục tôi đạp xe về.
Những ngày cuối cùng tôi ở lại với Huế, trời nhiều mây. Tôi đạp xe lên cầu Bạch Hổ một mình, đứng nhìn con sông xanh lam và dự tính cho ngày sắp đến… Tôi không biết làm gì cho hết mấy ngày còn lại. Tôi nghĩ đến một cành huệ trắng cắm vào chiếc bình màu hồng. Tôi muốn sang thăm O lần cuối với cành huệ trắng ấy… Người gác cầu quen biết thấy tôi đứng tần ngần, tới gợi chuyện. Ông ta kể cho tôi nghe về tai nạn vừa xảy ra trên cầu này. Nạn nhân là một người con gái. Ông ta chỉ cho tôi xem vũng máu người ta quét chưa sạch, bây giờ khô lại. Tôi tự nhiên thấy nghẹn ngào trong một niềm giận dỗi vô cớ. Tôi nghĩ rằng mỗi người không có thẩm quyền về sự sinh ra thì ít nhất cũng có quyền về cái chết của mình. Tôi đạp về, không muốn nhìn dòng sông lâu hơn và cảm thấy khuôn mặt mình nửa khôi hài, nửa bi đát. Tôi hay có những xúc động trẻ thơ như vậy. Và lấy đó làm ngượng lắm.
Tôi không ngờ người con gái bất hạnh trên cầu là O. O trở về nhà sau buổi học, có những tên con trai theo chọc ghẹo, O luống cuống đâm vào chiếc xe nhà binh. Khi tôi về nhà, người em của O vừa kể cho tôi nghe những điều đó, vừa khóc. Tôi lên bệnh viện thăm O. Bấy giờ trời bắt đầu tối. O bị thương nặng và chưa tỉnh. Tôi chỉ được nhìn O xa xa… Người y tá chưa cho vào thăm. Đêm về, tôi thức trắng, hút những điếu thuốc, thở khói ra cửa sổ, nghĩ đến cành hoa trắng, đến những ngày đã qua. O mười bảy tuổi…
Sáng lại, tôi đến thăm O. Nắng trên hành lang bệnh viện. O nằm trên giường, xanh xao, ngó tôi, gượng cười. Tôi đến ngồi đầu giường, nhìn O, không nói gì cả. Người ta phủ lên mình O một lằn chăn trắng. Mái tóc đen dịu mát của O xõa trên mặt gối. Đôi vú bé nhỏ của O mong manh một cách tội nghiệp dưới lằn chăn mỏng. Tôi nắm lấy tay O. Bàn tay mềm và lạnh. Một lát, những ngón tay O víu vào tay tôi. Tôi đau đớn hết sức. Lần đầu tiên tôi muốn khóc vì O. Tôi sờ lên tóc O, cười buồn bã. O gượng cười, đôi mắt long lanh. Tôi không nói gì và hôn thật nhẹ lên trán. O thở đều đều. Tôi biết có những đôi mắt đang nhìn tôi và O. Tôi đặt môi lên tay O, muốn nói một lời nhưng không tìm ra lời mà nói. Tôi biết O mười bảy tuổi và chưa hề ai hôn lên đôi môi trinh trắng của O…
Buổi trưa O kiệt sức. Buổi chiều thì người con gái đó qua đời. Buổi tối, tôi một mình lên cầu Tràng Tiền, dừng lại giữa cầu nhìn lên vòm trời đầy sao. Ánh trăng thượng tuần vàng và rầu rĩ. Một khoảng trống trước mặt. Và thành phố cũng đã bắt đầu tuột khỏi vòng tay. Lần đầu, tôi mang cảm tưởng hai dãy phố đứng dậy đuổi tôi ra khỏi ngõ.
_______________
Đáng lẽ tôi phải kể cho O nghe chuyện về cái lô cốt trên ngọn đồi phía tây thành phố Huế. Tôi biết sẽ còn nhiều đứa trẻ leo lên đó chơi và để lại những viên sỏi. Tôi biết sẽ còn nhiều họa sĩ mang giá vẽ lên đó để vẽ dòng sông dưới chân đồi. Nhưng tôi biết ít người thắc mắc như O, thắc mắc không biết những người lúc trước sống trong cái lô cốt này có nóng không. Bây giờ O không còn. Tôi chẳng biết kể với ai chuyện muốn kể. Mà thật ra, chuyện vô duyên và không có gì. Đó là điểm làm tôi ngại ngần. Nếu O còn, chắc O cũng đồng ý với tôi. Chuyện đã xưa, đã thuộc về cái thời gian đã qua, đã chìm trong trí nghĩ mọi người. Cái gì rồi cũng trôi qua. Điều bi đát là có những lúc thức tỉnh, chúng ta ý thức sáng suốt điều đó và không làm gì được.
Chuyện rằng hồi gần đình chiến – năm 1954 – trong lô cốt này có năm người lính và một hạ sĩ quan. Đêm đình chiến cả sáu người bị giết. Người ta tàn sát sáu người để chiếm lấy những khẩu súng vô tri. Không ai nghe một tiếng súng vì người ta giết sáu người bất hạnh ấy bằng dao găm và lưỡi lê. Cố nhiên sự việc xảy ra trước nửa đêm, trước giờ đình chiến. Sáng lại, người ta thấy sáu cái xác còn tươi. Riêng tôi, tôi thấy có cái gì ám muội trong ấy. Tôi tự hỏi biết đâu cuộc tàn sát xẩy ra sau giờ đình chiến, sau giờ mà những người trong lô cốt chợt thấy an toàn không cần phòng vệ? Chuyện chỉ có vậy. Chiến tranh thì có lắm chuyện đáng ghê sợ hơn thế. Tôi biết rằng không ai nhớ đến chuyện ấy nữa. Kể cả tôi. Phải, cái gì rồi cũng sẽ qua đi! Như cái chết của O sẽ nguôi trong trí nhớ mọi người. Không ai còn nhớ một người con gái đã sống mười bảy năm nơi đây, bên con đường này, thở không khí này, chưa hề có một tình yêu, và chết đi. Không ai còn nhớ một người con gái ngày hai buổi đạp xe đi về, đêm ngồi dưới ánh đèn trắng lạnh, hai tay nắm cuốn vở, hai vai gầy đến xót xa…
Cái gì rồi cũng sẽ trôi qua, như tuổi trẻ của mỗi người rồi sẽ mất. Phải, đáng lẽ tôi phải kể cho O nghe, chuyện về cái lô cốt trên ngọn đồi phía tây thành phố. Cũng như đáng lẽ tôi phải hiểu là tôi yêu O, yêu O từ lâu rồi.
1961

THÓI ĐỜI-Thơ Trần Tế Xương và Các Bài Cẩn Họa


THÓI ĐỜI
Người bảo ông điên, ông chẳng điên
Ông thương ông tiếc hoá ông phiền
Kẻ yêu người ghét hay gì chữ
Đứa trọng thằng khinh chỉ vị tiền
Ở bể ngậm ngùi cơn tới lạch
Được voi tấp tểnh lại đòi tiên
Khi cười khi khóc khi than thở
Muốn bỏ văn chương học võ biền!
Trần Tế Xương

  Cẩn Họa 1 :LỠM ĐỜI
Biết điên là đã chẳng hề điên
Việc quái gì đâu phải lụy phiền(?)
Số mạt, vận xui vì cứng cổ
Thay đen đổi trắng cậy uy tiền
Nhân lương cương chính nào ra "thánh"
Ma quỷ lòn chui lại hóa "tiên"
Cười khóc trớ trêu đầy hạ giới
Cao bay xa chạy ngại Cao Biền"!"
29-2-2020
Nguyễn Huy Khôi

  2/ : LỪA GẠT KIẾM ĂN
Kiếm ăn chửa bệnh kẻ nào điên
Tâm lý, "mát dây" bị não phiền
Trần thế hồ đồ người hám của
"Cõi Trên" chẳng nệ kẻ hôi tiền
Tài năng thất học, xưng minh chủ
Chữ nghĩa sơ khai, nhận "cốt tiên"
Tự đại, cao nhân, mình đạo đức
Kiêu căng một kiếp sống bưng biền !
Mai Xuân Thanh
Ngày 29/02/2020


 3/ TÌNH ĐỜI
Đọc Xuôi:
Xuôi ngược lắm trò mãi đổi thay,
Chức danh mua ngọc túi vàng đầy.
Vui buồn bạc ít khôn cùng dại,
Kém yếu tiền nhiều, dở hoá hay.
Đời lợi đươc khôn ngoan miệng lưỡi,
Phận nghèo đau cực nhọc chân tay !
Môi son má phấn mau thành đạt…
Vôi quá bạc tình bay gió mây !

Đọc Ngược:
Mây gió bay tình bạc quá vôi,
Đạt thành mau phấn má son môi.
Tay chân nhọc cực đau nghèo phận,
Lưỡi miệng ngoan khôn được lợi đời.
Hay hoá dở nhiều, tiền yếu kém,
Dại cùng khôn ít bạc buồn vui.
Đầy vàng túi ngọc mua danh chức…
Thay đổi mãi trò lắm ngược xuôi !
Liêu Xuyên
 

 4/ : NHÂN TÌNH THẾ THÁI
Nhân tình ngẫm nghĩ gớm ghê thay!
Tiếp kết giao lưu phải túi đầy.
Có của có tiền sai vẫn đúng,
Không kim không bạc chẳng hề hay.
Túi vơi gọi bạn không nghe tiếng,
Đầy của không mời cũng vói tay.
Bạn tác trước nay sao vậy cả?
Nghĩa ân bạc bẻo mỏng như mây!
HỒ NGUYỄN (04-3-2020)
  5/ THÓI ĐỜI ĐEN BẠC
Chuyện thế tiền tài rất đổi thay
Đem đen đổi trắng lúc tiền đầy
Không xu dính túi già mà dại
Lắm của cho rằng trẻ lại hay
Rỏng rảnh đồng kim nhiều kẻ nịnh
Xác xơ xu bạc kém nhân tài
Xưa nay lấy của đo nhân tính
Phú quý nghèo hèn sánh bóng mây
Trần Đông Thành 

 Ảnh: Từ Wikipedia
1/Chòi canh trường thi Nam Điinh khoa Đinh Dậu 1987
2.Căn nhà phố Hàng Nâu nơi TX sinh ra và lớn lên (nay thuộc đường Minh Khai...,đã xây mới)
3/ Mộ TX (TP.Nam Định)
Xin góp bài cẩn  họa
   MONG ÁNH DƯƠNG HỒNG
Ngẫm nghĩ thêm buồn lại giận thay
Thói đen đời bạc nhởn nhơ đầy
Quan trường nhấm gặm tìm đâu chính
Dân thị gian lừa hết cả hay
Mượn vía đồng tiền nhơ cái mặt
Núp bài đường mật nhớp đôi tay
Lối gìn trung hậu nhiều gai góc
Mong ánh dương hồng ló đuổi mây .
Trần Như Tùng



Tiếng Chào

Một nữ công nhân làm việc tại một xí nghiệp chế biến thịt đông lạnh. Một buổi chiều, khi đã hoàn thành công việc, như thường lệ, cô đi vào kho đông lạnh để kiểm tra thêm một chút trước khi về. Đột nhiên, cửa phòng tự động bị đóng xập lại ! Cô bị nhốt ở bên trong mà không một ai biết. Cô vừa hét đến khản cả cổ họng, vừa đập vào cánh cửa rầm rầm, với hy vọng sẽ có người nghe được mà đến cứu. Nhưng vẫn không có ai nghe thấy. Lúc này, tất cả công nhân đã tan ca. Toàn bộ nhà máy đều yên tĩnh.
                               ***
Đến 6 giờ chiều thì cô đã bị lạnh cóng người, tuyệt vọng và đau khổ, chỉ biết cầu nguyện, khóc tấm tức. Thế rồi, đang lúc cô tưởng như không thể chịu đựng được nữa, thì bất ngờ cánh cửa xịch mở, người bảo vệ của xí nghiệp đang đi tuần tra, nghe tiếng kêu đã kịp đến cứu cô ra ngoài thoát chết !

Cô công nhân đáng thương mếu máo khóc vì vui mừng, níu lấy ông bảo vệ già để hỏi do đâu mà ông lại biết cô bị kẹt ở trong kho để  đến cứu, mặc dù đây không phải là khu vực ông chịu trách nhiệm quản lý. Ông bảo vệ mỉm cười trả lời:

“Cô ơi, tôi làm việc ở nhà máy này đã 35 năm rồi. Mỗi ngày đều có mấy trăm công nhân ra ra vào vào. Nhưng cô là người duy nhất trong những năm gần đây, ngày nào sáng sớm vào đến nhà máy thế nào gặp tôi ở cổng, cô cũng chào hỏi tôi, và rồi buổi tối tan tầm ra về, ngang qua nhà bảo vệ, cô lại chào tạm biệt tôi. Trong khi đó tất cả mọi người, từ giám đốc đến các công nhân, cứ vội vào rồi lại vội đi, xem như không nhìn thấy tôi vậy.

Hôm nay, tôi biết rõ ràng buổi sáng cô có đi làm, bởi vì sáng sớm cô còn nói “Cháu chào bác !” Nhưng sau khi tan tầm buổi chiều, tôi có ý chờ mà vẫn không nghe thấy tiếng cô chào với câu nói dễ thương quen thuộc: “Tạm biệt bác, hẹn ngày mai gặp lại bác nhé !” Thế là tôi thấy lo lo, quyết định đi vào trong nhà xưởng tìm xem thế nào. Cuối cùng, tôi nghe thấy tiếng khóc, và tìm thấy cô ở trong kho đông lạnh…”

Hãy luôn khiêm tốn, nhã nhặn, quan tâm, yêu thương, và tôn trọng những người chung quanh mình. Bởi vì chúng ta không thể biết được sự tình gì sẽ xảy ra cho mình vào ngày mai.

Mai Trà lược dịch(daikynguyen)


Dam Ho chuyển

DANH HIỆU THI NHÂN- Đỗ Chiêu Đức


Những người nghiên cứu và say mê thơ Đường, thường hay kháo nhau về những giai thoại xoay quanh các thi nhân của thời đại nầy. Trong số các giai thoại đó, chuyện thường được nhắc đến nhiều nhất là danh xưng của các thi nhân, như  Thi Tiên là Lý Bạch, Thi Thánh là Đỗ Phủ và Vương Duy là Thi Phật, còn một danh hiệu cao quý thường gây tranh cải là Thi Thiên Tử. Vậy, ai là Thi Thiên Tử của thời đại hoàng kim của thi ca nầy ?. Chính là Vương Xương Linh đó, có giai thoại cho rằng Thi Thiên Tử là Vương Chi Hoán, vì trong một lần cá cược, Vương Xương Linh bị thua, cho nên mới nhường chức Thi Thiên Tử lại cho Vương Chi Hoán, nhưng đây chỉ là chuyện các thi sĩ vui đùa với nhau mà thôi, xin mời nghe giai thoại mà dân gian thường truyền khẩu sau đây.....

          Trong thời Khai Nguyên đời Đường, các thi nhân Vương Xương Linh, Cao Thích, Vương Chi Hoán đồng nổi danh ngang nhau. Lúc bấy giờ tuy đời sống, hoàn cảnh của mỗi người mỗi khác, nhưng họ vẫn thường hay đi chơi chung với nhau.
          Một ngày kia, trời lạnh, tuyết rơi nhẹ, ba vị thi nhân cùng đến uống rượu tại Kỳ đình. Bỗng nhiên có các linh quan (con hát) ở Lê viên, độ hơn mười người, cũng lên lầu dự tiệc. Nhân đó, ba vị thi nhân đồng hẹn nhau tránh khỏi bàn ngồi, đến bên lò sưởi trong góc để nghe ngóng.
         Trong chốc lát, có bốn cô ca kỹ lần lượt kéo đến. Các cô đều rất xa hoa diễm lệ, yêu kiều khả ái. Tất cả mọi người cùng tấu nhạc và bắt đầu hát, các bài hát đều là những tác phẩm nổi danh đương thời.
          Vương Xương Linh cùng các bạn ước hẹn với nhau rằng: "Bọn chúng ta hiện nay đều là những người có tiếng trên thi đàn, nhưng việc hơn kém chưa định được. Nay cứ lặng nghe các linh quan ngâm thơ và hát những bài thơ  thuộc Nhạc Phủ, xem thơ của ai được ngâm và hát nhiều nhất thì người ấy sẽ là Thi Thiên Tử nhé ! ".
          Một lúc sau, các linh quan cử nhạc, một cô đào gỏ nhịp hát lên rằng:

         Hàn vũ liên giang dạ nhập Ngô                寒雨連江夜入吴,
         Bình minh tống khách Sở sơn cô             平明送客楚山孤.
         Lạc Dương thân hữu như tương vấn,     洛楊親友如相問,
         Nhất phiến băng tâm tại ngọc hồ.           一片冰心在玉壶!


 
         Ban đêm đi thuyền vào đất Ngô trong khi mưa lạnh giăng giăng ngang sông. Sáng sớm mai tiễn khách chỉ có mỗi ngọn núi Sở cô quạnh. Nếu bạn bè thân thích ở Lạc Dương có hỏi thăm, (thì xin anh đáp rằng ) Lòng tôi như một mảnh băng trong trắng ở trong bình ngọc vậy.
        Đó chính là bài " Phù Dung Lâu Tống Tân Tiệm " của Vương Xương Linh, nên khi ...
        Nghe xong, Vương Xương Linh mỉm cười, đưa tay lên vẽ trên tường một dấu hiệu, nói: "Nhất tuyệt cú!". Lại một cô khác ngâm rằng:

             Khai khiếp lệ triêm ức             開箧淚沾臆
             Kiến quân tiền nhật thư         見君前日書
             Dạ đài hà tịch mịch                 夜台何寂寞
             Do thị Tử Vân cư.                    猶似子雲居


                                                                 Khốc Đơn Phụ Lương Cửu Thiếu Phủ
          Mở hộp ra mà nước mắt ướt đầm trên ngực, vì nhìn thấy bức thư của chàng ngày trước. Chốn dạ đài hiu quạnh biết bao nhiêu, nhưng nơi đó vẫn là chỗ ở của chàng Tử Vân (tức Dương Hùng ) đã mất .

          Đó chính là bài " Khốc Đơn Phụ Lương Cửu Thiếu Phủ " của Cao Thích. Nên khi nghe xong...
          Cao Thích đưa tay lên vách vẽ một vòng, nói: "Nhất tuyệt cú!"

          Tiếp đến một cô khác cũng gõ nhịp ngâm rằng:

        Phụng trửu bình minh kim điện khai   奉帚平明金殿開
        Tạm tương đoàn phiến cộng bồi hồi    暫将團扇共徘徊
        Ngọc nhan bất cập hàn nha sắc          玉颜不及寒鸦色
        Do đới Chiêu Dương nhật ảnh lai.       犹带昭陽日影來!


      
          Buổi sáng cầm chổi quét khi cửa điện vàng vừa mở ra, tay mân mê cây quạt mà trong dạ lại bồi hồi. Mặt ngọc còn không bằng cả nhan sắc của con quạ lạnh, (vì quạ) còn được hưởng ánh nắng mặt trời ở điện Chiêu Dương mà bay đến đây ! Đó là bài " Trường Tín Thu Từ " cũng của Vương Xương Linh ...

          Nghe xong, Vương Xương Linh lại đưa tay lên vẽ lên tường, nói: "Nhị tuyệt cú!". Lại một cô khác đứng lên gỏ nhịp cất tiếng ngâm :

        千里黃雲白日曛, Thiên lý hoàng vân bạch nhật huân,
        北風吹雁雪紛紛.   Bắc phong xuy nhạn tuyết phân phân.
        莫愁前路無知己, Mạc sầu tiền lộ vô tri kỷ,
        天下誰人不識君。 Thiên hạ hà nhân bất thức quân ?!
 

      
          Ngàn dặm mây ngã màu vàng che mờ cả mặt nhựt. Gió bấc thổi cho chim nhạn bay về nam và tuyết rơi phơi phới. Thôi bạn hãy lên đường đi đi, đừng buồn là phía trước mặt không có người tri kỷ. Vì trong thiên hạ nầy ai là người không biết đến bạn đâu !?  Đó là bài " Biệt Đổng Đại " của Cao Thích, nên anh ta lại giơ tay lên ra dấu và điểm : " nhị Tuyệt cú !".
          Bốn cô đã ngâm bốn bài, toàn là tác phẩm của Vương Xương Linh và Cao Thích.
          Vương Chi Hoán thẹn quá, nhưng tự nghĩ rằng thơ của mình nổi danh đã lâu, bèn nói với hai người kia rằng: "Bọn này đều là những nhạc quan không theo kịp thời điểm, những bài họ hát đều là ngôn từ quê mùa của vùng Ba Thục. Còn những khúc hát như Dương xuân Bạch tuyết thì bọn phàm phu tục tử này có dám nói đến đâu ?" Bèn chỉ vào một trong những ca kỹ đẹp nhất bọn, nói: "Đến lượt cô này hát, nếu như không phải là thơ của ta, ta nhất định không tranh đua với các anh nữa. Còn nếu như đúng là thơ của ta, thì các anh phải tôn ta làm Thi THIÊN TỬ nhé !". Nói xong cả bọn vui vẻ cười đợi. Phút chốc, đến lượt cô đào đẹp nhất bọn, búi tóc song hoàn, cất tiếng ca réo rắt :

       Hoàng Hà viễn thướng bạch vân gian   黄河逺上白雲間
       Nhất phiến cô thành vạn nhận san       一片孤城萬仞山
       Khương địch hà tu oán dương liễu        姜笛何須怨楊柳
       Xuân phong bất độ Ngọc Môn Quan.    春風不度玉門関
   



          Sông Hoàng Hà chảy từ nơi xa tít trong khoảng mây trắng. Một mảnh thành trơ trọi giữa núi cao muôn nhận (đơn vị đo lường thời xưa, ba thước là một nhận). Sáo Khương đừng thổi bài "Oán dương liễu" nữa, vì gió xuân kia cũng không đưa (tiếng sáo) qua được Ngọc Môn Quan đâu. Đúng là bài " Lương Châu Từ " nổi tiếng của Vương Chi Hoán, nên khi cô đào vừa dứt tiếng hát thì ...
           Vương Chi Hoán bèn vỗ tay cả cười nói với hai bạn rằng : " Các anh thấy đấy, ta nói có sai đâu, ta quả là chơn mạng Thi THIÊN TỬ đó nhé !". Cả bọn cùng cả cười chuốc rượu uống mừng.
           Inline image

           Các linh quan không rõ đầu đuôi câu chuyện, đều hỏi: "Chẳng hay chư vị vui cười chuyện gì thế?" Vương Xương Linh và các bạn liền thuật rõ mọi việc. Các linh quan đồng thưa rằng: "Bọn tục nhân chúng tôi không nhận ra được những bậc cao nhã, xin được muôn vàn ngưỡng mộ!" Xong tất cả đều ngồi vào bàn tiệc cùng vui vẻ uống say  đến sáng.
           Nhân chuyện nầy, mới có giai thoại cho rằng Vương Chi Hoán cũng là Thi Thiên Tử là vì vậy !.....

          Kính mời Quý Vị xem  thêm tài liệu bổ sung sau đây :

          
詩天子指诗坛的领袖。 唐 诗人 王昌龄 、 王维 和 李白 都有此誉称。 清 陆凤藻 《小知录·文学》:“ 王昌龄 集, 王维 诗天子, 杜甫 诗宰相。” 清 宋荦 《漫堂说诗》:“大抵各体有‘初’、‘盛’、‘中’、‘晚’之别,而三 唐 七絶,并堪不朽。 太白 、 龙标 ( 王昌龄 )更有‘诗天子’之号。” 郑振铎 《插图本中国文学史》第二五章八:“ 王昌龄 字 少伯 , 京兆 人,与 高适 、 王之涣 齐名,而 昌龄 独有‘诗天子’的称号。”
          Thi Thiên Tử ( Vua trong thơ )  chỉ lãnh tụ trên Thi Đàn. Các thi nhân Vương Xương Linh, Vương Duy và Lý Bạch đều có cái danh xưng danh dự nầy. Theo Lục Phụng Tảo đời Thanh " Văn học- Tiểu tri lục " thì : " Theo Vương Xư
ơng Linh tập, Vương Duy là Thi Thiên Tử, Đỗ Phủ là Thi Tể Tướng. "Trong " Mãn đường thuyết thi " đời Thanh thì : " Đại đễ các thể đều phân biệt SƠ, THỊNH, TRUNG, VÃN, mà tam Đường thất Tuyệt, đều có thể  nói là bất hủ hết được. Thái Bạch, Long Tiêu ( Vương Xương Linh ) lại có danh hiệu là "Thi Thiên Tử ".  Theo điều thứ 25 chương 8 trong " Tháp đồ bổn TRUNG QUỐC VĂN HỌC SỬ " của Trịnh Chấn Đạc viết : " Vương Xương Linh tự Thiếu Bá, người đất Kinh Triệu , nổi danh ngang hàng với Cao Thích, Vương Chi Hoán, nhưng Vương lại có danh xưng độc hữu là " THI THIÊN TỬ ".
     

        Danh Hiệu của các thi nhân đời Đường như sau :

1.  詩仙/詩俠:李白   Thi Tiên, còn gọi là Thi Hiệp : Lý Bạch. 
Giai Thoại Văn Chương : NƯỚC CHẢY ĐÁ MÒN Lý Bạch và Vũ Tuấn Chiêu  
2.  詩聖/詩史:杜甫   Thi Thánh hay Thi Sử : Đỗ Phủ. 
Mời xem Bài Thơ Khúc Giang 
                            Bài"BẠC MỘ" 
 
3.  
詩豪:劉禹錫       Thi Hào : Lưu Vũ Tích.
4.  詩霸:白居易       Thi Bá : Bạch Cư Dị. 
  Xem :  THÁI LIÊN KHÚC Bạch Cư Dị  
5.  詩鬼/鬼才:李賀   Thi Quỷ hay Quỷ Tài : Lý Hạ. 
Xem :THI QỦY : Lý Hạ
6.  
詩佛:王維          Thi Phật : Vương Duy.
7.  
詩囚:孟郊          Thi Tù : Mạnh Giao.
8.  
詩奴:賈島          Thi Nô : Giả Đảo.
9.  
詩骨:陳子昂         Thi Cốt : Trần Tử Ngang.

THI CỐT : Trần Tử Ngang
10.
詩狂:賀知章        Thi Cuồng : HạTri Chương.
11.
詩傑:王勃           Thi Kiệt : Vương Bột.
12.
詩天子:王昌齡       Thi Thiên Tử : Vương Xương Linh

KHUÊ OÁN - VƯƠNG XƯƠNG LINH.
13.
詩腸:張籍           Thi Trường : Trương Tịch. 

 15.詩囊 : 齊己           Thi Nang : Tề Kỷ. 
                                                       Đỗ Chiêu Đức                                                                                                       Biên khảo



Làm người, nhân phẩm một thứ quan trọng hơn cả năng lực

Nhân phẩm, là danh thiếp của mỗi người khi hành tẩu, cũng là giấy thông hành tốt nhất trong cuộc sống. Một người nhân phẩm không tốt, suy cho cùng rồi cũng gieo nhân nào gặp quả nấy.

Làm người, nhân phẩm một thứ quan trọng hơn cả năng lực
Con người sống trên đời, có một thứ quan trọng hơn cả năng lực, đó chính là nhân phẩm! Một người, cái vốn tốt nhất, không phải là dung mạo hay tiền bạc, cũng không phải là năng lực hay địa vị, mà là nhân phẩm! Bối cảnh gia đình, diện mạo không quan trọng, chân thành lương thiện mới quan trọng; năng lực tài cán không phải là nhất, nhân phẩm đức hạnh mới là quan trọng nhất! Dù cho dung mạo như tiên nhưng lời nói ra người khác nghe không lọt tai, cũng sẽ không được mọi người yêu quý; dù tài cán tuyệt đỉnh, nhưng làm việc suốt ngày tính mưu nhẩm kế, cũng sẽ không được trọng dụng.
Chuyên môn quyết định sự tồn tại của bạn, nhân phẩm quyết định quan hệ xã hội của bạn, cái gọi là “trước khi làm việc hãy làm người”, ý muốn nói nhân phẩm tốt chính là cơ sở! Năng lực tốt, có lẽ quyết định ai nhận ra bạn, nhưng nhân phẩm tốt mới có thể quyết định ai muốn làm bạn với bạn. Năng lực có thể khiến người khác ngưỡng mộ bạn, nhưng nhân phẩm mới là thứ khiến người khác tôn trọng bạn.
Một người có xứng đáng để thâm giao hay không, hãy nhìn bộ dạng anh ta lúc tức giận nhất, nhìn bộ dạng anh ta lúc khó khăn nhất, nhìn bộ dạng anh ta lúc thất vọng nhất, và nhìn bộ dạng anh ta khi xảy ra xung đột lợi ích với người khác. Nếu bộ dạng anh ta những lúc như vậy, bạn cảm thấy vẫn có thể tiếp nhận, vậy thì bạn có thể tiếp tục là bạn với anh ta. Một người vào lúc thuận buồm xuôi gió, không khó để ngụy trang thành một người quân tử, chỉ khi xảy ra những sự việc ngoài ý muốn mới có thể nhìn ra nhân phẩm thực sự của anh ta.
Bởi lẽ nhân phẩm là phong thái, là gốc rễ sâu bên trọng nội tâm của một người. Một người có nhân phẩm tồi, ngay cả khi ăn mặc có rực rỡ tới đâu cũng không thể che lấp được hết bộ dạng thật sự của mình. Cho dù hiện tại họ đối xử với bạn rất tốt, cũng khó có thể nói được ngày nào sẽ bộc lộ bản chất thực sự với bạn. Chỉ những người có nhân phẩm tốt, mới xứng đáng để kết thâm giao.
Nhân phẩm, là vô lăng của mỗi người. Chỉ khi phương hướng đúng thì mỗi bước bạn đi mới là sự tiến bộ. Còn nếu phương hướng sai, đường đi càng nhiều ngược lại càng xa với điểm đến. Nhân phẩm tốt có thể khiến đường bạn đi ngày càng rộng mở, nhân phẩm tồi sẽ chỉ khiến đường bạn đi càng ngày càng hẹp.
Nhân phẩm, là danh thiếp của mỗi người khi hành tẩu, cũng là giấy thông hành tốt nhất trong cuộc sống. Một người nhân phẩm không tốt, suy cho cùng rồi cũng gieo nhân nào gặp quả nấy. Ông chủ sợ họ ngáng chân, đồng nghiệp sợ họ có ý đồ, bất luận năng lực của họ có giỏi tới đâu, cũng vĩnh viễn không khiến người khác yên tâm, tin tưởng. Năng lực không lấy nhân phẩm làm nền tảng cũng giống như dòng nước không có nguồn, cây không có rễ, dù có thể dựa vào một vài mánh khóe có được những lợi ích tạm thời, thì cho tới cuối cùng vẫn sẽ đứng không được vững, đi không được xa.
Nhân phẩm lớn hơn năng lực, đức hạnh “nặng” hơn tài cán! Thành công, tới từ sự tích lũy dần dần chứ không phải vận may nhất thời. Quan hệ xã hội, tới từ sự chân thành dài lâu chứ không tới từ sự tâm cơ tính toán. Một người suốt ngày chỉ tính toán chi li, giả nhân giả nghĩa, dù năng lực có giỏi tới đâu rồi cũng sẽ bị xã hội đào thải. Tài đức vẹn toàn, ắt phải “lấy chữ đức làm tiên”, năng lực có quan trọng tới đâu cũng không qua được nhân phẩm.
Nhân phẩm tồi, dù bạn có bản lĩnh lớn lao tới đâu, cũng không có ai muốn lại gần. Bất kể là trong làm ăn hay cuộc sống, bất luận là trong hợp tác hay kết giao bạn bè, chỉ khi nhân phẩm tốt, mới có cái gọi là đồng tâm hiệp lực giữa người với người, chỉ khi nhân phẩm tốt, mới có người tin tưởng giao trọng trách cho bạn gánh vác. Muốn thành tài, trước tiên phải lập đức, muốn giàu có, trước tiên phải có “phẩm”, người có tốt, nhân duyên và tài lộc mới tìm đến. Nhân phẩm mới là tấm kim bài miễn tử, là học lực cao nhất của một người.
Như Nguyễn
(Trí Thức Trẻ)

Thứ Tư, 4 tháng 3, 2020

Ừ Về Nhặt Lá Mơ - Thơ Thuyên Huy

Để nhớ Thu Hồng

Ừ thôi về nhặt lá mơ
Của thu ngày cũ cũng bờ sông xưa
Vàng phai mấy nhánh cúc thưa
Lẻ loi bóng nhạn giữa mưa gọi người
Xếp tay lá ủ hương đời
Chút tình lệ muộn ngậm ngùi tiễn nhau
Khóc ư thu vẫn thu sầu
Người ngồi yên đó buồn dâu bể buồn
Sông xưa dòng cứ xa nguồn
Về đâu sao để nửa hồn thương đau
Tìm đâu những lá mơ đầu

Thuyên Huy
Toowoomba, chiều đầu thu trong sân trường University of Southern Queensland 2018
Thơ Thuyên Huy :Tôi Góp Mùa Thu Trả Lại Người

KÍNH MỜI XEM và HỌA (NẾU THÍCH) THƠ TRĂNG THU của HỒ NGUYỄN

TRĂNG THU Mây buồn kéo đám bám che trăng, Cuội ngóng chờ trông bóng chị Hằng. Chim mất tổ sầu kêu thảm thiết, Lá buông cành chiếc rớt tung ...