Góc Đường Thi :
Mời Xem :
Góc Đường Thi : Chùm thơ KHÚC HÁT HÁI SEN (3) (Đỗ Chiêu Đức)
Góc Đường Thi :
Mời Xem :
Góc Đường Thi : Chùm thơ KHÚC HÁT HÁI SEN (3) (Đỗ Chiêu Đức)
Ngày xưa, ở làng Nam Xương
có cô gái tên là Vũ Thị Thiết, dáng người
đã xinh đẹp nết na lại
thùy mị đoan trang. Nàng lấy chồng tên
Trương Sinh, vốn là người
cùng làng. Trương Sinh có tính cả ghen, hay để
tâm xét nét vợ, nhưng vợ
chàng thường giữ gìn khuôn phép nên không có chuyện gì xảy
ra.
Vợ chồng hương đượm lửa nồng chưa được bao
lâu thì bỗng nghe tin chốn biên thùy có giặc, chồng vâng lệnh quan phải
từ giã mẹ và vợ đi
lính thú. Bấy giờ vợ đang
có thai. Buổi chia tay thật là bịn rịn, mẹ chúc
cho con chân cứng đá mềm, chồng
khuyên vợ cố gắng phụng dưỡng mẹ già và nuôi con khôn lớn.
Sau khi chồng vắng
nhà được mươi ngày thì Vũ Thị Thiết sinh được một đứa con trai, đặt
tên là thằng Đản. Thằng
bé sởn sơ mạnh khỏe, còn bà nội
của nó vì nhớ con sinh ra đau ốm. Vợ chàng Trương hết
lòng mời thầy chạy thuốc, nhưng bệnh của mẹ chồng mỗi ngày một
nặng, chẳng bao lâu thì mất. Nhờ có bà con xóm giềng, mọi việc tống
táng đều lo liệu chu toàn.
Đã mấy thu qua không thấy chồng về, một mẹ một con mòn mỏi
trông đợi. Hàng ngày chăm lo đồng áng, tối
lại nàng mới có thì giờ
chăm sóc cho con. Có những hôm phải chong đèn khâu vá dọn dẹp và
nô đùa với con. Những lúc con khóc nàng thường chỉ vào
bóng của mình trên vách mà bảo:
- “Nín đi con! Kìa, kìa bố đã về. Đấy! Đấy!”
Đứa bé nhìn vào bóng, nín bặt.
Cứ như thế lâu dần thành thói quen. Thằng Đản thường đòi gặp
bố trước khi đi ngủ. Cái bóng đen đen
trên tường từ đấy đối với cả mẹ lẫn con như
một người thân thích.
Rồi chiến tranh kết thúc, cõi biên thùy lại yên lặng,
những người đi lính thú lại được trả về quê
quán. Trương Sinh cũng ở trong số
đó. Sau bao năm tháng cách xa ly biệt,
hai vợ chồng gặp
nhau mừng mừng tủi tủi. Chàng đau lòng vì mất người mẹ thân yêu nhưng
lại vui sướng vì có đứa
con. Thằng bé Đản bây giờ
lên ba tuổi, đã biết nói bập
bẹ. Tuy nó để cho bố nó
bế nhưng nó vẫn tỏ ra xa lạ.
Qua mấy ngày hôm sau, Trương Sinh hỏi
mộ mẹ rồi bế con đi thăm. Ra đến đồng, thằng bé Đản
quấy khóc nhè, Trương sinh dỗ
dành:
- Con nín đi đừng khóc, bố yêu con. Rồi
bố mua quà cho mà ăn.
Thằng bé đáp ngay:
- Không, ông không phải là bố Đản... Bố Đản khác
kia... Chỉ đến tối bố Đản mới đến nhà
thôi.
Nghe nói, Trương sinh thấy đau nhói ở tim. Chàng nhìn vào con hỏi dồn:
- Thế thì bố của Đản như thế nào? Con nói đi!
- Tối nào bố Đản cũng
đến... Mẹ Đản đi
cùng đi, mẹ Đản ngồi
cùng ngồi... Chẳng bao giờ
bố bế Đản cả…
Mấy lời nói vô tình của đứa bé
làm cho Trương Sinh tin là vợ mình ngoại
tình, không còn ngờ gì nữa. Nghĩ đến
người vợ xinh đẹp trong tay kẻ khác, cơn
ghen tự nhiên bừng bừng bốc lên. Chàng lẩm bẩm: "Thật là quá rõ. Không ngờ trong khi mình gian lao thế ấy, thì
nó ở nhà lại như thế kia". Về
đến nhà Trương sinh mắng
nhiếc vợ tàn tệ:
- Tao không ngờ mày là đồ thất tiết. Mẹ chết, chồng
đi vắng, tối tối rước trai về
nhà tò te nữa.
Chàng mắng dữ dội nhưng
không bảo là từ miệng con
nói ra. Vợ chàng một mực chối cãi:
- Cách biệt ba năm, thiếp vẫn một lòng một
dạ, đâu có hư thân mất
nết như lời chàng nói. Xin chàng đừng ngờ oan
cho thiếp.
Vợ càng phân trần thì cơn giận của chồng
càng không thể dằn xuống được nữa. Chồng bắt đầu dùng lối
vũ phu để tra khảo vợ. Hàng
xóm láng giềng nghe tin vợ chồng lục đục đổ tới can
ngăn, nhưng chẳng ăn thua gì. Chồng cho là vợ khéo mồm khéo mép nên được lòng mọi người che lấp
tội lỗi. Trong cơn phẫn uất, người thiếu phụ ôm lấy
con khóc nức nở, rồi nhân
lúc chồng sang nhà hàng xóm, chạy một mạch ra bến
Hoàng Giang đâm đầu xuống nước tự tử. Khi Trương Sinh về
thấy mất hút bóng vợ, biết có sự chẳng lành. Nghe nói vợ đã tự trầm thì rất
hối hận, vội chạy ra bờ sông. Nhưng
dòng nước chảy xiết, mò
đến tối ngày cũng không tìm thấy đâu
xác vợ.
Tối lại, thằng bé khóc. Trương sinh thắp đèn dỗ cho con nín. Chợt thằng bé kêu lên:
- Ồ, bố Đản đã đến kia kìa!
- Đâu con?
Nó trỏ vào bóng chàng trên vách mà nói: "Đấy! Đấy!"
Nhớ lại lời con nói khi đi thăm mộ, Trương
Sinh mới hiểu ra nông nỗi.
Chàng nhận ra nỗi oan tày trời
của vợ chỉ vì lòng ghen tuông nóng
nảy của mình. Nhưng đã muộn mất rồi, còn làm gì được nữa. Chàng chỉ còn biết
ngày ngày ẵm con nhìn xuống dòng sông mà khóc. Từ đó chàng ở
vậy nuôi con không lấy vợ khác.
Về sau người ta dựng ở bến Hoàng
Giang một cái miếu thờ nàng
Vũ Thị Thiết, quen gọi
là miếu Vợ chàng Trương. Người chồng bấy giờ mới nghĩ
ra, biết nỗi oan của
vợ mình, bèn lập đàn ở bờ sông để
giải oan cho nàng. Dân vùng ấy sau này biết
được câu chuyện đã lập
miếu thờ bà ấy ở trên bờ
sông.
Về sau, vua Lê Thánh Tông, nhân trên chuyến chinh phạt quân Chiêm Thành, khi qua vùng nầy thì gặp phong ba bão táp, có con rùa luôn nổi hiện ra trước mũi thuyền của nhà vua ngăn cãn không đi được. Vua cho quân nghỉ tạm một đêm nơi đây. Khuya đến, vua vào miếu đề Vũ Nương kính bái xin thần linh phò hộ cho bớt cơn gió bão. Lần ấy, nhà vua thắng trận. Vua sau đó ban lịnh cho 4 vùng Vũ Điện, Hào Châu, Phú Lư, Xương Hậu được phép lập đền thờ Bà thần linh Vũ Nương. Chính vua Lê Thánh Tông cũng đã vịnh bài thơ sau đây nhắc lại tích sử Thiếu Phụ Nam Xương này:
𤊃 𤏫 頭 峕 詉 艥 香,
廟 埃 如 廟 堓 乴 張 。
旕 嘫 油 忍 停 牐 燪 ,
宮 搩 之 朱 累 細 娘 。
証 果 乑 堆 暈 日 月 ,
解 冤 之 路 亖 坛 場 。
過 低 買 別 源 干 意,
呵 責 乴 張 窖 負 傍.
Chữ Nôm:
THIẾU PHỤ NAM XƯƠNG
“Nghi ngút đầu ghềnh tỏa khói hương,
Miếu ai như miếu vợ chàng Trương.
Ngọn đèn dầu tắt đừng nghe trẻ,
Làn nước chi cho lụy đến nàng.
Chứng quả có đôi vừng nhật nguyệt,
Giải oan chi mượn đến đàn tràng.
Qua đây mới biết nguồn cơn ấy,
Khá trách chàng Trương khéo phũ phàng!
(Lê Thánh Tông)
* Nhiều lời bình luận cho rằng bài thơ trên của Vua Lê Thánh Tôn bằng chữ Hán đã lược âm ra Chữ Nôm nên có lẽ sơ cách âm ở các câu 4, 6 và 8: nường thành Nàng; trường thành tràng và phường thành phàng nên không trùng âm với 2 câu trên. (không biết đúng vậy không?)
(Hồ Xưa sưu tầm trên Trang Cổ Tích Việt Nam)
Nàng đến với ta thật bất ngờ
Một chiều nhạt nắng hết bơ vơ
Có hoa lơi lả khoe hương thoảng
Cùng bướm nhởn nhơ bay lượn lờ
Suối tóc mượt mà che vận đối
Bờ môi mọng thắm phủ vần thơ
Tình yêu gởi trọn cho người hết
Như thuở ban đầu dệt ước mơ
Hưng Quốc
Texas 8-13-2024
Các Bài Họa :
1./ THƠ TỚI.
Ôi thôi, vần điệu tới không ngờ
Nó kéo hồn vô chốn vẩn vơ
Chữ nghĩa dập dềnh theo nước chảy
Ngôn từ lấp lửng tựa mây lờ
Dù sao thì cũng là " tri kỷ "
Hoặc giả coi như gặp bạn thơ
Bất chợt thi nhân vui vẻ lạ
Lời chưa kịp viết đã lơ mơ...
Hawthorne 13 - 8 - 2024
CAO MỴ NHÂN
2./ DAN DÍU TÌNH THƠ
Từ ngày dan díu với nàng thơ
Thích thú, đam mê đến khó ngờ
Lục bát chuốt ngòi ru lãng mạn
Đường thi chắp luật tác vu vơ
Phong hoa thả trí say hồn mộng
Tuyết nguyệt trầm mình đắm cõi mơ
Thảng thốt chiều tà, buông mỹ ngữ…
Vợ hò cơm tối, mặc coi lờ …
CAO BỒI GIÀ
13-8-2024
3./ VẨN VƠ
Sáng nay trời đẹp chẳng ai ngờ
Từng bước gậy lần trí vẩn vơ.
Man mác hồn ta xuôi dĩ vãng
Rộn ràng ý tưởng dệt vần thơ.
Sương mai trên lá còn trong vắt
Cánh bướm bên hoa cứ lững lờ.
Thấm thía cái già ngùi cố quốc
Bồi hồi xóm cũ dưới trăng mơ !
Mailoc
8-13-24
4./ TÂM SỰ CÙNG THƠ
Muốn đem tâm sự gởi nàng thơ
Mà cứ suy tư đến lặng lờ…
Tình cũ mùi hương hoài mộng tưởng
Người xưa hình bóng mãi thầm mơ
Chia ly trót đã mình không hẹn
Tái hợp thì xem chuyện chẳng ngờ
Chỉ biết nhớ nhau ôn kỷ vật
Tìm trong tâm trí chút vu vơ
Songquang
20240813
5./ YÊU THƠ
Đam mê chợt đến có đâu ngờ
Tâm trạng bàng hoàng, trí vẩn vơ
Thích thú suy tư từng ý tưởng
Miệt mài thưởng thức mỗi bài thơ
Cả ngày ngơ ngẩn dường trong mộng
Suốt buổi mơ màng tựa giữa mơ
Gắn bó mặn nồng như định mệnh
Làm sao có thể phút phe lờ !
Sông Thu
( 14/08/2024 )
HỌA 12 : NÀNG ĐẾN
13./
Kính Họa Vận : EM LÀ THƠ…CÓ PHẢI (?)
HỌA 14: NÀNG ĐẾN
Góc Đường Thi :
Mời Xem :
Góc Đường Thi : Chùm thơ KHÚC HÁT HÁI SEN (2) (Đỗ Chiêu Đức)
NHỚ...QUÊN... Tuổi già lúc nhớ lại khi quên Quên...nhớ...bao phen tạo lụy phiền Chuyện tự xa xưa lòng vẫn nhớ Điều vừa trước mắt dạ liền qu...