Hiển thị bài đăng được sắp xếp theo mức độ liên quan cho truy vấn Các nhà văn đạo giải Nobel. Sắp xếp theo ngày Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị bài đăng được sắp xếp theo mức độ liên quan cho truy vấn Các nhà văn đạo giải Nobel. Sắp xếp theo ngày Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 2 tháng 1, 2021

TƯƠNG LAI HẬU-TRUMP CỦA VĂN HỌC MỸ (Văn Việt )

Các nhà văn sẽ làm gì khi hết phẫn nộ? Liệu họ có quay lại viết về bông hoa và trăng sao hay không?

Nguyễn Thanh Việt, The New York Times ngày 22/12, 2020

Trần Ngọc Cư dịch

Nguyễn Thanh Việt là Chủ nhiệm khoa Anh văn, ngạch Aerol Arnold, và là Giáo sư Anh văn, Hoa Kỳ học, và Dân tộc học tại Đại học Nam California. Ông từng đoạt giải Pulitzer và là thành viên của Hội đồng giải thưởng Pulitzer.

Donald Trump là một tổng thống phản văn học. Rõ ràng là người này không đọc sách, ngoài các tờ báo cáo và các dòng tweet được pha rất loãng. Ông thiếu một yếu tố cốt lõi cần thiết cho văn học: đó là sự đồng cảm với người khác.

Sự đắc cử của Joe Biden và Kamala Harris báo hiệu việc phục hồi khả năng đồng cảm của giới lãnh đạo vào năm 2021. Nhưng sự đồng cảm chỉ là một cảm xúc và chúng ta đừng bao giờ nhầm nó với hành động. Tình cảm nồng nàn của Barack Obama không tái định hướng thế giới nhắm vào công lý nhiều như một số người trong chúng ta mong muốn. Tuy nhiên, thế giới văn học đã đón nhận ông Obama. Phải cần đến ông Trump để đánh thức giới văn học về các vấn đề chính trị.

Nhiều nhà văn, giống như tôi, đã nhắn tin cho cử tri, quyên góp cho chính nghĩa của các nhà hoạt động, đã tham gia những cuộc đấu đá gay gắt trên mạng xã hội và viết các bài phản biện tấn công chính quyền Trump. Nhiệt tình chính trị của họ gây ấn tượng sâu sắc trong tôi. Nhưng nếu những nhà văn này rút lui về con người tiền-Trump của họ, thì những bài học của thời đại này sẽ không được rút tỉa chút nào.

Văn học Mỹ có một mối quan hệ rắc rối với chính trị. Văn chương dòng chính – thơ và tiểu thuyết được viết bởi những người da trắng, được giáo dục đàng hoàng và được quản lý bởi một bộ máy rà soát, xuất bản và giữ cửa, phần lớn là người da trắng và hưởng đặc quyền – có xu hướng phi chính trị. Hầu hết giới văn học Mỹ đồng hóa chính trị trong văn học với chủ nghĩa hiện thực xã hội, tuyên truyền và tất cả những tệ nạn khác được cho là của văn học Cộng sản và xã hội chủ nghĩa, vô tình bỏ qua tính thẩm mỹ kích thích của các nhà văn chính trị như Aimé Césaire, Richard Wright và Gloria Anzaldúa.

Ở mức độ mà ngành xuất bản chính mạch muốn bày tỏ một thái độ chính trị, nó tập trung vào những cuốn sách phi hư cấu về những thứ như bầu cử, những bạch thư của người trong cuộc và những hồi ký tổng thống. Các mục tiêu chính trị khác có thể chấp nhận được trước quan tâm phóng khoáng của người da trắng: môi trường, chế độ ăn chay trường, giáo dục.

Nhưng ông Trump đã phá hủy khả năng sống phi chính trị của các nhà văn da trắng. Mọi người đều thể hiện một sự lựa chọn, đặc biệt là khi đối mặt với đại dịch coronavirus và việc sát hại George Floyd, cả hai sự kiện này đã khiến cái giá sinh tử của nạn kỳ thị chủng tộc mang tính hệ thống [systemic racism] và tình trạng bất bình đẳng kinh tế trở thành một tiêu điểm nhức nhối.

Nhưng vào năm 2021, liệu các nhà văn, đặc biệt là các nhà văn da trắng, sẽ thở phào nhẹ nhõm và trở về lại với thứ chính trị của những người phi chính trị, tức là trở lại với đặc quyền của người da trắng hay không?

Sinh hoạt chính trị biểu hiện rõ nét trong thi ca và tiểu thuyết Mỹ hiện nay hầu như đang được giao cho những kẻ bên lề: nhà văn da màu, nhà văn đồng tính và chuyển giới, nhà văn nữ quyền, nhà văn chống thực dân.

Việc một số giải thưởng văn học lớn trong những năm gần đây được trao cho các nhà văn như thế cho thấy hai điều: Thứ nhất, họ đang viết một số tác phẩm hấp dẫn nhất trong văn học Mỹ; và thứ hai, giải thưởng văn học có chức năng là những đền bù thiệt hại mang tính biểu tượng ở một quốc gia chưa có khả năng đền bù thiệt hại thực sự.

Việc trao cho nhà văn Charles Yu Giải thưởng Sách quốc gia về cuốn “Trong Khu phố Tàu” [Interior Chinatown], một tác phẩm phê bình vừa vui nhộn vừa gay gắt về cách Hollywood mô tả người Mỹ gốc Á dưới góc nhìn phân biệt chủng tộc, là một việc dễ làm hơn so với việc thực sự biến đổi Hollywood. Ngành xuất bản cũng dễ dàng trao giải thưởng cho các nhà văn bị thiệt thòi hơn là thay đổi các phương thức tuyển dụng họ. James Baldwin đã viết vào năm 1953 rằng “thế giới này không còn trắng nữa, và nó sẽ không bao giờ trắng trở lại,” nhưng một ngành xuất bản có đội ngũ biên tập viên là 85% da trắng và danh sách tiểu thuyết là 95% da trắng, vẫn còn quá trắng.

Trong thời đại Biden, liệu ngành xuất bản có làm gì nhiều hơn chỉ là cảm thấy khó chịu về điều đó và cam kết tuyển dụng một nhóm biên tập viên và thực tập sinh đa dạng văn hóa và xây dựng một lộ trình cho sự lãnh đạo đa dạng văn hóa trong tương lai hay không?

Bản thân “tính đa dạng văn hoá” sẽ là một dạng chính trị hoàn toàn rỗng tuếch trừ phi nó xảy ra ở mọi cấp độ của một ngành, và trừ phi nó thay đổi một cách có ý nghĩa một lề lối thực hành mỹ học [aesthetic practice]. Đây là một trong những lời chỉ trích nặng nề dành cho nhiệm kỳ tổng thống của Obama. Mặc dù ta có thể đổ lỗi cho sự ngoan cố của Đảng Cộng hòa, nhưng ông Obama vẫn còn khá ôn hoà trong việc theo đuổi chính sách đa dạng văn hoá, ví như một người đã mày mò với tổ hợp công nghiệp-quân sự [the industrial-military complex] mà không chịu biến đổi nó.

Việc nhiều người trong giới văn học sẵn sàng bỏ qua các chính sách trục xuất người nhập cư và đánh bom bằng máy bay không người lái của ông Obama, một phần bởi vì ông ta là một tổng thống có cách ăn nói văn hoa và thấu cảm, cho thấy phần nào sự trống rỗng của chủ nghĩa tự do-bình đẳng [liberalism] và chủ nghĩa đa văn hóa [multiculturalism]. Sự đồng cảm, chữ ký cảm xúc của họ, hoàn toàn tương hợp với việc giết người ở nước ngoài – nhiều người trong số đó là vô tội – và hỗ trợ cho một hệ thống cảnh sát và nhà tù gây hại một cách không cân xứng cho người da đen, người bản địa và người da màu khác, cùng với người nghèo. Hoá ra là, một tổng thống có thể vừa ưa thích các cuộc đánh bom bằng máy bay không người lái vừa biết chọn một danh mục sách đọc hàng năm nặng về văn học đa văn hóa.

Và ở đây, những nhà văn bị gạt ra ngoài lề, kể những câu chuyện về những nhóm dân cư bị gạt ra ngoài lề xã hội sẽ không được chấp nhận. Lấy văn học nhập cư làm ví dụ. Trong những năm bài ngoại của Trump, khi người nhập cư và người tị nạn bị coi như ma quỉ, chỉ đơn thuần đứng lên ủng hộ người nhập cư cũng trở thành một chính nghĩa đáng giá về mặt chính trị. Nhưng rất nhiều tư liệu văn học về người nhập cư, mặc dù chú ý đến những khó khăn về chủng tộc, văn hóa và kinh tế mà người nhập cư phải đối mặt, cuối cùng cũng khẳng định một giấc mơ Mỹ đôi khi cao cả và đầy khát vọng, và đôi khi chỉ là chiếc mặt nạ che đậy những bất bình đẳng về cấu trúc của một quốc gia thuộc địa bằng người định cư [a settler colonial state]. Hầu hết người Mỹ chưa bao giờ nghe nói về chủ nghĩa thực dân định cư [settler colonialism], huống hồ sử dụng nó để mô tả đất nước mình. Đó là bởi vì người Mỹ thích gọi chủ nghĩa thực dân định cư là giấc mơ Mỹ.

Quá nhiều tư liệu văn học về người nhập cư và đa văn hóa đã không thể lột bỏ chiếc mặt nạ đó. Tuy nhiên, việc chính trị hóa những nhóm dân cư này thực sự là mối đe dọa đối với quốc gia da trắng mà ông Trump đại diện. Nền chính trị bản sắc da trắng luôn là nền chính trị thống trị của đất nước này, nhưng bao lâu mà nó còn phát triển và không bị đe dọa, nó chưa bao giờ là nền chính trị da trắng lộ liễu. Nó chỉ đơn thuần là chuẩn mực [normative], và hầu hết các nhà văn da trắng (và người da trắng) không bao giờ tra hỏi về tính chuẩn mực của bản chất da trắng. Nhưng cuộc hành trình dài, không trọn vẹn hướng tới bình đẳng chủng tộc từ năm 1865 đến nay đã dần dần xói mòn sự thống trị của người da trắng, với sự rạn vỡ đáng kể nhất xảy ra trong cuộc chiến ở Việt Nam.

Các nhà văn không chỉ tuần hành chống chiến tranh, họ còn viết lách chống lại nó. Trong số các nhà văn Mỹ da trắng, các nhà thơ như Robert Lowell là những người đầu tiên phản đối chiến tranh, cùng với các nhà văn xuôi như Susan Sontag và Norman Mailer.

Tuy nhiên, tiếp theo sau chiến tranh, việc chính trị hóa các nhà văn da trắng đã phai mờ, ngay cả khi việc chính trị hóa các nhà văn da màu không hề mai một. Vào những năm 1980, năng lượng chính trị của các nhà văn da màu tập trung nhiều hơn vào cái gọi là chính trị bản sắc và chủ nghĩa đa văn hóa, vào nhu cầu về danh mục sách đọc, giáo trình giảng dạy văn học và giải thưởng dành cho các nhóm thiểu số. Cuộc phản công chống lại những nỗ lực này đã dẫn đến “cuộc chiến văn hóa”, với những người bảo vệ giáo luật văn học phương Tây (da trắng) cho rằng chủ nghĩa đa văn hóa đang làm xói mòn nền tảng văn hóa Mỹ.

Những người theo chủ nghĩa đa văn hóa hầu như đã thắng cuộc chiến đó, nhưng ông Trump là người tiếp tục cuộc phản công của phe bảo thủ. Ông Trump rõ ràng muốn đẩy lùi dòng thời gian của Mỹ về những năm 1950, hoặc thậm chí có thể đến năm 1882, năm của Đạo luật Loại trừ người Trung Hoa.

Những gì ông ta cố gắng làm về mặt chính trị và kinh tế, ông ta cũng cố gắng làm về mặt văn hóa với Sắc lệnh Hành pháp về việc Chống Định kiến Chủng tộc và ​​Giới tính [Executive Order on Combating Race and Sex Stereotyping]. Sắc lệnh này cấm các cơ quan liên bang và bất kỳ tổ chức nào nhận tài trợ liên bang nói chuyện với nhân viên về đặc quyền của người da trắng hoặc đưa ra các chương trình đào tạo thúc đẩy tính đa dạng văn hoá, công bằng xã hội và sự hòa nhập các nhóm thiểu số. "Thuyết chủng tộc cốt lõi" [critical race theory] đã trở thành mục tiêu cho sự bực bội của ông Trump. Ông đã trực giác chính xác rằng việc dọi ánh sáng vào bản chất da trắng [whiteness] đang đe dọa những người từ lâu an nghỉ thoải mái trong bản chất da trắng của mình mà không hề bị ai thắc mắc, gồm cả những người da trắng bảo thủ lẫn những người da trắng cổ vũ tự do-bình đẳng, một luận điểm mà nhà thơ Claudia Rankine đã đề cập đến trong cuốn sách năm 2020 của cô “Just Us” [Chỉ chúng ta với nhau thôi].

Jess Row cũng đưa ra quan điểm tương tự trong cuốn sách tiểu luận gần đây của mình,”White Flights” [Những chuyến bay màu trắng], trong đó ông cho thấy bản chất da trắng đã ăn sâu như thế nào trong văn học Mỹ và nó có thể được truy nguyên trực tiếp đến các tội lỗi lập quốc của đất nước này, đấy là tội chinh phục, diệt chủng và nô lệ. Bài diễn văn của người đoạt giải Nobel văn học năm nay, nhà thơ Louise Glück, minh họa một cách vắn gọn quan điểm của ông Row. Bà nói về những bài thơ có ý nghĩa đối với bà khi còn nhỏ nhưng đó cũng là những miêu tả có vấn đề về nô lệ da đen và cuộc sống trên đồn điền, một vấn đề mà bà Glück chỉ nói ấm ớ mà thôi.

Cái gọi là văn học thể loại [genre literature] có số phận tốt hơn cái gọi là văn học tiểu thuyết và thi ca trong phạm trù các tác phẩm phê bình và mang màu sắc chính trị, loại tác phẩm làm lung lay bản chất da trắng và phơi bày các di sản của chủ nghĩa thực dân. Các nhà văn khôn ngoan viết về tội phạm, chẳng hạn, thường có thái độ chính trị vì họ biết rằng một tội ác cá nhân là một biểu hiện của cả một xã hội phạm tội ác hàng loạt.

Một số ví dụ gần đây: nhà văn Don Winslow, trong bộ ba tiểu thuyết của mình về cuộc chiến chống ma túy mà đỉnh điểm là cuốn "The Border" [Biên giới] liên kết trực tiếp những cuộc chiến ma túy đó với các cuộc xung đột quân sự mà đất nước này đã tham chiến hoặc kích hoạt, từ Việt Nam đến Guatemala. Nhà văn Steph Cha trong cuốn “Your House Will Pay” [Nhà mày sẽ trả giá] tiếp cận cuộc bạo loạn ở Los Angeles thông qua một vụ giết người bí ẩn tập trung vào mối quan hệ giữa người da đen và người Hàn Quốc, thay vì tập trung vào mối quan hệ của họ với cơ cấu quyền lực da trắng đã dàn cảnh khiến hai bên xung đột. Nhà văn Attica Locke trong cuốn “Heaven, My Home” [Thiên đàng, Nhà tôi] tiếp tục cuộc phiêu lưu của Darren Mathews, một nhân viên kiểm lâm da đen Texas, khi anh điều tra những tội ác bùng phát từ tình trạng dầu sôi lửa bỏng do phân biệt chủng tộc và tham vọng của nước Mỹ.

Bốn năm qua được đánh dấu bằng những tác phẩm thơ chính trị mạnh mẽ, như cuốn "Whereas" [Trong khi đó] của Layli Long Soldier, đối đầu với cách đối xử của Hoa Kỳ đối với người bản địa trong quá khứ và hiện tại, và "Look" [Nhìn đi] của Solmaz Sharif, lấy từ vựng từ một từ điển quân sự Mỹ nhằm ném cát vào mắt cỗ máy chiến tranh công nghệ cao của đất nước này.

Việc các nhà văn Mỹ và những người cổ vũ tự do-bình đẳng không có khả năng đối đầu một cách triệt để với cỗ máy chiến tranh này, đặc biệt là khi nó được lèo lái bởi các tổng thống Dân chủ, là minh chứng cho những dấu ấn quá ít ỏi mà phong trào nổi dậy chống chiến tranh ở Việt Nam đã để lại. Ngoài các nhà văn thể loại [genre writers] ra, gần như chính các nhà văn cựu chiến binh như Elliot Ackerman, Matt Gallagher và Phil Klay đã viết về Cuộc chiến Vô tận này. Sự thể cũng chỉ vì tuyệt đại đa số người Mỹ bị cách ly với việc triển khai cỗ máy chiến tranh và không muốn nghĩ về sự dính dấp của mình trong đó.

Tuy nhiên, đối với các dân tộc bản địa, lịch sử của quân đội Mỹ có mặt khắp mọi nơi. Natalie Diaz, trong “Postcolonial Love Poem” [Bài thơ tình thời hậu thuộc địa], nêu câu hỏi liệu Hoa Kỳ có thật sự nằm trong thời hậu thuộc địa hay chưa, và nếu có, thì đối với ai. Có lẽ đối với người da trắng, những người chỉ muốn quên đi chủ nghĩa thực dân, nhưng không phải đối với người bản địa vẫn đang chiến đấu chống lại nó.

Vậy năm 2021 sẽ mang lại điều gì cho thế giới văn học?

Hy vọng sẽ có thêm nhiều bài thơ như tiếng kèn thúc quân mạnh mẽ năm 2020 của nhà thơ nữ Noor Hindi, “Fuck Your Lecture on Craft, My People Are Dying” [Địt mẹ bài giảng của mày về nghề viết văn. Dân tao đang chết], một bài thơ vừa tấn công vào học vị cao nhất của ngành Nghệ thuật [M.F.A] vừa vượt qua lằn ranh đỏ choét trong chính trị Mỹ: đề tài Palestine. Mặc dù có cú sốc nhẹ của những người cổ vũ tự do-bình đẳng đối với “văn hoá xóa sổ” [cancel culture], được ví như một thể dục có thể gây thương tích trong xã hội công dân và tự do ngôn luận, nhưng sự tẩy chay thật sự đối với vấn đề Palestine đã phát xuất từ nhà nước. Không có gì ngạc nhiên khi không có cuộc nổi dậy tập thể nào của những nhà văn cổ vũ tự do-bình đẳng (da trắng) chống lại lệnh hành pháp của ông Trump vào năm ngoái để trấn áp những lời chỉ trích Israel trong khuôn viên trường đại học, một hình thức kiểm duyệt của nhà nước, hoặc chống lại nỗ lực của nhiều nhà lập pháp có hành động tương tự.

Hoa Kỳ, với tư cách là một xã hội thuộc địa định cư [settler colonial society] từ chối nguồn gốc và hiện tại thuộc địa định cư của mình, nhìn thấy ở Israel một đồng minh có cùng chí hướng. Những người Mỹ duy nhất – nhiều người gốc Palestine – bị tẩy chay do bị sa thải, bị từ chối biên chế hoặc bị đe dọa kiện tụng là những người tố cáo chủ nghĩa thực dân định cư Israel và lên tiếng bảo vệ người dân Palestine.

Các bài giảng về nghề viết, bao gồm cả nghề viết về chủ nghĩa đa văn hóa, có thể trở nên vô vị khi đối chiếu với chính trị kiểu này. Vấn đề của tôi đối với "nghề viết" không chỉ là nó thậm chí không phải là nghệ thuật, mà còn là nó được cổ vũ bởi các nhà văn nói về lao động của nghề viết và về các cuộc hội thảo viết văn, nhưng nói chung họ không có lý thuyết về lao động, về sự bóc lột lao động hoặc về nhà văn như một người lao động. Không có gì ngạc nhiên khi các nhà văn không có lý thuyết như vậy ít nói về chính trị, và tại sao tiêu chuẩn cho các hội thảo viết văn lại không liên quan đến chính trị.

Bà Hindi viết: “Bọni thực dân viết về hoa. Tôi thì muốn như nhà thơ, quan tâm đến trăng sao. Nhưng người Palestine không nhìn thấy trăng sao từ phòng giam và nhà tù."

Đây là loại thơ của tôi.

“Tôi biết mình là người Mỹ bởi vì khi tôi bước vào phòng, một thứ gì đó sẽ chết đi,” bà Hindi viết. "Khi tôi chết, tôi hứa sẽ ám ảnh bạn mãi mãi."

Những nhà văn như bà Hindi là một ngoại lệ trong nhiều hội thảo, nơi họ thường bị buộc phải giải thích mình trước trung tâm chuẩn mực của một nền văn học phi chính trị. Nhưng bài thơ này không giải thích bất cứ điều gì, và đó là một trong những lý do khiến nó rất hấp dẫn.

“Một ngày nào đó, tôi sẽ viết về những bông hoa giống như chúng tôi sở hữu chúng”.

Ai đó hãy đưa cho Noor Hindi một hợp đồng sách đi nào.

NTV  

Mời Xem Lại :Nguyễn Thanh Việt/ Time: Nạn Kỳ Thị Người Mỹ Gốc Á (Phần 1) Dịch giả: Ian Bùi 

Thứ Bảy, 12 tháng 10, 2019

Tác giả Áo và Ba Lan đoạt Nobel Văn học (vnexpress)

Thụy ĐiểnNhà văn Peter Handke - tiểu thuyết gia người Áo - và nữ tác giả Ba Lan Olga Tokarczuk lần lượt đoạt Nobel Văn học 2019 và 2018.
Chiều 10/10, lần đầu tiên Viện Hàn lâm Thụy Điển công bố một lúc hai kết quả giải Nobel Văn học năm 2018 và 2019. Theo đại diện ban tổ chức, giải Nobel được trao cho Peter Handke vì: "Những tác phẩm có tầm ảnh hưởng với ngòi bút điêu luyện đã khai phá khía cạnh đặc trưng bên trong lẫn biểu hiện bề ngoài của nhân loại". Còn bà Olga đoạt giải bởi: "có trí tưởng tượng cùng kiến thức tổng hợp phong phú",
Mỗi tác giả được nhận thưởng chín triệu krona (khoảng 912 nghìn USD). Chiến thắng của nhà văn, nhà viết kịch Áo - Peter Handke - gây ra nhiều tranh cãi. Trên mạng xã hội, không ít ý kiến cho rằng Viện Hàn lâm Thụy Điển tiếp tục ưu ái các tác giả châu Âu. Bởi vài ngày trước, đại diện Viện Hàn lâm Thuỵ Điển tuyên bố muốn tránh tình trạng ưu ái các tác giả châu Âu và tác giả nam.
Peter Handke từng bị phản đối vì có bài phát biểu tại tang lễ năm 2006 của cựu Tổng thống Nam Tư - Slobodan Milošević - người từng gây nhiều tội ác chiến tranh. Đề cử của ông cho giải thưởng văn học Heinrich Heine của Đức năm đó bị rút lại do quan điểm chính trị gây tranh cãi. Việc ông chiến thắng giải phim ảnh của Na Uy - International Ibsen - năm 2014 - thậm chí còn tạo nên một cuộc biểu tình ở thủ đô nước này.
Nhà văn Ba Lan Olga Tokarczuk (trái) và Peter Handke - tiểu thuyết gia người Áo. Ảnh: Straight Times.
Nhà văn Ba Lan Olga Tokarczuk (trái) và Peter Handke - tiểu thuyết gia người Áo. Ảnh: Straight Times.
Peter Handke là tiểu thuyết gia, nhà viết kịch sinh năm 1942. Ông có cuộc sống gia đình không hạnh phúc khi mẹ tự tử năm 1971. Cuộc đời bà được con trai phản ánh trong cuốn Handke's A Sorrow Beyond Dreams. Cha dượng ông nghiện rượu, luôn đối xử khắt khe với con riêng. Năm 1954, khi đang học trường nội trú dành cho nam sinh ở bang Carinthia, ông ra mắt những bài viết đầu tiên trên tờ báo của trường. Năm 1961, ông học ngành luật ở thành phố Graz. Ông sáng tác từ khi đang là sinh viên, bạn viết thân thiết của ông là Elfriede Jelinek và Barbara Frischmuth.
Năm 1965, ông bỏ học sau khi tiểu thuyết đầu tay - Die Hornissen (The Hornets) - được xuất bản và gây tiếng vang. Handke trở thành một trong những người đồng sáng lập của nhà xuất bản Verlag der Autoren năm 1969. Ông còn viết rất nhiều kịch bản phim, làm đạo diễn tác phẩm The Left–Handed Woman, ra mắt năm 1978, được đề cử Cành Cọ Vàng tại Liên hoan phim Cannes năm đó. Nhà văn còn giành giải vàng tại Liên hoan phim Đức năm 1975 cho kịch bản phim Falsche Bewegung. Từ năm 1975, ông là thành viên Giải thưởng Văn học châu Âu Petrarca-Preis. Năm 2009, ông đoạt giải Franz Kafka. Cuộc đời ông được đưa vào bộ phim tài liệu Peter Handke: In the Woods, Might Be Late của đạo diễn Corinna Belz, ra mắt năm 2016.
Hồi tháng 1, tiểu thuyết Trong một đêm tối trời tôi ra khỏi ngôi nhà tịch mịch của mình của Peter Handke (Nguỵ Hữu Tâm dịch) được ấn hành tại Việt Nam. Tác phẩm kể câu chuyện một dược sĩ sống ở Taxham (Áo) với sở thích đặc biệt là nghiên cứu các loại nấm, ghẻ lạnh với vợ con và ngôi nhà nhỏ của ông.
bìa cuốn Trong một đêm tối trời tôi ra khỏi ngôi nhà tịch mịch của mình của Peter Handke
Bìa ấn bản tiếng Việt cuốn "Trong một đêm tối trời tôi ra khỏi ngôi nhà tịch mịch của mình" của Peter Handke, phát hành đầu năm nay. 
Olga Tokarczuk là nhà văn nữ thứ 15 trong số 116 tên tuổi từng nhận giải Nobel Văn học từ trước đến nay. Năm 2018, Olga Tokarczuk được trao giải Man Booker quốc tế với tác phẩm Flights.
Bà sinh năm 1962, được đánh giá là một trong những nhà văn ăn khách nhất tại Ba Lan. Bà được biết đến qua các tác phẩm Flights (2007) - giành giải Man Booker International Prize năm 2018. The Guardian đánh giá Torkarczuk là một sự lựa chọn "đáng ngạc nhiên nhưng tuyệt vời" của Nobel Văn học. Các giám khảo khen ngợi bà là cây bút quan tâm đến số phận con người, có giọng văn dí dỏm, sắc sảo. Các tác phẩm của bà được Antonia Lloyd-Jones và Jennifer Croft dịch sang tiếng Anh. Ngoài viết lách, nhà văn tích cực tham gia các hoạt động chính trị, là người tiên phong trong phong trào nữ quyền ở quê nhà, ủng hộ ăn chay.
Nobel Văn học là giải thưởng thường niên do Viện Hàn lâm Thụy Điển bình chọn, bên cạnh các giải vật lý, hóa học, y học, kinh tế và hòa bình. Năm 2018, giải bị hoãn vì bê bối tình dục của ông Jean-Claude Arnault - chồng nhà thơ Katarina Frostenson - thành viên chủ chốt trong hội đồng chấm giải. Theo Guardian, đại diện Viện Hàn lâm Thụy Điển tin những người chiến thắng năm nay sẽ giúp giải thưởng lấy lại uy tín sau scandal.
Đạt Phan - Hà Thu



Thứ Hai, 17 tháng 6, 2024

Nhà văn Đức đầu tiên thắng giải Booker 2024 : Jenny Erpenbeck

Vanvn- Jenny Erpenbeck với tiểu thuyết Kairos thắng giải Booker 2024, là cây bút nổi tiếng người Đức nhưng không được vinh danh ở giải văn học nước này.

Theo Guardian, Kairos của Jenny Erpenbeck – do dịch giả Michael Hofmann chuyển ngữ sang tiếng Anh – vượt qua năm ứng viên để giành giải thưởng trị giá 50.000 bảng, hôm 21.5. Lần đầu tiên giải thưởng được trao cho một nhà văn người Đức và một nam dịch giả.

Tác giả Jenny Erpenbeck (trái) và Michael Hofmann tại lễ trao giải Booker. Ảnh: David Parry

Tác phẩm kể câu chuyện về mối tình lãng mạn ở Đông Đức, khi cô gái 19 tuổi Katharina tình cờ gặp Hans, một nhà văn đã có gia đình ngoài 50 tuổi. Mối tình trái ngang của họ diễn ra trong bối cảnh Cộng hòa Dân chủ Đức đang suy thoái, trải qua nhiều biến động do sự tan rã của nước này vào năm 1989.

Trưởng ban giám khảo Eleanor Wachtel đánh giá tiểu thuyết có kết cấu phong phú, các chi tiết lớp lang, khơi gợi mối tình nhiều đau khổ, vướng mắc của nhân vật. Bằng ngòi bút của mình, Erpenbeck mô tả quá trình trưởng thành của Katharina qua tình yêu và giai đoạn lịch sử khó quên của nước Đức.

Trong bài phát biểu, Erpenbeck nói: “30 năm trôi qua kể từ lúc nơi tôi sinh ra không còn nữa, đến nay tôi mới dám nhìn lại và dành thời gian tìm hiểu kỹ những gì đã trải qua, mà có lúc tôi không thực sự nhận thức được điều đó”.

Bìa bản tiếng Anh “Kairos”, 304 trang. Ảnh: Granta Books

Trái ngược chiến thắng ở giải Booker, cuốn tiểu thuyết từng bị giới chuyên môn ở Đức phớt lờ. Theo Guardian, dù Erpenbeck là tiểu thuyết gia nổi tiếng, Kairos vẫn không góp mặt trong danh sách đề cử cuối cùng của một trong những giải thưởng văn học danh giá nhất nước này.

“Erpenbeck trở thành tác giả người Đức đầu tiên giành được giải Booker kể từ khi sự kiện được thành lập cách đây gần một thập niên, khiến giới xuất bản Đức chao đảo”, Guardian viết.

Jenny Erpenbeck, 57 tuổi, là con của nhà vật lý, triết gia, nhà văn John Erpenbeck và dịch giả tiếng Ả Rập Doris Kilias. Vào những năm 1990, Erpenbeck bắt đầu sự nghiệp viết lách bên cạnh công việc đạo diễn. Các quyển sách của bà thường lấy bối cảnh Đông Đức, kể về thân phận con người.

Trước Kairos, các tác phẩm nổi bật của bà gồm The Book of Words (1999), The Old Child & Other Stories (2005), Visitation (2010) và The End of Days (2014). Trong đó, The End of Days giành giải Hans Fallada (Đức) và giải thưởng Tiểu thuyết nước ngoài độc lập (Anh), đồng thời là cuốn sách tiêu biểu của tác giả cho Giải thưởng Văn học Quốc tế Neustadt ở Mỹ năm nay. Tác phẩm nổi tiếng nhất của Erpenbeck – Go, Went, Gone – vào danh sách đề cử giải Booker năm 2018.

Một năm sau khi xuất bản tuyển tập tiểu luận Not a Novel (2020), Erpenbeck ra mắt Kairos. Tác phẩm chuyển thể tiếng Anh năm 2023, được đề cử giải Sách Quốc gia về Văn học Dịch (Mỹ).

Erpenbeck bắt đầu viết Kairos sau lễ kỷ niệm 30 năm Bức tường Berlin sụp đổ năm 2019. Tác phẩm được coi là câu chuyện ngụ ngôn về sự kiện, trong đó nhân vật Hans đại diện cho lịch sử, còn Katherina là tương lai. Giống tiểu thuyết gia Ireland Paul Lynch, người đã đoạt Booker năm ngoái cho Prophet Song, Erpenbeck có lối ngắt câu tự do, không tuân theo quy tắc nào.

Theo nhà văn, cô muốn lên tiếng cho những người dân Đông Đức, tìm kiếm tương lai tươi sáng thay vì nhìn lại quá khứ đen tối. Trong thế giới mà tiếng Anh được sử dụng nhiều, Erpenbeck kỳ vọng dẫn dắt người xem tìm hiểu lịch sử, để họ hiểu cặn kẽ những gì đã xảy ra.

Trên NPR, cây bút John Powers dành lời khen cho tác phẩm, cho biết mong đợi “Erpenbeck giành được giải Nobel trong vòng 5 năm tới”. Nhà báo Dwight Garner gọi Erpenbeck là “một trong những tiểu thuyết gia tinh tế và mạnh mẽ nhất của thời đại”. Times Literary Supplement viết: “Sức nặng của lịch sử, những trải nghiệm về văn hóa luôn hiện diện trong tác phẩm của Erpenbeck”. Trang Kirkus Reviews bình luận: “Cách Erpenbeck xử lý các nhân vật thật tuyệt vời. Trọng tâm cuốn sách nói về sự tàn ác, những bí mật, sự phản bội và mất mát”.

Thành công của Jenny Erpenbeck ở giải Booker không thể không nhắc đến Michael Hofmann. Wachtel cho rằng bản dịch của Hofmann “nắm bắt sự lập dị trong phong cách viết, tiết tấu câu văn, sự phong phú trong vốn từ vựng của Erpenbeck”.

Jenny Erpenbeck. Ảnh: The Telegraph

Nhà thơ, nhà phê bình Hofmann, 67 tuổi, là một trong những nhân vật ảnh hưởng nhất văn học Đức. Anh từng thắng giải Tiểu thuyết nước ngoài độc lập vào năm 1995 cho bản dịch The Film Explainer, tác phẩm của cha anh – Gert Hofmann. Michael Hofmann thuộc hội đồng giám khảo giải Booker năm 2018, khi tác phẩm của Erpenbeck vào danh sách đề cử.

Việc cộng tác với Erpenbeck đánh dấu lần đầu cả hai làm việc. “Tôi chủ yếu dịch các tác phẩm kinh điển của Đức thế kỷ 20. Lần đầu đọc Kairos, tôi thấy cuốn sách hoàn toàn tuyệt vời, không thể cưỡng lại và không thể đoán trước”, Hofmann nói.

Giải Booker, từng được biết đến với tên Booker – McConnell hoặc The Man Booker, là giải thưởng văn chương danh giá nhất trong cộng đồng các nước nói tiếng Anh, thành lập năm 1968. Từ năm 2014, ban tổ chức cho phép các tiểu thuyết viết bằng tiếng Anh và được xuất bản ở Anh của các nhà văn nước ngoài tranh giải. Trước đó, chỉ nhà văn ở khối Thịnh vượng chung Anh và Cộng hòa Ireland được tham gia. Bên cạnh đó, ban tổ chức cũng thành lập giải International Booker vinh danh các tác phẩm quốc tế được dịch sang tiếng Anh và phát hành tại Mỹ, Anh hoặc Ireland.

Sự kiện năm nay do nhà văn, phát thanh viên Eleanor Wachtel chủ trì. Ngoài trao giải thưởng chính, chương trình có các cuộc phỏng vấn với khách mời.

QUẾ CHI

Theo Guardian/Vnexpress


Thứ Sáu, 23 tháng 10, 2015

Trung Quốc phản ứng tiêu cực đối với giải Nobel y học vừa nhận được

Đọc báo ; Tác giả: Larry Ong | Dịch giả: DK Lam

Tu Youyou (R), the first Chinese woman to win a Nobel prize for medicine, attends a symposium organized by China's National Health and Family Planning Commission (NHFPC) and other departments in Beijing on October 8, 2015. (STR/AFP/Getty Images)
Bà Đồ U U ( bên phải), người phụ nữ Trung Quốc đầu tiên nhận giải thưởng Nobel về y học, tham dự một hội nghị chuyên đề do Ủy ban Quốc gia về Y tế và Kế hoạch hóa gia đình của Trung Quốc  (NHFPC) và các phòng ban khác tại Bắc Kinh tổ chức vào ngày 08 tháng 10, 2015. (STR / AFP / Getty Images)
Chế độ Trung Quốc cuối cùng đã có một giải Nobel trong lĩnh vực khoa học, nhưng giới lãnh đạo và cộng đồng khoa học của nước này không hề vui vẻ với sự kiện này.
Bà Đồ U U, 84 tuổi, được trao giải Nobel trong lĩnh vực sinh lý học hay y học vào ngày 5 tháng 10 bởi Ủy ban Nobel của Viện Karolinska tại Stockholm. Bà nhận giải cùng hai nhà khoa học khác, William C. Campbell của Mỹ và Satoshi Omura của Nhật.
Vào những năm 1970, bà Đồ tìm ra artemisinin, đã cứu hàng triệu bệnh nhân sốt rét trên toàn thế giới trong suốt 40 năm qua.
Tuy nhiên tại Trung Quốc, thành tựu của bà lại bị chỉ trích bởi các đồng nghiệp, truyền thông nhà nước và chính quyền Trung Quốc.
Phản ứng của họ với giải Nobel của bà Đồ phần lớn liên quan đến nền khoa học Trung Quốc, vốn chịu sự kiểm soát của nhà nước. Đây là một hệ thống khoa học mà bà Đồ gần là một kẻ hoàn toàn xa lạ, do đó khiến tất cả phải lúng túng trước thành công của bà.
Truyền thông nhà nước Trung Quốc không phản ứng tích cực trước thành tựu của bà Đồ vì bà chỉ có địa vị bình thường, và thưc tế thành tựu của bà đã làm bẽ mặt chế độ Trung Quốc, theo ông Trần Phá Không, tác giả của một số cuốn sách viết về văn hóa chính trị của Trung Quốc.
Nhưng trong trường hợp giải Nobel văn học của Mạc Ngôn vào năm 2012, truyền thông nhà nước Trung Quốc lại tích cực ngợi ca thành tựu của ông.

Thực tế là một người Vô Danh

Trong một cuộc điện đàm, ông Trần nói với Đại Kỷ Nguyên rằng bà Đồ U U giành được giải Nobel khiến chính quyền Trung Quốc một phen  bẽ mặt, vì bà không phải là một mắt xích trong hệ thống được nhà nước công nhận và hậu thuẫn – có nghĩa là bà Đồ không phải  một viện sĩ, công trình của bà không bắt nguồn từ những nghiên cứu khoa học đương thời của Trung Quốc mà từ y học cổ truyền, và thực tế bà là một người “vô danh” cũng như không nằm trong giới tinh hoa.

Tham nhũng xâm nhập vào mọi ngõ ngách của xã hội, từ những học sinh gian lận trong thi cử, đến những viện sĩ ăn cắp ý tưởng và hối lộ để thăng tiến trong sự nghiệp.

— Trần Phá Không, nhà văn và nhà bình luận chính trị.
Mặt khác, bà Đồ là một người được Nhân dân Nhật báo miêu tả trong một bài viết năm 2011 là một nhà nghiên cứu làm việc một cách ” thầm lặng”, không giỏi xây dựng các mối quan hệ xã hội”, và “dám nói thẳng với” cấp trên thay vì bợ đỡ nịnh hót.
Trong trường hợp khác, chế độ Trung Quốc tích cực ca ngợi giải Nobel văn học của ông Mạc Ngôn vì ông ta là một mắt xích của hệ thống, là phó chủ tịch của Hiệp hội Nhà văn Trung Quốc, một tổ chức công lập.
Ông Trần bình luận Trung Quốc “dành rất nhiều ngân sách cho khoa học và nghiên cứu quân sự, và chẳng mang lại kết quả nổi bật nào ngoài những vũ khí giết chóc”.
Ông Trần Phá Không cho rằng phản ứng của chính quyền Trung Quốc với giải Nobel cho thấy sự thịnh hành của tham nhũng tại Trung Quốc, đặc biệt trong các ngành gắn liền với nhà nước, như khoa học.

Nguyên tắc Gia đình trị

Các học viện vận hành dưới sự kiểm soát của Đảng cộng sản không coi trọng kiến thức khi đề bạt nhân sự, mà quá trình này thường bị ảnh hưởng bởi tham nhũng và gia đình trị, theo ý kiến của ông Trần.
“Tham nhũng xâm nhập vào mọi ngõ ngách của xã hội, từ những học sinh gian lận trong thi cử, đến những viện sĩ ăn cắp ý tưởng và hối lộ để thăng tiến trong sự nghiệp.”
Một ví dụ nổi bật vừa được công khai gần đây là ông  Giang Miên Hằng, con trai của cựu lãnh đạo Giang Trạch Dân. Năm 1999, ông Hằng được bổ nhiệm làm phó giám đốc của một trong những tổ chức khoa học lớn nhất và uy tín nhất của Trung Quốc, Học viện khoa học Trung Quốc, chỉ sáu năm sau khi trở về Trung Quốc với tấm bằng tiến sĩ tại Philadelphia.
Ông Hằng có ít kinh nghiệm quản lý và thành tích khoa học trước khi được đề bạt, điều này khiến nhiều người tin rằng vị trí của ông ta dựa vào bố của mình. Vào năm 2005, ông Hằng được bổ nhiệm làm Giám đốc Viện nghiên cứu khoa học Trung Quốc chi nhánh Thượng Hải, và ông ta chỉ vừa từ chức vào tháng 1 năm nay. Truyền thông nhà nước viết rằng lý do từ chức là do tuổi tác của ông ta – nhưng ông Giang Miên Hằng vẫn còn 7 năm nữa mới về hưu. Các quan sát viên cho rằng đây là một dấu hiệu thể hiện sự đổi chiều chính trị, khi cha ông Hằng, Giang Trạch Dân, đang bị quản thúc và đe dọa bởi chiến dịch chống tham nhũng của ông Tập Cận Bình.
Ông Trần Phá Không cho rằng “Đây là vấn đề hệ thống”.
Mỉa mai thay, bà Đồ nói rằng bà không ngạc nhiên với thành tựu này vì “đây là vinh dự không chỉ của riêng tôi, mà cho cả giới khoa học Trung Quốc”.
Bà phát biểu với tờ Tiền Giang Vãn Báo (Qianjiang Evening News) rằng “Mọi người đều nghiên cứu trong nhiều thập niên, nên chẳng ai ngạc nhiên khi được trao một giải thưởng gì đó”.

Nhà khoa học Ba Không

Trong bức thông điệp chúc mừng ngắn gọn được đăng trên truyền thông nhà nước và các học viện khoa học vào ngày 5 tháng 10, thủ tướng Trung Quốc Lý Khắc Cường khen ngợi bà Đồ vì đã thúc đẩy sự tiến bộ của khoa học Trung Quốc và y học truyền thống, vốn là hai lĩnh vực tạo nền tảng cho khám phá của bà.

Truyền thông nhà nước nói rằng thành tựu của bà Đồ rất đáng trân trọng vì bà không thuộc những việc nghiên cứu khoa học hàng đầu của quốc gia, không theo đuổi học vị tiến sĩ và không du học – là một nhà khoa học “Ba Không”.
Nhưng có một nỗ lực để hạ thấp đóng góp của riêng bà Đồ, và vãn hồi thể diện của giới khoa học Trung Quốc, luận điệu liên quan đến những học viện nghiên cứu lớn theo mô hình Sô viết, nơi mà các nhà khoa học liên kết chặt chẽ với Đảng Cộng sản Trung Quốc.
Trong một cuộc phỏng vấn với truyền thông Trung Quốc, những nhà khoa học chính thống của Trung Quốc này cho rằng thành tựu của bà Đồ không phải của riêng bà, họ chỉ ra rằng 500 nhà khoa học khác cũng làm việc trong Dự án 523, là một chương trình quân sự bí mật thành lập theo lệnh của Mao Trạch Đông, chương trình này đã có những đóng góp quan trọng để chiết xuất ra phương thuốc này.
Khi bà Đồ nhận giải thưởng danh giá Lasker cho Nghiên cứu Y học vào năm 2011 vì công trình khoa học trong lĩnh vực sốt rét, giới khoa học Trung Quốc cũng cố gắng nhấn mạnh nghiên cứu được nhận giải là công sức tập thể.
Ba ngày sau khi bà Đồ nhận giải, tờ The Paper, một tờ báo được nhà nước hậu thuẫn, đã đăng một bài bình luận bảo vệ các viện sĩ, là danh hiệu cho những học giả của các viện nghiên cứu hàng đầu.

“Đã già rồi”

Bà Đồ không tham gia Viện Khoa học Trung Quốc trong suốt nhiều năm, và việc tìm ra chất artemisinin được đánh giá là thành quả của cả một nhóm, và vai trò dẫn dắt của bà Đồ “bị tranh cãi gay gắt” trong giới khoa học Trung Quốc, theo phát biểu của những nhà khoa học Trung Quốc trên tờ The Paper.
Về việc bà Đồ bị giới khoa học nhà nước từ chối không cho gia nhập, vốn được nhiều người biết đến, là vì ” đây là trường hợp phổ biến không chỉ xảy ra với một cá nhân”, theo lời của một nhà khoa học.
Bài viết cũng trích lời bà Đồ trong một bài phỏng vấn vào tháng 10 trên tờ Nhật báo Tuổi Trẻ Trung Quốc rằng bà không quan tâm đến địa vị hay giải thường vì bà “đã già rồi”.
Juliet Song có đóng góp cho bài viết này

Chủ Nhật, 7 tháng 8, 2016

Sự thật về Thuyết tiến hóa: Giới khoa học đang từ bỏ học thuyết Darwin

Bắt đầu từ vài thập kỷ gần đây, các bằng chứng mới từ nhiều ngành khoa học khác nhau như Vũ trụ học, Vật lý học, Sinh vật học, Hóa học… đã khiến rất nhiều nhà khoa học buộc phải đặt câu hỏi nghi ngờ đối với thuyết tiến hó




Tiến sỹ Ernst Chain đạt giải Nobel Y học và Sinh học cho công trình nghiên cứu về kháng sinh penicillin. (Ảnh: Wiki)
Tiến sỹ Ernst Chain đạt giải Nobel Y học và Sinh học cho công trình nghiên cứu về kháng sinh penicillin. (Ảnh: Wiki)


Bắt đầu từ vài thập kỷ gần đây, các bằng chứng mới từ nhiều ngành khoa học khác nhau như Vũ trụ học, Vật lý học, Sinh vật học, Hóa học… đã khiến rất nhiều nhà khoa học buộc phải đặt câu hỏi nghi ngờ đối với thuyết tiến hóa, một sản phẩm của thế kỷ 19 thời khoa học còn kém phát triển.
Tuy vậy, đó đây trên thế giới, nhiều phương tiện truyền thông và sách giáo khoa vẫn không ngừng nói về thuyết tiến hóa như thể đó là chân lý vĩnh hằng, là triết lý duy nhất có thể giải thích được nguồn gốc của muôn loài. Một số người theo phái tiến hóa thậm chí còn có những phát ngôn gây sốc như thế này trước đông đảo công chúng:
“Thuyết tiến hóa là một thực tế mà không một nhà khoa học có giáo dục nào nghi ngờ”.
(Gary Huxley)
“Bạn không thể nào vừa có lý trí và được giáo dục tốt mà lại vừa không tin thuyết tiến hóa. Bằng chứng thuyết phục đến nỗi bất cứ ai không bị tâm thần và có giáo dục thì đều phải tin thuyết tiến hóa”.
(Richard Dawkins)
Nói cách khác, trong mắt những người theo phái tiến hóa, ai không tin lý thuyết của họ thì đều vô giáo dục hoặc bị tâm thần (!) Không hiểu họ dựa trên cơ sở nào, có ẩn ý gì, đã suy nghĩ hay chưa mà lại tuyên bố như vậy. Bởi vì trên thực tế, gần như tất cả các nhà khoa học tiên phong cha đẻ của các ngành khoa học từ cổ chí kim, thì hoặc là không cần biết đến thuyết tiến hóa hoặc là hoàn toàn không tin thuyết tiến hóa.
Trên thế giới đương đại, số người không tin thuyết tiến hóa thậm chí còn nhiều hơn số người tin (Ví dụ: Theo kết quả khảo sát vào năm 2014 tại Mỹ, có 42% dân số tin rằng sự sống là do đấng Tạo Hóa mà ra, chỉ có 19% tin thuyết tiến hóa). Trong số những người phản đối thuyết tiến hóa có rất nhiều nhà khoa học tiếng tăm lẫy lừng, nhiều người là chủ nhân của các giải Nobel khoa học và nhiều giải thưởng khoa học cao quý khác.
Câu hỏi đặt ra là tại sao những người phái tiến hóa lại phát ngôn thiếu suy nghĩ như vậy? Họ bất chấp thực tế, bất chấp lịch sử khoa học, bất chấp sự đánh giá của dư luận để tuyên truyền một điều sai sự thật như vậy để làm gì, nếu không phải là vì lo sợ học thuyết con cưng của mình sắp sửa không còn chỗ đứng trong thế giới khoa học? Phải chăng thuyết tiến hóa yêu dấu của họ đang lâm vào bước đường cùng?
Thuyết tiến hóa chỉ là một trong số nhiều thuyết cố gắng đưa ra một lời giải thích nghe có lý về nguồn gốc của sự sống, nó không phải là triết lý duy nhất hoặc là chân lý vĩnh hằng như những người phái tiến hóa tự xưng. Hiện nay ngoài thuyết tiến hóa còn có nhiều thuyết khác về nguồn gốc sự sống, nổi bật nhất trong số đó phải kể đến thuyết Thiết kế thông minh.
Trước kia khi các nhà tiến hóa chưa làm ra các tuyên bố mang đậm tính chủ quan thậm chí ngông cuồng nêu trên, các nhà khoa học có lập trường phản đối thuyết tiến hóa chưa quan tâm đúng mức đến việc bài trừ nó. Nhưng khi những người phái tiến hóa ngày càng trở nên quá quắt, các nhà khoa học chân chính buộc phải có phản ứng thích đáng. Công chúng có quyền được biết sự thật.
Bản danh sách của Viện Discovery
Đứng trước bối cảnh như vậy, Viện Discovery đã cho xuất bản danh sách Bất đồng quan điểm khoa học đối với thuyết tiến hóa của Darwin. Tính đến tháng 11/2015, danh sách này đã có khoảng 1.000 chữ ký của các nhà khoa học đương thời, là thành viên thuộc các Viện Hàn lâm Khoa học Quốc gia danh tiếng, chủ yếu từ Mỹ và Nga.
Những người ký tên đều có trình độ tiến sỹ trở lên trong các ngành khoa học như sinh học, vật lý, hóa học, toán học, y học, khoa học máy tính, và các lĩnh vực liên quan khác. Rất nhiều người là giáo sư hay nghiên cứu sinh tại các trường đại học và các tổ chức nghiên cứu danh tiếng như Học viện Công nghệ Massachusetts (MIT), Viện Smithsonian, Đại học Cambridge, Đại học California ở Los Angeles, Đại học California ở Berkeley, Đại học Princeton, Đại học Pennsylvania, Đại học Ohio State, Đại học Georgia, Đại học Washington, Đại học Harvard, Đại học Oxford…
Trong số những người ký tên có rất nhiều người lừng danh trong giới khoa học, ví dụ tiến sỹ Philip Skell – thành viên Viện Hàn lâm Khoa học Quốc gia Hoa Kỳ; Lyle Jensen – thành viên Hiệp hội Xúc tiến Khoa học Hoa Kỳ; Stanley Salthe – nhà sinh học tiến hóa và là người viết sách giáo khoa; Richard von Sternberg – nhà sinh học tiến hóa thuộc Viện Smithsonian và là nhà nghiên cứu tại Trung tâm Thông tin Công nghệ Sinh học Quốc gia thuộc Viện Sức khỏe Quốc gia Hoa Kỳ; Giuseppe Sermonti – Biên tập viên của Rivista di Biologia/ Diễn đàn Sinh học – Tạp chí sinh học cổ nhất hiện vẫn đang được xuất bản trên thế giới; Lev Beloussov – nhà phôi học thuộc Viện Hàn lâm Khoa học tự nhiên Nga…
Tiến sỹ John G. West thuộc Viện Discovery cho biết do số lượng các nhà khoa học bất đồng ý kiến đang ngày một gia tăng, Viện Discovery đã quyết định mở trang web dissentfromdarwin.org để lưu trữ danh sách các nhà khoa học đã ký tên. Nếu bạn có bằng tiến sỹ trong các lĩnh vực kỹ sư, toán học, khoa học máy tính, sinh học, hóa học, hay một trong số các ngành khoa học tự nhiên khác, và bạn không tin thuyết tiến hóa, thì bạn có thể liên hệ với Viện Discovery Institute qua email cscinfo@discovery.org.
Độc giả có thể tải về Bản danh sách các tiến sỹ khoa học công khai tuyên bố phản đối thuyết tiến hóa của Viện Discovery ở đây.
Một bản danh sách khác của tiến sỹ Jerry Bergman

Tiến sỹ Jerry Bergman giảng dạy sinh học, di truyền học, hóa học, hóa sinh học, nhân chủng học, địa chất học và vi sinh học tại trường Đại học Northwest State College, Mỹ trong 25 năm, và cũng từng giảng dạy tại nhiều trường đại học khác. Ông có 7 bằng cấp khoa học khác nhau từ cấp thạc sỹ trở lên, trong số đó có 2 bằng tiến sỹ khoa học. Ông có hơn 800 tài liệu khoa học đã được xuất bản bằng 12 ngôn ngữ khác nhau, tác giả của 20 cuốn sách về khoa học và chuyên khảo.
Tiến sỹ Jerry Bergman. (Ảnh: members.shaw.ca)
Tiến sỹ Jerry Bergman giảng dạy sinh học, di truyền học, hóa học, hóa sinh học, nhân chủng học, địa chất học và vi sinh học tại trường Đại học Northwest State College, Mỹ trong 25 năm, và cũng từng giảng dạy tại nhiều trường đại học khác. Ông có 7 bằng cấp khoa học khác nhau từ cấp thạc sỹ trở lên, trong số đó có 2 bằng tiến sỹ khoa học. Ông có hơn 800 tài liệu khoa học đã được xuất bản bằng 12 ngôn ngữ khác nhau, tác giả của 20 cuốn sách về khoa học và chuyên khảo.
Tiến sỹ Jerry Bergman đã tổng hợp được danh sách bao gồm hơn 3.000 nhà khoa học bày tỏ sư hoài nghi với thuyết tiến hóa của Darwin, trong đó có 12 người từng đoạt giải Nobel khoa học.
TS Bergman cũng có một danh sách riêng tư khác, bao gồm khoảng 1.000 người yêu cầu được giấu tên “vì lo sợ có thể bị trả đũa hoặc gây ảnh hưởng đến sự nghiệp của mình”.
TS Bergman nói: “Theo ước tính của tôi, nếu tôi có thời gian và nguồn lực, tôi có thể dễ dàng hoàn thiện một danh sách với hơn 10.000 cái tên” (Xem “Những người nghi ngờ Darwin: Danh sách tuyển chọn các nhà khoa học, các viện sỹ hàn lâm, và các học giả nghi ngờ học thuyết Darwin”, ngày 24/8/2014)
Danh sách các khoa học gia phản đối thuyết tiến hóa (phần công khai) của tiến sỹ Jerry Bergman có thể được tải về tại đây.
Hiệp hội Nghiên cứu Sáng tạo Hàn Quốc

Tiến sỹ Kim Young Gil. (Ảnh: Đại học Calvin)
Tiến sỹ Kim Young Gil. (Ảnh: Đại học Calvin)
Hiệp hội Nghiên cứu Sáng tạo Hàn Quốc có hơn 1000 thành viên, trong đó có hơn 600 người là tiến sỹ khoa học. Tất cả họ đều phản đối thuyết tiến hóa. Chủ tịch Hiệp hội là tiến sỹ Kim Young Gil, từng là giáo sư của Viện khoa học và công nghệ cao cấp Hàn Quốc (Korea Advanced Institute of Science and Technology) trong 15 năm. Ông từng làm việc tại Trung tâm Nghiên cứu NASA-Lewis (Trung tâm Nghiên cứu Glenn) ở Cleveland, Ohio, Mỹ. Năm 1995 ông đã thành lập Đại học Toàn cầu Handong (Handong Global University), nhận được các giải thưởng xuất sắc cho cải cách giáo dục từ Bộ Giáo dục Hàn Quốc trong giai đoạn ba năm liên tiếp 1996-1998 như một trường đại học kiểu mẫu của thế kỷ 21…
Tất nhiên, không chỉ có chừng đó các nhà khoa học đương thời phủ nhận thuyết tiến hóa. Có rất nhiều các nhà khoa học trên thế giới chưa biết đến các bản danh sách phản đối thuyết tiến hóa và phong trào bất đồng ý kiến này. Chưa kể nhiều nhà khoa học khác dù phản đối thuyết tiến hóa kịch liệt nhưng không hứng thú với việc ký tên vào các bản danh sách phản đối.
Bản thân tác giả bài viết này đã từng nói chuyện với 2 người bạn là tiến sỹ khoa học về bản danh sách phản đối thuyết tiến hóa của Viện Discovery, và tuy cả 2 đều phản đối thuyết tiến hóa nhưng họ cũng không có ý định ký tên vì nhiều lý do khác nhau.
Ngoài ra theo thống kê chưa đầy đủ có hơn 50 nhà khoa học từng đạt giải Nobel khác cũng phủ định thuyết tiến hóa, trực tiếp hoặc gián tiếp.

image07
Tiến sỹ Ernst Chain. (Ảnh: wikipedia)
Tiến sỹ Ernst Chain đạt giải Nobel Y học và Sinh học cho công trình nghiên cứu về kháng sinh penicillin. Ông từng nói:
“Tôi thà tin vào chuyện cổ tích còn hơn tin vào những phỏng đoán vô căn cứ như vậy [của thuyết tiến hóa]… Nhiều năm nay tôi đã nói rằng những phỏng đoán về nguồn gốc của sự sống không thể dẫn đến một kết quả hữu ích nào, bởi ngay cả một hệ thống sinh vật đơn giản nhất cũng đã quá phức tạp để có thể hiểu được bằng trình độ hóa học vô cùng sơ đẳng mà các nhà khoa học đã dùng khi cố lý giải điều không thể lý giải xảy ra cách đây hàng tỷ năm…”. 
(“Cuộc đời của Ernst Chain: Penicillin và hơn thế nữa”, tác giả Ronald W. Clark, London, Weidenfeld & Nicolson, 1985, trang 147-148).

image03
Tiến sỹ Antony Hewish. (Ảnh: mediahex.com)
Tiến sỹ Antony Hewish đoạt giải Nobel Vật lý cho công trình khám phá ra các ẩn tinh. Ông từng nói:
“Đối với tôi thật vô lý khi cho rằng: Vũ trụ và sự hiện hữu của chúng ta chỉ là một sự ngẫu nhiên lớn, và sự sống tự nảy sinh do các quá trình vật lý ngẫu nhiên trong một môi trường chỉ ngẫu nhiên có các thuộc tính phù hợp…” (Hewish 2002a).

image01
Tiến sỹ Arthur Holly Compton. (Ảnh: Wikipedia)
Tiến sỹ Arthur Holly Compton (1892–1962) đoạt giải Nobel Vật lý năm 1927 cho công trình khám phá ra hiệu ứng Compton, nghĩa là sự thay đổi bước sóng của tia X khi chúng va chạm với electron. Việc khám phá ra hiệu ứng này vào năm 1922 đã xác nhận lưỡng tính sóng-hạt của bức xạ điện từ. Ông từng nói:
“…Lập luận cho rằng [sự sống] là do được Thiết Kế ra, mặc dù đã cũ xưa, nhưng chưa bao giờ bị bác bỏ một cách thỏa đáng cả. Trái lại, khi chúng ta học được nhiều hơn về thế giới chúng ta, xác suất việc nó ngẫu nhiên tự nảy sinh trở nên càng lúc càng xa vời, cho nên có rất ít nhà khoa học thực thụ đương thời nào muốn bảo vệ một quan điểm vô thần”. (Compton 1935, 73).

image05
Tiến sĩ Robert A. Milikan. (Ảnh: myfirstbrain.com)
Tiến sĩ Robert A. Milikan, nhà vật lý đoạt giải Nobel năm 1923 cho công trình đo điện tích electron, từng nói:
“Điều đáng thương là rất nhiều nhà khoa học đang cố gắng chứng minh thuyết tiến hóa, điều không ngành khoa học nào có thể làm được”. 
(Tiến sĩ Robert A. Milikan, nhà vật lý đoạt giải Nobel, diễn thuyết trước Hội Hóa học Hoa Kỳ)
Chúng ta sẽ trở lại với các nhà khoa học đạt giải Nobel ở các kỳ sau của loạt bài này để có một cái nhìn rõ hơn về niềm tin tiến hóa.
Những người khổng lồ trong khoa học đều có tín ngưỡng và đời sống tâm linh sâu sắc
Những người phái tiến hóa khi bị chất vấn và đuối lý vì không thể trả lời câu hỏi: “Nếu thuyết tiến hóa đúng tại sao các ông phải ngụy tạo nhiều bằng chứng như vậy?“, thì họ luôn luôn sử dụng thủ đoạn ngụy biện bù nhìn rơm để hạ uy tín của các nhà khoa học không thuộc phái này. Thay vì chứng minh thuyết tiến hóa đúng hoặc chứng minh thuyết thiết kế thông minh sai thì họ quay sang cáo buộc rằng nhà khoa học nào có tín ngưỡng, có Đạo thì đều thấp kém và do đó không đáng tin. Rất nhiều công chúng tin vào lời ngụy biện đó của họ, mà không hề biết đến một thực tế hoàn toàn tương phản:

Đại đa số các phát minh quan trọng bậc nhất trong lịch sử nhân loại đều có tác giả là các nhà khoa học hữu thần, có tín ngưỡng, tin vào thế giới tâm linh (không giới hạn trong Thiên Chúa giáo).

Các phát minh quan trọng nhất thế giới từ nửa cuối thế kỷ 19 (cùng hoặc sau thời Darwin) đến nay cũng hầu hết thuộc về họ. Ví dụ:
  • Bóng đèn điện (Edison – tin vào đấng Tạo Hóa),
  • Điện thoại (Alexander Graham Bell – tin đấng Tạo Hóa),
  • Vắc xin (Louis Pasteur – Thiên Chúa giáo),
  • Phẫu thuật tiệt trùng (Joseph Lister – Thiên Chúa giáo),
  • Thuốc kháng sinh penicillin (Ernst Chain – Thiên Chúa giáo),
  • Ô tô (Karl Benz – đạo Mormon),
  • Động cơ diesel (Rudolf Christian Karl Diesel – Thiên Chúa giáo),
  • Máy bay (anh em nhà Wright – Thiên Chúa giáo),
  • Dây chuyền công nghiệp (Henry Ford – nhà thờ Tân giáo, và tin vào luật luân hồi tái sinh)…
Trong các danh sách những phát minh vĩ đại nhất thế kỷ 20, sau khi tìm hiểu lai lịch chủ nhân của các phát minh ấy người ta đều nhận ra rằng phần lớn trong số họ đều là các nhà khoa học hữu thần.
Hơn thế nữa, các nhà phát minh vĩ đại nhất mọi thời đều là khoa học gia hữu thần. Ví dụ: Archimedes, Leonardo De Vinci, Thomas Edison…
Còn đây là danh sách (không đầy đủ) các ông tổ của các ngành khoa học từ cổ chí kim. Tất cả đều là những người có tín ngưỡng tâm linh:
  • Toán học: Pascal, Leibniz, Euler
  • Vật lý: Newton, Faraday, Maxwell, Kelvin, Joule
  • Hóa học: Boyle, Dalton, Ramsay
  • Sinh học: Ray, Linnaeus, Mendel, Pasteur, Virchow, Agassiz
  • Địa chất học: Steno, Woodward, Brewster, Buckland, Cuvier
  • Thiên văn học: Copernicus, Galileo, Kepler, Herschel, Maunder
  • Vật lý hiện đại: Max Planck
  • Khoa học laser: Arthur Schawlow và Charles Townes
  • Hàng không vũ trụ: Wernher Von Braun
  • Truyền thông vô tuyến tầm xa: Guglielmo Marconi
  • Phẫu thuật có khử trùng: Joseph Lister
  • Điện tử học: Ambrose Fleming
  • Năng lượng học: William Thompson (biệt danh: Lord Kelvin)
  • Thuyết nguyên tử: John Dalton
  • Vi trùng học: Louis Pasteur
  • Số học: Isaac Newton
  • Cơ học thiên thể: Johann Kepler
  • Hóa học: Robert Boyle và Antoine Lavoisier
  • Lâm sàng học: Herman Boerhaave
  • Giải phẫu so sánh: Georges Cuvier
  • Tin học: Charles Babbage
  • Phân tích thứ nguyên: Lord Rayleigh
  • Động lực học: Isaac Newton
  • Điện động học: James Clerk Maxwell
  • Điện từ học: Michael Faraday và Andre Marie Ampere
  • Côn trùng học: Henri Fabre
  • Lý thuyết trường: Michael Faraday
  • Cơ học chất lỏng: George Stokes
  • Thiên văn ngân hà: William Hershel
  • Khí động học: Robert Boyle
  • Di truyền học: Gregor Mendel
  • Địa chất băng hà: Louis Agassiz
  • Y học Phụ khoa: James Simpson
  • Thủy lực học: Leonardo da Vinci
  • Thủy văn học: Matthew Maury
  • Thủy tĩnh học: Blaise Pascal
  • Ngư học: Louis Agassiz
  • Đồng vị hóa học: William Ramsay
  • Phân tích mô hình: Lord Raleigh
  • Lịch sử tự nhiên: John Ray
  • Bệnh học thần kinh: John Abercrombie
  • Hình học phi Ơclit: Bernard Riemann
  • Hải dương học: Matthew Maury
  • Khoáng vật quang học: David Brewster
  • Cổ sinh vật học: John Woodard
  • Bệnh lý học: Rudolph Virchow
  • Vật lý thiên văn: Johann Kepler
  • Sinh lý học: Albrecht von Haller
  • Vật lý học Plasma: Michael Faraday
  • Cơ học lượng tử: Max Planck
  • Nhiệt động học Thuận nghịch: James Joule
  • Nhiệt động học thống kê: James Clerk Maxwell
  • Địa tầng học: Nicholas Steno
  • Phân loại học: Carolus Linnaeus
  • Nhiệt động học: Lord Kelvin
  • Động học nhiệt (Thermokinetics): Humphry Davy
  • Hóa thạch học động vật có xương sống: Georges Cuvier
Albert Einstein cũng là nhà khoa học hữu thần, ông tin phải có một đấng Tạo Hóa hiện hữu và đứng đằng sau mọi quy luật vật lý, nếu không vũ trụ sẽ hỗn loạn và không thể tồn tại được. Vợ chồng nhà Curie thì đều tin vào thế giới tâm linh, thậm chí còn nhiều lần tham gia vào các hoạt động tâm linh huyền bí…
Có thể thấy rất rõ, những nhân vật phản đối thuyết tiến hóa hoặc đặt niềm tin vào đấng Tạo Hóa, từ xưa tới nay không hề ít mà cũng không tầm thường chút nào. Trái lại họ đều là những người khổng lồ của giới khoa học. Ấy vậy mà nhiều “nhà tiến hóa” có thể phát ngôn rằng ai không đi theo niềm tin của họ đều là đồ vô giáo dục hoặc là bị tâm thần! Rất ngược đời.
Chính Darwin cuối đời đã ân hận về thuyết tiến hóa, và tự xem mình là một người hữu thần
Một sự thật hết sức bất ngờ khác mà có lẽ không một nhà tiến hóa nào muốn chấp nhận, ấy là vào những năm cuối đời Darwin rất buồn rầu và ân hận. Darwin nói ông không có ý định viết thuyết tiến hóa một cách vô thần, thừa nhận rằng sự sống phải được tạo ra chứ không thể tự nảy sinh, và do đó ông là một người hữu thần. Thậm chí ông còn đề xuất một số ý tưởng khá tương đồng với các nhà khoa học theo phái thiết kế thông minh ngày nay.

image00
(Ảnh: Pixshark.com)
“Tôi thường rùng mình ớn lạnh, tự hỏi rằng có lẽ nào mình đã hiến dâng bản thân cho một ảo tưởng [tiến hóa] chăng”. 
(Charles Darwin, Cuộc sống và những lá thư, 1887, Quyển 2, trang 229)
“Một nguyên do khác để có thể tin vào sự tồn tại của Thượng Đế, liên quan đến lý trí chứ không phải cảm giác, gây ấn tượng đối với tôi hơn nhiều. Đó là vì vô cùng khó khăn đến mức gần như không thể nào hiểu nổi, sao vũ trụ vĩ đại và phi thường này, gồm cả nhân loại với khả năng nhìn sâu vào quá khứ cũng như tương lai, mà lại có thể là kết quả của sự ngẫu nhiên hoặc sự cần thiết mù quáng. Vì vậy khi ngẫm lại, tôi buộc phải thấy rằng Khởi Nguyên Đầu Tiên phải là một trí tuệ thông minh, ở chừng mực nào đó giống với trí tuệ nhân loại; và tôi xứng đáng được gọi là một người hữu thần”.
(“Charles Darwin và T.H Huxley, các hồi ký”, do Gavin de Beer biên tập, London, Oxford University Press, 1974, trang 50 đến 54)
“Việc xem xét vấn đề này theo quan điểm thần học là một vấn đề luôn luôn làm tôi đau khổ. Tôi rất hoang mang. Tôi đã không có ý định viết [thuyết tiến hóa] một cách vô thần. Tôi không thể nào hài lòng khi xem xét vũ trụ kỳ diệu này, đặc biệt là bản chất của loài người, mà lại kết luận rằng tất cả mọi thứ là kết quả của vũ lực tàn bạo. Tôi có ý xem tất cả mọi thứ là kết quả của các quy luật được Thiết Kế, với các tiểu tiết, dù là tốt hay xấu, là kết quả của cái mà chúng ta gọi là sự ngẫu nhiên”.
(Thư Darwin gửi cho Asa Gray, 22/5/1860)
Năm 1873 Darwin phát biểu: “Việc không thể nào hiểu được chuyện vũ trụ vĩ đại kỳ diệu này và bản ngã có ý thức của chúng ta đã nảy sinh một cách ngẫu nhiên, đối với tôi có lẽ là lý lẽ chính cho thấy sự tồn tại của Thượng Đế”.
(Thư Darwin gửi cho N.D. Doedes, 2/4/1873)
Vào năm 1879, 3 năm trước khi qua đời, Darwin viết ông “chưa bao giờ là một người vô thần và phủ nhận sự tồn tại của Thượng Đế”.
(Thư Darwin gửi cho John Fordyce, 7/5/1879)
Thế đấy, rốt cuộc thì chính cha đẻ thuyết tiến hóa còn nghi ngờ đứa con của mình, thậm chí còn tự nhận ông cũng là người hữu thần. Darwin cuối cùng thừa nhận đấng Tạo Hóa đã tạo ra muôn loài, và thuyết của ông chỉ là một cách giải thích nghe có lý về việc Thượng Đế đã tạo ra sự sống như thế nào. Ông thừa nhận trí tuệ nhân loại không đủ khả năng trả lời rốt ráo câu hỏi về nguồn gốc sự sống. Vậy mà hàng trăm năm sau, các đệ tử của ông tuyên bố ai không tin thuyết tiến hóa đều vô giáo dục hoặc bị tâm thần. Thật là khôi hài.
Di sản buồn của Darwin
Những người theo phái tiến hóa rốt cuộc đã đặt niềm tin và công sức của mình nhầm chỗ, thế nhưng họ quyết không chịu buông nó ra, mà còn cố bồi đắp lên nó hàng đống các giả thuyết, giả định, khái niệm, tưởng tượng và niềm tin mới. Để rồi ngày hôm nay:
“… [Thuyết tiến hóa] đã được chấp nhận mặc dù nó được xây dựng bằng cách chồng các giả định đặc biệt lên trên các giả định đặc biệt, chồng các giả thuyết đặc biệt lên trên các giả thuyết đặc biệt, và xé bỏ kết cấu của khoa học bất cứ khi nào thuận tiện. Kết quả là một thứ hổ lốn chẳng phải lịch sử mà cũng chẳng phải khoa học”. 
(Tiến sĩ James Conant, nhà hóa học, cựu chủ tịch trường Đại học Harvard, được trích dẫn trong Origins Research, tập 5, Số 2, năm 1982, trang 2)
“Thuyết tiến hóa là một câu chuyện cổ tích của những người trưởng thành. Lý thuyết này không giúp gì cho sự tiến bộ của khoa học. Nó vô dụng”
(Giáo sư Tiến sĩ Louis Bounoure, Giám đốc Nghiên cứu, Trung tâm Nghiên cứu Khoa học Quốc gia Mỹ)
“Khi những nhà nghiên cứu thuộc các ngành khoa học khác hỏi chúng ta hiện nay đang tin tưởng cái gì về nguồn gốc các loài, chúng ta không có câu trả lời rõ ràng. Niềm tin đã nhường chỗ cho sự hoài nghi. Cùng lúc đó, cho dù nếu niềm tin của chúng ta về tiến hóa không lay chuyển thì chúng ta cũng không có lời giải thích nào về nguồn gốc các loài mà có thể chấp nhận được”.
(Tiến sĩ William Bateson, nhà di truyền học vĩ đại của trường Đại học Cambridge)
“Thuyết tiến hóa chỉ đơn thuần là một sản phẩm của trí tưởng tượng”.
(Tiến sĩ Ambrose Flemming, Chủ tịch Hội triết học Anh)
“Hiện nay chúng ta đang gặp một cảnh tượng đáng kinh ngạc, đó là trong khi rất nhiều nhà khoa học đã đồng tình rằng không có phần nào trong hệ thống thuyết Darwin có ảnh hưởng lớn bất kỳ, và trên tổng thể, lý thuyết này không chỉ không được chứng minh mà còn không thể xảy ra, thì những kẻ ngu dốt và học thức nửa vời lại tin rằng nó được chấp nhận như một thực tế căn bản”.
(Tiến sĩ Thomas Dwight, giáo sư nổi tiếng tại trường Đại học Harvard)
“Tôi tin rằng một ngày nào đó câu chuyện thần thoại của Darwin sẽ được xếp hạng là vụ lừa đảo vĩ đại nhất trong lịch sử khoa học. Khi điều này xảy ra, rất nhiều người sẽ đặt ra câu hỏi, “Làm sao chuyện này lại có thể xảy ra được nhỉ?” “
(Tiến sĩ Sorren Luthrip, nhà phôi học người Thụy Điển)
Trong thực tế, rất nhiều các nhà bác học và các nhà khoa học ưu tú đã vứt bỏ thuyết tiến hóa từ lâu. Đối với họ, thuyết tiến hóa là ngụy khoa học, là một thứ ký sinh gây hại cho khoa học, một câu chuyện hoang đường trái ngược với các bằng chứng thực tế, đầy rẫy bê bối và những điều dối trá, làm băng hoại đạo đức xã hội, là gốc rễ của nạn phân biệt chủng tộc và thuyết ưu sinh, là thứ đã tạo ra những tên độc tài khát máu nhất lịch sử, là nguyên nhân của hai lần chiến tranh thế giới và những cuộc diệt chủng quy mô lớn nhất lịch sử nhân loại.
Đối với họ, thuyết tiến hóa dựa trên tuyên truyền lừa dối chứ không dựa trên khoa học chân chính, và là một ví dụ điển hình cho việc áp dụng triết lý kiểu Hitler: “Lời nói dối phải tầm cỡ, làm cho nó trông thật đơn giản, lặp đi lặp lại nó thật nhiều lần, rồi mọi người sẽ tin nó… Hãy để tôi kiểm soát sách giáo khoa, tôi sẽ kiểm soát được đất nước [Đức]…”. Thế là suốt 150 năm lừa dối, đến tận bây giờ rất nhiều người vẫn tin vào những hình phôi thai giả và cái gọi là “định luật phát sinh sinh vật” của Haeckel, trong đó không ít người có học hàm học vị, thậm chí có những người đang là giáo sư, tiến sĩ ngành sinh học, ở khắp nơi trên thế giới.
Thuyết tiến hóa vẫn còn nhiều vụ lừa đảo khác không kém phần kỳ dị. Thậm chí cho đến tận ngày nay hầu như vẫn không mấy ai hay biết về những điều dối trá ấy, và thế là chúng được thể ngang nhiên tồn tại, không ở nơi nào xa lạ mà chễm chệ ngay trong sách giáo khoa nhiều cấp học của nhiều quốc gia trên toàn cầu…
Bạch Vân tổng hợp
Nguồn ĐKN

TRÀ NGUỘI -Thơ kiều Mộng Hà và Thơ Họa

TRÀ NGUỘI Chớp mắt còn chi!!! Tiệc đã tàn Cố quên vết xước của thời gian Người đi trà nguội tình sương khói Bướm vắng hoa tàn mộng dở dang N...