Thứ Năm, 3 tháng 12, 2020

QUAN ĐIỂM VỀ KINH DOANH của MATSUSHITA Kônosuke

   

QUAN ĐIỂM VỀ KINH DOANH của MATSUSHITA Kônosuke, người được người Nhật xem là thánh kinh doanh, 

trong quyển “CÁCH NHÌN VÀ XEM XÉT SỰ VIỆC”, 1963


Lời người biên dịch

Văn phong của tác giả có khuynh hướng khiêm tốn và hơi lập đi lập lại không được cô động lắm. Mặc dù hơi khó đọc trong tiếng Việt nhưng để có thể biết phần nào văn phong của tác giả, người biên dịch cố gắng dịch sát theo quan điểm xem văn biết người. Tuy nhiên, có điều gì không đúng hoặc chưa đạt là do khả năng giới hạn của người biên dịch. Tiểu đề là do người biên dịch dịch thoát với dụng ý để dễ nắm được đại ý của mỗi đoạn và thu hút muốn đọc của độc giả.


SỐNG VỚI Ý THỨC SỨ MỆNH

Tôi bắt đầu ý thức suy nghĩ về kinh doanh khoảng sau 30 năm từ lúc khởi sự làm ăn riêng. Trước đó tôi chỉ theo cách làm ăn đã học nhớ được ở thời làm công học nghề. Vào thời đó cách này thường là sáng làm việc sớm, trân trọng khách hàng, khi ở nhà thì suy nghĩ chế tạo ra những sản phẩm khách hàng có thể ưa chuộng. Nghĩa là, cái có thể gọi là nỗ lực hoặc học tập.

Sau 30 năm làm riêng số nhân viên cũng đông lên, và công việc cũng trôi chảy thuận lợi. Ở thành phố Osaka tên Matsushita Điện Khí cũng được người đời biết đến. Trước đó, cứ mãi lo cắm cúi làm việc nhưng vào lúc này tôi cảm thấy phải chăng công việc chế tạo, sinh sản còn có một ý nghĩa to lớn, đó là liên quan đến phồn vinh của xã hội thông qua việc làm của mình. Ý tưởng này đưa tôi đến quyết định từ nay công việc kinh doanh phải được thực hiện với một sứ mệnh. Tôi đã đi đến suy nghĩ là không những xí nghiệp mà cả cá nhân cũng vậy, con người tất cả đều cần phải làm việc với một ý nghĩa lớn. Khi đó, tôi nói ý tưởng này với mọi người trong xưởng, và được mọi người tán đồng. 

Từ trước đến nay mỗi ngày chúng tôi cứ miệt mài với công việc, không có ý thức đặc biệt gì cả. Điều này không có gì sai trái nhưng từ nay chúng tôi làm việc với ý thức: công việc chúng tôi đang làm là cao quý với sứ mệnh nói trên (xây dựng phồn vinh xã hội). 

Thật là kỳ lạ, tâm tình làm việc của chúng tôi hoàn toàn thay đổi! Không những bản thân tôi mà tất cả những nhân viên trong xưởng cũng thế! Cũng là một công việc nhưng chúng tôi đã cảm thấy được ý nghĩa của công việc!


Ý THỨC SỨ MỆNH LÀ SỨC MẠNH GIÚP CHÚNG TA

THỰC HIỆN ĐƯỢC HY VỌNG VÀ ƯỚC MƠ

Sau khi ý thức được sứ mệnh của mình, ước mơ và lý tưởng đã đến với tôi. Tôi ước mơ 3 năm sau, 5 năm sau, 10 năm sẽ như thế này, thế này. Từ trước đến giờ tôi chỉ biết kiên trì chăm chỉ làm việc nhưng không có một ý thức cụ thể gì nhưng giờ đây tôi làm việc với hình ảnh của ước mơ và hy vọng nên trong con người tôi tự dâng trào lên một nguồn sức mạnh; cùng làm một công việc nhưng có một cái gì khác hẵn với lúc trước. Tự bản thân tôi nói ra nghe có vẻ kỳ cục nhưng công việc kinh doanh của tôi sau đó đã phát triển nhanh với tốc độ ngạc nhiên.

  Do đó tôi nghĩ rằng nếu tôi chỉ đơn thuần muốn phát triển hãng xưởng mình to lớn hơn và kiếm được nhiều tiền lời cho bản thân mình thì sự yếu đuối do lo sợ sẽ ẩn nấp ở đâu đó trong con người tôi chớ không như nói trên. Đương nhiên việc hãng xưởng to lớn, kiếm được tiền nhiều hơn bao gồm trong việc mang ý tưởng nhắm tới mục tiêu lý tưởng cao hơn là cùng phát triển với xã hội, hoặc vì đời. Tôi nghĩ rằng bản thân tôi là một tuyển thủ của đội ngũ phát triển xã hội. Cách suy nghĩ về công việc, sự nghiệp và nhân sinh quan của tôi đã thay đổi từ đó. 

   Do suy nghĩ như vậy nên công việc mà lúc trước tôi nghĩ là khổ cực trở nên không còn cảm thấy cực khổ chút nào nữa; ngược lại điều được xem là cực khổ trở thành niềm vui của tôi trong công việc. Cùng là một công việc nhưng lúc trước tôi chỉ xem là cực nhọc, khổ sở và cho rằng đã là buôn bán kinh doanh thì không thể nào khác hơn phải chịu đựng, nhẫn nại thôi. Bây giờ thì không còn như vậy nữa. Sự khổ sở biến thành sự cao quý và niềm vui. Do đó, về sau mỗi khi gặp việc khó khăn, trong con người tôi dâng trào lên dũng khí dấn thân vào.  


LÀM VIỆC ĐÚNG VÀ HẾT SỨC MÌNH RỒI GIAO CHO TRỜI ĐỊNH

Tục ngữ có câu: “Tận nhân sự, chờ (nghe) thiên mệnh” (hãy chờ trời định thành bại sau khi đã cố gắng hết sức mình). Thật là lời nói chí lý (chí ngôn). Bản thân tôi hiện giờ đôi lúc vẫn tự khuyên mình như vậy, bởi vì hiện tại hàng ngày vẫn cũng xảy ra nhiều chuyện, nhiều vấn đề. Là con người nên cũng phân vân do dự không biết nên làm sao, hoặc bi quan tự nhiên sanh ra chán nản không hứng thú trong công việc. Tuy nhiên, cứ tiếp tục như vậy thì không được.

Do tôi tự nói với mình: đã làm hết sức mình, bây giờ chỉ đợi thiên mệnh. Bởi vì mình đã làm điều mình tin là đúng, thành quả giao cho người đời quyết định. Hiện tại tôi vẫn tự vấn tự đáp như vậy và chờ đợi kết quả.

Tôi cho rằng không chỉ là vấn đề cá nhân của một con người mà chuyện thành bại của một xí nghiệp cũng vậy. Xí nghiệp cũng phải hết sức làm việc nhưng sau khi đã thực hiện các việc tốt nhất rồi, xí nghiệp có phát triển tốt đẹp hay không không còn là chuyện có thể trông cậy vào sức người nữa. Nếu không suy nghĩ như thế thì sẽ bối rối, do dự phân vân, không biết phải làm thế nào.

   Với trí tuệ của con người nhỏ bé, có rất lắm việc dù suy nghĩ đến cách mấy cũng không thể làm gì được.


NGHE LỜI KHUYÊN CỦA CÁC TIỀN BỐI ĐÁNG TIN CẬY

Tôi rất mong mỏi thanh niên ngày nay suy nghĩ việc này cho thật kỹ. Ngày nay có nhiều thanh niên bối rối trong việc định mục tiêu là muốn làm ngành nghề gì, và muốn thành con người như thế nào trong tương lai. Bậc làm cha mẹ cũng bối rối không biết nên giúp con cái như thế nào. Chuyện như vậy không phải là vô lý vì thật sự không ai biết phải nên làm sao. Con người vốn không biết, không hiểu chuyện của bản thân. Do đó, bối rối là chuyện đương nhiên. Tuy nhiên, tôi nghĩ có một việc khác nên từ bỏ, đó là lòng ham muốn, dục vọng.

Bởi vì phân vân do dự là đến từ dục vọng, ham muốn. Muốn được như thế này, thế nọ hoặc muốn thành danh nỗi tiếng nên mới sinh ra bối rối phân vân không biết phải làm sao. Nếu dẹp bỏ đi ham muốn vấn đề sẽ không còn nữa. Do lý do này, nên hãy thử yên lặng suy nghĩ xem xét tài năng của bản thân, tìm công việc thích hợp với tài năng đó mà xúc tiến. Tôi cho rằng việc này rất quan trọng.

Tuy nhiên, việc biết được tài năng của bản thân thật không phải dễ. Cũng có người biết nhưng đa số là không biết, khi đó nên hỏi người đáng tin cậy. Tuy nhiên cần nên hỏi với lòng thành thật tự nhiên. Nếu không, sẽ cho người khuyên có ý này ý nọ rồi không nghe theo. Bản thân tôi nếu có điều gì không hiểu tôi thành thật hỏi tiền bối (người đi trước). Người trẻ nếu không hiểu tài năng của mình thì nên hỏi cha mẹ, nếu cha mẹ không rõ thì có thể hỏi bạn bè của cha mẹ. Sau khi hỏi xong, yên lặng suy nghĩ xem xét, tôi nghĩ chắc chắn con đường nên đi sẽ tự nhiên được quyết định và có hy vọng. Nhưng nếu có nhiều ham muốn thì tôi nghĩ là sẽ do dự phân vân trở lại.

Khi ôn nhớ nửa cuộc đời đã đi qua, trường hợp tôi tương đối ít do dự phân vân. Tôi làm việc liên tục hết cái này đến cái khác, vừa làm vừa suy nghĩ kế tiếp làm như thế nào sẽ tốt hơn. Hoặc như vậy là tốt hay xấu, và có thích hợp với con người mình chưa? Và tôi làm những việc thích hợp với mình. Đối những điều không biết có nên làm không thì hỏi người khác. Bởi vì người đó là người thứ 3 nhìn tôi một cách khách quan không liên quan đến lợi hại, được mất của họ. Tôi lắng tai chăm chú nghe họ nói và nếu tôi nghĩ điều họ nói là đúng thì tôi làm theo. Trường hợp tôi không thể đồng ý lời nói của họ thì tôi hỏi nữa, nếu nghe 3 lần đều như nhau thì bất kỳ đúng sai tôi cũng quyết định làm theo. Tôi có khuynh hướng như vừa nói.

(Ghi chú: trong lời văn tác giả không nói rõ là hỏi lại 3 lần cùng một người hay 3 người khác nhau. Tuy nhiên, thông thường có thể hiểu là 3 người khác nhau.)

Nếu không hỏi người khác thì điều mình không biết mà một mình suy nghĩ ưu tư đến đâu cũng không thể nào biết được. Còn đối với điều mà với trình độ của bản thân có thể hiểu, nếu yên lặng suy nghĩ thì có thể hiểu ngay. Nếu đã suy nghĩ rồi mà vẫn không hiểu thì hỏi người khác. Do đó, tôi nghĩ người nào có nhiều tiền bối đáng tin cậy là người rất hạnh phúc.

Tuy nhiên nên lưu ý rằng dù cho là lời của tiền bối nhưng nếu bản thân mình có dã tâm hay lòng ham muốn vô lý mạnh mẽ thì không thể tiếp nhận đúng lời khuyên đúng của họ. 


HÃY TẬP CHO ĐƯỢC NHỮNG THÓI QUEN TỐT PHÁT TRIỂN TÀI NĂNG 

   Bởi lý do nói trên nên tôi nghĩ rằng người trẻ nên có hy vọng và ước mơ nhưng cũng phải kiềm chế ham muốn ở mức độ nào.

   Nếu thực hiện được như vậy tự nhiên sẽ thấy con đường đi mở ra. Dĩ nhiên việc nghĩ đến lợi hại được mất ở một mức độ nào là không thể tránh nhưng không nên quá cố chấp câu nệ. Ai cũng có khuynh hướng nghĩ đến tiền lương và phúc lợi xã hội trước tiên nhưng tôi nghĩ rằng cái gì thích hợp với con người của mình là quan trọng nhất, cần phải suy nghĩ cho thật kỹ điều này. Khi chọn trường học hay chọn hãng xưởng, công ty để làm đều cần như vậy. Không thể nói là có vào được hãng lớn mới là hạnh phúc.Tùy theo người, có người vào công ty lớn hạnh phúc nhưng ngược lại cũng có người vào trung tiểu xí nghiệp học tập được mùi vị, ý nghĩa của cuộc sống, có cơ hội trải qua được thể nghiệm quý báu và con người trưởng thành lên.

   Từ kinh nghiệm của bản thân tôi có thể thưa rằng điều này không sai. Bởi vì tôi nghĩ rằng những kỹ luật, huấn luyện mà tôi có được trong thời kỳ làm công ở tiệm buôn bán rất hữu ích cho bản thân tôi, đã nuôi dưỡng đào tạo tinh thần buôn bán, kinh doanh của tôi.

   Tuy nhiên, nói gì thì nói, tôi nghĩ là khi còn trẻ cần phải tập cho bằng được thói quen cần mẫn, nỗ lực. Thói quen là cái rất đáng sợ; có thói quen lười biếng và thói quen cần mẫn, cả hai đều không dễ gì biến mất. Lúc trẻ tập cho thành thói quen tốt là điều rất quan trọng. Đối với con người lười biếng khi lớn tuổi có bảo họ siêng năng cần mẫn thì cũng không dễ gì làm được. Đối với con người đã thành thói quen, tuổi có cao lên nhưng đã có thói quen cần mẫn nên việc gì họ cũng là người nỗ lực và siêng năng. Người như vậy bản thân họ họ không nghĩ họ là người nỗ lực cần mẫn nhưng việc họ làm tự nhiên là siêng năng và cố gắng. Tôi nghĩ rằng thói quen này là tài sản, là sức mạnh rất lớn của con người đó.

   Trong 7 năm tôi đi làm mướn (không lương), không cách nào khác tôi phải cần mẫn siêng năng theo lời chủ tiệm, cho nên đã thành thói quen của tôi. Do đó, đối với công việc mà người khác thoáng nhìn cho là cực khổ nhưng bản thân tôi không cảm thấy cực nhọc bao nhiêu. Cũng có ngay cả lúc khó khăn mà ai cũng thấy rõ ràng là khó khăn ghê gớm nhưng bản thân tôi lại cảm thấy là dễ dàng, không có gì là khó khăn.

   Nói cách khác, bản thân tôi nghĩ là công việc dễ dàng, không có gì khó khăn, cực khổ nhưng người ngoài cho rằng làm hay, làm giỏi. Bởi vậy đương nhiên giữa tôi và người khác có phần chênh lệch này. 


CÓ TÔI LUYỆN ĐÚNG LÚC MỚI THÀNH DANH KIẾM

Tiến xa hơn, tôi nghĩ rằng tạo cho thanh thiếu niên có thói quen tốt là trách nhiệm của người lớn. Nhưng người lớn ngày nay liệu họ có cảm nhận trách nhiệm này không? Không phải họ đang trốn tránh sao? Tôi nghĩ rằng phải chăng người lớn ngày nay đang trốn chạy trách nhiệm với lý do thanh thiếu niên được thừa nhận nhân quyền nên để cho họ sống một mình không khuấy rầy họ tốt hơn.

Tôi nghĩ rằng rèn đao thì phải đặp đao đúng lúc, lúc còn nóng nếu không thì không thể rèn được, và đương nhiên cũng không thể thành danh đao. Để đào tạo, rèn luyện thanh thiếu niên thành danh đao thì lúc cần rèn đặp phải rèn đập. Nghĩa là cần "thương cho roi cho vot"

Ở điểm này tôi nghĩ là người lớn ngày nay có thể nói là có khuynh hướng vô trách nhiệm. Tùy theo người nên có thể có người nói rằng, nếu người lớn vô trách nhiệm thì tự bản thân của thanh thiếu niên phải tự giác. Nhưng dù có nói thế đi nữa nhưng trên thực tế thanh thiếu rất khó tự giác làm được. Tôi cho rằng người lớn cần phải hướng dẫn chỉ đạo họ ở chừng mực nào đó và cần phải cho họ manh mối để tiến về mục tiêu.

Khi con cái phân vân không biết phải làm sao, nếu là con của tôi, tôi nghĩ nếu chỉ bảo chúng cần phải vững vàng thì không đủ mà đương nhiên tôi bảo chúng hãy làm hết sức còn thành bại là chuyện trời định đoạt. Tuy nhiên, không nên quá lắm lời hay trách cứ, nếu chúng khủng hoảng thần kinh thì khổ. Tôi nghĩ là tôi nói với các con hãy làm như chúng nghĩ, còn thành quả thì chờ thiên mệnh, nhất định chớ nên lo lắng, và nói với chúng rằng là con người một khi đã làm hết mức mình có thể làm thì chắc chắn sẽ được hồi đáp lại.

Trong xã hội ngày nay khuynh hướng trông cậy vào tha nhân khá mạnh. Chuyện gì đến bản thân đều kêu gọi, trông cậy vào nhà nước. Quốc gia thì trông cậy vào ai đây, nếu không là quốc dân? Tất cả mọi người có khuynh hướng muốn giải quyết vấn đề bằng sức tha nhân, rất ít ai muốn nhận trách nhiệm để làm. Trong ý nghĩa này tôi mong mỏi phấn đấu của lớp trẻ.


Nguyễn Sơn Hùng


Ghi Thêm :ông Matsushita, người đã sáng lập tập đoàn  Panasonic từ bàn tay không và phải nghĩ học từ lớp 4 tiểu học để đi làm công không lương.


Viết Trên Mạng - Lê Trung Ngân

 
Viết Trên Mạng

Dạo này phong trào chơi mạng xã hội đúng là nở rộ như được mùa.
Nhớ trước đây, xem phim Hàn Quốc, thấy người Hàn dùng điện thoại di động còn phổ biến hơn điện thoại bàn ở nước mình. Tôi ước ao một ngày nào đó Việt Nam mình được như họ nhỉ? Nhưng có lẽ không phải đợi lâu quá thế. Mấy năm sau, ra đường, từ người già đến trẻ, từ trí thức đến những người bán dạo, đến cả những em học sinh phổ thông cũng được bố mẹ trang bị cho một điện thoại di động xịn để "thể hiện" cùng bạn bè. Rồi cái điện thoại di động đó cũng dần trở thành lạc hậu khi người ta sản xuất ra smart phone để chẳng những nghe gọi nhắn tin mà còn lướt web và giao lưu với nhau qua mạng xã hội. Rồi như chưa đủ, lại có iPad, tablet ra đời để con người giao lưu nhau qua không gian truyền thông.
Có lẽ ở Việt Nam bây giờ, nếu bạn ra đường mà không có smart phone, iPhone, iPad hay tablet, nhất định bạn không phải là người sành điệu. Đó là chuyện đời thực, hầu như mọi người quay lại với đời sống ảo trên mạng. Hiện nay, bạn không có tài khoản nào trên Gmail, trên Icloud; không có vài cái nick trên Facebook, trên Zalo hoặc bạn không có blog cá nhân, đích thực bạn không phải là người sành điệu. Nói như vậy, tôi tự xem lại mình? Hóa ra là mình cũng "đua đòi", mình cũng muốn làm một người "sành điệu củ kiệu" sao? Có lẽ thế. Dù sao thì mình cũng vẫn còn khả năng "chạy đua vũ trang" đấy chứ.
Rồi tôi nhớ lại thời còn học trung học đệ nhị cấp, bắt chước bạn bè, tôi mua về một quyển Agenda có khoá móc, ngày nào cũng “lén lén lút lút” “ghi ghi chép chép” cứ như “tên trộm”, rồi lại len lén cất đi không cho ai động vào…. À thì ra mình viết nhật ký…… Nhật ký, Kỷ niệm ký, Trút giận ký, Khoe… khoang ký….. gọi là gì cũng đúng cả.
Bẳng đi một thời gian dài lo bương chãi với cuộc sống, mình quên đi cái công việc “ghi ghi, chép chép” đó và cũng không tìm lại được quyển Agenda ngày xưa ở đâu nữa do di dời chỗ ở quá nhiều lần.
Gần đây, khi cuộc sống cũng dần ổn định, đúng lúc cuộc “bùng nỗ thông tin” đã “toàn cầu hóa” và phong trào chơi mạng xã hội dần dần hình thành như một “mốt”. Mình cũng tập tành viết trên mạng. Mà mạng xã hội lúc này nở rộ như nấm sau mưa. Các trang blog miễn phí mà việc đăng ký tài khoản dễ dàng làm tăng nhanh số lượng người dùng đến chóng mặt. Dễ dàng nhất vẫn là sử dụng trang Facebook vì nó phổ cập nhất.
Từ những ngày đầu bỡ ngỡ khi post bài lên Facebook. Đến nay, tôi đã trở thành một “facebooker” hồi nào không biết! Mỗi ngày lên Facebook, đọc những Like, những bình luận, những chia sẻ, những tin nhắn của các bạn bè, thấy vui lên hẳn. Có nhiều chia sẻ, tâm sự rất chân thành về cuộc sống xung quanh, lại có bình luận, những bài viết chỉ đơn thuần kể về một giấc mơ kỳ lạ. Phải rồi, đọc và cảm nhận facebook cũng là một nghệ thuật, nghệ thuật cảm nhận cuộc sống xung quanh, cảm nhận những suy nghĩ có khi chợt bộc phát nhưng lại vô cùng thú vị…. để rồi có khi, chợt thấy mình hạnh phúc….
Nói đến hạnh phúc, lại nhớ về ngày đầu tiên nhận được thông báo có người kết bạn. Đó là một buổi tối, chợt xuất hiện một thông báo mới: có thư!. Ừ! phải rồi, lâu lắm mới có thư, mà cũng chỉ toàn thư rác và thư công việc. Nhưng hôm nay thì khác, một tin nhắn mới: “Bạn có bình luận mới trên facebook”, thấy lòng mình vui lạ, không biết đó có phải là hạnh phúc không nhỉ? Chỉ biết rằng sau khi mở facebook, đọc được bình luận lại dấy lên một cảm xúc khó tả….. Từ đó, những bình luận qua lại ngày một nhiều, kết bạn nhiều hơn và cả những bức ảnh vui của nhau. Tình cảm với nhau cũng tăng thêm. Nếu hạnh phúc khi có đồng cảm, có sẻ chia thì chúng ta cùng hạnh phúc. Thôi thì cứ cho nhau những niềm vui, cũng là tự mình vui, tự mình hạnh phúc vậy.
Tôi hăng say viết và các bạn bè cũng hăng say bình luận. Chính vì những điều này đã tạo cho tôi thêm một niềm vui trong cuộc sống và có nhiều cảm xúc hơn để viết lên những bài thật tâm trạng, đầy những ý nghĩ chân thành, những trải nghiệm trong cuộc sống cũng như những hoài niệm của một thời để nhớ đã khắc sâu vào tâm khảm của mình.
Nhưng rồi bây giờ đọc lại tôi thấy hình như các bài viết của mình chứa buồn nhiều hơn vui. Mình cứ nghĩ sao viết vậy nhưng có lẽ cuộc sống hiện đại gấp gáp đem đến cho chúng ta nhiều nỗi phiền muộn: Căng thẳng, cô đơn, lo lắng, xung đột… Tất cả đều ăn vào nguồn năng lượng sống của mỗi chúng ta. Có khi nào bạn thấy mình buồn bã, chán nản, không còn nghị lực để tiếp tục? Nhưng rồi tôi lại nghĩ: “Đời sẽ buồn biết bao nhiêu nếu ta không biết buồn. Buồn dường như là thuộc tính của loài người. Tức là làm người thì ắt phải biết buồn. Người cứ nhơn nhơn, không buồn bao giờ, thì ắt đó là người vô vị. Mà là người vô vị thì có còn là người không?”
Nhưng buồn cũng chỉ nên ở mức mây bay gió thoảng cho đời thêm thi vị thôi, chứ buồn xuyên ngày, xuyên đêm, xuyên năm, thì dễ bị stress và biến cuộc sống thành địa ngục. Nhưng quả thực là có những người buồn nhiều hơn vui. Dường như cuộc đời của họ được mặc định bằng nỗi buồn vậy.
Nhưng nếu nỗi buồn đã là “mặc định” thì đời cũng còn có những “chọn lựa”, ta có thể lựa chọn một phương án khác và cài đặt nó làm “mặc định”. Để cho đời bớt buồn. Để ta có thể tận hưởng cuộc sống mà không bị mang tiếng là kẻ nhạt nhẽo. Giống như bây giờ, tôi có thể viết hết những dòng này ra, không cầu kỳ, không văn chương. Tôi đơn giản chỉ là đang viết, được viết, viết để được chia sẻ, một chút tâm trạng gì đấy… vu vơ thôi.
Những dòng trên facebook, không đầu, không đuôi, nó chỉ thể hiện con người của chính người viết nên những dòng đó, đang buồn, hay đang vui, hay đang cần sự chia sẻ??? Con người là những sinh vật thật yếu ớt, không ai có thể tránh được giọt nước mắt, không ai có thể trốn được nỗi buồn. Thay vì trốn tránh, ta hãy đối đầu với nó, can đảm nhận ra nỗi buồn và vứt nó đi… vào một nơi của riêng ta. Bạn đã tìm được cho mình nơi ấy chưa? Còn tôi, tôi đã tìm thấy rồi đấy. Vì trên này, tôi viết không phải để tôi buồn, mà là để vứt đi nỗi buồn sang một bên…
Nói vậy thôi, mình thấy viết tên mạng cũng có cái hay đấy chứ. Dù sao cũng có nơi để thỉnh thoảng thể hiện chút con người mình. Cuộc sống bây giờ nhiều áp lực thật. Chia sẻ chút niềm vui, nỗi muộn phiền cùng mọi người chắc chắn mình sẽ nhẹ nhàng hơn. Cụ thể, từ ngày chú tâm chơi trên mạng cũng học được khối thứ, quan tâm nhiều vấn đề hơn. Cái trang facebook cũng ra đời vào những ngày mình thấy quá buồn trước nhiều chuyện, công việc cũng nhàn rỗi nữa. Tạo ra nó rồi lại lo lắng không biết có thời gian để chăm sóc nó không nữa. Nhưng thôi, mình sẽ cố gắng, không phải lo làm gì.
Cuộc sống này luôn có niềm vui và nỗi buồn. Nhưng tôi tin những gì bạn nghĩ, tôi nghĩ sẽ là có sự đồng cảm chân thành nhất. Xin thật lòng cảm ơn những gì tốt đẹp nhất mà các bạn từng gởi cho tôi. Xin hãy trân trọng và nâng niu giữ gìn những gì mà mình đã có trong nhau. Đó là sự chân thành của tình bạn.

Lê Trung Ngân

  🌷🌷🌷🌷🌷            

 Mời xem : Xó Bếp Quê - Lê Trung Ngân

Mùa trao giải Văn Học Pháp 2020 bị xáo trộn vì Covid-19

Mùa trao giải Văn Học Pháp 2020 bị xáo trộn vì Covid-19 

Thứ Ba, 1 tháng 12, 2020

Thi cử bậc Phổ thông tại miền Nam ngày xưa (Gordon Thúy)

Thi cử bậc Phổ thông tại miền Nam ngày xưa
(Gordon Thúy)
Trước 1975, chương trình giáo dục phổ thông tại miền Nam gồm 12 lớp, chia ra hai bậc: tiểu học và trung học. Bậc tiểu học từ lớp 1 đến lớp 5 (cấp 1 ngày nay). Bậc trung học từ lớp 6 đến lớp 12, lại chia ra làm 2 bậc: trung học đệ nhất cấp (cấp 2) gồm lớp 6, 7, 8, 9; trung học đệ nhị cấp (cấp 3) từ lớp 10 đến lớp 12.
Đó là hệ thống giáo dục do Pháp thiết lập, sau này bàn giao lại cho chính phủ VN và được Việt hóa, dùng tiếng Việt và sách giáo khoa Việt để giảng dạy và thi cử (sau hội nghị giáo dục toàn quốc 1958).
+ Các cấp bậc và các kỳ thi
1) Bằng tiểu học
Thời bố mẹ tôi còn đi học, thập niên 40, cuối bậc tiểu học có kỳ thi tiểu học, thi đậu thì được cấp bằng tiểu học hay thường gọi bằng tiếng Tây là Certificat (CEPCI – tức là Certificat d’Études Primaire Complémentaire Indochinoise). Những người có Certificat đã có thể kiếm được việc làm “chữ nghĩa” tại văn phòng lĩnh lương khá hậu vào thời ấy.
Sau này thì bằng tiểu học được bãi bỏ, nhưng đến thời anh em tôi cắp sách đến trường vào thập niên 60 thì học sinh hoàn tất bậc tiểu học phải qua một kỳ thi hóc búa hơn: thi tuyển vào các trường trung học công lập. Những kỳ thi này được xem là khó vì số trường trung học công lập do chính phủ lập ra và miễn học phí không đủ phục vụ cho dân số học trò vào lúc đó, nên tỉ lệ đậu vào trường công chỉ độ 62%, riêng đối với những trường “top” chỉ khoảng 10% trúng tuyển, cũng khắt khe như tỉ lệ học sinh Mỹ ngày nay được tuyển vào các trường đại học Ivy League như Harvard, Princeton, Yale, v.v.
Những học sinh không đậu vào trường công phải ghi tên vào các trường tư, đóng học phí tốn kém và trình độ giảng dạy cũng không bằng trường công: thành phần ưu tú đã vào trường công, trường tư nhét nhiều học sinh vào ngồi cùng lớp để giảm chi phí tăng lợi nhuận, nhà trường không kỷ luật gắt gao vì muốn giữ học sinh, v.v.
Học sinh không đậu vào lớp 6 trường công thì vào lớp tiếp liên tại các trường tư hay ở nhà để luyện thêm, năm sau thi tiếp, sau 3 kỳ không được thi nữa. Vì thế học sinh trường công có thể chênh lệch nhau 2 tuổi. Tôi có một bạn ngày xưa học cùng lớp tiểu học, nhưng thi 3 lần mới đậu vào trường công, nên đến khi vào trường, lại thua tôi hai lớp.
2) Bằng trung học
Hết lớp 9 bậc trung học đệ nhất cấp có kỳ thi trung học, đậu bằng trung học mới được lên trung học đệ nhị cấp. Bằng trung học là thước đo trình độ để tiến thân trong việc làm cho những người trẻ vào đời. Nữ giới có bằng trung học có thể làm thư ký văn phòng, thi vào sư phạm cấp tốc dạy tiểu học, vào trường trung cấp y tế đào tạo y tá, v.v. Nam giới nếu nhập ngũ thì được đào tạo thành hạ sĩ quan, còn có bằng tiểu học chỉ đóng binh nhì.
Đến thời anh em tôi lên trung học vào thập niên 60 kỳ thi trung học đệ nhất cấp đã bãi bỏ vào năm 1967.
3) Tú tài I, Tú Tài II
Lên đến trung học đệ nhị cấp thì học sinh chọn ban chuyên môn: ban A chuyên về khoa học (sinh vật và lý hóa), ban B chuyên về toán, lý, hóa, ban C chuyên về văn chương, triết học, ngoại ngữ. Các môn chính học nhiều tiết hơn môn phụ, nhưng chương trình học ban nào cũng gồm đủ cả các môn văn, triết, sử, địa, toán, lý hóa, sinh vật, công dân, sinh ngữ 1, sinh ngữ 2. Cuối năm lớp 11 thi Tú tài I, cuối năm lớp 12 thi Tú Tài II. Sau này tú tài I bãi bỏ năm 1973.
Các kỳ thi Trung học, Tú tài I và II đều là kỳ thi quốc gia, được tổ chức toàn quốc, cùng ngày, cùng đề thi. Đề thi được nha khảo thí thuộc bộ Giáo dục chọn lựa, niêm phong mật và gửi xuống các ty giáo dục, chỉ được bóc niêm trước giờ thi.
“Ban soạn đề thi bị cô lập ở Sài Gòn khoảng một tuần để hoàn tất việc chọn đề rồi đem niêm phong cẩn thận. Đề thi cho mỗi tỉnh được đựng trong một cái rương nhôm có hai ổ khóa và được giữ bảo mật cho đến gần ngày thi, giao cho hội đồng giám thị của từng tỉnh để phân phát đề thi cho mỗi trung tâm thi xuống tận mỗi phòng thi. Vì bảo mật nên việc di chuyển đề thi có cảnh sát hộ tống.
Mỗi phòng thi có hai giám thị: một giáo sư trung học và một giáo viên tiểu học. Ngoài ra là một giám thị hành lang để giữ trong ngoài nghiêm ngặt không ai ra vào trong khi thi. Bài thi của thí sinh phải có chữ ký của hai giám thị phòng thi để ngăn ngừa việc tráo bài thi. Việc di chuyển bài thi khi thí sinh đã nộp vào cũng đòi hỏi sự cẩn mật như việc di chuyển đề thi.”
+ Thể thức thi cử & chấm điểm
Học sinh đến thi tại các trung tâm thi cử theo phiếu báo danh nhận được, không thi tại trường của mình, và không được các thầy cô dạy mình trông thi. Học sinh chỉ mang bút và tẩy vào lớp, giấy thi và giấy nháp do trung tâm khảo thí cấp để tránh chuyện làm “phao”.
Phiếu báo danh sắp thứ tự theo tên, chẳng hạn như những tên An, Ân, Ẩn, Ánh, v.v. được xếp vào cùng phòng thi, tên Thanh, Thêm, Thoa, Thu, Thúy, Thủy, v.v. vào cùng phòng. Mỗi tờ giấy thi có ô vuông trên đầu trang để học sinh ghi tên tuổi, ngày sinh, số báo danh, v.v. Phần này gọi là “phách” sẽ rọc đi cất riêng sau khi giám khảo ghi mã số vào phần phách và phần bài thi bên dưới.
Giáo sư chấm bài không biết tên tuổi của người viết bài, chỉ dựa thuần vào chất lượng bài thi để chấm điểm. Học sinh còn cho biết những điều phải tránh như không được dùng mực đỏ, không được gạch dưới, không được viết chữ in, tức là những điều khác thường, vì bài sẽ bị loại theo nghi vấn bài được “làm dấu” để giám khảo nhận ra “gà nhà” mà chấm thiên vị.
Sau khi việc chấm bài hoàn tất thì hội đồng thi sẽ mang phách ra ráp lại theo đúng mã số, từ đó mới biết tác giả của từng bài và điểm thi của từng thí sinh, rồi lập bảng điểm và biết ai được “bảng vàng đề tên”, ai phải thở dài ai oán “thi không ăn ớt thế mà cay”.
Kỳ thi tú tài kéo dài ba ngày dài lê thê. Sáng ngày thứ nhất thi môn chính, vì là ban C nên tôi thi môn văn sáng ngày thứ nhất, chiều thi môn phụ như sử, địa, hay công dân, toán, lý, hoá, sinh ngữ phụ (Anh văn).
Sáng ngày hai thi môn chính thứ hai: sinh ngữ chính Pháp văn, chiều thi môn phụ. Ngày thứ ba thi các môn còn lại. Hình như ban A hay B có đến 3 môn chính (sinh, lý, hoá hay toán, lý, hoá) nên ba môn này sẽ thi vào ba buổi sáng, chiều thi các môn khác.
Môn văn hay triết thường là bình luận một tác phẩm, một đề tài triết, viết dài độ 4-6 trang. Sinh ngữ chính của ban C được dạy 7 năm trung học, đòi hỏi viết một bài luận văn tiếng Pháp (rédaction). Môn sinh ngữ phụ Anh văn đã học 3 năm lớp 10-12 đòi hỏi đọc một bài viết rồi trả lời các câu hỏi (reading comprehension), làm một vài phép văn phạm, dịch một đoạn văn ngắn ra tiếng Việt.
Các môn phụ hệ số thấp như sử, địa, công dân, v.v. cũng phải thuộc làu làu từng quyển sách dầy độ 150-250 trang. Vì thế bảo rằng các cô tú cậu tú có cả “bồ” chữ nghĩa trong bụng cũng không ngoa.
Ngày xưa sau khi vượt vũ môn thi viết còn phải vào thi vấn đáp, sau này kỳ thi vấn đáp đã được bỏ năm 1968.
+ Các môn thi, cách chấm điểm, và xếp hạng
Điểm thi các môn từ 0 đến 20, đạt trên trung bình từ 10 trở lên là đậu, dưới 10 là rớt. Các thứ hạng thi đậu được xếp như sau:
10.00 – 11.99: thứ
12.00 – 13.9 bình thứ
14.00 – 15.99: bình
16.00 – 17.99: ưu
18.00 – 20.00: tối ưu
Tất cả các môn học trong năm đều cho thi, không từ môn nào. Tuy nhiên, điểm các môn được nhân theo hệ số (coefficient) tùy theo ban chuyên môn của mình. Ban A có môn sinh vật hệ số 4, số điểm sẽ nhân lên 4 lần, môn lý hoá sẽ nhân 3, ngoại ngữ nhân 2, các môn khác như sử, địa, công dân nhân 1. Ban B có số điểm toán sẽ nhân 4 lần, điểm lý hóa nhân 3, ban C thì môn văn hay triết sẽ nhân 4, ngoại ngữ nhân 3, v.v., tức là môn chính của mình phải xuất sắc thì mới đậu cao.
Thí dụ: nếu một học sinh ban B (toán) được 20 điểm môn công dân, hệ số 1, mà môn toán hệ số 4 chỉ có 2 điểm, thì tổng số điểm sẽ là 20×1 + 2×4 = 28, chia cho 5 hệ số, trung bình chỉ có 5.60: RỚT!
Ngược lại, nếu công dân có 2 điểm mà toán được 18 điểm, thì tổng số điểm là 2×1 + 18×4 = 74, trung bình gần 15 điểm: đậu bình!
Những ban khoa học và toán thường có nhiều thí sinh xuất sắc hơn ban văn chương sinh ngữ, vì giải toán đúng 100% có thể đạt điểm tối đa là 20, trong khi viết bài bình luận hay vẫn khó mà đạt điểm 20 được.
+ Kết quả thi cử
Những kỳ thi tú tài là một thử thách lớn và là cơn ác mộng trầm kha đối với giới học sinh thời đó. Có một bài hát tả oán như sau: “Thi ơi là thi, sinh mi làm chi!” Cả năm học hành kết quả khá, mà đến ngày thi lỡ bị “tào tháo đuổi” hay hỏng xe không đến được phòng thi là kể như sự nghiệp tan tành, không có mảnh bằng lận lưng là đời tàn trong ngõ hẹp.
Theo tôi, triết lý giáo dục của Pháp chủ định dùng kỳ thi để tuyển lựa ra thành phần ưu tú (élite) và loại bỏ thành phần “không xứng đáng”. Miền Nam theo nề nếp đó. Khỏi nói cũng biết học sinh thi rớt như rạ. Trung bình tú tài I chỉ đậu độ 30%, còn tú tài II, vì đã vượt vũ môn lên từ 30% của tú I, nên có sĩ số đậu khoảng 70%.Thi cử mà chỉ đậu có 30% thì đúng là thi loại bỏ chứ không phải là thi kiểm tra trình độ nữa rồi. Nhà thơ Nguyễn tất Nhiên đã có bài thơ được Phạm Duy phổ nhạc: “Thi hỏng tú tài ta đợi ngày đi (vào quân trường), đau lòng ta muốn khóc”.
Có những học sinh uống thuốc chống ngủ để gạo bài thâu đêm, đến nỗi bị lạm thuốc sinh ra điên loạn. Có những học sinh thi rớt bị gia đình mắng mỏ, hay tự thất vọng đã uống thuốc độc kết liễu đời mình, năm nào báo cũng đăng. Có người thi 7 năm liền mới đậu bằng tú tài! Sau này để “cứu giúp” học sinh thi hỏng, bộ Giáo dục cho thi tú tài II hằng năm hai lần, lần đầu vào đầu hè, lần sau cuối hè, để mọi người có cơ hội “thua keo này ta bày keo khác!”.
Bằng tú tài I đánh dấu một thành quả cao hơn bằng trung học, được vào một số học viện như Học viện Cảnh sát Quốc gia, hoặc trường cao đẳng như Trường Cao đẳng Công chánh, vào quân đội thì được huấn luyện thành sĩ quan, tuy nhiên không được lên đại học. Chỉ có bằng tú tài II mới đánh dấu việc hoàn tất thành công trung học đệ nhị cấp (cấp 3) và mở ra cổng trường đại học. Năm 1973 kỳ thi tú tài I cũng được bãi bỏ (thank God, tạ ơn thượng đế!), chỉ còn giữ tú tài II.
+ Thi cử tại Mỹ & VN
Sau này sang Mỹ sinh sống thấy con tôi học rất thoải mái, học trong lớp vừa xong một chương là cho bài kiểm, bài thi liền để còn nhớ bài, không đợi đến cuối năm khảo nguyên một cuốn sách mấy trăm trang như ở VN, (mà đúng ra thì VN khảo cả chục cuốn sách vì chương trình nguyên năm có cả chục môn học).
Tại trường Mỹ bài nào kiểm không khá là thầy cô cho “dạy lại, thi lại” ngay (re-teach, re-test), đến giờ nghỉ trưa hay sau buổi học bảo trò đến thầy cô kèm thêm cho thấu đáo. Đến hết bậc trung học bên Mỹ, nếu các môn bắt buộc trong chương trình phổ thông đã hoàn tất và đủ điểm, là lập tức mũ áo vênh vang lên lãnh bằng ngay, chẳng có tú I tú II gì sất! Từ đó tôi thấy sự khác biệt về thi cử giữa hai hệ thống: ở Mỹ dạy cho đậu chứ không dạy cho rớt, ở VN không thật xuất sắc là rớt như chơi.
+ Bonus vui: Một đứa đi thi, cả nhà mệt nghỉ!
Chưa thấy một người làm quan, cả họ được nhờ, mà chỉ thấy cả nhà mệt nghỉ vì đứa con đi thi. Bố lo tiền cho con đi học kèm thêm suốt năm, mẹ nấu chè nấu cháo ăn dặm ban đêm cho có sức khoẻ, giữa khuya lại thức giấc quát con ơi đi ngủ thôi con kẻo mai không dậy đi học nổi! Bà nội ngày rằm mồng một sì sụp khấn vái xin Trời Phật phù hộ cho cháu nó thi đỗ phen này, bảng vàng đề tên, không hổ danh giòng họ.
Ngày đi thi bố chuẩn bị dầu nhớt cho chiếc xe từ mấy hôm trước để đưa sĩ tử đi đến nơi về đến chốn. Mẹ nấu món ăn cho lành, bổ dưỡng, dễ tiêu, để không bị đau bụng đau bão. Nhất định phải có chè đậu, phải nấu bằng đậu đỏ cho may mắn, không nấu đậu đen, và tuyệt đối không cho ăn chuối hay trứng gà trứng vịt những ngày này, nhất định không cho cơ hội trượt vỏ chuối hay lãnh trứng vịt!
Đến ông anh trong nhà chẳng muốn quan tâm gì mà cũng bắt buộc trở nên “hữu dụng”: “Ra đầu ngõ đứng đi con!”. Thế là ngày nào sĩ tử cũng ra ngõ gặp trai, hên cách gì! Sau đó thì anh xách xe chạy theo đuôi bố, nhỡ xe bố trở chứng nằm ẹp là có tài xế dự khuyết trám chân vào ngay! Không nhiêu khê như nhân vật trong Lều Chõng của Ngô Tất Tố ngày xưa, nhưng toàn thể tiểu gia đình cũng không kém phần sôi động vất vả.
Đại gia đình trong hai họ nội ngoại cũng chăm chăm vào. Con bác A, con chú B, con cô C, đều cũng đi thi năm nay đấy nhé. Chúng mày cố gắng hết sức mình nhé. Thi đậu thì mới có tương lai nhé. Thi rớt là tàn đời con ạ. Giờ mà không cố gắng, sau này có hối cũng muộn rồi con ạ! Bao cái “nhé! nhé! ạ! ạ!” ấy càng làm cho thí sinh tăng thêm xì trét (stress), phen này mà lỡ thi rớt thì chỉ có chít!
Hàng xóm cũng mặc tình “quan trên trông xuống, người ta trông vào”. Đến ngày toàn quốc ứng thí mà thấy cô ả áo dài tươm tất, mặt mày tái nhợt, lủi thủi theo xe bố bước ra đầu ngõ là ai cũng nhận biết ngay cái mặt “tội đồ đi thi” đây rồi, chẳng dấu vào đâu được. Các bác hàng xóm, các anh chị lớn, các em bé, v.v. đều mỉm cười thông cảm, ngấm ngầm gửi lời chúc thiện, làm mức độ xì trét lại tăng lên vụt vụt.
Chín tháng cặm cụi gạo bài, ba ngày căng thẳng loay hoay, gặm bút, viết viết, xóa xóa, đến khi khổ nạn qua rồi thì thí sinh trở nên xẹp lép như bong bóng xì hơi, ỉu xìu như chiếc bánh bao chiều, tả tơi như chiếc mền rách!
Kết quả rồi cũng được niêm yết, đứa đậu, người rớt. Học sinh trường công thì kết quả đậu rất cao. Tỉ lệ đậu toàn quốc chỉ độ 70% cho tú II, nhưng trong trường “top” của tôi, lớp 50 học sinh chỉ có một bạn rớt, còn lớp bên cạnh 100% đậu.
Trường của tôi là trường top của nữ sinh miền Nam và có một truyền thống rất tốt đẹp và rất… hậu hỉ. Mỗi học sinh đậu bình được thưởng một bông mai bằng vàng 18 karat, nho nhỏ xinh xinh, biểu tượng của trường, đường kính độ 1.8cm (nửa chỉ?), còn học sinh đậu ưu và tối ưu được thưởng một bông mai hơi lơn lớn xinh xinh, đường kính độ 2cm. Thời đó vàng rẻ, và hội phu huynh tài trợ. Năm lớp chúng tôi lãnh thưởng hoa mai vàng có tổng thống và bà Nguyễn văn Thiệu đến trường dự lễ và đọc diễn văn khen thưởng. Sau này các chị lớn kể với thầy cô rằng nhờ chiếc bông mai vàng của trường tặng thưởng mà các chị đã bán đi lấy tiền thăm nuôi chồng học tập tại các trại cải tạo, hay trao cho chồng cầm đi làm của hộ thân trên đường vượt biên.
Trong hàng xóm hay trong họ hàng thì khác, phản ánh tình hình chung, có đậu có rớt, độ 50/50. Tôi cứ nghĩ mà xót xa cho những bạn đã cố gắng hết sức mình mà vẫn ôm hận. Bố mẹ lại được dịp hể hả so sánh con mình với con nhà khác. Tội nghiệp bố cả đời vất vả chỉ mãn nguyện có bấy nhiêu, và chỉ được báo hiếu có bấy nhiêu, rồi thì bố mất sớm khi con chưa thành tài, sau này mỗi lần lãnh lương rủng rỉnh chẳng có dịp mua quà biếu bố cho bố vui.
Rồi mùa mưa kéo qua mùa thi
Rồi em cũng bỏ trường mà đi!
Đó là hai câu thơ một bạn trong trường viết ra. Tú tài II là chặng đường cuối, kết thúc tuổi học trò thơ ngây và đánh dấu tuổi vào đời. Ngày xưa bậc trung học kéo dài 7 năm dưới cùng một mái trường, nên cuộc chia tay với thầy cô, bạn bè, lớp học, sân trường, phấn trắng, bảng đen, v.v. không ít bịn rịn.
Rồi từ đó mỗi kẻ một nơi!
Sau này gặp lại, bọn tôi cùng nhau ôn lại những kỷ niệm đi học, đi thi ngày xưa. Kiến thức miệt mài nấu sử sôi kinh đã quên gần hết, nhưng điều không quên đi, không mất đi, là cái đạo đức, cái nền nếp làm người mà thầy cô đã dạy dỗ uốn nắn cho ngày xưa. Cách sống cho ra người ấy đã giúp cho học trò của thầy cô ngày xưa vươn lên ở bất cứ mọi nơi, khắc phục mọi khó khăn, vượt qua mọi trở ngại, chinh phục mọi môi trường mới, chinh phục lòng người, tạo dựng một chỗ đứng trong đời cho mình và tìm cơ hội chăm lo lại cho người khác.
Chính cái môn không hệ số, không thi cử này lại là cái vốn sống trong suốt cuộc đời.
Viện đại học Đà lạt ngày xưa đã lấy tên là Đại học Thụ Nhân, trích từ câu nói của Quản Trọng thời Xuân Thu, và có khắc câu ấy hai cột trụ hai bên cổng trường:
“Nhứt niên chi kế mạc như thụ cốc, (vì lợi ích một năm hãy trồng lúa,
“Thập niên chi kế mạc như thụ mộc (vì lợi ích mười năm hãy trồng cây,
“Chung thân chi kế mạc như thụ nhân” (vì lợi ích cả đời hãy trồng người)
(có nơi ghi: “Bách niên chi kế mạc như thụ nhân” (vì lợi ích trăm năm hãy trồng người)
Chúng tôi đồng ý với nhau chúng tôi là những sản phẩm nhà trường đã “trồng” được trong những năm tháng dưới mái trường xưa, và đã không để nhà trường và thầy cô phải hổ thẹn!

Khóa Bốn Đi Thăm Cô Hiệu Trưởng Nông Lâm Súc Tây Ninh

 

KHÓA BỐN ĐI THĂM CÔ HIỆU TRƯỞNG

Sáng ngày 20/11/2020 nhân ngày Lễ nhà giáo Việt Nam, anh em cựu học sinh khóa bốn, khóa sáu đi thăm cô Hiệu trưởng Thân Thị Đời, cô đang dưỡng bệnh tại nhà riêng ở TP Tây Ninh. Chúng tôi vào thăm trò chuyện thấy cô dần phục hồi sức khỏe, trí nhớ rất tốt, cô đọc tên từng bạn, chúng tôi rất cảm động, mong cô ngày càng khỏe mạnh và bình an


Chuông Muộn Em Qua Phố Đông - Thơ Thuyên Huy


 
 Cho T.H – nhớ những ngày lận đận ở Tây Ninh

Hờ hững nắng chiều rơi bên sông

Đong đưa vạt từng vạt xuôi dòng

Giáo đường ray rứt hồi chuông muộn

Muộn như ngày em qua phố đông

 

Muộn như ngày em qua phố đông

Theo sau mà bước ngập bước ngừng

Chợ sắp thưa người, người vội vã

Đường về tôi chợt biết nhớ nhung

 

Cũng cổng nhà em hoa trắng xưa

Quanh đây trời vừa chớm sang mùa

Thu ngấp nghé sang chờ tàn Hạ

Lối cũ lá vàng đưa gió đưa

 

Tôi đứng cuối đường chiều gió bay

Nhìn em khuất lối cổng hoa gài

Tôi về mang hồn buồn ngơ ngẫn

Thương rồi nhưng biết người có hay

 

Một mình những chiều qua phố em

Cổng xưa hoa vẫn rụng bên thềm

Giáo đường cũng hồi chuông đổ muộn

Muộn như tình tôi chưa có tên

 

Thuyên Huy

Canberra cuối thu 2020


🌼🌼🌼🌼🌼🌼


Mời Xem :Tàn thu vỗ giấc mộng du- Thơ Thuyên Huy

Thứ Hai, 30 tháng 11, 2020

Chùa Một Cột - Thơ Tuệ Minh


Chùa Một Cột

(Một chứng tích nhạt mờ)

Thu Hà Nội, mái chùa Một Cột
Đất “ngàn năm văn vật” đổi thay
Tâm tư thế sự có hay
Cảnh xưa bóng nhạt lất lây cửa thiền

Tầng khí phách trở nên biến dạng
Mái chùa xưa ảm đạm tháng ngày
Hồn thiêng sông núi u hoài
Tận trong sâu thẳm lòng người nhói đau

Người Xưa vẫn trước sau như một
Thời nay sao đường đột tầm nhìn!
Hãm hồn khí Việt lặng im
Đoái trông tích cổ biết tìm đâu ra

Chùa Một Cột, chùa xưa thời Lý
Gương cha ông sắc khí ngang trời
Dựng Tứ Linh trụ lưu đời
Hào hùng dân tộc rạng ngời Nước Nam

Ai tai! há lòng tham khó biết
Ô hô! đời chi xiết thương tâm
Giở trang quốc sử ngàn năm
Thế nhân hồ dễ lỗi lầm thứ tha!

Chú thích: Chùa Một Cột-Chùa Linh Hựu là nơi xuất phát của quả chuông Quy Điền,  một trong Tứ Đại Linh Khí thời nhà Lý, là dấu tích còn tồn tại, nhưng quang cảnh không được trong sáng và bị khuất mờ bởi ...

Tuệ Minh
Hà Nội, September 18, 2019


NHỚ QUÊN - Thơ Sông Thu Và Thơ Họa

NHỚ...QUÊN... Tuổi già lúc nhớ lại khi quên Quên...nhớ...bao phen tạo lụy phiền Chuyện tự xa xưa lòng vẫn nhớ Điều vừa trước mắt dạ liền qu...