Một loạt nước hạn chế đi lại đối với những người từ nam châu Phi. Ảnh: AP
Biến thể Omicron vẫn còn khá mới và chứa nhiều bí ẩn. Tuy nhiên, bức
tranh về biến thể mới này đang dần trở nên rõ ràng, lần lượt từng chi
tiết.
Gần 2 năm sau khi virus SARS-CoV-2 gây đại dịch Covid-19 được phát hiện, thêm một biến thể mới của nó vừa xuất hiện, được Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đặt tên là Omicron.
Được
ghi nhận lần đầu ở Nam Phi tuần trước, Omicron giờ đã xuất hiện ở ít
nhất 24 quốc gia và vùng lãnh thổ trên toàn cầu, khiến nhiều nước phải
lên kế hoạch ứng phó. Các chuyên gia và nhà khoa học cũng vội vã vào
cuộc tìm hiểu những khác biệt và tác động của biến thể này.
Omicron được WHO xếp vào nhóm biến thể đáng lo ngại cùng với các biến thể Alpha, Beta, Gamma và Delta.
Ở Mỹ, Tổng thống Joe Biden vừa công bố chiến lược mới,
thúc đẩy chương trình chủng ngừa và tiêm tăng cường cho đến khi có thêm
thông tin về biến thể mới. Các chuyên gia nhận định phải 2-3 tuần nữa
mới biết được Omicron lây nhiễm ở mức nào và liệu nó có thể gây bệnh
nghiêm trọng hơn so với các biến thể khác hay không.
Các
vắc xin ngừa Covid-19 hiện nay đã được chứng minh có hiệu quả cao trong
ngăn chặn tình trạng người bệnh trở nặng và tử vong. Chúng được tin là
có thể bảo vệ hiệu quả trước Omicron.
Omicron được cho là có độ lây nhiễm cao
Virus gây Covid-19 bám vào các tế bào của con người bằng cách sử dụng một protein gai trong cấu trúc của nó.
Omicron
có nhiều đột biến trên protein gai hơn so với Delta vốn có độ lây nhiễm
cao gấp đôi so với các biến thể trước đó. Tuy chưa rõ Omicron có mạnh
hơn Delta hay không, nhưng sự hiện diện của những đột biến ở biến thể
này là một điểm gây lo ngại.
Nhiều nước trên thế giới
đã ra lệnh cấm nhập cảnh đối với người đến từ một số quốc gia phía nam
châu Phi và siết chặt các hạn chế đi lại.
Xét nghiệm PCR có thể nhận diện Omicron
Xét
nghiệm PCR sử dụng dịch hầu họng của một người để phân tích và tìm kiếm
đoạn gen đặc trưng của virus corona. Loại xét nghiệm này có thể phát
hiện biến thể nên không cần đến xét nghiệm máu hoặc các thủ tục y khoa
khác.
Chưa rõ hiệu quả vắc xin đối với Omicron
Các
nhà khoa học đang nghiên cứu xem Omicron có thể gây nhiễm trùng đột phá
ở những người đã tiêm đủ vắc xin và tái nhiễm ở những người đã có kháng
thể nhờ khỏi Covid-19 trước đó hay không. Có thể mất 2-3 tuần trước khi
có dữ liệu đầy đủ.
Tuy nhiên, giới khoa học hy vọng các vắc xin hiện nay sẽ vẫn cung cấp được sự bảo vệ trước biến thể mới.
Kế hoạch B của các nhà sản xuất vắc xin
Trao
đổi với hãng tin BBC, Giám đốc Y tế của Moderna, Paul Burton, cho biết
công ty của ông có hàng trăm người đang đánh giá mức độ hiệu quả của vắc
xin và liều tiêm tăng cường đối với biến thể mới. Moderna cũng đang thử
nghiệm một vắc xin ngừa Covid-19 mà có thể giúp phòng ngừa nhiều biến
thể.
Ông Burton quả quyết, nếu Moderna cần bào chế một vắc xin mới
được điều chỉnh chống Omicron thì hãng có thể đạt được vào đầu năm
2022.
Trong khi đó, một phát ngôn viên của Pfizer
nói rằng hãng đang "liên tục tiến hành các nỗ lực giám sát, tập trung
theo dõi các biến thể mới xuất hiện có khả năng vượt qua hàng rào bảo vệ
mà vắc xin của chúng tôi đem lại". Theo người này, Pfizer có thể phát
triển và sản xuất một loại vắc xin phù hợp chống lại Omicron trong
khoảng 100 ngày.
Johnson & Johnson cho biết đang
hợp tác với các nhà khoa học ở Nam Phi và trên khắp thế giới để đánh
giá hiệu quả của vắc xin trong phòng ngừa biến thể mới, và đã bắt đầu
nghiên cứu một loại vắc xin mới được thiết kế chống Omicron.
Tyra Grove Krause, trưởng nhóm dịch tễ học tại Viện State Serum ở Đan Mạch, hy vọng thế giới sẽ “có cuộc sống bình thường trở lại sau hai tháng nữa.” (Nguồn: Unsplash.com)
ĐAN MẠCH – Theo Tyra Grove Krause, trưởng nhóm dịch tễ học tại Viện State Serum ở Đan Mạch, biến thể Omicron của COVID-19 sẽ quét sạch tất cả các biến thể khác của vi rút và thế giới sẽ “có cuộc sống bình thường trở lại sau hai tháng nữa,” trang Greek Reporter đưa tin ngày Thứ Ba, 4 tháng 1 năm 2022.
Bà Krause cho biết, biến thể Omicron sẽ dẫn đến sự kết thúc của đại dịch COVID-19, dẫn chứng kết quả của một nghiên cứu mới ở Nam Phi, quốc gia chứng kiến một trong những đợt bùng phát sớm nhất của Omicron.
Trả lời trên kênh truyền hình Đan Mạch, bà Krause nói nghiên cứu mới của viện cho thấy nguy cơ phải vào bệnh viện do biến thể Omicron chỉ bằng một nửa so với biến thể Delta. Omicron sẽ tiếp tục làm gia tăng số ca nhiễm, sau đó sẽ giảm mạnh và rất nhanh.
“Tôi nghĩ trong hai tháng tới, đại dịch sẽ vào hồi kết thúc, tình trạng lây nhiễm sẽ bắt đầu giảm bớt và chúng ta sẽ có cuộc sống bình thường trở lại,” bà cho biết. “Omicron sẽ đạt đỉnh vào cuối tháng 1, và vào tháng 2, chúng ta sẽ thấy áp lực lây nhiễm giảm dần, các hệ thống chăm sóc sức khỏe cũng sẽ dễ thở hơn.”
Krause cũng cảnh báo “Nhưng mà chúng ta phải nỗ lực rất nhiều để vượt qua tháng Một.” Bà giải thích rằng biến thể Omicron cực kỳ dễ lây lan dường như nhẹ hơn bất kỳ biến thể nào khác đã biết trước đây của vi rút, điều này có nghĩa là nhiều người sẽ bị nhiễm, nhưng có các triệu chứng ít nghiêm trọng hơn - và sau đó trở nên miễn dịch. Đó là cách thế giới có thể thật sự đạt được khả năng miễn dịch cộng đồng, để quay lại cuộc sống bình thường.
Khả năng miễn dịch đối với biến thể Delta sau khi bị nhiễm Omicron.
Viện Nghiên cứu Sức khỏe Châu Phi ở Durban đã thực hiện một nghiên cứu quy mô nhỏ vào tháng 12 năm 2021, và thấy rằng những người đã bị nhiễm Omicron thực sự có khả năng miễn dịch cao hơn với biến thể Delta; và khả năng miễn dịch còn rõ rệt hơn ở những người đã được tiêm phòng.
Xác định các mục tiêu mới khi đại dịch vẫn đang hoành hành
Khi biến thể Omicron tiếp tục làm gia tăng số ca nhiễm trên toàn thế giới, hầu hết các chuyên gia đều tin dù đại dịch rồi sẽ kết thúc, nhưng một số dạng của con vi rút “mãi mãi ở bên chúng ta.”
Sẽ không có ‘liều thuốc duy nhất’ có thể diệt tất cả các dạng vi rút; hoàn toàn ngược lại. Mọi người ai cũng đã kiệt sức sau gần hai năm đối phó với đại dịch, về mặt xã hội, tài chính và cá nhân. Thế giới sẽ phải tìm ra một hướng đi khác, học cách sống với và kiểm soát rủi ro.
Số ca nhiễm Covid-19 ở Đan Mạch đang tăng cao trong vài tuần qua. Hôm Chủ Nhật, 2 tháng 1 năm 2022, Đan Mạch ghi nhận số ca nhiễm trung bình tuần lên tới 20,886, cao nhất từ trước đến nay. Hầu hết các ca nhiễm chỉ bộc lộ triệu chứng nhẹ. Bà Krause nói điều này phần nào giúp tăng mức độ miễn dịch của cộng đồng.
Chuyên gia dịch tễ hàng đầu Đan Mạch khuyến cáo người dân tiếp tục thực hiện các biện pháp phòng dịch, giãn cách xã hội và tự cách ly ở nhà nếu bộc lộ triệu chứng.
Bà Krause đưa ra bình luận vài ngày sau khi Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) có bày tỏ sự lạc quan với đại dịch. “Chấm dứt sự bất bình đẳng mới có thể chấm dứt đại dịch và cơn ác mộng toàn cầu,” Adhanom Ghebreyesus, tổng giám đốc WHO, cho biết.
Vi rút rồi sẽ ‘cực thịnh tất suy’
CDC Hoa Kỳ đã giảm thời gian cách ly đối với những người bị nhiễm COVID-19 xuống còn 5 ngày, và giải thích rõ ràng là họ dễ lây nhiễm nhất trong 2 ngày đầu và 3 ngày sau khi xuất hiện các triệu chứng.
Theo Bác sĩ William Moss của trường Johns Hopkins Bloomberg, “vi rút sẽ phát triển tối đa” và rồi không thể tạo ra các biến thể mãi được. Ông nói: “Tôi không coi đây là một chu kỳ vô tận của các biến thể mới.”
Nhà miễn dịch học Ali Ellebedy tại trường Washington ở St. Louis nói với Reuters rằng khi đại dịch diễn ra, khả năng miễn dịch cơ bản của chúng ta đã được cải thiện đến mức ngay cả khi trải qua các đợt gia tăng đột ngột, số ca bệnh nặng, vào bệnh viện và tử vong sẽ giảm. Ông dự đoán sẽ tới một lúc nào đó, một người bị nhiễm COVID-19, nghỉ ngơi ở nhà từ hai đến ba ngày, rồi “mọi chuyện lại bình thường. Đó sẽ là lúc đại dịch kết thúc.”
BA.5, thuộc gia đình Omicron, là biến thể virus corona mới nhất gây ra làn sóng lây nhiễm lan rộng trên toàn cầu.
Theo phúc trình gần đây nhất của Tổ chức Y tế Thế giới, BA.5 chiếm
52% ca nhiễm hồi cuối tháng 6, tăng từ 37% trong một tuần. Tại Hoa Kỳ,
biến thể này ước tính là nguyên nhân gây ra khoảng 65% số ca nhiễm.
Số ca nhiễm tăng cao
BA.5 không phải là mới. Lần đầu tiên được xác định vào tháng Giêng, nó đã được WHO theo dõi từ tháng Tư.
Đây là một biến thể chị em của dòng Omicron vốn đang chiếm ưu thế
trên toàn thế giới kể từ cuối năm 2021, và đã khiến tỷ lệ ca nhiễm tăng
vọt tại các quốc gia bao gồm Nam Phi, nơi biến thể này được phát hiện
đầu tiên, cũng như tại Vương quốc Anh, một số khu vực của Châu Âu và Úc.
Dữ liệu của WHO cho thấy các ca nhiễm virus corona trên toàn thế giới hiện đã tăng trong 4 tuần liên tiếp.
Tại sao lan tràn?
Giống như anh em họ hàng gần gũi của nó, BA.4, BA.5 đặc biệt giỏi
trong việc né tránh sự bảo vệ miễn dịch mà chúng ta có được từ lần nhiễm
bệnh trước đây hay từ tiêm chủng.
Vì lý do này, “BA.5 có lợi thế tăng trưởng so với các dòng phụ khác
của Omicron đang lưu hành”, bà Maria Van Kerkhove, trưởng nhóm kỹ thuật
của WHO về COVID-19, nói trong một cuộc họp báo ngày 12/7.
Nghĩa là sẽ có nhiều người tái bị nhiễm COVID, thậm chí là chỉ sau
khi đã bị nhiễm một thời gian ngắn. Bà Van Kerkhove nói WHO đang đánh
giá các phúc trình về việc tái lây nhiễm.
“Chúng tôi có rất nhiều bằng chứng cho thấy những người bị nhiễm
Omicron lại bị nhiễm BA.5. Không nghi ngờ gì về việc này”, ông Gregory
Poland, một nhà nghiên cứu virus học và vắc-xin của Bệnh viện Mayo ở
Rochester, Minnesota, nói.
Các nhà nghiên cứu cho rằng nếu điều đó đặc biệt phổ biến lúc này thì
đơn giản có thể là vì đã có quá nhiều người bị nhiễm Omicron.
Không trầm trọng hơn
Dù số ca bệnh tăng khiến số người nhập viện tăng tại một số quốc gia, nhưng số ca tử vong không tăng mạnh.
Điều này phần lớn là do vắc-xin vẫn bảo vệ chúng ta khỏi bị bệnh nặng
và tử vong, chứ không bảo vệ khỏi bị nhiễm, và các nhà sản xuất cũng
như giới thẩm quyền cũng đang xem xét các loại vắc-xin cải tiến để nhắm
trực tiếp vào các biến thể Omicron mới hơn.
Cũng không có bằng chứng nào cho thấy BA.5 nguy hiểm hơn bất kỳ biến
thể nào khác của Omicron, bà Van Kerkhove của WHO nhấn mạnh, mặc dù số
ca tăng vọt có thể khiến các dịch vụ y tế bị áp lực và có nguy cơ nhiều
người bị COVID lâu dài.
WHO và các chuyên gia khác cũng nói rằng đại dịch đang diễn ra - kéo
dài bởi sự bất bình đẳng về vắc-xin và bởi nhiều nước gạt COVID qua một
bên - sẽ chỉ dẫn đến nhiều biến thể mới và khó dự đoán hơn.
Các nhà khoa học đang chú ý vào BA.2.75, lần đầu tiên được xác định ở
Ấn Độ, có một số lượng lớn các đột biến và đang lây lan nhanh chóng.
WHO ngày 12/7 nói đại dịch COVID vẫn còn là một tình trạng khẩn cấp
về sức khỏe toàn cầu và các quốc gia nên xem xét các biện pháp y tế công
cộng như mang khẩu trang, giãn cách xã hội khi số ca gia tăng, cùng với
tiêm chủng.
Ông Poland nói: “Điều cơ bản mọi người không hiểu là khi có sự lây
truyền cao trong cộng đồng thì virus sẽ đột biến.” “Ai biết được điều gì
sẽ xảy ra tiếp theo. Chúng ta đang đùa với lửa.”
Fauci ‘Sẽ không ngạc nhiên’ nếu biến thể Omicron COVID đã có mặt tại Hoa Kỳ
Theo
Tiến sĩ Anthony Fauci, giám đốc Viện Dị ứng và Bệnh truyền nhiễm Quốc
gia, rất có thể omicron, một biến thể Covid-19 mới lần đầu tiên được
phát hiện ở Nam Phi, đã có thể ở Hoa Kỳ.
Trong khi không có
trường hợp nào được xác nhận về biến thể mới ở các bang, Fauci cho biết
ông “sẽ không ngạc nhiên” nếu omicron có ở Mỹ.
Theo Fauci, biến thể
mới đang được quan tâm vì nó “có một số lượng lớn các đột biến” có khả
năng làm cho loại virus này dễ lây lan hơn các biến thể khác và dễ lây
lan hơn, theo Fauci.
“Chúng tôi chưa biết
điều đó nhưng chúng tôi sẽ giả định đó là trường hợp”, ông nói, thêm
rằng số lượng lớn các đột biến cũng cho thấy rằng biến thể mới “có thể
kháng sự bảo vệ” của các phương pháp điều trị coronavirus như kháng thể
đơn dòng và vắc xin Covid-19.
Hai trường hợp của biến thể đã được xác định ở Anh .,
Bộ trưởng Y tế Sajid Javid cho biết hôm thứ Bảy. Ông nói thêm rằng
những người liên quan có liên hệ với nhau và đi đến miền nam châu Phi,
nơi omicron lần đầu tiên được phát hiện vào đầu tuần này.
Khi các chuyên gia y
tế cộng đồng cố gắng tìm câu trả lời cụ thể cho các câu hỏi xung quanh
việc liệu biến thể omicron có gây ra bệnh nặng hơn hay không và liệu nó
có thể tránh được sự bảo vệ khỏi vắc-xin và phương pháp điều trị hay không, Tổng thống Joe Biden đã công bố các hạn chế đi lại mới vào thứ Sáu.
Hoa Kỳ hạn chế đối với
du khách đến từ Nam Phi, Botswana, Zimbabwe, Namibia, Lesotho,
Eswatini, Mozambique và Malawi sẽ bắt đầu từ thứ Hai.
Fauci cho biết, việc
hạn chế đi lại chỉ hữu ích khi giúp Mỹ có thêm thời gian để đánh giá
tình hình tốt hơn và phản ứng phù hợp, nó sẽ không ngăn chặn sự lan rộng
của biến thể mới, Fauci nói.
Fauci, người cũng là
cố vấn y tế chính của Biden, đã nhấn mạnh thêm về việc những người chưa
được tiêm chủng phải được chủng ngừa và những người đã được tiêm vắc-xin
phải đeo khẩu trang khi tụ tập trong nhà là điều vô cùng cần thiết.
Nhà khoa học hàng đầu của WHO Soumya Swaminathan nói: "Chúng ta cần chuẩn bị và thận trọng, không hoảng sợ."
Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) cho biết, thế giới không nên hoảng sợ về biến thể Omicron mới của Covid-19 mà nên chuẩn bị.
Phát
biểu tại một hội nghị hôm thứ Sáu, nhà khoa học hàng đầu của WHO Soumya
Swaminathan cho biết tình hình bây giờ rất khác so với một năm trước.
Các báo cáo cho thấy Omicron đã được phát hiện ở gần 40 quốc gia.
Vẫn chưa rõ liệu biến thể đột biến cao này có khả năng lây truyền cao hơn hay có khả năng trốn tránh vaccine tốt hơn.
Dữ
liệu ban đầu được báo cáo bởi các nhà khoa học ở Nam Phi - nơi biến thể
lần đầu tiên được phát hiện - cho thấy Omicron có thể tránh một số khả
năng miễn dịch với Covid-19, mặc dù các chuyên gia cảnh báo rằng phân
tích này không phải là kết quả cuối cùng.
Omicron là phiên bản virus corona đột biến nhiều nhất,ảnh BBC
Bà
Swaminathan nói với hội nghị Reuters NEXT rằng biến thể này "có khả
năng lây truyền cao", trích dẫn dữ liệu từ Nam Phi và cho biết nó có thể
trở thành chủng vi khuẩn thống trị trên toàn thế giới - mặc dù điều này
rất khó dự đoán. Delta hiện chiếm 99% các ca nhiễm trên toàn cầu, bà
nói thêm.
"Chúng
ta nên lo lắng đến mức nào? Chúng ta cần chuẩn bị và thận trọng, không
hoảng sợ, bởi vì chúng ta đang ở trong một tình huống khác với một năm
trước," bà nói.
Trong
khi đó, Giám đốc các trường hợp khẩn cấp của WHO, Mike Ryan cho biết
thế giới hiện đã có "vaccine hiệu quả cao" chống lại Covid-19, và nên
tập trung vào việc phân phối vaccine rộng rãi hơn. Ông cho biết không có
bằng chứng nào để ủng hộ việc thay đổi vaccine để khiến cho chúng phù
hợp với biến thể Omicron mới.
Các
quốc gia trên thế giới đã công bố lệnh cấm đi lại đối với các quốc gia
Nam Phi sau khi phát hiện các ca nhiễm Omicron đầu tiên.
Giới
chức Hoa Kỳ bắt buộc tất cả du khách quốc tế đến Hoa Kỳ phải xét nghiệm
Covid không quá một ngày trước khi khởi hành. Lệnh này được đưa ra sau
khi giới chức thắt chặt các quy tắc đi lại của Hoa Kỳ vì biến thể này.
Omicron
hiện đã được phát hiện ở ít nhất sáu tiểu bang của Hoa Kỳ bao gồm
Hawaii, nơi các quan chức cho biết các ca nhiễm không có lịch sử du lịch
nào gần đây.
Ấn
Độ cũng đã báo cáo hai ca đầu tiên nhiễm biến thể Omicron. Các quan
chức cho biết một trong số các ca - một công dân Nam Phi 66 tuổi - đã đi
từ Nam Phi và đã rời khỏi Ấn Độ, trong khi người thứ hai - một bác sĩ
46 tuổi ở thành phố Bengaluru, miền nam Ấn Độ - không có lịch sử du
lịch.
Một
đợt nhiễm Covid thứ hai đã khiến hệ thống chăm sóc sức khỏe của nước
này rơi vào tình trạng sụp đổ vào tháng 4 và tháng 5 năm nay. Các bệnh
viện hết giường, ôxy và thuốc men.
Sự
xuất hiện của biến thể mới diễn ra trong bối cảnh các nước châu Âu đang
phải vật lộn với tình trạng gia tăng các ca nhiễm mới.
Hôm
thứ Năm, Đức đã công bố những hạn chế đối với những người chưa được
tiêm chủng, tuyên bố rằng chỉ những người đã tiêm hoặc những người gần
đây đã khỏi bệnh mới được phép vào các nhà hàng, rạp chiếu phim và nhiều
cửa hàng.
Thủ
tướng Angela Merkel cũng cho biết việc tiêm chủng có thể là bắt buộc
vào tháng Hai. Nước láng giềng Áo đã công bố các biện pháp bắt buộc đối
với người dân từ ngày 1 tháng Hai, trong khi các quốc gia bao gồm Bỉ và
Hà Lan đã áp dụng trở lại hoặc thắt chặt các biện pháp nhằm hạn chế dịch
lây lan.
Các
quan chức y tế ở Anh đang làm việc để đẩy nhanh việc triển khai tiêm
tăng cường. Chính phủ đã mua thêm 114 triệu liều vaccine Pfizer và
Moderna và thông báo rằng tất cả người lớn sẽ được tiêm nhắc lại vào
cuối tháng Giêng.
Nhiều nhà khoa học cho rằng Omicron là mối đe dọa đến sức khỏe cộng đồng, song một số chuyên gia nhận định virus không thay đổi về độc lực, vaccine vẫn hiệu quả.
Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) ngày 26/11 đã xếp Omicron là ‘biến chủng đáng lo ngại', chỉ vài ngày sau khi nó được phát hiện ở Nam Phi. Cơ quan đang phối hợp với nhiều nhà nghiên cứu toàn cầu để hiểu rõ ảnh hưởng của Omicron đến đại dịch, dự kiến công bố kết quả trong vài ngày đến vài tuần tới.
Về khả năng giảm hiệu quả vaccine của Omicron, giới chuyên gia chia thành hai luồng ý kiến.
Một số người cho rằng vaccine sẽ kém hiệu quả so với biến chủng. "Dựa trên các nghiên cứu trước đây với các biến chủng và đột biến khác, chúng tôi khá tin tưởng rằng Omicron sẽ khiến nồng độ kháng thể trung hòa từ vaccine sụt giảm đáng kể", tiến sĩ Jesse Bloom, nhà sinh vật học tiến hóa tại Trung tâm Nghiên cứu Ung thư Fred Hutchinson ở Seattle, Mỹ, nhận định.
30 đột biến của Omicron nằm ở protein gai trên bề mặt virus. Đây là phần vaccine nhắm đến, huấn luyện hệ miễn dịch cơ thể người nhận diện và tấn công.
Từ ngày 26/11, nhiều hãng dược chủ động nghiên cứu biến chủng mới, xem xét tác động của nó lên vaccine, cho biết việc phát triển lô hàng thử nghiệm mới có thể mất vài tuần.
Stéphane Bancel, Giám đốc điều hành Moderna cho biết vaccine hiện tại giảm hiệu quả trước Omicron so với các biến chủng trước đây. Moderna đang thử nghiệm hiệu quả của liều vaccine tăng cường với biến chủng này. Pfizer tuyên bố nếu biến chủng có khả năng trốn thoát miễn dịch, hãng sẽ phát triển vaccine thế hệ tiếp theo trong khoảng 100 ngày.
Tuy nhiên, nhiều chuyên gia khác cho rằng cộng đồng không nên quá hoang mang, vaccine hiện tại vẫn có tác dụng và không cần sản xuất thế hệ mới. Ngày 30/11, Đại học Oxford của Anh cho biết chưa có bằng chứng cho thấy các vaccine hiện nay không thể bảo vệ người nhiễm biến chủng Omicron trở bệnh nặng.
Trước đó, hôm 29/11, giáo sư Salim Abdool Karim, chuyên gia hàng đầu về bệnh truyền nhiễm Nam Phi, nhận định vaccine vẫn hiệu quả ngăn ngừa nguy cơ nhập viện và tử vong từ biến chủng Omicron.
"Dựa trên những hiểu biết về cách biến chủng đáng lo ngại trước đó phản ứng với vaccine, chúng tôi cho rằng vaccine vẫn hiệu quả cao, có khả năng bảo vệ mạnh mẽ", ông Karim, nói.
William Hanage, chuyên gia dịch tễ tại Trường Y tế Công cộng Harvard TH Chan, cho biết: "Điều này có thể tồi tệ, nhưng chúng ta chưa đủ kiến thức để kết luận về tác động của nó trong tương lai".
Ông Hanage giải thích vaccine không chỉ kích thích kháng thể mà còn sản sinh các tế bào miễn dịch đặc trị, tấn công trực tiếp tế bào nhiễm bệnh. Các đột biến ở protein virus không làm giảm phản ứng của những tế bào này. Ngăn ngừa triệu chứng nặng là nhiệm vụ của tế bào T (tế bào miễn dịch), khác với khả năng bảo vệ người dùng khỏi lây nhiễm ban đầu của kháng thể.
"Ngay cả khi virus có thể trốn tránh miễn dịch, rất khó để thoát khỏi tế bào T", ông Karim nói.
Với Delta, vaccine hiện vẫn hiệu quả, ngăn ngừa được các ca nhiễm nCoV nghiêm trọng và giảm nguy cơ tử vong. David Kennedy, chuyên gia nghiên cứu bệnh truyền nhiễm tại Đại học Penn State, cho rằng điều tương tự cũng có thể xảy ra với Omicron. "Có khả năng chúng ta không cần cập nhật phiên bản vaccine mới", ông nói.
Trong lịch sử y khoa, virus tiến hóa hiếm khi ảnh hưởng quá nhiều tới các chiến dịch tiêm phòng. Với Omicron, các nhà khoa học cần thu thập dữ liệu về số ca nhiễm nCoV nghiêm trọng ở người đã chủng ngừa. Đây là yếu tố quyết định liệu có nên điều chỉnh vaccine hay không.
Về độc lực của biến chủng, các chuyên gia cũng có ý kiến khác nhau.
Theo dữ liệu chính thức, số ca nhập viện ở tỉnh Gauteng, nơi Omicron lần đầu xuất hiện đã tăng 330% trong hai tuần qua. Toàn tỉnh ghi nhận 580 ca nhập viện vì virus, cao đột biến so với con số 135 ca của hai tuần trước đó.
Theo WHO, tỷ lệ nhập viện hàng ngày ở Nam Phi tăng, song điều này có thể do tổng số ca nhiễm tăng lên nói chung, chứ không phải do Omicron độc lực mạnh hơn. Hiện chưa có thông tin cho thấy triệu chứng mắc biến chủng mới khác với trước đó.
Chủ tịch Hiệp hội Y khoa Nam Phi Angelique Coetzee cho biết người nhiễm biến chủng Omicron có triệu chứng không đáng lo ngại và vấn đề đang bị thổi phồng. "Biến chủng gây bệnh nhẹ với các triệu chứng như nhức cơ và mệt mỏi trong một hoặc hai ngày", ông nói.
Bệnh nhân ở Nam Phi không bị mất vị giác và khứu giác, chỉ ho nhẹ, ngoài ra không có vấn đề quá nghiêm trọng. Nhiều người có thể điều trị tại nhà. Các bệnh viện ở Nam Phi cũng chưa bị quá tải, biến chủng mới ít lây lan cho những người chưa tiêm chủng.
"Chúng tôi sẽ có thông tin cụ thể hơn sau hai tuần. Đúng, virus lan nhanh, nhưng với tư cách là người làm ngành y, tôi không hiểu tại sao mọi thứ bị thổi phồng đến vậy trong khi chúng tôi vẫn đang nghiên cứu về nó", Coetzee nói.
Về tốc độ lây truyền, giới chuyên gia hầu như đồng quan điểm Omicron lan nhanh hơn các biến chủng trước đó.
Số người xét nghiệm dương tính virus ở Nam Phi đã tăng lên kể từ khi biến chủng xuất hiện. Trong bản cập nhật với 194 nước thành viên, WHO nhận định "khả năng Omicron lây lan ở cấp độ toàn cầu là rất cao". Biến chủng có 26 đến 32 đột biến ở vùng protein gai, một số có tiềm năng truyền tải nhanh hơn.
"Dựa vào những đặc điểm này, số ca Covid-19 có thể cao hơn trong tương lai, gây ra hậu quả nghiêm trọng tùy theo vị trí địa lý", WHO nêu rõ.
Trong khi đó, phân tích của các nhà khoa học Nam Phi cho thấy Omicron có tới 50 đột biến, trong đó 32 đột biến trên protein gai, cấu trúc virus sử dụng để bám dính và xâm nhập tế bào người.
Theo các chuyên gia của Bệnh viện Bambino Gesu, Italy, diện tích tiếp xúc của nó cũng rộng hơn, cho thấy độ lây nhiễm cao hơn Delta. Số đột biến của Omicron là 43, trong khi ở Delta là 18. Hiện chưa có ý kiến đánh giá từ các nhà khoa học về hình minh họa trên của nhóm nghiên cứu Bambino Gesu.
Biến chủng cũng chứa tới hai đột biến là P681H và N679K ở vị trí phân cắt furin (vị trí giúp virus thuận lợi xâm nhập vào tế bào). Đây là lần đầu tiên giới khoa học ghi nhận hai đột biến này trong biến chủng duy nhất.
Sân bay Quốc tế Cape Town ở Nam Phi, ngày 28/11. Ảnh: Shutterstock
Giáo sư Luke O'Neill từ Đại học
Trinity, Dublin (Ireland) cho biết, một triệu chứng mới có thể cảnh báo bạn
nhiễm biến thể Omicron BA.5 là đổ mồ hôi vào ban đêm.
Theo Mirror, biến thể phụ BA.5 của Omicron đang lây lan nhanh, và các nhà khoa
học lo ngại rằng vắc xin có thể không bảo vệ chúng ta hoàn toàn. Mặc dù vắc xin
vẫn phát huy hiệu quả trong việc bảo vệ người bệnh khỏi triệu chứng nghiêm
trọng, nhưng không thể tránh tất cả triệu chứng nhẹ.
BA.5 được phát hiện ở đâu?
BA.5 được phát hiện lần đầu tiên ở Nam
Phi vào tháng 2/2022, chỉ một tháng sau khi chủng Omicron khác là BA.4 được tìm
thấy. Chủng COVID này dường như đang lây lan rất nhanh so với các biến thể
khác. Tuần này, BA.5 đã trở thành chủng nổi trội ở Mỹ và chiếm ưu thế nhất ở Bồ
Đào Nha.
Biến chủng Omicron BA.5 đã có mặt ở hầu hết các nước Châu Âu và Australia cũng
đã báo cáo các ca mắc tăng.
Hình ảnh hiển vi của một mẫu nCoV được phân lập từ bệnh nhân tại Mỹ. Ảnh:NIAID
BA.5 có kháng vắc xin không?
Các nhà khoa học vẫn chưa biết chắc chắn điều gì, nhưng dù vắc xin không ngăn
bạn nhiễm COVID-19, nó sẽ giúp các triệu chứng của bạn ít nghiêm trọng hơn
nhiều so với khi bạn chưa được tiêm phòng.
Nghiên cứu cho đến nay phát hiện ra rằng
chủng này không có nhiều khả năng gây bệnh nặng, nguyên nhân là bởi đã có nhiều
người tiêm vắc xin hoặc từng mắc bệnh.
Các triệu chứng của Omicron BA.5?
Giáo sư Luke O'Neill từ Đại học Trinity,
Dublin (Ireland) cho biết, một triệu chứng mới cần chú đối với biến thể này là
đổ mồ hôi vào ban đêm. "Sự kết hợp của hệ miễn dịch và
chủng virus hơi khác biệt có thể dẫn tới khả năng xuất hiện triệu chứng lạ, và
đổ mồ hôi ban đêm là một đặc điểm. Nhưng điều quan trọng là nếu bạn tiêm vắc
xin hoặc mũi tăng cường, bạn sẽ được bảo vệ khỏi nguy cơ bệnh nặng", giáo
sự Luke nói.
Một số triệu chứng khác của chủng Omicron BA.5 gồm:
- Ho - Mệt mỏi
- Nghẹt mũi hoặc chảy nước mũi
-Thở gấp hoặc khó thở
- Mất vị giác hoặc khứu giác
- Sốt hoặc ớn lạnh
- Đau nhức cơ, cơ thể
- Đau đầu
- Buồn nôn hoặc nôn mửa
- Tiêu chảy
Sau hơn hai năm chống chọi với Covid-19, ai cũng mỏi mệt trong vài chuyện sau đây:
· Đeo khẩu trang
· Giữ khoảng cách gần gũi
· Siêng năng rửa tay bằng xà-phòng
· Tránh tụ họp từ 5 người trở lên
Tất
cả chỉ vì con siêu vi khuẩn coronavirus có đặc điểm lây qua không
khí/airborne - cứ đi lang thang lạng quạng hay tụ họp trong phòng kín là
có rất nhiều % bị dính.
Ngay
lúc này đây, dịch bệnh Covid-19 chưa hết, lại thêm mối đe dọa bệnh cúm
Spanish chắc chắn sẽ bùng lên trong mùa Thu này; cả hai bệnh đều tàn
khốc nếu bị dính - cho dù may mắn còn sống nhưng sẽ “rất khó nuôi!”
Biện pháp an toàn nhất là tuân thủ 4 điểm nêu trên, coi như mới bắt đầu bị đại dịch Covid-19 cách nay hơn hai năm!
Tôi
dịch bản tin mới nhất về biến thể XBB nổi ra tại Ấn-độ và đang được
Singapore báo động và đang lây ra ít nhất 17 quốc gia. Và thêm bài báo
của Fortune.com (không kịp dịch):
‘Short and sharp’: COVID-19 wave of XBB infections in Singapore likely to peak in mid-November
The
Ministry of Health (MOH) on Saturday (Oct 15) said it cannot rule out
reinstating some COVID-19 rules if necessary. It also said that the
current wave of COVID-19 cases driven by the Omicron XBB variant will
likely peak in mid-November.
‘Ngắn
và sắc nét’: Làn sóng COVID-19 của những trường hợp nhiễm XBB tại
Singapore hầu chắc lên đến điểm cao nhất vào giữa tháng November
Bộ
Y tế (MOH) hôm Saturday (Oct 15) nói rằng nếu cần thiết, họ không thể
loại trừ việc áp dụng trở lại một số quy định COVID-19. MOH cũng nói
rằng làn sóng hiện tại của các trường hợp nhiễm COVID-19 được thúc đẩy
bởi biến thể Omicron XBB hầu chắc sẽ lên đến điểm cao nhất vào giữa
tháng November.
Chew Hui Min
@ChewHuiMinCNA
15 Oct 2022 11:20AM(Updated: 15 Oct 2022 10:49PM)
SINGAPORE:
Bộ trưởng Y tế Ong Ye Kung nói vào ngày Saturday (Oct 15) rằng làn sóng
hiện tại của các trường hợp nhiễm COVID-19, được thúc đẩy bởi biến
chủng XBB, có thể sẽ lên đến điểm cao nhất vào giữa tháng November.
Ông
Ong nói: “Hầu chắc đây là một đợt sóng ngắn và sắc nét,” và rằng “hầu
chắc Singapore sẽ nhìn thấy trung bình khoảng 15,000 trường hợp nhiễm
mỗi ngày. Vào khoảng giữa tháng November, chúng ta sẽ thấy làn sóng này
giảm xuống.”
Ông
nói thêm rằng vào những ngày nhất định khi có nhiều trường hợp được báo
cáo hơn, chẳng hạn như vào những ngày Tuesdays, con số có thể lên đến
20,000 hoặc 25,000.
Bộ
Y tế (MOH) nói rằng dùng làn sóng BA.5 làm dấu hiệu chỉ dẫn, các trường
hợp nhiễm phải vào bệnh viện đã đạt cao điểm 800 vào tháng July, và các
bệnh viện tại Singapore, tuy căng thẳng nhưng đã có thể đối phó.
Tỷ
lệ các trường hợp nhiễm chủng XBB, tức là một biến thể phụ của Omicron,
đã gia tăng tại Singapore trong tháng vừa qua. Mặc dù có khả năng
truyền nhiễm rất cao nhưng cho đến nay, nó vẫn chưa gây ra bệnh nặng hơn
so với các biến thể trước đó.
Vào
ngày Oct 14, có 9,087 trường hợp nhiễm-COVID-19-mới được báo cáo tại
Singapore và chín trường hợp nằm ICU. Tổng cộng có 562 bệnh nhân phải
vào bệnh viện, với 44 người cần thở oxygen. Tỷ lệ lây nhiễm theo tuần là
1.64.
Tại
Singapore, XBB hiện là biến chứng phụ chiếm thế mạnh, chiếm 54% trường
hợp mắc bệnh địa phương từ ngày 3 đến ngày 9 tháng October. Bộ Y tế MOH
nói nó được khám phá lần đầu tiên vào tháng August tại Ấn-độ và kể từ đó
đã được khám phá thêm tại hơn 17 quốc gia, bao gồm Úc, Bangladesh,
Denmark, Nhật và Mỹ.
Ông
Ong nói, làn sóng hiện tại phần lớn được thúc đẩy bởi chủng XBB, và sự
tái-nhiễm bệnh cũng góp phần vào làn sóng này. Ông nêu ra rằng trong
vòng ba tuần, XBB đang “qua mặt” các biến thể phụ Omicron khác.
Ông
nói, “Bởi vì 75% dân số của chúng tôi đã bị nhiễm bệnh, vì vậy bất cứ
làn sóng mới nào cũng là sự tái-nhiễm bệnh, do nhiễm trùng đóng góp vào.
Đó là những gì chúng ta đang nhìn thấy bây giờ.”
Tỷ
lệ tái-nhiễm-bệnh trong tổng số trường hợp nhiễm COVID-19 tại Singapore
đã gia tăng trong tháng qua, với tỷ lệ tái-nhiễm-bệnh hiện chiếm khoảng
17% tổng số trường hợp nhiễm mới.
Ông
Ong giải thích rằng mặc dù người ta có thể bị tái nhiễm ngay sau một
lượt COVID-19, nhưng điều đó rất hiếm. Rủi ro bị nhiễm lại COVID-19
trong một đến ba tháng sau một lần bị nhiễm thì thấp hơn nhiều so với
trường hợp chưa bao giờ bị mắc bệnh. Nhưng tính chất kháng thể này sẽ bị
phôi pha theo thời gian.
Điểm khác biệt , gây tử vong mà không thể phát hiện được là:
Không ho Không sốt
Thường xảy ra các triệu chứng sau:
Đau xương khớp
Đau đầu
Viêm cổ họng
Viêm phổi
Yếu mệt cơ thể
Không thèm ăn
Biến thể COVID-Omicron mới : độc hơn biến thể Delta gấp 5 lần nên dĩ nhiên có tỷ lệ tử vong cao hơn . Mất ít thời gian hơn để đi đến tình trạng nghiêm trọng, và đôi khi không có triệu chứng gì trước khi tình trạng trở nên nghiêm trọng Vì vậy hãy cẩn thận hơn! Nhiễm biến thể COVID-Omicron mới không gây ra nhiều triệu chứng ở vùng mũi họng , mà ảnh hưởng trực tiếp đến phổi , nơi được coi là cửa sổ của sự sống , và do vậy gây tử vong rất nhanh . Thực tế điều trị thì một số bệnh nhân nhiễm biến thể COVID-Omicron mới không bị sốt hoặc bị đau, nhưng báo cáo có viêm phổi trên phim chụp X-quang . Điều này có nghĩa là virus sẽ phát tán trực tiếp đến phổi , dẫn đến suy hô hấp nhanh , do viêm cấp tính nguy hiểm đường hô hấp , với các tổn thương nặng ở phổi do virus gây ra . Xét nghiệm test nhanh ngoáy mũi thường âm tính với biến thể COVID-Omicron mới , và do vậy ngày càng có nhiều âm tính giả trong các xét nghiệm dịch mũi họng . Biến thể COVID-Omicron mới có khả năng lây nhiễm nhanh hơn cũng như lẩn tránh miễn dịch từ vắc-xin tốt hơn so với các biến chủng hiện nay . Hãy cẩn thận , tránh tối đa những nơi đông người , giữ khoảng cách 1,5m khi giao tiếp kể cả những người không có biểu hiện gì (ho , hắt hơi ...) , đeo khẩu trang và rửa tay thường xuyên .
Đừng để thông tin này cho riêng mình, hãy chia sẻ với gia đình và bạn bè của bạn
Ngày càng nhiều chuyên gia Mỹ ủng hộ việc chuyển từ lấy mẫu
xét nghiệm COVID-19 bằng cách chọt mũi sang miệng hoặc mẫu nước bọt.
Điều này không phải vì tiện hơn mà vì nó có thể giúp phát hiện biến thể
Omicron nhanh hơn so với cách đang phổ biến.
Theo báo New York Times đăng ngày 15/1, một số nghiên cứu cho thấy
việc thu thập mẫu nước bọt hoặc ngoáy miệng có thể giúp xác định những
người bị nhiễm virus sớm hơn so với ngoáy mũi.
Ông Donald Milton, một chuyên gia về virus đường hô hấp tại Đại học
Maryland (Mỹ), nêu vấn đề: “Virus xuất hiện đầu tiên trong miệng và cổ
họng của bạn. Điều đó có nghĩa là phương pháp mà chúng ta đang làm để
lấy mẫu xét nghiệm có vấn đề”.
Một số nghiên cứu cho thấy virus có xu hướng xuất hiện trong nước bọt
trước khi tích tụ trong mũi. Nói cách khác, mẫu nước bọt có thể là cách
tốt nhất để phát hiện sớm ca bệnh.
Tiến sĩ Milton và các đồng nghiệp của ông gần đây đã phát hiện ra
rằng trong 3 ngày trước khi các triệu chứng xuất hiện và 2 ngày sau đó,
các mẫu nước bọt chứa lượng virus nhiều gấp 3 lần mẫu lấy bằng cách chọt
mũi.
Độ nhạy của mẫu nước bọt khi xét nghiệm bằng phương pháp PCR cao gấp
12 lần mẫu lấy bằng cách mà nhiều nước đang làm. Hiện nghiên cứu vẫn
đang trong giai đoạn chờ bình duyệt và chưa công bố trên tạp chí khoa
học.
Một số chuyên gia cũng đã đưa ra giả thuyết rằng Omicron có thể nhân
bản tốt hơn trong các tế bào của miệng và cổ họng so với các biến thể
khác.
Nghiên cứu ở Nam Phi, nơi đầu tiên báo cáo biến thể Omicron, cho thấy
tăm bông ngoáy mũi có thể phát hiện được biến thể Delta tốt hơn mẫu
nước bọt. Tuy nhiên mẫu nước bọt lại giúp phát hiện sớm ca mắc Omicron
hơn mẫu lấy bằng tăm bông.
LONDON, Anh (NV) – Giáo Sư Sarah Gilbert, nhà khoa học tham gia nghiên cứu tạo ra vaccine Oxford-AstraZeneca COVID-19, khuyến cáo rằng đại dịch lần tới có thể dễ lây lan và gây chết người nhiều hơn nếu không chi thêm tiền để nghiên cứu và chuẩn bị chống lại biến thể virus mới, theo bản tin hãng thông tấn AP hôm Thứ Hai, 6 Tháng Mười Hai.
Giáo Sư Gilbert nói: “Đây không phải là lần cuối cùng cuộc sống và sinh kế của loài người bị virus đe dọa. Trận dịch tiếp theo có thể còn tồi tệ hơn.” Giáo Sư Sarah Gilbert. (Hình: Getty Images)
Giáo Sư Gilbert nói thêm rằng những tiến bộ khoa học đạt được trong việc chống lại virus Corona “không thể bị mất đi” chỉ vì vấn đề chi phí chống dịch, đồng thời khuyến cáo “không thể để tình huống mà chúng ta từng trải qua tiếp tục xảy ra.” Bà Gilbert thúc giục các chính phủ gia tăng các nỗ lực về nghiên cứu khoa học và chuẩn bị cho đại dịch, ngay cả sau khi mối đe dọa từ COVID-19 đang suy giảm. Chính phủ Anh đã dỡ bỏ hầu hết các hạn chế về virus Corona vào Tháng Bảy sau thành công của chiến dịch chích ngừa, nhưng hiện đang chờ xem liệu biến thể Omicron mới có khiến dịch bùng lại hay không. Anh có số lượng lớn các ca nhiễm mới hàng ngày vào mùa Thu và vẫn có tỉ lệ tử vong vì COVID-19 cao thứ hai ở Châu Âu với hơn 146,000 ca tử vong, chỉ sau Nga. Sau khi thấy có biến thể Omicron, chính phủ Anh thắt chặt quy định kiểm soát và cách ly khách du lịch, đồng thời cấm du khách đến từ Nam Phi cũng như một số quốc gia Châu Phi khác bao gồm Nigeria. Bộ Trưởng Y Tế Anh Sajid Javid hôm Thứ Hai, 6 Tháng Mười Hai, cho biết hơn 300 ca nhiễm Omicron được xác nhận ở Anh, và kết luận “hiện nay có sự lây lan cộng đồng trong nhiều vùng của nước Anh.” “Không thể chắc chắn rằng liệu Omicron có nguy cơ ngăn cản nước Anh trên con đường phục hồi hay không,” ông Javid nói.
Trong một nghiên cứu thực tế, Paxlovid đã cho thấy hiệu quả hạn chế (Ảnh: vovidzha/Shutterstock)
Tác giả Dr. Yuhong Dong, M.D., Ph.D.
Mục lục
1. Paxlovid chưa được FDA chấp thuận
2. Paxlovid nên được sử dụng ngay sau khi nhiễm virus
3. Thử nghiệm lâm sàng: Hiệu quả 89% đi kèm tác dụng phụ loạn vị giác và tiêu chảy
4. Paxlovid không có tác dụng trên bệnh nhân trẻ tuổi
5. Tìm kiếm những bệnh nhân “có thể điều trị được” được chứng minh là một thách thức
6. Trong một nghiên cứu thực tế, Paxlovid đã cho thấy hiệu quả hạn chế
7. Kháng thuốc là mối quan tâm chính
8. Một mối quan tâm lớn khác là sự tương tác của Paxlovid với các loại thuốc khác
9. Khả năng miễn dịch tự nhiên ảnh hưởng đến sự thành công của Paxlovid và các thuốc kháng virus khác
Bạn có biết khi nào nên sử dụng Paxlovid để điều trị COVID-19
không? Bạn có biết lý do dẫn đến kết quả hỗn hợp của dữ liệu thử nghiệm
lâm sàng giai đoạn 2 và giai đoạn 3 so với các nghiên cứu thực tế của
thuốc này không? Bạn có biết mối quan tâm lớn nhất về Paxlovid đối với
ứng dụng trong tương lai của nó trong điều trị COVID-19 là gì không?
Nổi tiếng là thuốc uống kháng virus “thay đổi cuộc chơi” để điều trị
COVID-19, Paxlovid có thể ngăn ngừa nhập viện và tử vong ở những người
có nguy cơ cao COVID-19 nghiêm trọng. Tuy nhiên, bạn nên biết rằng kết
quả nghiên cứu về Paxlovid không phải lúc nào cũng như vẻ ngoài của
chúng.
Chúng tôi sẽ cung cấp một đánh giá cân bằng, không thiên vị liên quan
đến lịch sử phát triển, thử nghiệm lâm sàng và dữ liệu hiệu quả trong
thế giới thực của Paxlovid, cũng như những ưu điểm và hạn chế của thuốc.
Chúng tôi cũng sẽ làm rõ mối liên hệ giữa thuốc kháng virus đường uống
và khả năng miễn dịch của con người.
Tóm tắt các điểm chính:
Paxlovid chưa được FDA chấp thuận
Paxlovid nên được sử dụng ngay sau khi nhiễm virus
Thử nghiệm lâm sàng: Hiệu quả 89% đi kèm tác dụng phụ loạn vị giác và tiêu chảy
Paxlovid không hoạt động ở bệnh nhân trẻ tuổi
Trong một nghiên cứu thực tế, Paxlovid đã cho thấy hiệu quả hạn chế
Tìm kiếm bệnh nhân “có thể điều trị” đã được chứng minh là đầy thách thức
Kháng thuốc là mối quan tâm chính
Một mối quan tâm lớn khác là tương tác của Paxlovid với các loại thuốc khác
Khả năng miễn dịch tự nhiên ảnh hưởng đến sự thành công của Paxlovid và các thuốc kháng virus khác
Paxlovid của Pfizer chứa hai hoạt chất. Đầu tiên là nirmatrelvir
(PF-07321332), một chất ức chế protease làm gián đoạn chu kỳ nhân lên
của virus.
Hoạt động của protease virus giống như chiếc kéo trong tay người thợ
may. Protease có thể cắt protein virus được tổng hợp chuỗi dài (giống
như một mảnh vải) thành nhiều mảnh với các chức năng khác nhau. Virus sẽ
kết hợp các đoạn protein này thành một hạt virus hoàn chỉnh.
Khi protease của virus bị ức chế, virus không thể sao chép thành
công; do đó, protease thường được coi là mục tiêu điều trị của ngành
dược phẩm.
Thành phần hoạt chất khác của Paxlovid là một loại thuốc HIV cũ,
ritonavir. Ritonavir là một chất ức chế protease HIV có thể giúp làm
chậm quá trình chuyển hóa hoặc phân hủy nirmatrelvir, do đó duy trì nồng
độ hiệu quả của nirmatrelvir.
1. Paxlovid chưa được FDA chấp thuận
Vào ngày 22/12/2021, FDA đã cấp Giấy phép Sử dụng Khẩn cấp (EUA) cho
Paxlovid (viên nén nirmatrelvir được đóng gói cùng với viên nén
ritonavir) để điều trị COVID-19 ở mức độ nhẹ đến trung bình.
Vào ngày 30/06/2022, Pfizer đã đệ trình Đơn đăng ký Thuốc mới (NDA)
lên FDA để tìm kiếm sự chấp thuận cho Paxlovid. Tuy nhiên, cho đến hôm
nay, nó vẫn chưa được FDA chấp thuận để điều trị COVID-19.
2. Paxlovid nên được sử dụng ngay sau khi nhiễm virus
Một nhóm các nhà nghiên cứu, chủ yếu từ Nghiên cứu Toàn cầu của
Pfizer, đã xuất bản một bài báo trên tạp chí Science vào ngày
02/11/2021, về việc khám phá và mô tả đặc tính của Paxlovid. Hoạt tính
kháng virus in vitro của Paxlovid đã được đánh giá trong nhiều mô hình
tế bào. Thử nghiệm in vitro cho thấy Paxlovid đã thể hiện hoạt tính
kháng virus mạnh mẽ chống lại SARS-CoV-2, MERS-CoV và các virus corona
tương tự khác.
Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu lưu ý rằng Paxlovid nên được sử dụng ngay sau khi một đối tượng bị nhiễm COVID-19.
Khi cho chuột sử dụng sớm nhất là bốn giờ sau khi nhiễm SARS-CoV-2,
liều Paxlovid 300 hoặc 1,000mg/kg có hiệu quả trong việc giảm tải lượng
virus SARS-CoV-2 trong phổi.
Điều này có nghĩa là nên dùng Paxlovid càng sớm càng tốt sau khi
nhiễm virus. Đó cũng là lý do căn bản cho các tiêu chí thu nhận: chỉ
nhận vào những bệnh nhân trong vòng năm ngày kể từ khi khởi phát triệu
chứng vào các thử nghiệm lâm sàng giai đoạn 2 và giai đoạn 3. Nói cách
khác, nếu nhiễm virus ở giai đoạn muộn và bệnh nặng hơn, Paxlovid có thể
không hữu ích như đối với trường hợp nhiễm virus ở giai đoạn đầu.
Điều đáng nói là thời gian bắt đầu điều trị bằng Paxlovid, bốn giờ
sau khi động vật bị nhiễm virus, thậm chí còn ngắn hơn so với một loại
thuốc kháng virus khác, molnupiravir, được dùng vào lúc 12 giờ và 36 giờ
sau khi động vật bị nhiễm virus.
3. Thử nghiệm lâm sàng: Hiệu quả 89% đi kèm tác dụng phụ loạn vị giác và tiêu chảy
Kết quả của thử nghiệm mù đôi, ngẫu nhiên, có đối chứng giai đoạn 2–3
do Pfizer hỗ trợ đã được công bố vào ngày 16/02/2022 trên Tập san Y học
New England.
Thử nghiệm có sự tham gia của 2,246 bệnh nhân trưởng thành có triệu
chứng, chưa được chích ngừa, không nhập viện, những người có nguy cơ cao
phát triển các triệu chứng nghiêm trọng của COVID-19 và thời gian khởi
phát triệu chứng không quá năm ngày. Họ được chọn ngẫu nhiên để nhận
Paxlovid 300mg với cách chăm sóc tiêu chuẩn khác hoặc giả dược với thuốc
truyền thống khác hai lần một ngày trong năm ngày.
Phân tích cuối cùng, liên quan đến 1,379 bệnh nhân, cho thấy Paxlovid
giảm 89% nguy cơ nhập viện hoặc tử vong liên quan đến COVID-19, so với
nhóm giả dược khi được dùng dưới năm ngày sau khi khởi phát triệu chứng.
Các tác dụng phụ chính được quan sát thấy giữa Paxlovid so với nhóm
chứng là chứng loạn vị giác (rối loạn vị giác, 5.6% so với 0.3%) và tiêu
chảy (3.1% so với 1.6%), cả hai đều cao hơn so với nhóm dùng giả dược.
Điều này cho thấy các tác dụng phụ tiềm ẩn đối với hệ thống thần kinh và
tiêu hóa.
Một lần nữa, phù hợp với khái niệm phát triển của loại thuốc này và
phù hợp với dữ liệu trên động vật của nó, loại thuốc này phải được sử
dụng ở giai đoạn đầu của bệnh nhiễm trùng. Hầu hết bệnh nhân (66.3%)
nhận được liều đầu tiên của thuốc thử nghiệm hoặc giả dược trong vòng ba
ngày sau khi xuất hiện các triệu chứng.
Trong thế giới thực, không nhiều bệnh nhân có thể dùng thuốc trong
những ngày đầu tiên khởi phát, đặc biệt là trong kỷ nguyên Omicron hiện
tại, vì hầu hết bệnh nhân có thể coi các triệu chứng của họ là cảm lạnh
thông thường và có thể không biết mình đã nhiễm COVID-19.
4. Paxlovid không có tác dụng trên bệnh nhân trẻ tuổi
Một nghiên cứu đoàn hệ hồi cứu, quan sát quy mô lớn với sự tham gia
của hơn 100,000 đối tượng được tiến hành ở Israel, trong giai đoạn đỉnh
điểm của biến thể Omicron đã được công bố trên Tập san Y học New England
vào ngày 01/09/2022.
Nghiên cứu này dựa trên dữ liệu thu được từ một tổ chức chăm sóc sức khỏe lớn bao gồm khoảng 52% dân số Israel.
Nghiên cứu diễn ra trong khi biến thể Omicron chiếm ưu thế; thời gian
nghiên cứu bắt đầu vào ngày 09/01/2022 và kết thúc vào ngày 31/12/
2022.
Tỷ lệ rủi ro tích lũy khi nhập viện do Covid-19, theo nhóm tuổi và tình trạng điều trị. (Tập san Y học New England)
Các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng trong số những bệnh nhân từ 65
tuổi trở lên, Paxlovid có thể giảm 73% nguy cơ nhập viện và giảm 79%
nguy cơ tử vong. Tuy nhiên, không có bằng chứng về lợi ích được tìm thấy
ở người lớn từ 40 đến 64 tuổi.
5. Tìm kiếm những bệnh nhân “có thể điều trị được” được chứng minh là một thách thức
Chúng ta có thể thắc mắc tại sao Paxlovid có tác dụng với bệnh nhân
lớn tuổi mà không có tác dụng với nhóm người trẻ tuổi trong nghiên cứu ở
Israel.
Paxlovid có khoảng thời gian điều trị hẹp (năm ngày sau khi khởi phát
triệu chứng) và thời gian điều trị tương đối ngắn (chỉ năm ngày). Thử
nghiệm giai đoạn 2 và 3 được tiến hành trên một nhóm bệnh nhân được lựa
chọn trong môi trường nghiên cứu có kiểm soát. Tuy nhiên, các nghiên cứu
thực tế có thể không lặp lại được các tiêu chí giống như các thử nghiệm
giai đoạn 2 và giai đoạn 3—tất cả điều này dẫn đến những hạn chế đối
với ứng dụng lâm sàng của Paxlovid và dữ liệu hiệu quả hỗn hợp.
Đầu tiên, bệnh nhân phải dùng thuốc càng sớm càng tốt sau khi nhiễm
SARS-CoV-2. Điều này dựa trên danh sách các yếu tố liên quan đến cơ chế
hoạt động của thuốc, khái niệm phát triển, thời gian dùng thuốc trong
nghiên cứu tiền lâm sàng và thiết kế nghiên cứu giai đoạn 3. Cũng có thể
hiểu rằng việc điều trị sớm hơn sẽ mang lại kết quả tốt hơn.
Tuy nhiên, một nghiên cứu của Johns Hopkins đã báo cáo rằng xét
nghiệm PCR COVID-19 “tiêu chuẩn vàng” có tỷ lệ âm tính giả dao động từ
20 đến 66%. Tỷ lệ âm tính giả của xét nghiệm PCR SARS-CoV-2 cao hơn
nhiều trong những ngày lây nhiễm sớm hơn so với sau đó. Nó có thể lên
tới 100% vào ngày đầu tiên và giảm xuống 20% vào ngày tiếp xúc thứ tám
(thường là ngày thứ ba của các triệu chứng).
Một phân tích tổng quan về 34 nghiên cứu thu nhận 12,057 trường hợp
được xác nhận COVID-19 cho thấy rằng có tới 54% bệnh nhân COVID-19 có
thể có kết quả RT-PCR âm tính giả ban đầu.
Điều này dẫn đến một tình thế tiến thoái lưỡng nan: một mặt, chúng ta
phải bắt đầu điều trị. Mặt khác, tỷ lệ âm tính giả cao cản trở việc áp
dụng Paxlovid sớm trong quần thể bệnh nhân tối đa.
Paxlovid không được chỉ định để điều trị cho bệnh nhân COVID-19 cần
nhập viện do bệnh COVID-19 nghiêm trọng hoặc nguy kịch. Dựa trên dữ liệu
thử nghiệm lâm sàng trước đây, không có thử nghiệm nào trong số đó được
tiến hành trên bệnh nhân COVID-19 nặng, vì vậy điều cần thiết là phải
ghi nhớ điểm này.
Hơn nữa, Paxlovid không được chỉ định cho bệnh nhân COVID-19 từ nhẹ
đến trung bình. Bệnh nhân phải có nguy cơ cao tiến triển thành các bệnh
nghiêm trọng, bao gồm nhưng không giới hạn ở tuổi già, các bệnh nền về
ung thư, tiểu đường, bệnh phổi mãn tính hoặc bệnh thận mãn tính.
Dữ liệu bổ sung hỗ trợ việc sử dụng thuốc này trong năm ngày liên
tiếp. Những yếu tố này cùng nhau chỉ ra rằng việc tìm kiếm các đối tượng
thử nghiệm phù hợp đã được chứng minh là khó khăn.
6. Trong một nghiên cứu thực tế, Paxlovid đã cho thấy hiệu quả hạn chế
Vào tháng 10/2022, các nhà nghiên cứu của Đại học Hồng Kông đã so
sánh hiệu quả lâm sàng của hai loại thuốc kháng virus đường uống,
Paxlovid và molnupiravir, giữa các cư dân Hồng Kông. Nghiên cứu quan sát
của các nhà nghiên cứu đã được công bố trên tập san The Lancet.
Từ ngày 26/02 đến ngày 26/06/2022, trong số 1,074,856 bệnh nhân không
nhập viện bị nhiễm Omicron, 6,464 người được điều trị bằng Paxlovid và
5,383 người được điều trị bằng molnupiravir. So với nhóm Paxlovid, nhóm
molnupiravir bao gồm những bệnh nhân lớn tuổi hơn và chưa được chích
ngừa nhiều hơn.
Điều đáng chú ý là hai loại thuốc kháng virus này không được so sánh
trực tiếp trong nghiên cứu này, nhưng mỗi loại được so sánh với nhóm đối
chứng của nó với tình trạng bệnh nhân phù hợp.
Paxlovid giảm tỷ lệ tử vong 66% so với đối chứng, trong khi molnupiravir giảm tỷ lệ tử vong 24% so với đối chứng của chính nó.
Molnupiravir không làm giảm tỷ lệ nhập viện, trong khi Paxlovid giảm 24% tỷ lệ nhập viện.
Molnupiravir làm giảm 43% tiến triển của bệnh trong bệnh viện, trong khi Paxlovid cũng giảm 43%.
Không có tỷ lệ nào trong số này tốt bằng dữ liệu thử nghiệm lâm sàng
giai đoạn 2 và giai đoạn 3 của Paxlovid. Một trong những lý do có khả
năng xảy ra nhất là khoảng thời gian điều trị hẹp của thuốc đã được tuân
thủ tốt như thế nào, tức là chỉ năm ngày sau khi khởi phát triệu chứng.
Kết quả nghiên cứu tại Hồng Kông về hiệu quả của Paxlovid và molnupiravir. (Ảnh: The Epoch Times)
7. Kháng thuốc là mối quan tâm chính
Các phương pháp điều trị bằng thuốc kháng virus thường liên quan đến
sự phát triển của virus kháng thuốc. Có một câu nói nổi tiếng trong cộng
đồng chống virus: “Không có thuốc kháng virus, không có kháng thuốc.”
Virus là một vi sinh vật xảo quyệt. Khi bạn thêm áp lực vào chu kỳ
sao chép của nó, một loại virus thường sẽ tìm cách đi đường vòng bằng
cách biến đổi và sẽ xoay sở để tồn tại. Đây là cơ chế chính của hiện
tượng virus kháng thuốc kháng virus.
Đã có khá nhiều nghiên cứu trong phòng thí nghiệm chỉ ra rằng
SARS-CoV-2 có thể biến đổi để bỏ qua mục tiêu của thuốc, tức là làm giảm
hiệu quả của thuốc trong sử dụng lâm sàng thực tế, theo báo cáo của
Science vào tháng 06/2022.
Theo nghĩa này, Paxlovid không khác gì các loại thuốc kháng virus khác.
Mặc dù các nhà nghiên cứu đã báo cáo rằng nirmatrelvir vẫn có hiệu
quả trong nhiều biến thể của SARS-CoV-2, bao gồm Alpha, Beta, Delta,
Gamma, Lambda và Omicron, cũng như chủng ban đầu, điều này không có
nghĩa là thuốc sẽ có hiệu quả chống lại các biến thể trong tương lai của
virus.
Hai nhóm nghiên cứu đã độc lập chỉ ra rằng SARS-CoV-2 nhanh chóng có được khả năng tránh sự tấn công của nirmatrelvir.
Một nghiên cứu do nhà virus học Dirk Jochmans từ Bỉ dẫn đầu, người đã
phát hiện ra rằng sau hàng chục đợt điều trị bằng nirmatrelvir,
SARS-CoV-2 đã phát triển ba đột biến—tại các vị trí 50, 166 và 167 của
protease quan trọng Mpro—làm giảm nhạy cảm của virus với nirmatrelvir
gấp 20 lần.
Judith Margarete Gottwein dẫn đầu một nghiên cứu khác tại Đại học
Copenhagen. Bà đã phát hiện ra các đột biến kháng thuốc ở các vị trí
tương tự 50 và 166 trong Mpro, làm giảm 80 lần tính nhạy cảm với
nirmatrelvir.
Điều gây kinh ngạc hơn là thực tế là hai trong số các đột biến (166
và 167) do nhóm người Bỉ đánh dấu đã được báo cáo là đang lưu hành ở
người theo kết quả của một nghiên cứu prepritn của các nhà khoa học Hoa
Kỳ đăng vào ngày 30/05/ 2022.
Do mối lo ngại này, những bệnh nhân đang sử dụng Paxlovid nên được
theo dõi thường xuyên về tình trạng kháng thuốc kháng virus, đặc biệt là
khi xuất hiện các dấu hiệu tái phát hoặc tái nhiễm.
8. Một mối quan tâm lớn khác là sự tương tác của Paxlovid với các loại thuốc khác
CYP3A phân hủy Paxlovid. CYP3A là một trong những enzym quan trọng
nhất trong gan và trong đường tiêu hóa của chúng ta, đóng vai trò quan
trọng trong việc phá vỡ thuốc.
Các chất gây cảm ứng mạnh CYP3A sẽ làm giảm mức độ tiếp xúc với thuốc
của Paxlovid, dẫn đến mất đáp ứng với điều trị bằng Paxlovid và tăng
nguy cơ kháng thuốc.
Paxlovid bị chống chỉ định với một danh sách dài các loại thuốc cảm
ứng CYP3A, một phần do lo ngại về khả năng kháng thuốc kháng virus.
Các chất gây cảm ứng CYP3A bao gồm glucocorticoid, rifampin,
carbamazepine, phenobarbital và phenytoin. Một danh sách các loại thuốc
chống chỉ định có sẵn ở đây. Bệnh nhân phải được biết về những tương tác rủi ro tiềm tàng này trước khi họ dùng Paxlovid.
9. Khả năng miễn dịch tự nhiên ảnh hưởng đến sự thành công của Paxlovid và các thuốc kháng virus khác
Mặc dù chúng ta hoan nghênh những nỗ lực của ngành dược phẩm trong
việc phát triển thuốc kháng virus, nhưng chúng ta không nên quên những
hạn chế đó. Hơn nữa, một hệ miễn dịch hoạt động tốt là cần thiết để
thuốc kháng virus phát huy tác dụng của nó.
Ưu điểm chính của thuốc kháng virus là khi hệ thống miễn dịch của cơ
thể không đủ mạnh, các loại thuốc bên ngoài có thể tạm thời ức chế sự
nhân lên của virus, giúp hệ thống phòng thủ tự nhiên của chúng ta có
thời gian để phục hồi toàn bộ sức mạnh.
Trong khi đó, chúng ta không nên bỏ qua khả năng sản xuất các chất
kháng virus của cơ thể. Ví dụ, interferon được sản xuất bởi nhiều tế bào
miễn dịch (bạch cầu, NK, NKT và tế bào T). Đúng như tên gọi, thông qua
“sự can thiệp”, nó đạt được tác dụng kháng virus. Interferon giống như
một người chỉ huy, đưa ra chỉ thị để điều phối các tế bào khác nhau và
truyền tín hiệu để phối hợp với nhau chống lại virus.
Có nhiều cách để tăng số lượng và tối đa hóa tiềm năng của các chất kháng virus tự nhiên mà cơ thể chúng ta tạo ra.
Interferon can thiệp vào sự sao chép của virus. (Ảnh: The Epoch Times)
Miễn dịch tự nhiên là lực lượng kháng virus nội sinh trong cơ thể
chúng ta, giống như một lực lượng tổng hợp sẵn sàng chiến đấu chống lại
mầm bệnh xâm nhập. Nếu chúng ta đủ tỉnh táo để nuôi dưỡng khả năng miễn
dịch của mình trong thời bình, thì cơ chế phòng thủ sẽ hoạt động tốt khi
“chiến tranh” đến.
Tóm lại, chúng ta hãy bình tĩnh xem xét những điểm mạnh và hạn chế
của thuốc kháng virus. Một mặt, chúng ta hy vọng thuốc kháng virus sẽ
hoạt động tốt; mặt khác, chúng ta phải tăng sức mạnh của hệ miễn dịch để
chống lại virus một cách tự nhiên, có hệ thống, năng động và tháo vát
hơn.
Các bài báo của Epoch Health nhằm mục đích cung cấp thông tin và
không thay thế cho tư vấn y tế cá nhân. Vui lòng tham khảo ý kiến
chuyên gia đáng tin cậy để được tư vấn, chẩn đoán và điều trị y tế cá
nhân. Nếu bạn có câu hỏi, hãy gửi email cho chúng tôi
tại HealthReporter@epochtimes.nyc
Lan Hoa biên dịch Quý vị tham khảo bản gốc từ The Epoch Times