Hiển thị bài đăng được sắp xếp theo mức độ liên quan cho truy vấn Đỗ Phủ. Sắp xếp theo ngày Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị bài đăng được sắp xếp theo mức độ liên quan cho truy vấn Đỗ Phủ. Sắp xếp theo ngày Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 23 tháng 10, 2022

Mùa Thu Trong Đường Thi - Lê Đình Thông

Cách đây khoảng 1300 năm, các nhà thơ Trung Quốc cũng trải qua mấy chiều tàn nắng nhạt, trong tiết thu đìu hiu, làm phai tàn lá ngô đồng. Cảnh vật tương tự như mùa thu viễn xứ vào lúc này. Thời gian tuy có chia lìa, đông tây cách biệt thăm thẳm. Nhưng mùa thu vẫn muôn thuở với bấy nhiêu tâm sự mà các thi nhân gieo vần, nói hộ.
*
Bộ Toàn Đường Thi tập hợp trên hai ngàn thi nhân, với gần năm chục ngàn bài thơ, là một công trình đồ sộ. Trong số báo này, mùa thu Trung Quốc được gom lại trong vài trang giấy qua ba thi hào thời Thịnh Đường (713-766): Lý Bạch, Đỗ Phủ và Bạch Cư Dị. Như vậy là bỏ qua được ba thời: Sơ Đường (618-713), Trung Đường (766-835) và Vãn Đường (836-905). Thời Thịnh Đường tuy ngắn hơn ba thời Sơ, Trung, Mạt, nhưng lại dài hơn bất cứ thời kỳ nào trong văn học Trung Quốc, có chiều dài “vạn trượng": vượt thời gian; vượt tới hai lần không gian. Vì ngoài không gian địa lý, thi ca Thịnh Đường lắng sâu tận cõi lòng.

Tiếp tục công việc gạn lọc, chúng tôi giữ lại ba nhà thơ. Trong thi ca của mỗi thi nhân, xin bỏ qua hai khuynh hướng “biên tái” và “xã hội.” Chỉ còn lại khuynh hướng “điền viên.” Và trong “điền viên” xin giữ vầng trăng thu.

I – Mùa thu trong thơ Lý Bạch, Đỗ Phủ và Bạch Cư Dị
Hàn Dũ có câu thơ :
Lý, Đỗ văn chương tại,
Quang diễm vạn trượng trường.
(Văn chương Lý Bạch, Đỗ Phủ còn, Ánh sáng dài vạn trượng.)

Thơ Lý Bạch tự nhiên, phóng khoáng. Thơ Đỗ Phủ điêu luyện, gần gũi với nhân sinh. Bạch Cư Dị tiếp nối khuynh hướng hiện thực, chủ trương:
Văn chương hợp vi thời nhi trước,
Thi ca hợp vi sự nhi tác.
(Văn chương vì thời thế, Làm thơ vì hiện thực.)
Các khuynh hướng vừa kể được thể hiện qua thơ thu của ba thi hào thời Thịnh Đường: Lý Bạch, Đỗ Phủ và Bạch Cư Dị.
1) Lý Bạch (701-762):
Tiểu sử: Ông sinh đời Đường Trung Tông (hơn Đỗ Phủ một giáp), mất đời Đường Đại Tông. Năm 25 tuổi, chu du khắp chốn. 42 tuổi được tiến cử vào kinh đô (Trường An). 55 tuổi: giúp Lý Lân chống An Lộc Sơn. Nhưng Túc Tông sợ em là Lý Lân thắng sẽ cướp ngôi, sai đại quân tiêu diệt Lý Lân. Lý Lân bị giết. Lý Bạch bị đầy biệt xứ. Một năm trước khi chết, ông theo Lý Quang dẹp loạn An Lộc Sơn. Giữa đường bị bệnh, mất năm 62 tuổi. Theo Ngụy Hạo, ông chết trong đầm nước. Theo Vương Đĩnh Bảo, Lý Bạch bận áo gấm, nhẩy xuống sông Thái Thạch, ôm trăng mà chết.
Mùa thu trong thơ Lý Bạch: Khi sinh tiền, Lý Bạch sáng tác hai chục ngàn bài thơ, nay còn lưu truyền 1800 bài (chưa tới 1/10). Trong kho tàng đồ sộ đó, các bài thơ viết về mùa thu chỉ như lá mùa thu. Như bài Đại thu tình. Sau đây là hai bài thơ thu: Thu tịch lữ hoài (Tối mùa thu nhớ nhà) và Thu phố ca (Bài ca Thu phố). Trước hết là Thu tịch lữ hoài, kèm theo bản dịch của Tản Đà:

Lương phong độ thu hải,
Xuy ngã hương tứ phi.
Liên sơn khứ vô tế,
Lưu thủy hà thời qui.
Mục cực phù vân sắc,
Tâm đoạn minh nguyệt huy.
Phương thảo yết nhu diệm,
Bạch lộ thôi hàn y.
Mộng trường Ngân hán lạc,
Giác bãi thiên tinh hi.
Hàm bi tưởng cựu quốc,
Khấp hạ thùy năng huy?
Thơ dịch của Tản Đà:
Lạnh lùng gió vượt bể thu,
Hồn quê theo gió như vù vù bay.
Chạy dài dãy núi liền mây,
Nước trôi trôi mãi có ngày về chăng?
Đám mây vút mắt xa chừng,
Đứt tươm khúc ruột dưới vừng trăng soi.
Cỏ thơm đẹp mướt thôi rồi,
Áo may mặc rét giục người móc sa!
Giấy mơ rơi giải Ngân hà,
Sao thưa lác đác tỉnh ra khắp trời.
Đoái thương nước cũ ngậm ngùi,
Khóc thương giọt lệ lau chùi đố ai?
*
Bài thơ thứ hai của Lý Bạch tên là Thu phố ca, chỉ có bốn câu. Tôi mạo muội dịch thoát, nhưng vẫn giữ nguyên thể tứ tuyệt. Tuyệt là dứt. Lý Bạch chọn hình thức thi ca này, phải chăng vì cuối bài, nhà thơ vẽ ra mùa thu tuyệt lộ: Hà xứ đắc thu sương? (Còn chỗ nào để lọt sương thu):

Bạch phát tam thiên trượng,
Duyên sầu tự cá trường.
Bất tri minh kính lý,
Hà xứ đắc thu sương?
*
Tóc trắng xõa ê chề,
Sầu đời dài lê thê.
Gương trong mà mù mịt,
Sương thu che lối về?
Trong hai bài thơ thu của Lý Bạch, hai câu kết đều được đặt ở thể nghi vấn. Nghi vấn, với rất nhiều nghi ngại. Chúng ta mến cả hai, có lẽ vì mái tóc đã phủ đầy sương thu. Trong câu mở đầu bài Tương tiến tửu, Lý Bạch xót xa cho mùa thu nhân sinh:
Biết chăng ai! Sông Hoàng Hà ngọn nước tại lưng trời, tuôn đến bể khôn vời lại được.
Biết chăng nữa! Đài gương mái tóc bạc, sớm như tơ mà tối đã như gương. (Vô danh dịch)
Trong bài Thu tịch lữ hoài, Lý Bạch nhớ nhà (lữ hoài). Như nỗi nhớ nhà của chúng ta. Trong câu kết, tác giả “ôm mối sầu khi chạnh nhớ đến cố quốc” (Hàm bi tưởng cựu quốc).
Đó là cách nhìn mùa thu của trích tiên (tiên đầy xuống trần). Thơ thu của Lý Bạch là thơ huyền ngoại âm, vị ngoại vị (âm thanh ngoài dây tơ, mùi vị ngoài mùi vị). Thu cảnh chỉ là cái cớ để nói về thu tâm. Khuynh hướng này có gì khác biệt với Đỗ Phủ?
2) Đỗ Phủ (712-770):
Tiểu sử: Quê quán tỉnh Hà Nam, Đỗ Phủ xuất thân từ một gia đình quan lại nên nhiều dịp đi đây đó. Ông lận đận trên đường khoa bảng. Tới lúc được một chức quan nhỏ thì có loạn An Lộc Sơn. Ông có lần can gián vua nên bị thất sủng. Đỗ Phủ từ quan, dắt díu vợ con chạy loạn. Những năm cuối đời, ông trôi giạt quanh hồ Động Đình, nghèo đói và bệnh tật. Lý Bạch chết chìm dưới sông. Còn Đỗ Phủ qua đời trên chiếc thuyền nan, bồng bềnh trên sóng nước. Bên Pháp, vào năm 1190, vua Philippe Auguste đề tặng kinh thành Paris châm ngôn: Fluctuat nec mergitur (Sóng gió làm con tầu chòng chành nhưng không chìm). Sóng gió của thi nhận là ”... tiếng sóng ở trong lòng.” Nên Lý Bạch, Đỗ Phủ chia nhau hai động từ của kinh thành Ánh sáng: L'un a été battu par les flots (fluctuat). L'autre a sombré dans l'eau (mergitur). Chỉ vì thi nhân “không” không (nec) chìm (phủ định tới hai lần) nên hình hài mới chung thân ngụp lặn. Nhờ vậy, văn học mới có thơ Lý Bạch, Đỗ Phủ: Lý, Đỗ văn chương tại(Hàn Dũ).
Thơ thu của Đỗ Phủ: Trong văn học nước nhà, Nguyễn Khuyến là tác giả ba bàiThu điếu, Thu ẩm, Thu vịnh. (Trình tự rất hợp lý: thi nhân câu cá trước tiên, tiếp đó là tửu nhập, sau cùng mới gieo vần. Như vậy, làm thơ thường là chặng cuối đường tổng hợp, sau khi thi nhân đã thực hiện hai phân tích: 1) Đối cảnh (Thu điếu); 2) Đối tâm (Thu ẩm). Ở đây, Yên Đổ (Thu) điếu trước để có cá ngon mà ẩm, mà vịnh. Cộng lại vẫn là ba, giống như là Tam Nguyên).
Đỗ Phủ làm tám bài Thu hứng (Thu hứng bát thủ). Từ kỳ nhất tới kỳ bát, theo thể thất ngôn bát cú. Nếu chép ra đây cả tám bài, vị chi là 8x8 = 64, e quá dài. Vì vậy, chỉ chọn hai kỳ (bát thủ tuyển nhị): tứ và thất.
Kỳ tứ giống tình cảnh quê nhà: dinh thự có chủ mới, áo mũ người cai trị cũng khác trước. Vì vậy, tôi mạo muội “tái sinh” bài thơ. “Tái sinh,” vì bản tiếng Việt bỏ bớt địa danh Trung Quốc (Trường An). “Cuộc cờ” (dịch kỳ) trong nguyên bản đổi lại thành Bàn Cờ. Hai phần luận và kết cũng thay đổi cho thích hợp:
Văn đạo Trường An tự dịch kỳ,
Bách niên thế sự bất thăng bi.
Công hầu đệ trạch giai tân chủ,
Văn vũ y quan dị tích thì.
Trực bắc quan san kim cổ chấn,
Chinh tây xa mã vũ thư trì.
Ngư long tịch mịch thu giang lãnh,
Cố quốc bình cư hữu sở ti (tư).
*
Quê ta có phố Bàn Cờ,
Từ lâu đổi chủ treo cờ Vàng Sao.
Dinh cơ biệt thự ra vào,
Toàn là cán bộ lao xao nửa mùa.
Áo quần khác hẳn thời xưa,
Tuy thôi chinh chiến mà chưa tòng thời.
Lòng dân ly tán không ngơi,
Mùa thu lại đến chơi vơi là sầu.
Bờ sông vắng lặng đêm thâu,
Chạnh lòng tiếc nuối hàng cau quê nhà.
Trong Thu hứng bát thủ, kỳ thất là bức tranh tương phản: đối diện với trời thu bao la bát ngát là một ngư ông nhỏ bé, cô đơn:
Ao thu lạnh lẽo nước trong veo,
Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo.
(Nguyễn Khuyến)
Có gì là lạ? Ao thu là cõi người ta mịt mù hơi thu (Thu). Chiếc thuyền câu bé tẻo teo là trái tim ta (Tâm), nổi trôi trên huyết quản chằng chịt. Nên vương Sầu chỉ là: nhân > quả (principe de causalité). Nếu chiết tự:  Thu + Tâm = Sầu.
Sau đây là nguyên tác của Đỗ Phủ:
Côn minh trì thủy Hán thời công,
Vũ đế tinh kỳ tại nhãn trung.
Chức nữ cơ ti hư dạ nguyệt,
Thạch kình lân giáp động thu phong.
Ba phiêu cô mễ trầm vân hắc,
Lộ lãnh liên phòng trụy phấn hồng.
Quan tái cực thiên duy điều đạo,
Giang hồ mãn địa nhất ngư ông.
Kỳ thất không khác gì tâm sự của chúng ta. Vì vậy, tôi mạn phép “chuyển hóa” bài Đường thi qua thể lục bát:
Ao tù làm nhớ biển Đông,
Mắt sầu chạnh nhớ võ công một thời.
Trăng khuya khung cửi chơi vơi,
Trời thu lộng gió biển khơi lạnh lùng.
Bờ lau mà tưởng ngàn trùng,
Sương thu chùi sạch phấn hồng cánh sen.
Lối xưa mờ mịt cài then,
Sông hồ bát ngát thuyền men giữa dòng.
Lúc sinh thời, có lần Đỗ Phủ nhủ lòng: Thơ chưa làm kinh động lòng người thì chết chưa yên (Ngữ bất kinh nhân, tử bất hưu). Khi đọc bát thủ, Kim Thánh Thán có lời bình: Thương tâm thấu tới xương. Ngâm nga tám bài Thu hứng, lòng chợt là lau sậy lao xao. Từ lâu, cuộc sống đã hóa thân thành cây sậy Pascal. Nhưng sậy Pascal vẫn trôi dạt về phương Đông, cận kề với lau lách của Bạch Cư Dị:
Tầm Dương giang đầu dạ tống khách,
Phong diệp địch hoa thu sắt sắt.
Phan Huy Vịnh dịch là :
Bến Tầm Dương canh khuya đưa khách,
Quạnh hơi thu lau lách đìu hiu.
Hơi thu, với tiếng đàn tỳ bà buồn não nuột đã thấm vào thơ thu của Bạch Cư Dị.
3) Bạch Cư Dị (772-846):
Tiểu sử: Bảy mươi lăm năm nhân sinh của họ Bạch là ba phần tư thế kỷ giặc giã, từ giặc An Lộc Sơn tới giặc Sử Tư Minh. Ông là con vị quan nhỏ, thuở nhỏ túng thiếu. Năm 28 tuổi đậu tiến sĩ. Tính tình bộc trực, ông bị biếm làm tư mã Giang Châu, nơi có bến Tầm Dương. Bến Tầm Dương đã mở ra bến bờ mới trong thi ca Bạch Cư Dị. Ông để lại cho hậu thế gần ba ngàn bài thơ, trong đó có nhiều bài viết về mùa thu.
Thơ thu của Bạch Cư Dị: Thơ thu của Bạch Cư Dị nhiều hơn Lý Bạch, Đỗ Phủ, tự nhiên, giản dị giống như tên ông (Cư Dị). Hơi thu trong thơ ông bay rất xa, đậu lại trong hồn thơ Tản Đà. Trong hai năm 1937-38, Tản Đà (1889-1939) dịch 75 bài thơ chữ Hán, đăng trên báo Ngày Nay. Nhưng chỉ có 58 bài là Đường thi. Trong số có 38 bài của Bạch Cư Dị, chứng tỏ có mối giao hòa, “đồng thanh tương ứng” giữa Bạch Cư Dị và Tản Đà. Tản Đà dịch nhiều thơ họ Bạch, nhất là những bài viết về mùa thu. Nào là Thu trùng, Tảo thu độc dạ, Thu mộ giao cư hoài, Thu giang tống khách, Thu san, Trung thu nguyệt v.v...
Đó là chưa kể nhiều bài, tuy đầu đề không dính dáng gì đến mùa thu, nhưng chất liệu vẫn là thu sầu. Bài Văn dạ châm có câu:
Thùy gia tư phụ thu đảo bạch.
Tản Đà dịch là:
Nhà ai cô gái nhớ chồng,
Đêm thu đập lụa lạnh lùng gió trăng.
Bài Họa Đỗ lục sự đề hồng diệp có mấy chữ: đề hồng diệp (Khi mùa thu tới, lá cây phong sắc đỏ). Bài Trường hận ca có câu Thu vũ ngô đồng diệp lạc thì. Tản Đà dịch là: Thu khi mưa rụng lá ngô đồng. (Dị bản: Thu kia mưa rụng lá ngô đồng). Bài Tì bà hành có câu: Phong diệp địch hoa thu sắt sắt. Phan Huy Vịnh dịch là: Quạnh hơi lau lách đìu hiu v.v.
Sau đây là hai bài thơ thu của Bạch Cư Dị, kèm theo bản dịch của Tản Đà. Bài thứ nhất là Thu trùng (Tiếng trùng mùa thu):
Thiết thiết ám song hạ,
Yêu yêu thâm thảo lý.
Thu thiên tư phụ tâm,
Vũ dạ sầu nhân nhĩ.
Bản dịch của Tản Đà:
Tiếng đâu dưới vách kêu ran,
Lại trong đám cỏ nghe càng nỉ non.
Trời thu gái nhớ chồng son,
Mưa dầm đêm vắng ai buồn lắng tai.
Thu sầu, vì người cô phụ tưởng nhớ hình ảnh kẻ chinh phu (LưuTrọng Lư). Xin chép thêm bài Thu mộ giao cư thư hoài (Cuối thu, ở miền quê viết tả lòng mình), tác giả tự sự mối sầu thu:
Giao cư nhân sự thiểu,
Trú ngọa đối lâm man.
Cùng hạng yếm đa vũ,
Bần gia sầu tảo hàn.
Cát y thu vị hoán,
Thư quyển bịnh nhưng khan.
Nhược vấn sinh nhai kế,
Tiền khê nhất điếu can.
Thơ dịch của Tản Đà:
Ở quê, thưa việc ít người,
Giữa trưa nằm khểnh ngắm coi núi đèo.
Ngõ sâu ngán nỗi mưa nhiều,
Lạnh lùng chi sớm cảnh nghèo thêm lo.
Áo lương còn mặc mùa thu,
Ốm đau sách vẫn đôi pho chẳng rời.
Lấy chi qua sống ngày trời,
Một cần câu để bên ngòi ngồi câu.
Cả hai bài thơ thu của họ Bạch đều viết theo thể ngũ ngôn. Bài đầu: tứ tuyệt, bài sau: bát cú. Hai bài thơ thu của Lý Bạch (Thu tịch lữ hoài và Thu phố ca) cũng làm theo thể ngũ ngôn. Thu tịch lữ hoài làm theo lối thơ cổ phong (12 câu). Bài Thu phố ca: tứ tuyệt. Tiếng thu của Lưu Trọng Lư tuy là thơ mới, nhưng vẫn là năm chữ. Sự trùng hợp này sẽ được trình bầy trong phần II: Cảm nhận Đường thi.
II – Cảm nhận Đường thi 
Trong Hương Xưa, nhạc sĩ Cung Tiến có dòng nhạc nói về Đường thi. Trong Thi nhân Việt Nam, Hoài Thanh cho rằng: Thanh thế thơ Đường ở nước ta xưa nay bao giờ cũng lớn. Tôi xin thêm: nhất là thơ viết về mùa thu. Trong tâm hồn người Việt có dáng dấp mùa thu. Nhưng thu tâm được che dấu bằng nụ cười. Vì vậy, Nguyễn Văn Vĩnh mới viết: An Nam ta có một thói lạ là gì cũng cười. Theo ý chúng tôi, chân dung người Việt: bên ngoài hàm tiếu bên trong thu sầu. Nguyễn Văn Vĩnh chỉ nói hiện tượng (phénomène) mà bỏ quên ẩn tượng (noumène). Ta tiếp nhận thơ Đường viết về mùa thu chính vì mối ẩn tượng đó, được thể hiện qua Thu ca, Thu sắc và Thu học.
1. Thu Ca
Những bài vịnh thu hay đều viết theo thể ngũ ngôn. Bài thơ mới được coi là hay nhất viết về mùa thu của Lưu Trọng Lư cũng theo lối thơ năm chữ. Il pleut dans mon coeur của Verlaine là một trong những bài thơ giầu nhạc điệu trong thi ca Pháp là thơ sáu chân (hexamètre). Thể thơ ngũ ngôn đầy nhạc tính, có lẽ vì trùng hợp với cung điệu ngũ âm của quốc nhạc: Cung, Thương, Giốc, Trủy, Vũ.
Cung thương làu bậc ngũ âm,
Nghề riêng ăn đứt hồ cầm một trương.
(Nguyễn Du, Kiều)
Ta thử lập luận theo tam đoạn luận để thiết lập mối tương quan giữa mùa thu và thơ ngũ ngôn:
- Tiền đề: Mùa thu là mùa đầy nhạc điệu.
- Trung đề: Các bài thơ ngũ ngôn mùa thu giầu nhạc tính của Lý Bạch, Bạch Cư Dị thời xưa, bài thơ thu năm chữ của Lưu Trọng Lư chứng tỏ thơ ngũ ngôn có nhiều thanh âm.
- Kết luận: Vì vậy, nhiều bài thơ thu được viết theo thể ngũ ngôn.
Mặt khác, không thể tách thơ thu ra khỏi nhạc thu. Trong âm nhạc Việt Nam, nhiều bài thơ thu đã được phổ nhạc.
2. Thu Sắc
Một năm có hai mùa màu sắc phong phú: mùa xuân và mùa thu. Màu sắc mùa xuân là của đất trời nên tươi thắm: màu vàng của hoa mai, hoa cúc rộn ràng; màu hồng của hoa đào reo vui. Còn màu sắc mùa thu nhuốm màu nhân sinh: màu vàng (lá ngô đồng), màu đỏ (lá cây phong) mùa thu gợi sầu, ghi dấu năm tháng tàn phai hay gợi lại chân trời cũ mờ khuất:
Màu thời gian không xanh,
Màu thời gian tím ngắt.
Đoàn Phú Tứ
Một năm có bốn mùa. Hai kỳ xuân thu biểu hiện nhân sinh. Mùa xuân hướng tới tương lai. Mùa thu hồi tưởng quá khứ. Hiện tại chỉ là sự níu kéo vụng về giữa hiện tại và quá khứ. Vì vậy, ngôn ngữ thi ca mùa thu mới có cố hương, cố nhân, cố quận v.v.
3. Thu Thủy
Cảnh đẹp mùa thu là tấm gương soi vóc dáng giai nhân. Chân dung người đàn bà đẹp thuở xưa bao giờ cũng có làn sóng mùa thu (thu ba), nước mùa thu (thu thủy). Sóng nước mùa thu rung động nhẹ nhàng, vương sầu. Người đàn bà thuở xưa giống như chiếc lá mùa thu, không biết trôi giạt chốn nào. Sự bất định và nỗi sầu bao giờ cũng có chung định mệnh:
Em chỉ là người em gái thôi,
Người em sầu mộng của muôn đời.
Tình em như tuyết giăng đầu núi,
Vằng vặc muôn thu nét tuyệt vời.
Lưu Trọng Lư
Yêu người, thi nhân càng thêm mến cảnh, nặng lòng với mùa thu. Trong Vang Bóng Một Thời, Nguyễn Tuân kể chuyện người xưa thắp bạch lạp, đọc Đường thi in thạch bản. Ngọn bạch lạp đó chỉ làm tăng lên nỗi cô đơn và hiu quạnh của Đường thi viết về mùa thu.
4. Thu Học
Tôi xin tạo từ mới (néologisme): Thu học, để nối cõi sau (aval) của dòng thơ thu về với nguồn cội, khởi đi từ Đường thi. Ngày xưa có thu, có học, nhưng chưa có thu học, vì niên học gắn liền với nông lịch. Từ khi có tân học, năm nào mùa thu cũng dẫn ta tới trường. Vì vậy, những người nặng nợ với đèn sách đều chung tình với mùa thu. Ai mà quên đuợc mấy dòng văn xuôi của Edmondo De Amicis (1846-1908), Hà Mai Anh dịch sang tiếng Việt, mở đầu cuốn Tâm Hồn Cao Thượng (Cuore: Grand Coeur, 1886): Hôm nay là ngày khai trường. Mấy tháng hè đã thoáng qua như giấc mộng. Sáng nay, mẹ tôi đưa tôi vào trường Baretti để ghi tên lên lớp ba.
Thanh Tịnh (1911, Huế-1988) có đoạn văn xuôi rất hay viết về ngày khai trường, thuở nhỏ học thuộc lòng nên nhớ mãi :
"Hàng năm cứ vào cuối thu, lá ngoài đường rụng nhiều và trên không có những đám mây bàng bạc, lòng tôi lại nao nức những kỷ niệm hoang mang của buổi tựu trường.

Tôi quên thế nào được những cảm giác trong sáng ấy nẩy nở trong lòng tôi như mấy cành hoa tươi mỉm cười giữa bầu trời quang đãng.

Những ý tưởng ấy tôi chưa lần nào ghi trên giấy, vì hồi ấy tôi chưa biết ghi và ngày nay tôi không nhớ hết. Nhưng mỗi lần thấy mấy em nhỏ rụt rè núp dưới nón mẹ lần đầu tiên đi đến trường, lòng tôi lại tưng bừng rộn rã.

Buổi mai hôm ấy, một buổi mai đầy sương thu và đầy gió lạnh, mẹ tôi âu yếm nắm tay tôi dẫn đi trên con đường làng dài và hẹp. Con đường này tôi đã quen đi lại nhiều lần, nhưng lần này tôi tự nhiên thấy lạ. Cảnh vật chung quanh tôi đều thay đổi, vì chính lòng tôi đang có sự thay đổi lớn: hôm nay tôi đi học.” (Thanh Tịnh, Quê Mẹ 1941).
Vần thơ tựu trường xem ra ngây thơ, chất phác giống như sách vở học trò:

Hôm nay ngày khai trường,
Ngoài phố vui như hội.
Tiếng guốc giầy inh ỏi,
Rộn rã trên vỉa đường.
Trong các thế hệ tân học, suốt từ năm lên sáu tới khoảng tam thập nhi lập, một phần tuổi đời là tuổi học đường. Vì vậy, thu học càng làm ta nặng tình với mùa thu, thơ thu và xa hơn nữa là thơ Đường.
*
Năm nay, vào mùa thu, khi lá ngô đồng rơi rụng khắp đường phố Paris, những câu thơ Đường dẫn ta quay về chân trời cũ. Chân trời đó có thể rất xa. Nhưng cũng thể rất gần, ở ngay trong tâm ta. Trái tim đó đang rung động khi nghe lại mấy vần thơ thu đông tây, kim cổ.
nguồn:tneu.Blogspot.com

Mời Xem :Luân Hồi - Lê Đình Thông

Thứ Hai, 6 tháng 10, 2025

Góc Đường Thi : NGUYỆT DẠ ỨC XÁ ĐỆ - ( Đỗ Phủ) - Đỗ Chiêu Đức biên khảo

 Góc Đường Thi : 

            NGUYỆT DẠ ỨC XÁ ĐỆ -   Đỗ Phủ
   
                                                                                                                                    
      Mùa Thu năm Càn Nguyên thứ 2 đời vua Đường Túc Tông (759), Đỗ Phủ từ Hoa Châu bỏ quan chạy về đất Tần do AN SỬ CHI LOẠN 安 史 之 亂 cuộc nổi loạn của An Lộc Sơn và Sử Tư Minh. Tần Châu thuộc tỉnh Cam Túc, là đất Thục xa xôi của ngày xưa, là những quận gần nơi biên giới. Tháng 9 năm đó, Sử Tư Minh từ Phạm Dương dẫn quân nam hạ, công phá Biện Châu, phía tây thì đánh chiếm Lạc Dương, Sơn Đông, Hà Nam. Cả một vùng đều tràn ngập trong chiến loạn, nên anh em của Đỗ Phủ đều bị phân tán thất lạc khắp nơi, bặt vô âm tín, ông vô cùng ưu tư lo lắng, nên mới làm bài thơ nầy để tỏ nỗi lòng lo âu và thương nhớ đến các em trai của mình

            月 夜 憶 舍 弟。     NGUYỆT DẠ ỨC XÁ ĐỆ

            戍 鼓 斷 人 行,    Thú cổ đoạn nhân hành,
            邊 秋 一 雁 聲。    Biên thu  nhất nhạn thanh.
            露 從 今 夜 白,    Lộ tòng kim dạ bạch,
            月 是 故 鄉 明。    Nguyệt thị cố hương minh.
            有 弟 皆 分 散,    Hữu đệ giai phân tán,
            無 家 問 死 生。    Vô gia vấn tử sinh.
            寄 書 長 不 達,    Ký thư trường bất đạt,
            況 乃 未 休 兵。    Huống nãi vị hưu binh !
                        杜 甫                            Đỗ Phủ
         

* Chú thích:
    - XÁ ĐỆ 舍 弟 : là từ Khiêm Xưng 謙 稱 (Xưng hô một cách ,khiêm tốn đối với người khác). XÁ là Nhà; ĐỆ là Em trai nên XÁ ĐỆ là "Thằng em nhà tôi". Đỗ Phủ có đến 4 em trai, người em út thì ở chung với Đỗ Phủ còn ba người kia thì bị thất lạc trong chiến loạn, nên XÁ ĐỆ ở đây là số nhiều: "Những thằng em trai".
    - THÚ CỔ 戍 鼓 : là Tiếng trống điểm canh của người lính thú đang canh gác.
    - BIÊN THU 邊 秋 : là Mùa thu ở vùng biên khu.
    - Câu "LỘ... BẠCH 露... 白" : Trong 24 khí tiết trong năm, thì Tiết Bạch Lộ nằm trong đầu mùa Thu, âm khí bắt đầu nặng và các hạt sương đêm cũng ngưng đọng nhiều hơn, trắng hơn.
    - PHÂN TÁN 分 散 : Ở đây chỉ anh em mỗi người một nơi, đều rời xa quê nhà.
    - VÔ GIA 無 家 : Từ năm Thiên Bảo thứ 5 (746), anh em Đỗ Phủ đều rời xa Lục Hồn Trang thuộc tỉnh Hà Nam ở quê nhà, nên không còn người thân thích nào nữa để hỏi thăm tin tức về các em mình cả.
    - VỊ HƯU BINH 未 休 兵 : là "Binh lính chưa được nghỉ ngơi", có nghĩa là: "Chưa dứt chiến chinh", cứ còn đánh nhau mãi.

* Nghĩa bài thơ :
                       ĐÊM TRĂNG NHỚ CÁC EM TRAI
       Khi tiếng trống điểm canh của người lính thú vang lên thì trên đường cũng đã dứt hết bóng người qua lại; Một tiếng nhạn bên trời Thu ở vùng biên tái kêu lên oanh oác. Sương Thu sẽ bắt đầu trắng hơn sau tiết Bạch Lộ của đêm nay, và vầng trăng Thu sẽ sáng hơn như là vầng trăng Thu của quê nhà. Có được các em thì đều phân tán lưu lạc khắp nơi, Không còn ai ở quê nhà nên cũng không hỏi thăm được sự sống chết ra sao. Gởi thơ thăm hỏi mãi mà cũng không tới được đâu cả, huống hồ chi chiến chinh vẫn còn dai dẳng khắp nơi.

       ĐÊM TRĂNG NHỚ CÁC EM nhưng Đỗ Phủ đã không bắt đầu bằng "cảnh đêm trăng" mà bắt đầu bằng cảnh lạnh lùng hiu hắt của vùng biên tái với những điều tai nghe mắt thấy: Tiếng trống điểm canh trong cảnh đường hoang vắng không người qua lại; Tiếng nhạn kêu sương bên trời nơi quan ải xa xôi... Tất cả các quang cảnh trên được hiển hiện một cách thê lương lạnh lùng trước mắt trong đêm Thu trăng sáng. Kịp đến hai câu thơ xuất thần bất hủ để đời thiên cổ mà khi nhắc đến thơ Đỗ Phủ là không ai không nhớ đến, đó là hai câu:

               露 從 今 夜 白,    Lộ tòng kim dạ bạch,
               月 是 故 鄉 明。    Nguyệt thị cố hương minh.  

      Sương Thu đêm nay bắt đầu dầy, bắt đầu trắng hơn lên như nỗi lòng của Đỗ Phủ mỗi lúc càng cảm thấy lạnh lẽo hơn, nhớ thương hơn đối với các đứa em đang lưu lạc phương trời và thấy vầng trăng sáng đêm nay như không thể nào sáng được bằng như vầng trăng Thu ở quê nhà. Cũng chỉ là một vầng trăng Thu đó, nhưng hoàn cảnh có khác, nên tâm lý cũng khác đi... Vì vầng trăng quê hương là vầng trăng của tuổi thơ, là vầng trăng của vui vầy hạnh phúc, là vầng trăng của đoàn viên sum họp... Nên đâu có vầng trăng nào sáng được như vầng trăng của quê hương đâu!? Với hai ý thơ thật hiễn nhiên đơn giản: Từ đêm nay sương sẽ trắng hơn, nhớ thương sẽ da diết hơn, và vầng trăng của quê hương mới là vầng trăng sáng nhất, vui vẻ nhất, hạnh phúc nhất mà thôi!  
       Từ cảnh đêm Thu trăng sáng lạnh lùng hoang vắng của miền biên tái, Đỗ Phủ đã đưa ý thơ vào thực tế tàn khốc của chiến tranh: Hữu đệ giai phân tán, Vô gia vấn tử sinh 有 弟 皆 分 散,無 家 問 死 生! Có anh em đó, nhưng vì chiến loạn mà mỗi người thất lạc một nơi, nhà tan cửa nát biết nơi nào mà han hỏi nhau xem sống chết ra sao?! Và với xã hội phương tiện giao thông bất tiện như ngày xưa, việc lai vãng đã vô cùng khó khăn rồi, nói gì đến việc gửi gắm thư từ thăm hỏi, huống hồ lại trong cảnh chiến loạn liên miên, nên mỗi người chỉ đành trông ngóng phương trời mà cầu mong cho thân bằng quyến thuộc ở nơi xa xôi đang chìm ngập trong lửa binh chiến loạn kia may mắn được bình an mà thôi! "Ký thư trường bất đạt, Huống nãi vị hưu binh 寄 書 長 不 達,況 乃 未 休 兵" mà! 
                      
                
       
       Từ xưa đến nay, chiến tranh bao giờ cũng tạo nên những cảnh ly tan tàn khốc, khiến cho dân chúng nhà tan cửa nát, sinh linh đồ thán, cốt nhục phân ly. Không riêng gì "An Sử chi loạn 安 史 之 亂" của đời Đường thời xa xưa, mà ngày nay thế giới cũng vô cùng ly loạn, cuộc chiến xâm lược của Nga với Ukraine, cuộc chiến giữa Palestine và Israel... Ai được lợi đâu chưa thấy, chứ dân chúng trong chiến tranh loạn lạc chịu cảnh lầm than, gia đình phân tán, sống nay chết mai, đói rách lang thang... là cái chắc!

* Diễn Nôm :
                             NGUYỆT DẠ ỨC XÁ ĐỆ
                          
             

                           Trống canh người vắng ngắt,
                           Biên ải nhạn kêu thương.
                           Sương trắng đêm nay lạnh,
                           Trăng trong nhất cố hương.
                           Đệ huynh đều thất tán,
                           Nhà cửa cũng tang thương.
                           Thư nhà sao gởi tới ?!
                           Chiến loạn vẫn miên trường !
           Lục bát :
                           Đêm Thu người vắng canh tàn,
                           Lẻ loi tiếng nhạn trên ngàn biên khu.
                           Đêm nay trắng xóa sương thu,
                           Vầng trăng sáng nhất tít mù quê xa.
                           Anh em thất tán không nhà,
                           Lang thang sống chết biết là về đâu ?
                           Thư không tới, nặng lòng sầu,
                           Huống hồ chiến loạn rầu rầu khôn nguôi !
                                                Đỗ Chiêu Đức diễn Nôm

          Hẹn bài dịch tới !
         

                                                              杜 紹 德 
                                                           Đỗ Chiêu Đức



Mời Xem :

Cổ Thi : TƯ BIÊN - Lý Bạch (Đỗ Chiêu Đức) 

Chủ Nhật, 12 tháng 7, 2020

GIANG THÔN-Thơ Đỗ Phủ (Đỗ Chiêu Đức Diển Giãi )

1. Xuất xứ của bài thơ :

          Năm Thượng Nguyên nguyên niên đời vua Đường Đức Tông(760), sau 4 năm sống lưu vong từ Đồng Châu sang Cẩm Châu, rồi đến xứ tây nam ngoại ô của Thành Đô (Tứ Xuyên) bên bờ Hoán Hoa Khê thanh tịnh, nơi còn giữ được vẻ yên bình không bị ảnh hưởng bởi chiến loạn do An Lộc Sơn gây nên trước đó. Đỗ Phủ nhờ bạn bè thân hữu giúp đỡ cất cho một thảo đường để tạm sống yên thân sau bao năm lưu ly khốn khó, kể cả vật chất cơm áo gạo tiền. Nên nhà thơ đã tạm yên thân, nhân lúc hè về bên dòng Hoán Hoa Khê u nhã xinh đẹp, với tâm trạng an bần lạc đạo, sống vui với hoàn cảnh trước mắt của mình, ông đã viết nên bài thơ đầy lạc quan an phận nầy.

2. Nguyên bản chữ Nho của bài thơ :

         江村                        GIANG THÔN

   清江一曲抱村流,    Thanh giang nhất khúc bão thôn lưu,
   長夏江村事事幽。    Trường hạ giang thôn sự sự u.
   自去自來樑上燕,    Tự khứ tự lai lương thượng yến,
   相親相近水中鷗。    Tương thân tương cận thủy trung âu.
   老妻畫紙爲棋局,    Lão thê họa chỉ vi kỳ cuộc,
   稚子敲針作釣鉤。    Trĩ tử xao châm tác điếu câu.
   但有故人供祿米,    Đản hữu cố nhân cung lộc mễ,
   微軀此外更何求?    Vi khu thử ngoại cánh hà cầu ?!
                   杜甫                                       Đỗ Phủ
 3. Chú Thích :
   - Bão 抱 : là Ôm. Bão Thôn Lưu 抱村流 : chỉ dòng khe chảy dong ôm lấy xóm làng.
   - Trường Hạ 長夏 : chỉ mùa hè ngày dài dằng dăc.
   - Sự Sự U 事事幽 : Mọi việc đều nhàn nhã thanh tịnh.
   - Lương Thượng 樑上 : là trên rường nhà.
   - Âu 鷗 : là Chim Âu, một loại chim sống trên sông nước.
   - Kỳ Cuộc 棋局 : là Bàn cờ.
   - Điếu Câu 釣鉤 : Lưỡi câu để câu cá.
   - Lộc Mễ 祿米 : Lộc ở đây là Tiền là qùa. LỘC MỄ nói chung là Gạo Tiền.
   - Vi Khu 微軀 : Vi là Nhỏ, là Yếu. Khu là Thân thể. VI KHU : chỉ thân thể già yếu.

4. Nghĩa Bài Thơ :
                                        Con Sông Chảy Qua Xóm Làng

         Một dòng sông trong xanh uốn khúc chảy ngang qua ôm lấy xóm làng. Trong muà hè với ngày dài dằng dặc nầy mọi việc trong thôn đều yên ắng nhàn nhã. Những con chim én tự do bay đi bay lại trên rường nhà; những con chim thủy âu như thân mật nhau hơn trên sông nước. Bà vợ già đang kẻ những nét ngang dọc của bàn cờ trên trang giấy; đứa con nhỏ thì đang cố uốn cây kim may lại cho thành lưỡi câu câu cá. Chỉ cần có được cố nhân bè bạn chu cấp gạo tiền như hiện nay, thì trước mắt tấm thân già nầy đâu còn có gì để mà cầu xin được hơn nữa đâu ?!

         Sau những năm tháng tha hương lưu ly trong chiến tranh loạn lạc, giờ đã có chỗ ở yên thân, Đỗ Phủ đã rất tri túc với hoàn cảnh của mình mà sống an vui với vợ con trong một xóm thôn yên bình vắng lặng. Trông người lại ngẫm đến ta, chúng ta cũng đã lìa bỏ quê hương sau hơn ba mươi năm chiến tranh loạn lạc, nhưng so với Đỗ Phủ chạy loạn trong nghèo đói hiểm nguy, thì chúng ta vẫn còn may mắn hơn nhiều. Chương trình an sinh xã hội của Hoa Kỳ đã cưu mang và chu cấp đầy đủ nơi ăn chốn ở không thiếu một món chi cả. Nếu chúng ta còn không biết yên thân để sống cho tốt thì quả là người... chẳng ra gì cả ! 

5. Diễn Nôm :
                         GIANG THÔN
                                  Inline image

                Dòng sông uốn khúc lượn thôn trang,
                Nắng hạ dài thêm cảnh xóm làng.
                Tự tại trên rường chim én lượn,
                Nhởn nhơ mặt nước lũ âu vang.
                Vợ già kẻ giấy thành cờ tướng,
                Con nhỏ uốn kim tạo lưỡi vàng.
                Chu cấp gạo tiền nhờ cố cựu,
                Thân già được thế, há chưa an ?! 
     Lục bát :
                Sông xanh ôm lấy xóm làng,
                Hè dài thôn vắng lại càng thân thương.
                Én bay tự tại trên rường,
                Chim âu giởn nước vui dường nhởn nhơ.
                Vợ già kẻ giấy bày cờ,
                Uốn câu con dại phải nhờ kim may.
                Bạn bè chu cấp những ai,
                Thân già được thế, còn bài nào hơn ?!

                                                              杜紹德
                                                         Đỗ Chiêu Đức
Mời xem :Thơ Đỗ Phủ :
🌹🌹🌹        KHÚC GIANG - Đỗ Phủ

🌺🌺🌺       Về Bài "BẠC MỘ " - Thơ Đỗ Phủ 

Thứ Tư, 25 tháng 3, 2020

Giai Thoại Văn Chương : THI TRƯỜNG (Trương Tịch )

 NUỐT THƠ ĐỖ PHỦ                                 
 
                                                 
                                                    Thi Trường :  TRƯƠNG TỊCH
 
       TRƯƠNG TỊCH 張藉 (767-830), Thi nhân đời Đường, tự là Văn Xương, lại có biệt hiệu là THI TRƯỜNG 詩腸 (đầy ruột toàn là thơ). Ông người đất Ngô Quận (Tô Châu, tỉnh Giang Tô, sau thiên cư về Ô Giang của Hòa Châu (thuộc Hòa Quận tỉnh An Huy hiện nay).

      Theo "Vân Tiên Tản Lục" ghi chép, sở dĩ ông có biệt hiệu Thi Trường là vì: Ông rất mê thơ Đỗ Phủ (ông nhỏ hơn Đỗ Phủ 55 tuổi). ông đem thi tập của Đỗ Phủ đốt thành tro rồi hòa với mật ong, mỗi buổi sáng đều uống ba muổng. Bạn bè biết được cười nhạo, thì ông đáp rằng : Sau khi uống tro của thơ Đỗ Phủ vào ruột thì tôi sẽ viết ra được những câu thơ hay như là thơ của Đỗ Phủ vậy. Bạn bè nghe xong đều cười cho sự ngớ ngẩn của ông. Nhưng nói cũng lạ, thơ ông làm ra có nhiều bài rất nổi tiếng và còn truyền tụng mãi cho đến hiện nay, như : Tiết Phụ Ngâm 節婦吟, Chinh Phụ Oán 征婦怨, Lương Châu Từ 凉州词, Thành Đô Khúc 成都曲...        
      Năm Trinh Nguyên thứ 14 (798), đời Đường Đức Tông, Trương Tịch bắc du, được Mạnh Giao giới thiệu quen với Hàn Dũ ở Biện Châu (Phủ Khai Phong Hà nam). Năm sau ông đậu Tiến Sĩ, từng giữ chức Thái Thường Tự Thái Chúc, vì bị bệnh viễn thị nên viết câu thơ "Thảo sắc diêu khan cận khước vô 草色遥看近却無". Có nghĩa : Xa nhìn sắc cỏ gần không thấy. Mạnh Giao gọi ông ta là "Cùng Hạt Trương Thái Chúc 窮瞎張太祝". Có nghĩa : Lão Trương Thái Chúc nghèo mù.
      Năm Nguyên Hòa thứ 11 (816), chuyển qua Trợ Giáo cho Quốc Tử Giám, rồi nhậm chức Bí Thư Lang. Năm Trường Khánh nguyên niên (821), ông lại được Hàn Dũ tiến cử vào làm Bác Sĩ của Quốc Tử Giam, nhiều lần giữ chức Thủy Bộ Viên Ngoại Lang, cuối cùng là chức Quốc Tử Tư Nghiệp. Nên Trương Tịch còn được gọi là Trương Thủy Bộ. Phiên Trấn Lý Sư Đạo ngưỡng mộ học thức của Trương Tịch, nên muốn mời ông về Phủ Tư Đồ, ông từ chối khéo bằng bài Tiết Phụ Ngâm 節婦吟 nổi tiếng cổ kim như sau :

  節婦吟                 TIẾT PHỤ NGÂM
 
  君知妾有夫,          Quân tri thiếp hữu phu,
贈妾雙明珠。          Tặng thiếp song minh châu.
感君纏綿意,          Cảm quân triền miên ý,
繫在紅羅襦。          Hệ tại hồng la nhu

妾家高樓連苑起,    Thiếp gia cao lầu liên uyển khởi,
良人執戟明光裡。    Lương nhân chấp kích minh quang lý.
知君用心如日月,    Tri quân dụng tâm như nhật nguyệt,
事夫誓擬同生死。    Sự phu thệ nghĩ đồng sinh tử.
還君明珠雙淚垂,    Hoàn quân minh châu song lệ thùy,
恨不相逢未嫁時!    Hận bất tương phùng vị giá thì.

       Bài thơ có nghĩa : Chàng biết là thiếp đã có chồng rồi, nhưng còn tặng cho thiếp một đôi ngọc minh châu. Cảm vì tình ý quyến luyến của chàng, nên thiếp đã đeo nó vào trong giải yếm màu đỏ. Nhà thiếp ở cạnh lầu cao sát với vườn thượng uyển, nên chồng thiếp là người cầm kích gác trong đền Minh Quang của  vua. Vẫn biết là dụng ý của chàng trong sáng như nhựt nguyệt, nhưng đạo thờ chồng thiếp cũng nguyền cùng chung sống chết (với chồng). Nên... Thiếp đành gạt nước mắt mà trả lại đôi minh châu cho chàng, chỉ hận là ta không gặp gỡ nhau khi thiếp còn chưa xuất giá !

       Bài thơ trên đã được cụ Ngô Tất Tố diễn Nôm rất hay là :

                  Chàng hay em có chồng rồi,
                  Yêu em chàng tặng một đôi ngọc lành.
                  Vấn vương những mối cảm tình,
                  Em đeo trong áo lót mình màu sen.
                  Nhà em vườn ngự kề bên,
                  Chồng em cầm kích trong đền Minh Quang.
                  Như gương, vâng biết lòng chàng,
                  Thờ chồng, quyết chẳng phụ phàng thề xưa.
                  Trả ngọc chàng, lệ như mưa,
                  Hận không gặp gỡ khi chưa có chồng.
             
       Đọc sự tích nầy của Trương Tịch làm cho ta nhớ lại sự tích của cụ Đào Duy Từ một nhà chính trị quân sự lỗi lạc, một danh nhân văn hóa kiệt xuất, bậc khai quốc công thần số một của chín đời Chúa Nguyễn và 13 đời vua của triều đình nhà Nguyễn. Đào Duy Từ vốn người Bắc hà nhưng không được trọng dụng, mới lưu lạc vào Nam giúp Chúa Nguyễn.
      Chúa Trịnh tiếc tài của Đào Duy Từ, mới tính kế làm sao để lôi kéo ông bỏ Chúa Nguyễn về với triều đình vua Lê và Chúa Trịnh. Chúa bèn lập mưu, sai người mang nhiều vàng bạc bí mật vào Nam biếu Đào Duy Từ, kèm theo một bức thư riêng với bốn câu thơ :

                       Trèo lên cây bưởi hái hoa,
                   Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân.
                       Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc,
                   Em có chồng rồi anh tiếc lắm thay!”.
                                                            ảnh cụ Đào Duy Từ                     

     Lời thơ ngụ ý anh là (Chúa Trịnh) và em (Đào Duy Từ) thuở nhỏ, trèo cây hái hoa bưởi, bước xuống vườn cà hái nụ hoa tầm xuân. Ý thơ là lời nhắn nghĩa tình, nhắc Đào Duy Từ rằng tổ tiên, quê quán vốn ở Đàng Ngoài. Nếu trở về sẽ được triều đình trọng dụng. Nhưng Đào Duy Từ đã trả lại quà tặng và viết bài thơ phúc đáp Chúa Trịnh như sau:

                       Ba đồng một mớ trầu cay,
               Sao anh chẳng hỏi những ngày còn không?
                      Bây giờ em đã có chồng,
                 Như chim vào lồng như cá cắn câu.
                     Cá cắn câu biết đâu mà gỡ,
                  Chim vào lồng biết thuở nào ra?”
 
                                                          
      Chúa Trịnh đọc thơ biết khó lòng lôi kéo được họ Đào, nhưng thấy bài thơ chưa có câu kết, ý còn bỏ ngỏ, nên vẫn nuôi hy vọng, bèn cho người đem lễ vật nhiều hơn, và mang theo lá thư của Chúa Trịnh vào gặp Đào Duy Từ lần nữa. Lần này, Đào Duy Từ mới viết nốt hai câu kết gửi ra, để trả lời dứt khoát việc mời mọc của chúa Trịnh :

                        Có lòng xin tạ ơn lòng,
                Đừng đi lại nữa mà chồng em ghen!

      Trương Tịch còn nổi tiếng với bài thơ "Cận Thí Thượng Trương Thủy Bộ 近試上張水部". Có nghĩa : Gần thi gởi lên cho Trương Thủy Bộ (để xem xét đánh giá dùm coi có đậu được hay không ?) của sĩ tử Chu Khánh Dư 朱慶餘. Bài thơ như sau :

              洞房昨夜停紅燭,    Động phòng tạc dạ đình hồng chúc,
              待曉堂前拜舅姑。    Đãi hiểu đường tiền bái cựu cô.
              妝罷低聲問夫婿,    Trang bãi đê thanh vấn phu tế,
              畫眉深淺入時無。    Họa my thâm thiển nhập thời vô ?

     Có nghĩa :
                      Động phòng hoa chúc đêm qua,
                   Sáng ngày ra mắt mẹ cha khách phòng.
                      Diện xong nàng khẻ hỏi chồng,
                   Mày ngài đậm nhạt hợp không hỡi chàng ?
                                                                     ĐCĐ diễn Nôm

                   
       Chu Khánh Dư tự ví mình như là cô dâu mới về nhà chồng, nên sáng đêm tân hôn, khi trang điểm xong, trước khi lên phòng khách ra mắt cha mẹ chồng, thì kề tai hỏi nhỏ chồng rằng : " Đôi mày của thiếp kẻ như thế nầy đậm nhạt có hợp thời không ?". Ý nói là có hợp với nhãn quang của cha mẹ chồng không ?. Chu xem Trương Tịch người Trợ Giáo cho Quốc Tử Giám như là chàng rể mới nên mới hỏi xem văn chương của mình có hợp với ý của cha mẹ chồng là quan chủ khảo hay không ? Qủa là khéo ví von một cách gợi tình lãng mạn mà lại rất nên thơ !. Trương Tịch cũng đã đáp lại bằng một bài thơ tứ tuyệt "Thù Chu Khánh Dư 酬朱慶餘" (Đáp Chu Khánh Dư). Bài thơ như sau :

                    越女新妝出镜心,    Việt nữ tân trang xuất kính tâm,
                    自知明艷更沉吟。    Tự tri minh diễm cánh trầm ngâm.
                    齊紈未足時人貴,    Tề hoàn vị túc thời nhân qúy,
                    一曲菱歌敵萬金。    Nhất khúc lăng ca địch vạn câm (kim).
Có nghĩa :
     Nàng con gái nước Việt (ý chỉ gái đẹp) vừa mới trang điểm xong như đi ra từ trong lòng gương (ý chỉ đẹp rực rỡ). Tự biết mình rất diễm kiều trong sáng, nên lại càng trầm ngâm hơn (không biết mình có tự tin qúa hay không!). Nhưng hãy yên tâm đi nàng ơi, dù cho lụa nõn qúy giá của nước Tề cũng không qúy bằng con người thật trước mắt, chỉ cần một khúc hát hái ấu, hái sen thanh thoát là đã đáng giá ngàn vàng rồi !

     Ý của Trương Tịch muốn khuyên sĩ tử Chu Khánh Dư là "Mình đã đẹp sẵn như Tây Thi gái nước Việt rồi, mà còn vừa mới trang điểm xong nữa, lo gì không đẹp mà phải "trầm ngâm"?. Ý nói  Chu đã có tài rồi mà còn có chuẩn bị nữa, thì lo gì mà thi không đậu, cũng như nàng gái Việt duyên dáng đã qúy hơn gấm vóc lụa là rồi thì chỉ cần cất cao giọng lên hát một khúc hái sen hái ấu nữa là sẽ đáng giá ngàn vàng ngay ! Ý Trương Tịch muốn khuyên Chu Khánh Dư là cứ tự tin mà đi thi đi, tên sẽ được ghi bảng vàng mà thôi ! Và quả thật như lời khuyên của Trương, Chu đã thi đậu Tiến Sĩ năm Bảo Lịch thứ 2 (826) và làm quan đến chức Bí Thư Tỉnh Hiệu Thư Lang.

Diễn Nôm :
                    Gái Việt điểm trang đẹp tợ gương,
                    Biết mình xinh xắn vẫn khiêm nhường.
                    Lụa là Tề quốc thua người qúy,
                    Một khúc ngàn vàng mãi vấn vương !
                                                                     ĐCĐ diễn Nôm
     
      Thế đấy, nhờ sùng bái và mỗi buổi sáng nuốt thơ Đỗ Phủ vào ruột mà TRƯƠNG TỊCH cũng làm thơ hay và nổi tiếng như Đỗ Phủ trong buổi Thịnh Đường. Đỗ Phủ là Thi Thánh, còn Trương Tịch là Thi Trường, là thơ từ trong ruột tuôn ra vì đầy một ruột toàn là... thơ của Đỗ Phủ. Thế mới hay, có chí thì nên, nhờ ái mộ Đỗ Phủ mà Trương Tịch cố gắng dùi mài nắn nót làm thơ, kết cuộc ông cũng trở thành một thi sĩ lớn trên thi đàn của đời Đường nhờ vào sự phấn đấu của chính mình. Nuốt thơ Đỗ Phủ chỉ là cái cớ, cái động lực thôi thúc ông cố gắng tiến lên mà thôi.

      Dù thế nào đi nữa thì Trương Tịch vẫn để lại một tấm gương tốt cho hậu sinh noi theo và nhất là để lại những bài thơ bất hủ như Tiết Phụ Ngâm, Chinh Phụ Oán, Thành Đô Khúc ... những giai thoại văn chương lý thú giữa ông và những bạn thơ chung quanh thời đại hoàng kim của thi ca : ĐƯỜNG THI !
                                                                                                                    Đỗ Chiêu Đức
 
 
🌲🌲
   

Thứ Tư, 15 tháng 7, 2020

Giai Thoại Văn Chương : Thi Thánh ĐỖ PHỦ

 
ĐỖ PHỦ 杜甫 (712-770) tự là Tử Mỹ 子美, hiệu là Thiếu Lăng Dã Lão 少陵野老, Đỗ Lăng Dã Khách 杜陵野客, Đỗ Lăng Bố Y 杜陵布. Ông là thi nhân hiện thực của đời Đường, thơ ông thường miêu tả lại những cảnh sống thực tế của xã hội lúc đương thời. Ông từng giữ chức Tả Thập Di, Kiểm Hiệu Công Bộ Viên Ngoại Lang, sau ẩn cư nơi thảo đường của xứ Thành Đô, nên người đời còn gọi ông là Đỗ Thập Di 杜拾遺, Đỗ Công Bộ 杜工部, Đỗ Thiếu Lăng 杜少陵, Đỗ Thảo Đường 杜草堂. Chưa có thi nhân nào có tên tự và ngoại hiệu nhiều như ông cả !
      Thi Thánh Đỗ Phủ 杜甫 nổi danh cùng thời với Thi Tiên Lý Bạch 李白, được người đời xưng tụng là "Đại Lý Đỗ 大李杜"(Lý Đỗ lớn) để phân biệt với cặp "Tiểu Lý Đỗ 小李杜"(Lý Đỗ nhỏ) là Lý Thương Ẩn 李商隱 và Đỗ Mục 杜牧 ở buổi tàn Đường. Riêng Đỗ Phủ còn được người đời sau gọi là Lão Đỗ 老杜 để phân biệt với Đỗ Mục là Tiểu Đỗ 小杜. Ông để lại khoảng 1500 bài thơ trong "Đỗ Công Bộ Tập". Sau đây là những bài thơ tiêu biểu nhất của ông. 

1. Bài thơ XUÂN VỌNG :

        Năm Chí Đức thứ 2 ( 757 ) đời Đường, Đỗ Phủ bị kẹt lại trong thành Tràng An đã lọt vào tay loạn tướng An Lộc Sơn. Thi nhân nhìn cảnh xuân với tâm tình của một con dân mất nước, núi sông vẫn như cũ, nhưng nước đã mất nhà đã tan, xuân về nhưng cả thành Tràng An đều đượm vẻ thê lương, xúc cảnh sanh tình tạo nên lời thơ cảm khái và bi thương qua bài Ngũ ngôn Luật Thi sau đây... 

           春望                   XUÂN VỌNG

       
          
    國破山河在,         Quốc phá sơn hà tại,
    城春草木深。         Thành xuân thảo mộc thâm.
    感時花濺淚,         Cảm thời hoa tiễn lê,
    恨別鳥驚心。         Hận biệt điểu kinh tâm.
    烽火連三月,         Phong hỏa liên tam nguyệt,
    家書抵萬金。         Gia thư để vạn kim.
    白頭搔更短,         Bach. đầu tao cánh đoản,
    渾欲不勝簪。         Hồn dục bất thắng trâm. 
                 杜甫                                     Đỗ Phủ

 CHÚ THÍCH :
           1. Quốc Phá 國破 : trong Thành ngữ " Quốc Phá Gia Vong ", tương đương với câu nói " Nước mất nhà tan " của ta.
           2. Thâm 深 : là Sâu, là Đậm, Ở đây nghĩa là Xanh om tươi tốt.
           3. Tiễn 濺 : là Ép cho tuôn trào ra. Tiễn Lệ là ứa lệ, là rơi lệ.
           4. Phong Hỏa  烽火 : Đài cao dùng  đốt lửa để báo hiệu quân địch tấn công. Ở đây chỉ Chiến Tranh.
           5. Để 抵 : là Đáng giá, Có giá trị như...
           6. Tao 搔 : là gãi. Ở đây có nghĩa là dùng các ngón tay để gom tóc lại.
           7. Hồn Dục 渾欲 : là Gần như, là Hầu như.
           8. Bất Thắng 不勝 : Ở đây không có nghĩa là Thua ( không thắng ), mà là Không Thể. 
           9. Trâm 簪 : Danh Từ là Cây Trâm. Ở đây là Động Từ, nên có nghĩa là Cài Trâm.
          10. Vọng 望 : là Hy Vọng. Ở đây là Trông Ngóng, Mong chờ.

DỊCH NGHĨA :
                                        XUÂN MONG CHỜ
                Nước đã mất, nhưng núi sông thì hãy còn trơ đó , thành Trường An vào xuân cây cỏ vẫn xanh om tươi tốt ( vì cỏ cây đâu biết hờn mất nước ). Lòng đầy xúc cảm vì thời cuộc, nên trông hoa nở cũng khiến lệ rơi,Hận vì chiến tranh cách biệt, nên nghe tiếng chim kêu cũng kinh hãi trong lòng. Chinh chiến tràn lan suốt ba tháng nay, tin nhà đều bặt, nên nhận được thơ nhà thấy quý giá như được ngàn vàng. Tuổi già tóc bạc, vuốt thấy đã rụng và ngắn lại nhiều, hầu như không còn búi được để cài trâm nữa !
           ... Riêng câu 3 và 4 có thể giải là :
                   Cảm thương về thời cuộc đão điên, nên hoa cũng ứa lệ.
                   Ly hận của sự biệt ly, làm cho chim cũng cảm thấy kinh hoàng....

           Hiểu như trên , lại làm cho ta nhớ đến bài thơ " GIÂY PHÚT CHẠNH LÒNG " của Nhà thơ THẾ LỮ...

                   " Hôm nay tạm nghỉ bước gian nan,
                      Trong lúc gần xa pháo nổ rang.
                      Rủ áo phong sương trên gác trọ,
                      Lặng nhìn thiên hạ đón xuân sang !
          và....
                      Em đứng nghiêng mình dưới gốc mai,
                      Vin ngành sương đọng, lệ hoa rơi,
                      Cười nâng tà áo đưa lên gió,
                      Em bảo : " HOA KIA KHÓC HỘ NGƯỜI ! "
                                                                  .........................................
DIỄN NÔM : 

                          Nước mất núi sông còn đó,
                        Vào xuân hoa cỏ xanh rì.
                        Đau xót hoa còn rướm lệ,
                        Kinh hoàng chim sợ phân ly.
                        Khói lửa mịt mờ ba tháng,
                        Thư nhà vàng bạc khó bì.
                        Tóc bạc bơ phờ năm tháng,
                        Trâm cài chẳng được còn chi !
 Lục bát :
                       Nước mất nhưng núi sông còn,
                      Thành xuân cây cỏ xanh rờn khắp nơi.
                       Khi buồn hoa cũng lệ rơi,
                       Kinh hoàng ly biệt chim trời bay cao.
                       Lửa binh ba tháng lao đao,
                      Thư nhà nhận được mừng nào cho cân.
                      Bạc đầu tóc lại rụng dần,
                      Lưa thưa khó búi chẳng cần cài trâm !
                                                                   Đỗ Chiêu Đức


2. Bài thơ TUYỆT CÚ ngũ ngôn :
    
             
      絕句               TUYỆT CÚ   
   江碧鳥逾白,     Giang bích thủy du bạch,
   山青花欲燃。     Sơn thanh hoa dục nhiên.
   今春看又過,     Kim xuân khan hựu quá,
   何日是歸年.      Hà nhật thị qui niên ?!
         杜甫                               Đỗ Phủ 
         
CHÚ THÍCH :
    * Bài thơ nầy được Thi Thánh Đỗ Phủ làm vào mùa xuân năm Quảng Đức thứ hai đời Đường Đại Tôn (764). Lúc nầy ông đang tạm cư ở Thành Đô, cuộc sống tạm ổn định, mặc dù xa quê nhưng trong lòng cũng tạm thoải mái bớt day dứt, nên lời thơ cũng nhẹ nhàng gợi cảm hơn.
    - BÍCH 碧 : là BIẾC. Ta thường hiểu là XANH thì mới BIẾC. Thật sự BÍCH là chỉ cái sắc ÓNG ÁNH, như Cẩm Thạch  " Lên Nước " thì gọi là BÍCH, bất cứ nó ửng lên màu gì đều là BIẾC cả !.   
   - DU 逾 :là Càng hơn, là Vượt quá.
   - DỤC 欲 :là Muốn, là Giống Như.
   - NHIÊN 燃 :là Cháy, Ở đây có nghĩa là Rực Rỡ.
   - QUÁ 過 :là Qua, là Đi Qua.
   - HÀ 何 :Nghi Vấn Từ, có nghĩa là GÌ, NÀO, SAO... Như : HÀ SỰ là Việc gì ?, HÀ NHÂN là Người Nào?, HÀ CỐ là Cớ Sao ?. Trong câu thơ HÀ NHẬT là Ngày Nào ?

DỊCH NGHĨA :
        Nước của dòng sông càng xanh biếc thì những cánh chim bay lượn trên sông càng trắng hơn thêm, núi càng xanh hơn thì muôn hoa càng như rực rở hơn lên như muốn bốc cháy. Trước mắt ta mùa xuân lại sắp đi qua nữa rồi, không biết là đến năm nào mới có được ngày quay trở lại quê hương đây ?!.

                 
DIỄN NÔM :          

                     TUYỆT CÚ
             Nước biếc chim càng trắng,
             Núi xanh hoa rực hương.
             Nay nhìn xuân lại hết,
             Biết thuở nào hồi hương ?!

 Thất ngôn :
            Trắng xóa cánh chim làn nước biếc,
            Núi xanh hoa rực lửa khoe hương.
            Mắt trông xuân lại qua lần nữa,
            Biết đến năm nào về cố hương ?!
                                                    Đỗ Chiêu Đức
            

3. Bài thơ KHIỂN HOÀI :
            
          遣懷                   KHIỂN HOÀI   
     愁眼看霜露,     Sầu nhãn khan sương lộ,
     寒城菊自花。     Hàn thành cúc tự hoa.
     天風隨斷柳,     Thiên phong tùy đoạn liễu,
     客淚墮清笳。     Khách lệ trụy thanh già.
     水淨樓陰直,       Thủy tịnh lâu âm trực,
     山昏塞日斜。     Sơn hôn tái nhật tà.
     夜來歸鳥盡,     Dạ lai quy điểu tận,
     啼殺後棲鴉。     Đề sát hậu thê nha. 
                   杜甫                             Đỗ Phủ.

        

* Chú Thích :
    - GIÀ 笳 : là một loại nhạc cụ của người Hồ, được cuốn bằng lá sậy, thổi lên nghe réo rắt như tiếng tiêu của ta vây.
    - Lâu Âm 樓陰 : Chỉ cáo bóng của lâu đài in dưới nước.
    - Sơn Hôn 山昏 : Núi về chiều, khi hoàng hôn xuống.
    - Tái Nhật 塞日 : Mặt trời của vùng biên tái.
    - Đề Sát 啼殺 :(Tiếng quạ) Kêu buồn muốn chết người. Ý nói kêu rất thảm thiết.

* Dịch Nghĩa :
        Mắt buồn nhìn sương mù đong thành những hạt móc, trời trở lạnh trong thành nên cúc cũng tự nở hoa  ( đây là cảnh vào thu ). Vì vào thu cho nên những nhành liễu đã rụng hết lá và có những cành khô còn gãy đoạn theo gió thu se sắt, như dòng lệ của khách chảy dài khi những tiếng còi trong trẻo vút lên cao. Mặt nước hồ thu trong veo phẵng lặng soi bóng những lâu đài ngã bóng đứng lặng yên dưới nước. Mặt trời đã nghiêng bóng soi lên vùng biên tái của rừng núi lúc hoàng hôn. Đêm đã xuống dần, chim đã bay hết về tổ rồi, chỉ còn nghe tiếng quạ kêu sương thảm thiết ở lại sau....
                           
* Diễn Nôm : 
                     Khiển Hoài

                Mắt sầu nhìn sương xuống,
                Thành lạnh cúc đơm hoa.
                Gió trời làm gãy liễu,
                Lệ khách rơi tù và.
                Nước trong bóng lầu thẳng,
                Núi chiều ánh nắng tà.
                Đêm đến chim về tổ,
                Tiếng qụa buồn thiết tha !
     Lục bát :
                Buồn trông sương xuống mênh mang,
                Vào thu thành lạnh cúc vàng nở hoa.
                Gió thu rít gãy liễu tà,
                Lệ tuôn réo rắt tiếng già bên sông.
                Lâu đài im bóng nước trong,
                Chiều về biên tái núi rừng thâm u,
                Muôn chim mõi cánh mịt mù,
                Lẻ loi tiếng quạ kêu thu não nùng !
                                                    Đỗ Chiêu Đức

4. Bài thơ LỮ DẠ THƯ HOÀI :
                
 旅夜書懷          LỮ DẠ THƯ HOÀI

細草微風岸,    Tế thảo vi phong ngạn,
危檣獨夜舟。    Nguy tường độc dạ chu.
星垂平野闊,    Tinh thùy bình dã khoát,
月湧大江流。    Nguyệt dũng đại giang lưu.
名豈文章著?    Danh khởi văn chương trứ ?
官應老病休。    Quan ưng lão bệnh hưu.
飄飄何所似?    Phiêu phiêu hà sở tự ?
天地一沙鷗。    Thiên địa nhất sa âu.
                 杜甫                              Đỗ Phủ.

       

* Chú Thích :
      Tháng Tư Vĩnh Thái nguyên niên (765), Nghiêm Võ tạ thế, Đỗ Phủ mất nơi nương tựa. Tháng 5, Mới dắt díu gia quyến xuống thuyền rời khỏi Thành Đô sau 5 năm định cư nơi đất Thục, xuôi về đông, phiêu bạc trên Miên Giang Trường Giang một giải. Khoảng sau Trung Thu năm đó, lại tiếp tục đi xuống Vân An ( Nay là Vân Dương ). Chính trên đường đi nầy, ông sáng tác bài " Lữ Dạ Thư Hoài " (  Viết về những hoài cảm của mình trên bước lữ hành ), để nói lên cái cảm khái của một đời phiêu bạc, có tài nhưng lại chẳng gặp thời !
                  
* Dịch Nghĩa :
                    HOÀI CẢM ĐÊM LỮ HÀNH.  
       Gió hiu hiu thổi lên đám cỏ non bên bờ sông, đêm xuống, thuyền đậu bến, ta ngồi dưới cột buồm cao cao nhìn bầu trời đầy sao lắp lánh, nên cảm thấy cánh đồng trước mắt như mênh mông hơn. Bóng trăng dường như từ trong nước chiếu ra lắp lánh theo dòng. Văn chương có phải làm nên được tiếng tăm chăng ? Quan trường thì vì bệnh tật mà phải cáo hưu. Một đời phiêu bạc khắp nơi với mục đích gì đây ? Chỉ còn lại cảm giác cô đơn như cánh hãi âu cô độc trong trời đất mênh mông mà thôi !
      Lấy cột buồm cao cao so sánh với thân lẻ loi cô độc của mình, lấy bầu trời cao với trăng sao để thấy sự nhỏ nhoi của con người, lại lấy cánh đồng mênh mông để giải bày uẩn khúc ở nội tâm. 4 câu đầu là " LỮ DẠ ", lấy cảnh để ngụ tình. 4 câu sau là " THƯ HOÀI ", nói lên cái hoài bảo và cảm xúc của mình, không ngờ là nhờ văn chương mà được nổi tiếng, trong khi chính trường thì vì bệnh tật, già cả mà phải bị từ quan, thương cảm cho tấm thân phải phiêu bạc khắp nơi không nơi nương tựa, lời thơ bi thiết như tiếng thở dài !...

* Diễn Nôm :
                     LỮ DẠ THƯ HOÀI

             

                   Vi vút gió đùa cỏ dại,
                   Cao cao buồm trống cột không.
                   Sao trời như chùn xuống thấp,
                   Nước trăng lắp lánh về đông.
                   Văn chương làm nên danh giá ?
                   Lão bệnh quan trường hết mong,
                   Phiêu bạt phương trời ai biết ?
                   Hải âu, trời biển mênh mông !
     Lục bát :
                   Gió hiu lay động cỏ bờ,
                   Cột buồm cao ngất bơ vơ thân gầy.
                   Đồng không sao ngỡ gần đây,
                   Ánh trăng lắp loáng trôi đầy dòng sông.
                   Văn chương có tiếng như không,
                   Thân già bệnh tật hết mong quan trường.
                   Bôn ba phiêu bạt bốn phương,
                   Đất trời cao rộng vô thường cánh chim !
                                                                   Đỗ Chiêu Đức

5. Bài thơ MỘ QUY :
          
          Công Nguyên 768 (Năm Đại Lịch thứ 3 vua Đường Đại Tông), lúc bấy giờ Đỗ Phủ đã 57 tuổi, đang ở Hồ Bắc. Trước đó, khi ở Quỳ Châu ông rất chú trọng đến Luật thơ và đã làm rất nhiều bài thơ Niêm Luật thật nghiêm cẩn, như 8 bài Thu Hứng....Đồng thời cũng trong thời gian nầy, ông có ý nghĩ muốn bức phá sự trói buộc của Niêm Luật, nên mới muốn thử làm ra một thể thơ mới. Một hôm, ông làm ra một bài thơ Phi Cổ Phi Luật (không phải Cổ Thi mà cũng không phải Luật Thi) có tựa là " SẦU " , phía dưới ghi chú là " Cường hí vi Ngô Thể " (Đùa rằng đây là thơ NGÔ THỂ). Tiếp đó , ông lại làm thêm 17, 18 bài như thế nữa, và vì thế mà trong Đường Thi lại thêm một thể loại : Thơ NGÔ THỂ.

         "MỘ QUY"《暮歸》chính là thơ Ngô Thể được Đỗ Phủ làm khi đang ở Hồ Bắc. 

           暮歸                            MỘ QUY
                      
      霜黄碧梧白鶴棲,  Sương hoàng bích ngô bạch hạc thê,
      城上擊柝複烏啼。  Thành thượng kích thác phục ô đề.
   客子入門月皎皎,  Khách tử nhập môn nguyệt giảo giảo,
      誰家搗練風淒淒。  Thùy gia đão luyện phong thê thê.
   南渡桂水闕舟楫,  Nam độ Quế Thủy khuyết chu tiếp,
      北歸秦川多鼓鼙。  Bắc quy Tần Xuyên đa cổ bề.
   年過半百不稱意,  Niên quá bán bách bất xứng ý,
      明日看雲還杖藜。  Minh nhựt khan vân hoàn trượng lê.
                          杜甫                                                 Đỗ Phủ.

            
* Chú Thích :
    - Hoàng 黄 : Còn đọc là HUỲNH, màu vàng, ở đây là Động Từ, nê có nghĩa là Làm Cho Vàng, Nhuộm Vàng.
    - Thác 柝: là Cái Mõ Canh, nên Kích Thác : Gõ Mõ Canh .
    - Nguyệt Giảo Giảo 月皎皎 : là Trăng sáng vằng vặc.
    - Đão Luyện 搗練 : Dùng chày để đập cho tơ mềm ra để giặt cho thành lụa, chuẩn bị may áo mùa đông.
    - Phong Thê Thê 風淒淒 : Gió hắt hiu.
    - Tiếp 楫 : là Mái Chèo. Khuyết Chu Tiếp : là Thiếu Mái Chèo của Thuyền. Không phải là thuyền không có mái chèo, mà là không có TIỀN để thuê một thuyền chèo.
    - Cổ Bề 鼓鼙 : là Trống trận. Đa Cổ Bề : Nhiều trống trận. Có nghĩa : Có nhiều trận đánh nhau với quân Thổ Phồn.
    - Trượng Lê 杖藜 : Chống gậy Lê. Lê là một loại thảo mộc, có thân cứng và dẽo như Cây Mây, nên dùng làm gậy cho chắc và nhẹ.

* Dịch Nghĩa :
                                          CHIỀU VỀ  ( Nhà Trọ )
             Bạch Hạc đậu trên cành ngô đồng đã vàng lá vì sương thu lạnh lẽo, trên thành tiếng mõ đã bắt đầu điểm canh lẫn với tiếng quạ kêu sương. Khách trở về nhà trọ, vào cửa trong lúc ánh trăng đã vằng vặc ngoài trời, trong khi đó tiếng chày giặc lụa của nhà ai còn vang vang trong gió thu hiu hắt. Ta muốn xuôi Nam qua dòng Quế Thủy nhưng lại không đủ sức thuê thuyền, muốn trở về đất Bắc ở Tần Xuyên thì giặc giã chiến tranh, trống trận nổi lên liên miên không dứt. Quá nửa đời người không có chuyện gì xứng ý toại lòng cả ! Thôi thì, ngày mai lại phải chống gậy mà ngắm mây trời xa xa để thương nhớ về cố hương mà thôi !

* Diễn Nôm :
                                 CHIỀU VỀ

                    

                  Hạc trắng đậu cành ngô vàng sương lạnh,
                  Quạ đen kêu tiếng mõ báo canh tàn.
                  Khách vào nhà đón trăng sáng miên man,
                  Tiếng chày giặt lẫn gió buồn thê thiết.
                  Muốn về nam không tiền xuôi Quế Thủy,
                  Bắc Tần Xuyên giục giã trống quân vang.
                  Quá năm mươi còn lưu lạc chưa an ,      
                  Ngày mai lại gậy lê nhìn mây trắng !
    Lục bát :
                  Sương vàng hạc trắng ngô xanh,
                  Qụa kêu lẫn tiếng cầm canh trên thành.
                  Khách về trăng sáng long lanh,
                  Tiếng chày đập vải gió lành lạnh thêm.
                  Xuôi nam Quế Thủy không tiền,
                  Ngược bắc chiến cuộc liên miên đất Tần.
                  Đời người quá nửa long đong,
                  Gậy lê mai lại ngóng trông quê nhà !
                                                               Đỗ Chiêu Đức
                                                  

6. Hai bài thơ KHÚC GIANG :

            Xuất xứ của câu thơ "Nhân sinh thất thập cổ lai hi  人生七十古來稀".

           Đôi hàng giới thiệu về 2 bài thơ KHÚC GIANG của Đỗ Phủ như sau :

           Khúc Giang còn gọi là Khúc Giang Trì, nằm ở phía đông cầu Chu Tước phía nam của thành Trường An, là khu danh thắng nổi tiếng của thành Trường An đời Đường, được xây dựng từ thời Hán Vũ Đế và được trùng tu lại vào năm Khai nguyên của vua Đường Huyền Tông, Nước hồ trong vắt, hoa cỏ uốn quanh, phía nam có Tử Vân Lâu, Phù Dung uyển, phía tây có Hạnh Viên và Từ Ân Tự, là nơi du ngoạn nổi tiếng đương thời.Thắng cảnh Khúc giang cùng thạnh suy với giang san nhà Đường. Hai bài thơ Khúc Giang của Đỗ Phủ được làm vào cuối xuân năm Càn Nguyên nguyên niên ( 758 ) . Ông đã đem toàn bộ tâm tư của mình ký thác vào cảnh vật nầy để viết lên những ưu tư về đổi thay của thời cuộc.

          Theo tài liệu thống kê, thì vào đời Đường, tuổi thọ trung bình của con người ta lúc bấy giờ chỉ vào khoảng 40- 45, cho nên Đỗ Phủ mới hạ câu " Nhân sanh thất thập cổ lai hy " bất hủ, để đời cho đến hiện nay, hễ nhắc đến tuổi " Cổ lai hy ", " Cổ lai ", hay " Cổ hy " là người ta biết ngay là đã thọ được 70 tuổi rồi ! 

          曲 江                           KHÚC GIANG
                     其一                                       Kỳ nhất. 
 一片花飛減卻春,    Nhất phiến phi hoa giảm khước xuân,
    風飄萬點正愁人。    Phong phiêu vạn điểm chánh sầu nhân. 
 且看欲盡花經眼,    Thả khan dục tận hoa kinh nhãn,
    莫厭傷多酒入唇。    Mạc yếm thương đa tửu nhập thần .
 江上小堂巢翡翠,    Giang thượng tiểu đường xào phỉ thúy,
    苑邊高塚臥麒麟。    Uyển biên cao trủng ngọa kỳ lân.
 細推物理須行樂,    Tế suy vật lý tu hành lạc,
   何用浮名絆此身?      Hà dụng phù danh bạn thử thân ?. 
        

    其二                                  Kỳ nhị.
 朝回日日典春衣,    Triều hồi nhật nhật điển xuân y,
    每日江頭盡醉歸。    Mỗi nhật giang đầu tận túy quy. 
 酒債尋常行處有,    Tửu trái tầm thường hành xứ hữu,
    人生七十古來稀。    NHÂN SANH THẤT THẬP CỔ LAI HY. 
 穿花蛺蝶深深見,    Xuyên hoa giáp điệp thâm thâm kiến (hiện),
    點水蜻蜓款款飛。    Điểm thủy thanh đình khoản khoản phi. 
 傳語風光共流轉,    Truyền ngữ phong quang cộng lưu chuyển,
    暫時相賞莫相違。   Tạm thời tương thưởng mạc tương vi .
                        杜甫                                                 Đỗ Phủ. 
               
 * GHI CHÚ :
  (1)  减却春:Giảm khước xuân :Xuân sắc bị giảm đi.
  (2)  万点:Vạn điểm : Chỉ muôn ngàn hoa rụng, rụng rất nhiều. 
  (3)  且: Thả : là Liên từ, có nghĩa là Hãy.经眼:Kinh nhãn : ngang qua trước mắt. 
  (4)  伤:Thương : là thương cảm, xúc động. 巢翡翠:Xào Phỉ Thúy : Là Chim Phỉ Thúy làm ổ. Chữ XÀO là Cái Ổ,  ở đây là Động từ :  nghĩa là Làm ổ.
  (5)  苑:Uyển : Là Vườn hoa( Vườn trồng toàn hoa Phù Dung cạnh bên Khúc giang ) 冢 : Chủng : Gò đất cao, ở đây chỉ các phần mộ xưa. 
  (6)  细推 Tế suy : Là Suy luận cho cặn kẽ, tới nơi tới chốn. 
  (7)  物理:Vật lý : Cái Lý lẻ của sự vật, sự việc. 
  (8)  浮名: Phù danh : Là Hư danh.
  (9)  朝回: Triều hồi : Là Đi chầu Vua về.典:Điển : Cầm cố. 
   (10) 债 :  Trái : là Nợ. Tửu trái : là Nợ Rượu chè (  Chớ không phải Nợ Cơm áo ).行处:Hành xứ : là Khắp nơi. 
     ( 11) 蛱蝶: Giáp Điệp : Các loài bướm nhỏ thường bay lượn, tìm hút nhụy trong các khóm hoa .
   (12) 蜻蜓: Thanh Đình : Con Chuồn Chuồn. 
   (13) 風光: Phong Quang : Quang cảnh của mùa xuân.共流转 Cộng Lưu Chuyển : Cùng qua lại, chuyển động, Có nghĩa là cùng 
                            thưởng ngoạn cảnh trí đẹp đẽ.
   (14) 相赏: Tương Thưởng : Cùng Thưởng ngoạn. 莫 Mạc : là Đừng. 相违: Tương Vi : Cùng để lở mất.( Cái gì đó... ). 

* DỊCH NGHĨA :
                                         Bài 1.
             Chỉ vỏn vẹn một cánh hoa bay mà thôi, mùa xuân cũng đã bị giảm mất đi rồi, huống hồ, gió thổi làm cho muôn ngàn cánh hoa cùng bay phất phơ một lúc, làm cho lòng người tiếc xuân buồn muốn thúi ruột, khi mắt trông xuân sắp tàn, ngàn hoa rơi rụng trước mắt. Thôi cũng đừng sầu thương quá mà hãy cùng mềm môi với chén rượu nầy. Hãy nhìn cảnh trí trước mắt, họa đường lộng lẫy ngày xưa, thì nay chim phỉ thúy đã làm tổ trên rường, và những gò nổng phần mộ ngày nào uy nghi, nghiêm cẩn thì nay tượng kỳ lân đã ngã đỗ nằm cạnh bên. Nên suy cho cùng về lý lẽ thịnh suy tiêu trưởng của sự vật, sự việc trên đời, thì ta nên hành lạc, vui chơi thoải mái, chớ... sao lại vì những cái hư danh không đâu mà trói buộc tấm thân nầy ?!
                                      Bài 2.
             Từ giả buổi chầu vua đi ra là đi cầm ngay chiếc áo mùa xuân ( để mua rượu uống ). Mỗi ngày đều say khước từ đầu sông Khúc giang đi về. Nợ rượu chè thì nơi nào cũng có được. Nhưng , người đời sống đến 70 mươi tuổi thì xưa nay rất hiếm. Hãy nhì xem kìa, đàn bướm nhỏ đang bay lượn trong khóm hoa, và lủ chuồn chuồn đang lượn bay đùa giởn trên mặt nước. Cảnh trí đẹp là thế, sao không bảo nhau mà cùng thưởng ngoạn, đừng bỏ lở mất những giờ khắc quý giá, mà phí cả cuộc đời !
                        

 * DIỄN NÔM :               Bài 1. 
                      Một cánh hoa rơi xuân hết sang,
                      Muôn ngàn hoa tạ báo xuân tàn.
                      Mắt trông hoa rụng lòng tê tái,
                      Môi nhắp rượu nồng dạ xốn xang.
                      Phỉ Thúy chọn rường xây tổ ấm ,
                      Kỳ lân gò nổng ngã nghiêng tàn.
                      Suy cho cặn kẽ nên hành lạc,
                      Sao để hư danh trói buộc ràng ?.
       Lục bát :
                      Hoa rơi một cánh xuân tàn,
                      Đau lòng hoa rụng muôn ngàn xót xa.
                      Hoa bay trước mắt la đà,
                      Rượu mềm môi đắng lòng già tiếc thương.
                      Tổ êm phỉ thúy chọn rường,
                       Gò cao nghiêng ngã bên vườn kỳ lân.
                      Ăn chơi, suy kỹ, cân phân,
                      Hư danh trói buộc tấm thân ích gì ?.
         Bài 2.  
                     Tan chầu cầm quách áo xuân hồng,
                     Say khướt trở về với bến sông.
                     Nợ rượu khắp nơi đều có được,
                     Người đời bảy chục hiếm xưa không.
                     Kìa đàn bướm nhỏ vờn hoa dại,
                     Nọ lũ chuồn chuồn bởn nước trong.
                     Cảnh đẹp khuyên ai cùng tận hưởng,
                     Hoa tàn cảnh tạ khỏi hoài công !
Lục bát :
                   Tan chầu cầm quách áo xuân,
                   Mỗi ngày túy lúy đầu sông đi về.
                   Khắp nơi nợ rượu bề bề ,
                   Người đời bảy chục hiếm hề xưa nay.
                   Hãy xem đàn bướm lượn bay,
                   Chuồn chuồn giởn nước khoan thai bay về.
                   Thiên nhiên cảnh trí bốn bề,
                   Sao không thưởng ngoạn còn chê chỗ nào ?!
                                                                          Đỗ Chiêu Đức  
🌷🌷🌷🌷🌷

Mời Xem : Danh Hiệu Thi Nhân
🌸🌸🌸🌸                 

KÍNH MỜI XEM và HỌA (NẾU THÍCH) THƠ TRĂNG THU của HỒ NGUYỄN

TRĂNG THU Mây buồn kéo đám bám che trăng, Cuội ngóng chờ trông bóng chị Hằng. Chim mất tổ sầu kêu thảm thiết, Lá buông cành chiếc rớt tung ...