Hiển thị bài đăng được sắp xếp theo mức độ liên quan cho truy vấn Lê Đình Thông. Sắp xếp theo ngày Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị bài đăng được sắp xếp theo mức độ liên quan cho truy vấn Lê Đình Thông. Sắp xếp theo ngày Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 4 tháng 10, 2022

Luân Hồi - Thơ Lê Đình Thông

Luân Hồi

Luân Hồi
Samsara


Xe quay nhật nguyệt hai vòng
Lang thang (1) khuấy bụi long đong đường trần
Hai vòng sinh tử phân vân
Sân si rồi cũng có ngần ấy thôi
Đạt ma (2) tiếp nối nổi trôi
Bi thương chữ “pháp” bồi hồi quay nhanh
Chiếc xe quay bánh vòng quanh
Vô minh (3) mờ mịt tử sinh luân hồi
Cuộc đời bèo dạt mây trôi
Cánh bèo hờ hững một thời qua mau
Chữ “Thời” xuân, hạ đâu đâu
Thu, đông mái tóc nhuộm màu tuyết sương
Nhân duyên thập nhị vô thường
Chữ “ái” rồi cũng nói suông bụi mờ.

Lê Đình Thông

(1) Samsara
(2) Dharma
(3) Avidyā

 nguồn http://tneu.blogspot.com/2022/10/luan-hoi.html

 

Mời Xem :Pháp Luân (P.1- Lê Đình Thông )

GS.Lê Đình Thông dạy môn "Quan Hệ Quốc Tê ' Tại ĐH.Paris,Nanterne
Có trong Ban Soạn Thảo Hiến Chương 2000 của TS.Nguyễn Bá Long
Ông từ trần  tai Paris ngày 27/6/2025 Thọ 83 tuổi


Thứ Sáu, 23 tháng 9, 2022

Pháp Luân (P.1- Lê Đình Thông )

1

Lê Đình Thông

Hồi chân ướt chân ráo mới lên Đà Lạt, tôi ở trong đại học xá, ngày nào cũng đi ngang con đường có bánh xe pháp luân làm bằng đá trên cao. Có lần tôi leo tận nơi, thấy bên cạnh có tấm bảng ghi bánh xe này là của các anh chị sinh viên Đại Học Sư Phạm Huế tặng Viện Đại Học Đà Lạt. Tôi nghĩ bụng các anh chị phải vất vả lắm mới ‘‘lăn’’ nổi bánh xe từ Đại Học Sư Phạm Huế đến trụ ở chốn này. Nếu tôi nhớ không lầm, Đại Học Sư Phạm Huế ở đâu cầu Trường Tiền, phía Đập Đá dẫn đến thôn Vĩ Dạ. Mỗi khi nhớ lại ngôi trường cũ tôi đều nhớ đến bánh xe Pháp Luân. Trong tập sách Tưởng Niệm Cha Lập, tôi có nói qua về bánh xe này.

Pháp Luân là chữ nhà Phật, dịch từ chữ Phạn ‘‘Dharmacakra’’. Theo Hòa thượng Thích Minh Châu, ‘‘bánh xe lăn tới đâu, cỏ phiền não và mê hoặc bị diệt sạch đến đấy’’. Phật dạy rằng mọi sự đều là vô thường, nếu bám chặt chỉ thêm khổ đau. Vì vậy trong trong một bài tụng mới có câu: ‘‘Là do tâm nguyện đại từ bi, cái ngài chuyển luân pháp vô thượng’’.

Ý nghĩa nguyên thủy của Pháp Luân khi còn ‘‘tiếng chuông Thiên Mụ canh gà Thọ Xương’’ là ‘‘Dharmacakra’’. Khi lăn đến Đại học Đà Lạt, bánh xe Pháp Luân mang thêm ý nghĩa bánh xe khoa học (roue de la science). Bánh xe tri thức chuyển hóa trong các bộ môn, không khi nào chịu đứng yên một chỗ. Vai trò của đại học là thăng tiến hiểu biết (progression des savoirs), truyền đạt tri thức (transmission des savoirs). Cả hai công việc này đều là động cả. Vì vậy bánh xe đại học quay đều, nhanh chậm tùy nơi tùy lúc.

Đến lúc tuổi về chiều, tôi chợt nhớ lại bánh xe Pháp Luân năm xưa. Như vậy là thời gian lăn lóc từ lâu lắm rồi. Bánh xe Pháp Luân tượng hình cho thời gian trôi chảy như vần thơ Lý Bạch:

Biết chăng ai! Sông Hoàng hà ngọn nước tại lưng trời, tuôn đến bể khôn vời lại được.

Biết chăng nữa! Đài gương mái tóc bạc, sớm như tơ mà tối đã như gương

(Quân bất kiến, Hoàng hà chi thủy thiên thượng lai, bôn lưu đáo hải bất phục hồi.

Quân bất kiến, cao đường minh kính bi bạch phát. Triêu như thanh ty mộ thành tuyết)

君不见黄河之水天上来,

奔流到海不复回!

君不见高堂明镜悲白发,

朝如青丝暮成雪!

Thời gian của Lý Bạch là sông là bể. Thời gian đại học là bánh xe Pháp Luân. Tuy cũng ‘‘bất phục hồi’’, nhưng lặng lẽ như núi đồi Đà Lạt, chuyển hóa đến nay là ngót nửa thế kỷ. Trong mười năm cuối thế kỷ trước (1990), Robert Jordan viết ‘‘Wheel of time’’, thời gian quay hoài như bánh xe Pháp Luân, như ‘‘Thơ sầu rụng’’ của Lưu Trọng Lư, xin chép tặng các bạn học năm xưa thay cho đoạn kết bài Pháp Luân của nhiếu tác giả: Mỗi người chắp một đoạn làm thành một vòng tròn Pháp Luân đại học.

Vừng trăng từ độ lên ngôi,

Năm năm bến cũ em ngồi quay tơ.

Để tóc vướng vần thơ sầu rụng

Mái tóc buồn thơ cũng buồn theo.

Năm năm tiếng lụa xe đều,

Những ngày lạnh rớt, gió vèo trong cây.

Nhẹ bàn tay, nhẹ cánh tay,

Mùi hương hàng xóm bay đầy mái đông.

Nghiêng nghiêng mái tóc hương nồng,

Thời gian lặng rót một dòng buồn tênh.

 

                             Một thể hiện của bánh xe chuyển pháp luân

                                              (Ảnh từ Wikipedia )

Lê Đình Thông


Mời Xem Tiếp Pháp Luân P.2

 

Thứ Bảy, 15 tháng 10, 2022

ÔI THÔI RỒI...Thơ Tuyết Phan và 7 Bài Họa Của Các Thi Hửu và Bài Gốc ÔI THÔI RỒI


 ÔI THÔI RỒI...
Bát vỉ đồng âm

Ôi thôi Cha Mẹ Tổ Tiên ôi
Cứ thế mà buồn hết kiếp thôi
Tứ đổ tường càng say sẽ thối
Đỏ đen mê quá hóa sinh hôi
Bạn bè đàn đúm rồi thêm lỗi
Thân hữu phiền hà đập nát nồi
Thôi hãy bỏ ngay không mắc tội
Một mình gây chuyện bể niêu xôi...

Tuyết Phan 08 tháng 10 -2022

 

HỌA 1 : TRAU TRIA TÁNH NẾT

Cha mẹ xa rồi nhớ quá ôi!
Từ bao năm cố nén đau thôi.
Nghe lời chỉ dạy xua tâm thối,
Trọng đức ơn gìn xóa dạ hôi.
Cực nhọc cố bòn công tránh lỗi,
Khổ đau rán thuận lợi vun nồi.
Ngày qua tháng lại không gây tội,
Đền đáp thơm ngời hương ngát xôi.

HỒ NGUYỄN (08-10-2022)


HỌA 2 :Tứ Đỗ Tường, Căn Bệnh Trầm Kha...!
(Bát Vĩ Đồng Âm)

Thất Tổ Cửu Huyền cố thổ ôi...!
Buồn lo khắc khoải khổ đau thôi
Đỏ đen đánh bạc làm cho thối...!
Tứ đỗ tường lời lỗ cũng hôi
Rậm đám xúm nhau chơi phạm tội
Đông vui đàn đúm bể tan nồi (1)
Chừa ngay thói xấu bao nhiêu lỗi
Rắc rối tự mình mới hết xôi...! (2)
Mai Xuân Thanh
October 08, 2022


Chú thích :
(1) & (2) Chịu đấm ăn xôi...!
Nồi xôi cũng bị bể nát nên hết xôi rồi...!


 

HỌA 3 ,Y ĐỀ " ÔI THÔI RỒI ".

Vãn than một tiếng " Ôi thôi rồi "
Là nỗi sầu tư đẹp đấy thôi
Thơ ngỡ trầm hương nồng ý thắm
Tình như ngải độc lạt hoa hôi
Nửa đời còn kiếm cơm thay cháo
Mãn kiếp sao quên nắp khác nồi
Thử hỏi lão phu thời mãn tuổi
Phải người cố đấm để ăn xôi ...
Utah 9 - 10 - 2022
CAO MỴ NHÂN


 HỌA 4 :GHIỀN THƠ

Mê ghiền cái thú họa thơ ôi
Mở mắt phôn nhìn cứ rứa thôi
Bếp chẳng chùi lau nên ngửi thối
Nhà nào quét dọn bởi nghe hôi
Ông chồng ruột quặn quăng chày cối
Mụ vợ xương ê dẹp chén nồi
Đã thế chưa buông còn mải lội
Chàng đành tới chợ kiếm hàng xôi
Minh Thuý Thành Nội
Tháng 10/9/2022


 

 HỌA 5 :THƠ ÔI LÀ THƠ !

Làm thơ ta thích quá thơ ôi !
Đến cả quên luôn rữa chén nồi
Vợ giận ,bảo chồng không động chổi
Con hờn ,nói bố chẳng mua xôi
Sáng ra thơ thẩn hoài…nên nỗi
Ngày lại vu vơ mãi …mới thôi
Nhà cửa ,áo quần nghe mốc thối
Dọn rồi cũng chả hết mùi hôi
songquang 20221010 

 

 HỌA 6 :MÓN THỊT XÔI

Số phận cõi đời thấy hỡi ôi 
Bi quan phó mặc phước phần thôi 
Bằng không cố gắng chờ may thổi 
Được bữa cơm ăn, thế cũng rồi 
Năm tháng chòng chành ghe sóng nổi 
Đời đen như mực lọ lem nồi 
Thôi thôi đừng trách chi mang tội 
Ngày vợ bưng lên món thịt xôi !..
                 Yên Hà 
               13/10/2022

Copy từ Trang Lãng Phong

Theo lời dẫn giải của chị Tuyết Phan thì bài ÔI THÔI RỒI…là bài họa.

Nhưng không rõ bài xướng của ai.

Có thể chị Tuyết Phan đã họa từ bài CON CẦU TỰ của nt Đỗ Quý Bái:

 

CON CẦU TỰ 

(Khoán vĩ tám vần giữ vận ôi)

 

Huynh con cầu tự Lọ Lem ôi

Tứ Đổ Tường vương sở khổ thôi

Hút xách đam mê ôm tẩu thối

Bạc bài say đắm giữ tiền hôi

Gái trai hò hẹn sinh lầm lỗi

Chè rượu lè nhè đạp bể nồi

Nhìn vợ yếu đau sao thấy tội

Nỡ nào mình hưởng cả mâm xôi

Đỗ Quý Bái

***

Kính mời quý Anh Chị tham khảo bài thơ gốc khoán vận: Ôi,thôi,rồi,nồi,xôi:

Thi lão Lê Viên Ngọc: Trân trọng kính giới thiệu bài thơ thế Kỷ XIX của danh nhân Lịch sử Quảng Ngãi – thời đại Triều Nguyễn, LÊ TRUNG ĐÌNH (1857-1885) do Hòa Thượng Thích Hồng Ân trụ trì Thiên Ấn Tổ Đình kể, năm 1966

                        ***********************

 

ÔI THÔI RỒI NỒI XÔI

 

Giận quá người Nam dại quá ôi

Làm quan với Mọi chẳng nên thôi

Giữ gìn cương thổ cùng chung đó

Đoái thấy giang sơn đổ nát rồi

Cũng giống gà cồ bươi lộn bếp

Như loài chó dữ khới hư nồi

Tội đồ chẳng biết chi điều nhục

Ngọng miệng bởi vì ngậm nắm xôi

Lê Trung Đình

*

Tiểu sử LÊ TRUNG ĐÌNH (1857-1885)

Quê làng Phú Nhơn, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi, Lê Trung Đình là con thứ 6 trong một gia đình gồm 10 người con của quan Án Sát Bình Thuận Lê Trung Lượng, xuất thân trong một nhà toàn khoa bảng, có tư chất thông minh, được giảng dạy chu đáo, lên 15 tuổi ông đã làu thông kinh sử và nổi tiếng về tài năng văn chương, khoa Giáp Thân 1884, Ông đỗ cử Nhân tại trường thi hương Bình Định

Sinh trưởng và thi đỗ trong lúc vận nước đen tối: bên ngoài giặc Pháp xâm chiếm đất đai, bên trong triều đình rối ren, loạn lạc ở nhiều nơi...ông không ra làm quan mà âm thầm chuẩn bị lực lượng ứng nghĩa, Cùng với các sĩ phu trong tỉnh, Lê Trung Đình bí mật lập Nghĩa hội, tổ chức hai đội quân là Đoạn Kiệt và hương binh, đồng thời ráo riết xây dựng chiến khu ở Tuyền Tung Huyện Bình Sơn chuẩn bị đối phó với quân Pháp xâm lược.

Sau đó, nhận lệnh Tham biện Sơn phòng Nghĩa-Định Nguyễn Duy Cung, Lê Trung Đình cùng Nguyễn Bá Loan ra Huế gặp người đứng đầu phe chủ chiến là Tôn Thất Thuyết để nhận lệnh phối hợp hành động, và Lê Trung Đình được cử làm Chính quản hương binh

Ngày 23 tháng 5 năm Ất Dậu (5-7-1885), cuộc phản công của phe chủ chiến ở Kinh thành Huế thất bại, Phụ chính Tôn Thất Thuyết phải phò vua Hàm Nghi chạy ra Quảng Trị, xuống dụ Cần Vương (13 tháng 7 năm 1885).

Nhận được dụ, Lê Trung Đình cùng với các cộng sự là Nguyễn Tự Tân, Nguyễn Bá Loan  Nguyễn Tân Kỳ … kéo đến đòi các quan lại đầu tỉnh cấp vũ khí, lương thực để chống Pháp, nhưng quyền Bố chính Lê Duy Thụy và quyền Án sát Nguyễn Văn Dụ từ chối.

Ngay trong đêm ấy, các ông tập hợp khoảng ba ngàn hương binh tại khu vực bãi sông Trà Khúc (phía tả ngạn, trước đền Văn Thánh). Sau khi làm lễ tế cờ, cả đoàn quân nhanh chóng vượt sông, tấn công tỉnh thành Quảng Ngãi

Được sự hỗ trợ của quân nội ứng, hương binh Quảng Ngãi nhanh chóng đánh chiếm tỉnh thành, bắt giữ các quan lại, thả tù phạm, thu ấn triện, binh khí và tiền lương...rồi phát động phong trào Cần Vương trong toàn tỉnh.

Nghĩa quân làm chủ tỉnh thành được một hai hôm, vào ngày 5-6-Ất Dậu   (16-7-1885), quyền Tiễu Phủ sứ Sơn phòng Nghĩa-Định bấy giờ là Nguyễn Thân (trước theo Nghĩa hội Quảng Ngãi, sau theo Pháp) cùng Đề đốc Đinh Hội đem khoảng 900 biền binh tiến về tỉnh thành mở cuộc vây đánh.

Sau khi quân triều giết chết Nguyễn Tự Tân và sáu viên chỉ huy khác, thì bắt được Lê Trung Đình. Dụ hàng không thành, ngày 23-7-1885, Lê Trung Đình bị triều đình thân Pháp đem ra xử chém tại góc phía Bắc thành Quảng Ngãi.


Thứ Sáu, 28 tháng 1, 2022

Tả quân Lê văn Duyệt

 


Vì sao Tả Quân Lê văn Duyệt xuất thân thái giám nhưng khi mất lại nằm cùng Phu Nhân?

Từ lâu người Sài Gòn, Gia Định,Chợ Lớn xem Tả Quân Lê văn Duyệt là một vị thần có hơi hám tâm linh dân gian...Đây là một hiện tượng độc nhứt vô nhị.

Các dịp Lễ Tết số lượng người đi Lăng Ông đông gấp nhiều lần đình chùa, ngày thường khách vẫn nườm nượp nhang khói không lúc nào nguội lạnh.

Ngày Tết Nguyên Đán đầu năm trong tiết tháng Giêng se lạnh, khi mà Trời Đất giao hòa cùng lòng người thì bá tánh thích ghé Lăng Tả Quân đặng cầu nguyện cho một năm an bình, tài lộc...

Sài Gòn còn có mộ và đền thờ của Võ Tánh,Trương Tấn Bửu, Võ Di Nguy nhưng đông nhứt vẫn là Lăng Ông Bà Chiểu. Gần đó có đền thờ Trần Hưng Đạo nhưng dân Nam Kỳ ít khi lui tới .

Dân gian coi ông như thần và tế lễ ông tại lăng mang nghi thức thờ thần. Nghi lễ cúng kiếng tại lăng pha trộn giữa nghi lễ thờ cúng ông bà, tổ tiên của người Nam Kỳ với nghi lễ cúng thần.

Người Việt cúng trái cây,bánh và nhang đèn. Người Hoa cúng heo quay theo tục của họ.

Vì ngày xưa Tổng Trấn làm cho Sài Gòn ,Nam Kỳ giàu mạnh nên nhiều người Việt lẫn Hoa coi ông là Phúc Thần ,thành ra cúng tế ông là cầu xin ,đó là lẽ thường xuất phát từ tâm tưởng của người dân

Xin bắt đầu vài dòng về những ngày xưa

Năm 1760 ông Lê Văn Hiếu cùng vợ chồng con trai ông bà là ông bà Lê Văn Toại rời Quảng Ngãi theo ghe bầu vô Nam Kỳ và tới vùng Mỹ Tho,sau định cư tại Vàm Trà Lọt

Ông Lê Văn Toại và bà Nguyễn Thị Lập sanh ra con trai Lê Văn Duyệt ở đây

Ông Lê Văn Toại sanh được 4 con trai,ông Duyệt là con thứ hai,con trưởng

Tương truyền, từ năm 14, 15 tuổi ông Lê Văn Duyệt thường tự than: “Sanh ra ở đời loạn mà không dựng cờ nổi trống làm đại tướng, để công danh trên thẻ bạc, thì chẳng đáng làm mặt trai!”.

Năm 1765 gia đình này dời nhà qua bên Long Hưng sanh sống

Năm 1780 trong đêm mưa gió,Tây Sơn truy sát chúa Nguyễn Phước Ánh đã chạy từ Gia Định về Mỹ Tho tới vàm Ông Hổ và ghe chèo bị mắc cạn .Ông Lê Văn Toại chèo ghe ra cứu chúa Nguyễn và tùy tùng đem về nhà mình trú tạm

Sau thấy ông Duyệt lanh lẹ,cũng khỏe mạnh,chúa trả ơn gia đình họ Lê bằng cách nhận con trai họ là Lê Văn Duyệt cho đi theo cùng đặng làm thái giám nội cung

Sử Nguyễn chép Lê Văn Duyệt tuổi thơ không chịu học hành mà chỉ thích bắt chim, đánh cá,đá gà và tụ tập các trẻ trong làng, chia phe chơi trò tập trận

Đại Nam liệt truyện cho biết “ông mình thể ngắn nhỏ, tinh hãn, có tài lực”, và mắc bệnh “ẩn cung hình” từ lúc mới sanh.

Ẩn cung hình tức bộ phận sanh dục quá nhỏ và hình như con tằm không thể sanh con được

Nhiều nhà sử học nói ông không có bộ phận sanh dục nam ,có người nói đó là tật "ẩn tinh hoàn"

Chữ " ái nam ái nữ" là chữ không chính xác với một nhân vật lịch sử

Trích "Nhật ký hành trình" của John White ,London 1824, tr. 236:

"Tổng Trấn Sài Gòn nghe lời người ta nói là một hoạn quan. Trông hình dáng của ông đã chứng minh khá rõ tiếng đồn này. Ông ấy khoảng 50 tuổi , có cái nhìn thông minh. Ông có vẻ hoạt động mạnh về thể chất & tinh thần

Gương mặt tròn , nhẳn , không râu. Riêng giọng nói rất chát tai , giống tiếng đàn bà. Còn y phục của ông ta giản dị giống như y phục của người nghèo .."

Theo mô tả thì ông không có râu,giọng hơi chát,tức là âm hơi bổng, nội tiết tố nam testosterone hơi ít

Từ thái giám ,ông được làm cai đội nội cung,rồi tham gia đánh trận

Dũng cảm và quyết đoán,ông đánh trăm trận trăm thắng .Nổi danh trận Thị Nại Quy Nhơn

Tả Quân Tổng Trấn Lê Văn Duyệt gan dạ,lập nhiều chiến công vào bậc nhứt khai quốc công thần thời Gia Long.

Ông từng giữ chức Tổng Trấn Gia Định Thành 2 lần: từ 1812 đến 1815 (triều vua Gia Long) và từ 1820 đến 1832 (đời vua Minh Mạng)

Tả Quân lúc uy quyền, tuy chữ ít nhưng lòng người ai cũng kính phục, gọi ông là Ông Lớn Thượng, là Lê Thượng Công

Ông là người giỏi quân sự lẫn chánh trị, ngoại giao,là một vị quan nghiêm khắc, thanh liêm

Dù quyền hành lớn, ông không hề hiếp đáp kẻ dưới, hoặc tìm mọi cách để tư túi riêng,lính của ông có kỷ luật, không hề phá phách, cướp bóc dân gian

Vì bất đồng cách trị quốc với vua Minh Mạng nên ông vua này để bụng với ông Duyệt nhưng do Lê Văn Duyệt có quyền uy lớn trong triều đình nên vua Minh Mạng không làm gì được

Nên hiểu ông Duyệt là thủ lãnh thế lực Nam Kỳ thời đó,phe Nam Kỳ góp phần cho nhà Nguyễn trung hưng,Nam Kỳ giàu có ,nạp thuế,góp lúa gạo nhiều nhứt cho Huế

Tả quân Lê Văn Duyệt được vua Gia Long tin tưởng giao như như phó vương Nam Kỳ tự trị,vua Gia Long nhờ dân Nam Kỳ mà trung hưng nhà Nguyễn,sống mấy chục năm ở Nam Kỳ nên vua hiểu bụng dạ người Nam Kỳ,cái tánh hảo sảng nhưng cũng rất tự do ,Nam Kỳ tuy nhìn là dễ tánh nhưng thực sự rất khó,nguyên tắc rất chặt

Thời của ông Tả Quân cai quản thì đất Gia Định-Nam Kỳ tự do kinh tế thị trường,doanh nhân ngoại quốc Tây -Tàu bán buôn,truyền giáo tự do

Thời Minh Mạng cương vực lãnh thổ Đại Nam bao trùm Lào và Cam Bốt ,công của phe Nam Kỳ rất lớn vì góp của cải,lương thực vào chuyện đó

Sanh thời vua Minh Mạng không sợ ai ,ông nắm quyền tột đỉnh ở Huế,nhưng lại cảm thấy phe Nam Kỳ có thể uy hiếp triều đình

Lịch sử tréo ngoe ở chổ khi thạnh quá thì sẽ suy.Chánh trị mà,đó là quyền lợi của Nam Kỳ và Huế đã có sự mâu thuẩn nhau

Vua Gia Long vì được người Tàu Minh Hương giúp trung hưng nhà Nguyễn nên ông có chánh sách “nhẹ tay” , Minh Hương được miễn lao dịch và miễn thuế thân.

Năm 1824, Minh Mạng buộc tất cả người Tàu di cư phải đóng thuế thân kể cả người Minh Hương ,Lê Văn Duyệt phản đối

Lê Văn Duyệt cũng chống lịnh cấm đạo Thiên Chúa ,chống chủ trương trọng nông ức thương của Minh Mạng. Minh Mạng chủ trương triệt luôn quyền tự trị của người Chàm ở trấn Thuận Thành ,ông Duyệt cũng chống

Khi ông Duyệt còn sống,biết lão thần có uy tín lớn nên vua làm ngơ,khi ông Duyệt vừa qua đời thì vua Minh Mạng ra tay

Chờ sau khi Tả Quân Lê Văn Duyệt mất vào năm 1832 việc đầu tiên của vua Minh Mạng là phá hết thế lực,phe cánh của Tả Quân ở Gia Định và đặt quan cai trị trực tiếp

Vua Minh Mạng triệt phiên bớt thế lực của Tả Quân,bỏ quy chế tự trị của Gia Định trấn,lập tỉnh trực thuộc Huế,áp dụng chánh sách thắt chặt kinh tế ở Nam Kỳ nên đã bị Nam Kỳ phản ứng chống đối

Những cái này ông Duyệt còn sống lại cho tự do

Quan từ Huế vô,việc đầu tiên là khám tư dinh và truy xét tài sản của Lê Văn Duyệt,sau đó có những cử chỉ bất kính với người vừa mất

Tổng đốc Nguyễn Văn Quế ,bố chánh Bạch Xuân Nguyên và án sát Nguyễn Chương Đạt sai dựng lên một vụ án xử Lê Văn Duyệt

Người Minh Hương,người Công giáo,điền chủ,quan lại Nam Kỳ bất bình

Đêm 18 tháng 5 năm Quý Tỵ (1833), con nuôi Tả Quân là Lê Văn Khôi cùng 27 lính hồi lương đột nhập dinh Bố Chánh giết cả nhà Bạch Xuân Nguyên.

Quan Tổng đốc Nguyễn Văn Quế cũng bị giết

Tới ngày 7 tháng 6 năm 1833,quân binh biến chiếm cả Nam Kỳ lục tỉnh một cách dễ dàng,Huế rúng động

Dân Nam Kỳ ủng hộ vang trời

Phe Lê Văn Khôi bao gồm: Dân điền chủ Nam Kỳ,Cố đạo,giáo dân Công giáo , người Tàu bốn bang –kể cả con cháu Mạc Cửu ở Hà Tiên ,con cháu Thoại Ngọc Hầu,người Miên (Con trai ông Nguyễn Văn Tồn ở Trà Ôn) ,Tiểu vương Chàm ở trấn Thuận Thành (Bình Thuận) một số người dân tộc ở Tây Nguyên cũng có dính líu

Chúng ta nên nhìn kỹ,cuộc nổi loạn Lê Văn Khôi bắt nguồn từ chính sách triệt phiên ,cấm đạo và bế quan tỏa cảng của vua Minh Mạng.ở Nam Kỳ ,nó là mâu thuẩn chánh trị giữa Nam Kỳ mà Tả Quân là thủ lãnh và triều đình Huế mà vua Minh Mạng là đại diện

Cuộc binh biến thách thức vua Minh Mạng trong hơn 2 năm từ 1833 tới 1835

Và trong thế bị ép,Lê Văn Khôi làm binh biến,vua Minh Mạng sau đó dẹp được nhưng Huế cũng một phen xấc bấc xang bang và người ta đồn trong thời gian đó vua Minh Mạng sợ Lê Văn Khôi hành quân thốc ra đánh úp Huế nên đem vàng bạc chôn rất nhiều nơi ở Huế

Lê Văn Khôi không đánh rốc ra Huế là một sai lầm,để triều đình có thì giờ đem quân vào Nam ,trước tiên là khủng bố giới điền chủ nuôi Lê Văn Khôi

Vụ binh biến thành Phiên An của Lê Văn Khôi rốt cuộc bị triều đình dẹp yên

Cả thảy 1.831 người trong thành đều bị chém đầu và vùi xác chung trong một hố ở Đồng Tập Trận mà vua Minh Mạng gọi là Mả Ngụy-Mả Biền Tru

"Chiều giông Mả ngụy cũng giông.

Hồn lên lớp lớp bềnh bồng như mây

Sống thời gươm bén cầm tay

Chết thời một sợi lông mày cũng buông

Thương thay Mả ngụy mưa tuôn..."

Trong đó có 800 người Tàu Nam Kỳ.Sử chép có một người tên “Bốn Bang” trước khi chết để lại bài thơ lục bát dài 308 câu kể lại sự kiện gọi là “Bốn Bang thư”,bài thơ này là của ông Lưu Hằng Tín

Xin nhớ, Bốn Bang không phải tên người nào riêng lẻ,là bốn bang hội của người Tàu gồm Quảng Đông, Phúc Kiến, Triều Châu và Hải Nam.Tức là hiểu rằng có 4 bang hội Tàu hổ trợ tài chánh và nhơn lực cho Lê Văn Khôi

Triều đình áp giải về Huế xét xử và tử hình lăng trì,bêu đầu 8 người,cầm đầu -trong đó có Lê Văn Cù -con trai 7 tuổi của Lê Văn Khôi (Khôi đã chết trước đó) ,một giáo sĩ Pháp tên Marchand (Cố Du), hai người Tàu tên Mạch Tấn Giai (người Tiều) và con trai nhỏ của ông này , Lưu Hằng Tín (người Quảng).Sau khi bêu đầu thì xác được đưa trả về Nam chôn

Sai lầm của Lê Văn Khôi khi đi cầu viện quân Xiêm vì thế tính chánh danh đã không còn được sự ủng hộ của bá tánh Nam Kỳ

Sau khi chiếm thành Phiên An, chém 1.831 người chôn ở mả ngụy –mả biền tru.Vua Minh Mạng cho phá thành xây laị thành nhỏ

Vua Minh Mạng đã san bằng mả của ông Duyệt và lôi nguồn gốc thái giám của ông Duyệt ra miệt thị.Ngay tại mả Tả Quân vua Minh Mạng cho đóng tấm bia đề chữ "Quyền yêm Lê Văn Duyệt phục pháp xứ“ (Đây chỗ tên hoạn quan lộng quyền Lê Văn Duyệt chịu phép nước”

Đến lúc Tả quân Lê Văn Duyệt mất đi, vua Minh Mạng mới tuyên án tội của Lê Văn Duyệt trên ngôi mộ của ông

Vì bị oan khuất,hạ nhục mà dân lại còn thương nhiều hơn,từ tình cảm tới tâm linh,thành linh thần Gia Định

Lăng Ông linh thiêng trong lòng dân Nam Kỳ,người Tàu Chợ Lớn kêu là Lăng của phò mã gia gia, nghĩa là lăng cha ông phò mã (Cha thừa kế của phò mã Lê Văn Yên-ông này là cháu ông Duyệt, con ông em Lê Văn Phong)

Tương truyền tướng tinh của Tả Quân là con cọp ,khi còn sống lúc ngủ thì ban đêm có người thấy có bóng dáng con cọp hiện ra chợp chờn ở bên cạnh

Vì Tả Quân có danh vọng với Nam Kỳ, cho tự do thông thương,kinh tế thị trường,tự do truyền đạo,có tầm nhìn của một người Nam Kỳ mở ,lòng dạ thoáng ,tầm nhìn rộng đã bị hạ nhục ngay cái mả-chổ chôn nấm xương tàn của mình

Suốt mấy chục năm khu mả của ông hoang vắng không ai dám đi qua, truyền rằng đêm xuống nghe quân reo ngựa hí,có ma khóc lóc ở đó

Dân Gia Định cả Việt lẫn Tàu đều đau thương

Tả Quân Lê Văn Duyệt càng bị hạ nhục, bị xử khi đã chết thì cái tiếng linh của ông càng lan rộng trong dân gian

Dân kể giai thoại rằng những năm 1950 vua Thành Thái dịp Tết nọ lơn tơn đi chơi Lăng Ông, có ai đưa cho cựu hoàng cây nhang, ông nói rằng: ”Nó (Ông Duyệt) phải lạy tao chứ tao không lạy nó”

Có chuyện truyền rằng vua Thành Thái vào Nam Kỳ đi ngang Lăng Ông thì xe hơi bị chết máy, Thành Thái phải sai bỏ cái xiềng trên mộ ông mới nổ máy được (Nhưng thực tế cái xiềng ấy đã được bỏ đi từ đầu đời Thiệu Trị)

Lăng Ông linh thiêng trong lòng dân Nam Kỳ, người Tàu Chợ Lớn kêu là Lăng của phò mã gia gia, nghĩa là lăng cha ông phò mã

Kế bên mả vợ chồng Tả Quân người dân xưa dựng lên 上公廟 “Thượng Công miếu” từ 1841, không ngày nào là không có người đến cúng kiếng bánh trái, nhang đèn

Đó là lòng dân, dân thương nên dân cúng

Còn vì sao xuất thân là hoạn quan mà Tả Quân lại có Phu Nhân và lăng ngày nay có hai ngôi mộ song táng kế bên?

Tả Quân phu nhân tên là Đỗ Thị Phận

Đọc "Sài Gòn năm xưa" ông Vương Hồng Sển chép rằng :

"Nghe nói lại, lối năm 1885, thì chợ cũ ở vào xóm nhà dưỡng đường Chợ Rẫy, nay chỉ còn trơ lại một danh trơn và đây có lẽ là một chợ hồi đời trước, đến trào Pháp lại dẹp đi. Trước dưỡng đường Chợ Rẫy, xưa kia có một ngôi mộ cổ bằng vôi, kiểu chạm trổ rất khéo, tương truyền là của một ông hầu tứớc họ Đỗ (Tombeau du marquis de Đỗ)

Trường Viễn Đông Bác cổ đã xin liệt kê làm cổ tích, nhưng chủ đất là người có thế lực, một hai xin phá để cất phố xá và viên Toàn quyền Decoux ưng lời, thiệt là rất tiếc cho một cổ tích không có người ủng hộ

Mộ phần họ Đỗ này có dính líu với Tả quân phu nhơn, tên tộc là Đỗ Thị Phẫn. Tương truyền khi Lê Tả quân bị tội, phu nhơn về ngụ nơi xóm Chợ Rẫy, trong một ngôi chùa Phật, do bà mẹ năm xưa đứng tạo lập tục danh là Chùa Bà Dội." (Hết trích)

Tức là khúc Chợ Rẫy là đất của bên ngoại nhà bà Đỗ Thị Phẫn, chùa Bà Đội là chùa của má bà lập ra

Chúng ta chỉ có một chi tiết mơ hồ về Tả Quân phu nhân Đỗ Thị Phận

Vào năm 1900, bệnh viện Chợ Rẫy được xây dựng và lúc đó còn mả họ Đỗ, còn chùa Bà Dội là chùa nào tới nay chưa xác định được

Tổng trấn Gia Định thành Lê Văn Duyệt vốn là thái giám, sanh ra có tật "ẩn cung" nhưng trưởng thành trong chiến trận

Sử thần triều Nguyễn viết “Chư tướng thời trung hưng chỉ có Duyệt cùng Nguyễn Văn Trương đánh giặc không thua trận nào”.

Ông Tả Quân tánh rất nóng và có học vấn hạn chế

Sau 1802 ông Lê Văn Duyệt là Đệ Nhứt Khai Quốc Công Thần của nhà Nguyễn, vua phong ông là Khâm Sai Chưởng Tả Quân Dinh Bình Tây Tướng Quân, tước Quận Công

Sau đó vua Gia Long ban vợ cho Tả Quân Lê Văn Duyệt

Sử không ghi dòng nào về bà vợ họ Đỗ này

Trong truyện ngắn "Đức Tả Quân" của Phạm Hữu Hoàng có ghi là "Bấy giờ trong triều có nàng Đỗ Thị Phận, là ái nữ quan Thượng bảo khanh Đỗ Phiên. Đỗ Thị Phận dung nhan xinh đẹp, giỏi về y thuật, tính tình nghiêm nghị"

Thượng bảo khanh thời Gia Long là quan trật Tòng tam phẩm.Tuy nhiên chưa tra ra ông Thượng bảo khanh Đỗ Phiên là ai

Nhưng bà Đỗ Thị Phận này có lẽ cũng là con quan và vào cung làm cung nữ .Thời xưa bà Từ Cung Hoàng thái hậu Hoàng Thị Cúc mới vô cung cũng làm cung nữ hầu hạ đó thôi

Nhà vua ban hôn cho Tả Quân với bà Đỗ Thị Phận ,tức bà Đỗ này làm phu nhân Tả Quân ,cả hai người phải chấp nhận

Vua Gia Long đổi tên bà Đỗ từ Phận ra Phẫn

Chữ 墳 phẫn có nghĩa cao lớn,đất nhô lên. Đỗ Thị Phận thành Đỗ Thị Phẫn,tên được vua ban cho luôn ,quá vinh dự

Trong "Đức Tả Quân"Phạm Hữu Hoàn tả tâm trạng đêm hợp cẩn vợ chồng nghe rất có lý ,chồng là thái giám,vợ cung nữ và họ rất tôn trọng nhau về lý trí

(Trích)

"Đỗ Thị Phẫn mặc áo tân nương, khăn đỏ rũ che mặt ngồi trên ghế đợi. Tả quân bước vào, tới ngồi ghế đối diện.

Tả quân lên tiếng, rành rọt:

– Nàng là nương tử vua ban. Nhưng ta không thể cùng nàng chăn gối. Mong nàng hiểu cho. Đây là phòng riêng của nàng, cần gì cứ nói với ta

Lời vừa rồi của Tả quân làm Đỗ Thị Phẫn giảm bớt căng thẳng. Không ngờ Tả quân thẳng thắn, dứt khoát như vậy. Mọi thứ bỗng trở nên rõ ràng hơn. Nàng bớt lo âu như lúc bước vào dinh thự của Tả quân trong tiếng pháo nổ đón dâu. Lê Văn Duyệt gọi hai tỳ nữ vào căn dặn chăm lo cho nàng, rồi đi ra ngoài.

.........

Trong cuộc sống hằng ngày, Lê Văn Duyệt không để Đỗ Thị Phẫn thiếu thốn điều gì. Những lễ hội cung đình, Tả quân đều đưa phu nhân đi dự. Việc hiếu nghĩa cả hai phía, Tả quân đều lo chu toàn. Mỗi khi có việc quân phải đi xa lâu ngày, Tả quân tin cậy căn dặn vợ quán xuyến việc nhà

Đỗ Thị Phẫn quen dần với cuộc sống mới

Càng gần gũi, nàng thấy Tả quân không như những gì mường tượng ban đầu

Người chồng chưa bao giờ đồng tịch đồng sàng luôn cảm thông và hết sức tôn trọng nàng. Qua nhiều lần hàn huyên tâm sự, ít nhiều đã có sự gắn bó."(Hết trích)

Thuyền theo lái,gái theo chồng

Tả Quân phu nhân gắn bó với chồng mấy chục năm,bà là người hiền thục đoan chánh,lo từng chút cho chồng từ miếng ăn tới giấc ngủ,ông là người liêm khiết và sĩ diện

Năm 1832 Cọp Gấm Đồng Nai Lê Văn Duyệt lìa đời khi đương chức Tổng Trấn Gia Định Thành tại tư dinh của ông ở khu dinh Độc Lập ngày nay

Trần Bảo Định trong "Kệ kinh trong lòng người" viết lại giây phút vợ lìa chồng như sau:

" Ánh bạch lạp không đủ sáng để soi thủng bóng tối đêm cuối, phu nhân Đỗ Thị Phẫn quỳ bên giường bịnh lắng nghe lời trăn trối của chồng:

- Nếu, một mai ta đi về cõi khác, phu nhân quay lại xóm Rẫy xưa, nơi mẹ trước kia đã tạo lập ngôi chùa Phật, tục danh chùa Bà Dội mà nương náu...

Gió rít tường thành dữ dội, tiếng mưa át cả lời người sắp ra đi và những hạt mưa đêm không thấm thấu nổi những giọt nước mắt của phu nhân Tổng trấn Gia Định thành

- Nàng đừng tiếc thương ta, bởi ta chỉ là kẻ yêm hoạn tầm thường... ta không thể... thiệt là, vô cùng có lỗi với phu nhân

Minh Mạng đầu nuôi chí cả, óc thông minh, trái tim còn nóng hổi, chưa lạnh lùng...tuy bụng dạ có hẹp hòi đố kỵ...

Ta tin rằng, Minh Mạng sẽ trả thù ta, nhưng với phu nhân chắc là không. Bởi, Minh Mạng thừa biết ta với nàng chỉ là phu thê trên danh nghĩa... "

Tả Quân mất ngày 30 tháng 7 năm Mậu Thìn (nhằm ngày 15 tháng 8 năm 1832) hưởng thọ 69 tuổi

Tả quân còn có hai cô hầu rất thương ,bằng chứng ngày nay mé ngoài vòng thành Lăng Ông còn có mả hai cô hầu rất lớn.

Đêm 8/5/1833 Lê Văn Khôi làm binh biến chiếm thành Gia Định ly khai triều đình Huế trong 2 năm trời làm Huế một phen thất kinh

Đại Nam Thực lục chép trước khi phát động binh biến, Lê Văn Khôi có tới bẩm với bà Đỗ Thị bà đã khóc ròng nói: “Các ngươi làm thế thì chắc chắn Thượng công sẽ bị đào mả thôi".

Ngày 16 tháng 7 năm 1835, quân triều đình Huế chia làm 8 mũi, tấn công ồ ạt vào thành Gia Định,vụ binh biến bị dẹp.

Vua Minh Mạng làm án xử Lê Văn Duyệt nhưng chừa Đỗ phu nhân ra vì biết bà là vợ danh phận và không có con nối dõi.

Đỗ phu nhân về Chợ Rẫy sống ẩn dật, nhịn nhục ở chùa Bà Dội tới chết.

Khi bà mất người nhà vạch rào ban đêm đem quan tài bà chôn kế bên Tả Quân ở trong Lăng Ông Bà Chiểu. Lúc này mả bị đục bia,san núm, xiềng xích và nhiều lời đồn về ban đêm ma quỷ gào thét vang trời .Người vợ đồng cam cùng chịu hình phạt với chồng.

Ngày nay đi lăng Ông thấy mả Tả Quân và Phu Nhân họ Đỗ nằm song song nhau ,ta biết hai ông bà chung thủy và sắt son với nhau

"Đạo nào bằng đạo phu thê

Tay ấp, má kề, sanh tử có nhau"

Tình nghĩa vợ chồng từ trong cách sống và sự tôn trọng nhau.

Người xưa có lòng sáng tợ mặt trời

Kết luận:

Chưa có ông tướng nào có được vị trí tâm linh như Tả Quân Lê Văn Duyệt .

Chưa vua nào phong Thần cho ông, nhưng dân coi ông là Thần , coi ông như Phước Thần của Sài Gòn, kêu nơi gửi nắm xương tàn của ông là “Lăng Ông” ( Đức Tả Quân là người duy nhứt mà nơi yên nghỉ được dân thành kính tôn xưng là “Lăng” ngang hàng với các Vua nhà Nguyễn ).

Sống làm tướng bách chiến bách thắng,sống làm quan thanh liêm lo cho dân, chết làm Thần của dân

Có gì hạnh phúc hơn !?

Mang lễ vật cúng không phải là mê tín dị đoan, tục này có từ đời xưa với lòng tin "có kiêng có lành". Người Việt thờ tổ tiên, thường vẫn làm mâm cơm cúng giỗ ông bà, thì mang lễ vật cúng Tả Quân cũng như cúng ông bà vậy thôi .

Cúng Lăng Ông hay có xây chầu hát bộ. Đó là nét văn hóa đặc trưng Nam Kỳ xưa cần giữ gìn .

Cầu khấn Tả Quân cũng không phải mê tín dị đoan,cũng chẳng phải trả giá, trả treo gì với tiền nhân ,thực chất nó là niềm tin,là tình thương,là sự gửi gắm lòng thành ,niềm tin của dân Nam Kỳ vào Tả Quân .Cái sự "linh thiêng" và "linh ứng" là một đặc trưng ở đây mà các nơi khác không có được.

Đốt giấy tiền vàng bạc ở Lăng Tả Quân thường là người Tàu ,đó là tục của họ, họ cúng chùa Tàu cũng vậy mà thôi.

Lăng Ông Bà Chiểu đã trở thành trung tâm tín ngưỡng thờ Thần điển hình của người Nam Kỳ vùng Sài Gòn Gia Định, đồng thời cũng là biểu tượng giáo dục tinh thần chánh trị cho thế hệ trẻ Nam Kỳ

Thông điệp là: Sống có chánh kiến, dám làm, dám chịu trách nhiệm, tay gươm tay viết, biết ý thức đem lợi ích về cho Nam Kỳ, biết phản và chết vẫn hiển linh bảo vệ xứ sở mình.


Dam Ho chuyển
















Thứ Bảy, 25 tháng 5, 2019

“Tiên tích đức, hậu tầm long” – Câu chuyện anh em nhà họ Quách (Từ Hửu Nguyên.Blog )

Trần Hưng


Tổ tiên người Việt từ ngàn xưa luôn dạy con cháu rằng muốn thành công thì phải có đức. Ngay cả trong giới phong thủy chân chính, vốn có thể dựa vào địa lý hay long mạch mà cải mệnh, vẫn luôn lưu truyền câu nói: “tiên tích đức, hậu tầm long”. Văn hóa cổ truyền đó ngày nay ít người thật sự tin tưởng, nhưng có không ít câu chuyện có thật được ghi chép lại là minh chứng cho điều này, trong đó phải kể đến chuyện hai anh em nhà họ Quách thời Lê sơ.

“Tiên tích đức, hậu tầm long”

Trong thời Lê Sơ ở xã Thái Phúc, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình có một người họ Quách tính tình thật thà chất phác, không tranh cãi với ai. Một lần khi cuốc đất, anh ta tìm thấy một đĩnh vàng. Vốn tin vào đạo lý của trời đất, nghĩ rằng số vàng này không phải của mình nên không thể lấy được, nhưng không biết của ai, người họ Quách liền đem cất riêng ở một chỗ.
Mấy tháng sau có một người từ phương Bắc đến chỗ khu đất ấy kêu khóc, người họ Quách đến hỏi thì người khách đáp rằng tổ tiên có của để lại ở chỗ này. Người họ Quách bèn trả lại số vàng đã đào được.
Người khách cảm tạ nói: “Tôi biết qua địa lý, ở đây có hai ngôi huyệt tốt: một ngôi đời đời kế tiếp làm công khanh; một ngôi đỗ Tiến sĩ một đời. Ông thích ngôi nào, tôi sẽ để giúp để báo ơn đức.”
Người họ Quách thật thà nói rằng: “Nhà tôi nhiều đời nghèo túng, có đâu dám mong quá phận định, chỉ muốn con cháu một đời đỗ Tiến sĩ, công danh hiển hách, thế là đủ rồi.” Vị khách liền để đất giúp.
Người họ Quách đó chính là ông nội của Quách Đình Bảo. Quách Đình Bảo một vị danh thần tài đức của nhà Lê Sơ, thông minh nức tiếng sánh ngang Lương Thế Vinh thời bấy giờ. Em Quách Đình Bảo là Quách Hữu Nghiêm cũng là một vị quan tài hoa. Hai anh em ông thật sự ứng với câu nói: “…chỉ muốn con cháu một đời đỗ Tiến sĩ, công danh hiển hách, thế là đủ rồi.”

Quách Đình Bảo và Lương Thế Vinh

Vua Lê Thánh Tông xem trọng hiền sĩ, chú trọng khoa bảng. Khoa thi năm Quý Mùi 1463, sĩ tử các nơi nô nức dự thi.
Trước kỳ thi Hội khoảng 3 tháng, Lương Thế Vinh nghe tiếng Quách Đình Bảo từ lâu nên có ý định ghé thăm, đến hàng nước trước cổng làng dò hỏi thì biết rằng Đình Bảo đang đọc sách. Lương Thế Vinh nghĩ: “Kỳ thi gần đến nơi, hãy còn cố sức học, chỉ có tiếng hão thôi, chắc là anh này trong bụng chẳng có uẩn súc gì cả”, liền quay trở về, không gặp Đình Bảo.

Họ Quách
Lương Thế Vinh tìm gặp Quách Đình Bảo. (Tranh minh họa của họa sĩ Đức Hòa trong bộ “Lịch sử Việt Nam bằng tranh” – Sử dụng dưới sự đồng ý của tác giả)

Lúc Đình Bảo ra hàng nước thì được nghe nói lại chuyện này, đoán biết người đó là Thế Vinh liền quyết định đến thăm. Thế nhưng khi đến nơi thì Lương Thế Vinh không có nhà, khi hỏi thì được biết Thế Vinh đang thả diều ngoài đồng cùng đám trẻ con. Đình Bảo nghĩ: “Tài học người này, ta không thể theo kịp được”. Trở về nhà, ông cũng không dùi mài khổ sở nữa.
Kỳ thi Hội năm đó Quách Đình Bảo vượt qua Lương Thế Vinh và tất cả các sĩ tử khác, đứng đầu thi Hội tức Hội nguyên.
Đến kỳ thi Đình thì Lương Thế Vinh lại đỗ đầu tức Trạng nguyên, Quách Đình Bảo đỗ Thám hoa, người đỗ Bảng nhãn là Nguyễn Đức Trinh. Đây đều là những người hay chữ từ nhỏ, vua Lê Thánh Tông trực tiếp ra bài thi văn sách rất vui mừng vì tìm được những nhân tài xuất chúng, bèn sai làm 3 lá cờ, mỗi người một lá, trong cờ thêu 4 câu sau:
Trạng nguyên Lương Thế Vinh,
Bảng nhãn Nguyễn Đức Trinh,
Thám hoa Quách Đình Bảo,
Thiên hạ cộng tri danh.

Truyền kỳ về khí phách của vị Trạng nguyên Tam nguyên đầu tiên trong sử Việt
(Tranh minh họa: Bìa sách về Trạng nguyên, NXB Kim Đồng)

Ba năm sau đến khoa thi năm 1466, em trai của Đình Bảo là Quách Hữu Nghiêm dự thi và đỗ Hoàng Giáp.
Điều thú vị là hai anh em họ Quách đảm nhận những chức vụ tương tự nhau. Quách Đình Bảo làm đến Lễ, Hình bộ, Thượng thư kiêm Đô ngự sử, thì sau đấy người em là Hữu Nghiêm cũng nối gót đảm nhận chức vị ấy.
Quách Hữu Nghiêm giữ chức Tả thị lang bộ lễ, năm 1484 được phong phó Đô ngự sử Ngự sử đài, năm 1500 được thăng Thái thường tự khanh. Năm 1502, ông được cử làm Chánh sứ đi sứ nhà Minh, rồi thăng làm Đô ngự sử.

Vua sáng, tôi hiền, Giang Sơn cực thịnh

Vua Lê Thánh Tông là vị Vua sáng suốt, anh minh, rời xa nịnh thần, quý trọng hiền tài giúp cho Đại Việt lên đến thời kỳ cực thịnh. Được làm quan trong môi trường ấy, hai anh em họ Quách cũng thi thố hết được tài năng của mình. (Xem bài: Chống tham nhũng từng giúp Đại Việt có được thời kỳ “ngủ đêm mọi nhà không phải đóng cửa”)
Năm 1484, Lễ bộ Thượng thư Quách Đình Bảo tâu với Vua nên dựng bia tiến sĩ ở Văn Miếu – Quốc Tử Giám nhằm khuyến học tìm được hiền tài trong nước. Vua chuẩn tấu cho dựng bia tiến sĩ ghi lại họ tên, thứ bậc những người thi đậu cả những khoa thi các đời Vua trước.
Năm 1494, vua Lê Thánh Tông lập ra hội Tao Đàn tập hợp 28 vì sao sáng về thơ văn trong bầu trời Đại Việt (gọi là nhị thập bát tú) trong đó có cả Quách Đình Bảo, Quách Hữu Nghiêm, Lương Thế Vinh.

Họ Quách
(Tranh minh họa từ baophapluat.vn)

Sự tài năng của hai anh em họ Quách khiến nhà Vua tin tưởng, luôn đem các ông theo bên mình trong các trận chiến lớn. Trong cuộc tiến quân đánh Chiêm Thành, quân Đại Việt thắng lớn, Quách Hữu Nghiêm làm bài vịnh hào khí ba quân. Lúc đó ông tình cờ gặp người con gái tên Hồ Thị Thành, vốn là dòng dõi Hoàng tộc, quốc sắc thi hương thì đem lòng yêu mến. Được Vua và anh của mình vun vén, hai người đã nên duyên vợ chồng.
Năm 1471 quân Đại Việt đánh vào kinh thành Chà Bàn bắt được vua Chiêm, khiến nạn Chiêm Thành quấy nhiễu Đại Việt không còn nữa. Quách Hữu Nghiêm được cho về quê vợ, không bao lâu sau thì có được con trai đặt tên là Quách Quý Công, sau trở thành Anh Kiệt tướng quân và thành tổ chi họ Quách Hữu ở Quỳnh Lưu, Nghệ An. Anh Kiệt tướng quân sau này được cử làm thượng tướng, coi quân cẩm y vệ, luôn hầu giá bên vua.
Lê Quý Đôn đánh giá Quách Hữu Nghiêm “là người phóng khoáng, có tài bàn luận”.
Cuốn “Đại Việt lịch triều đăng khoa lục” ghi chép lại rằng khi Quách Hữu Nghiêm đi sứ sang nhà Minh. Một lần thấy trên sân rồng có ánh nắng chiếu qua do cái lọng bị thủng một lỗ, Vua Minh ra câu đối rằng:
Ốc lậu nhật xuyên hình như kê noãn tam tam tứ tứ.
Nghĩa là:
Nhà thủng mặt trời xuyên qua, hình như trứng gà ba ba bốn bốn.
Quách Hữu Nghiêm đối rằng:
Giang trường phong lộng thế tự long lân điệp điệp trùng trùng.
Nghĩa là:
Sông lớn gió thổi giống như vẩy rồng trùng trùng điệp điệp.
Vua Minh thấy ông đối rất chỉnh lại hùng khí lẫm liệt thì hết lời khen ngợi.
Quách Hữu Nghiêm cũng đã thể hiện tài thông minh, ứng đối mau lẹ qua các bài biểu, bài tâu đối trí, những lần được mời lên trên điện. Vì thế vua Minh ban cho ông áo đại hồng có thêu con dê thần và đám mây bằng kim tuyến xen chỉ tơ sống, chỉ gai. Đồng thời khi trở về, vua Minh cũng sai cấp cho đoàn sứ bộ một thuyền lớn.
Vua Minh còn ban cho Hữu Nghiêm 4 chữ: “Tam Đại Di Tài”. Tam Đại là ý chỉ 3 triều đại lớn là Hạ, Thương, Chu. Ý vua Minh ví ông như những nhân tài tuấn tù thời 3 Triều đại này.
Vua Minh tiễn đoàn sứ thần Đại Việt trở về nước rất trọng thể, kết quả chuyến đi rất tốt đẹp

Họ Quách
Đền Thái Phúc thờ hai anh em họ Quách. (Ảnh từ Wikipedia)

Thời kỳ vua Lê Thánh Tông là thời kỳ thịnh trị, nhà Vua trọng người hiền tài, tránh xa kẻ xấu. Trong Triều đình chỉ có “Vua sáng, tôi hiền”, quả là môi trường tốt để những bậc hiền thần như anh em họ Quách dốc lòng phục vụ cho Giang Sơn Xã Tắc. Đại Việt lên đến thời kỳ toàn thịnh.
Trần Hưng
Tham khảo tư liệu từ “Kiến văn tiểu lục”, “Tam khôi bị lục”

Thứ Năm, 10 tháng 1, 2013

Lai lịch cùng ý nghĩa tên gọi Tây Ninh hiện nay


LAI LỊCH CÙNG Ý NGHĨA TÊN GỌI TỈNH TÂY NINH HIỆN NAY - Trần Minh Tạo


Xem hình

Tháng Giêng năm Canh Thìn (1820), thái tử Đởm kế ngôi Gia Long làm vua. Đặt niên hiệu Minh Mạng. Năm 1832, khai quốc đại thần, tổng trấn Gia Định thành Lê Văn Duyệt qua đời. Vì có hiềm khích cá nhân từ trước, vua Minh Mạng và một số quần thần cùng phe nhân đó khởi động cái việc gọi là luận tội lúc còn sống của Lê Văn Duyệt. Kết quả: Lê Văn Duyệt bị truy thu quan tước, mồ mả bị xiềng xích và san bằng ; con nuôi là Lê Văn Khôi bị bắt giam nhưng tổ chức vượt ngục được.   

   Đêm 18 tháng 5 năm Quý Tỵ, 1833, Lê Văn Khôi tập hợp phe đảng phản kích triều đình. Trong thời gian ngắn, toàn Nam Kỳ, kéo từ Biên Hòa đến tận Hà Tiên ngày nay, đều nằm dưới quyền cai trị của Lê Văn Khôi. Lúc đó, triều đình Minh Mạng sai binh tướng phản công quyết liệt. Lê Văn Khôi bèn cử người sang Tiêm-La ( Thái Lan ngày nay ) cầu cứu. Nhân cơ hội này,Tiêm-La xuất liền 5 đạo binh. Đạo thứ nhất, thủy binh, với 100 chiến thuyền, đánh chiếm Hà Tiên. Đạo thứ hai, vừa thuỷ vừa bộ, đánh chiếm thủ đô Nam Vang, lật đổ triều đình thân Việt Nam ở đây, đưa lực lượng thân mình lên thay rồi đánh lấy tiếp  Châu Đốc và An Giang. Đạo thứ ba, đánh lấy Cam Lộ ( Quảng Trị ). Đạo thứ 4, đánh lấy Cam Cát, Cam Môn ( Miền Trung ). Đạo thứ 5, đánh lấy Trấn Ninh ( Phía tây Nghệ An bây giờ ). Mục đích chính là  thôn tính Nam Kỳ của Việt Nam .
        Khi hay tin bị đồng loạt tấn công, vua Minh Mạng sai Trương Minh Giảng và Nguyễn Xuân, lấy quân vùng Gia Định, tiến về mặt Châu Đốc, An Giang đánh kìm chận quân Tiêm-La lại. Tại mặt trận Cam Lộ, Cam Môn, Cam Cát, Trấn Ninh, giao cho Lê Văn Thụy, Phan Văn Điển và Nguyễn Văn Xuân chống giữ. Mặt khác, bí mật hỗ trợ lực lượng Khmer thân Việt
Nam nổi dậy kháng cự Tiêm-La ngay từ trong nước. Chẳng bao lâu sau, trên dưới một tháng, quan binh triều đình nhà Nguyễn thu phục được Hà Tiên, Châu Đốc, An Giang; đẩy lùi toàn bộ liên quân Tiêm La-Khmer-Lào ra khỏi lãnh thổ Việt Nam. Nhân đó, tiến chiếm thủ đô Nam Vang. Đưa vua Chân Lạp cũ, là Nặc-Ông-Chân về nước. Sau đó, Trương Minh Giảng và Lê Đại Cương được lệnh lập ngay một đại đồn, gọi là đồn An Nam, nằm gần thủ đô Nam Vang. Trực tiếp tiến hành bảo hộ triều đình Nặc-Ông-Chân vẫn còn bị người Tiêm La đe dọa từ biên giới phía Bắc,Tây và Tây Nam .
         Năm sau,1834, Nặc-Ông-Chân mất. Vì không có con trai, nội bộ triều đình Chân Lạp bắt đầu lủng củng và chia rẻ. Năm 1835,Trương Minh Giảng lập một người con gái của Nặc-Ông-Chân, tên là Ang-Mey, làm quận chúa. Đặt cho tên Việt Nam là Ngọc Vân.(
Sau này, khi quân đội Việt Nam triệt thoái  về nước, nàng quận chúa người Khmer này “lưu vong”theo  .Bà cùng nhóm hoàng tộc của mình sống hẳn tại huyện Phú Châu ,thuộc tỉnh An Giang bây giờ, cách biên giới Kampuchia hiện nay không quá 30 cây số. Nằm cặp hữu ngạn Tiền giang ). Song song đó, vua Minh Mạng ra lệnh biến thẳng nước Chân Lạp thành một Trấn của Việt Nam, có tên gọi là Trấn Tây. Chia toàn Trấn này ra làm 2 huyện và 32 phủ. Giao cho Trương Minh Giảng làm Tướng Quân thành Trấn Tây ( kiêm Tổng đốc 2 tỉnh An Giang và Hà Tiên ở bên Việt Nam.Lúc này An Giang bao trùm luôn các huyện thị phía Nam tỉnh Đồng Tháp bây giờ ,gồm có Lấp Vò ,Lai Vung ,Sa Đéc, Châu Thành ). Lê Đại Cương làm Tham Tán đại thần thành Trấn Tây ( kiêm tuần phủ tỉnh An Giang ). Cải bổ thống chế Bùi Công Huyên làm đô đốc thành Trấn Tây, có nhiệm vụ thống lĩnh  liên quân Việt Nam và Chân Lạp trong sứ mệnh vừa kiềm chế  âm mưu bành trướng của người Tiêm-La vừa sáp nhập, thôn tính  dần Chân Lạp vào bản đồ Đại Việt.
         Tuy nhiên, được vài năm, do sự nhũng nhiễu, hà lạm, hiếp đáp quá đáng của quan quân Việt Nam đang thực hiện sự “bảo hộ” tại đây, người Chân Lạp bắt đầu nổi dậy. Người Tiêm La nhân đó xúi giục và giúp đỡ thêm vào nhằm vừa mưu toan chiếm lấy Chân Lạp vừa tìm cơ hội  tấn công xâm lược toàn vùng Nam bộ của người Việt.
         Nắm được tình hình này,
tháng 7 năm 1836, Trương Minh Giảng  xin vua Minh Mạng lấy một phần đất phía tây bắc tỉnh Gia Định, giáp giới nước Chân Lạp, vốn thuộc huyện Bình Dương và Thuận An, phủ Tân Bình lâu nay, làm một phủ mới, gọi là Tây Ninh với  hai huyện trực thuộc bên dưới, đó là Tân Ninh và Quang Hóa. Phủ lỵ sẽ nằm tại huyện Quang Hóa, “ phía tả có sông Tiểu Đà thông với Quang Hóa ”, “ phía hữu có đàng lục bộ thông đến Trọc Giang ( giáp Biên Hòa )”, nằm trên một con đường “ thẳng đến con đàng lớn xứ Kha Lâm ” ( Ka-Tum bây giờ ), “ đất rộng bằng và tốt ”,“ người Hán và người Mọi ở xen nhau cày ruộng làm ăn ”.
        Theo tờ tấu của Trương Minh Giảng, việc lập Phủ Tây Ninh giáp nước Chân Lạp là để “
Trong, bền vững bờ cõi thành Gia Định”, “Ngoài, mạnh thêm thanh thế xứ Trấn Tây ”( Tức là nước Chân Lạp của người Khmer đang do quan quân  người Việt bảo hộ ).Và, bấy giờ, trước đề xuất này, vua Minh Mạng đã đồng ý. Như vậy, tên gọi Tây Ninh đã ra đời trong bối cảnh lịch sử này. Nó là tên của một phủ mới thuộc về tỉnh Gia Định, vào đời vua Minh Mạng. Mang nghĩa vừa làm “mạnh thêm thanh thế xứ Trấn Tây”, tức nhằm hậu thuẫn và giữ vững an ninh ( Ninh ) nơi xứ Kampuchia đã và đang trở thành thành Trấn Tây ( Tây ) của nước Đại Nam vào lúc đó  cùng vừa thực hiện phương lược  giữ “ bền vững bờ cõi thành Gia Định” : Tức là khi có thành Trấn Tây ( nước Kampuchia trước đó) làm “khu đệm” nhắm vào nước Tiêm-La rồi, lại có thêm Tây Ninh hậu thuẫn phía sau cho thành Trấn Tây nữa thì bờ cõi thành Gia Định vốn nằm phía sau Tây Ninh  ắt  sẽ đạt được sự bền vững, an toàn về mặt an ninh mà thôi.
Mùa Hạ  2012
Trần Minh Tạo
yahoo

                                          

TRÀ NGUỘI -Thơ kiều Mộng Hà và Thơ Họa

TRÀ NGUỘI Chớp mắt còn chi!!! Tiệc đã tàn Cố quên vết xước của thời gian Người đi trà nguội tình sương khói Bướm vắng hoa tàn mộng dở dang N...