Hiển thị bài đăng được sắp xếp theo mức độ liên quan cho truy vấn Cách xưng hô trong tôn giáo. Sắp xếp theo ngày Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị bài đăng được sắp xếp theo mức độ liên quan cho truy vấn Cách xưng hô trong tôn giáo. Sắp xếp theo ngày Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 10 tháng 4, 2022

CÁCH XƯNG HÔ TRONG TÔN GIÁO

Trong một bài viết của tác giả Đinh Lâm Thanh có đoạn:
        “Văn hóa truyền thống dạy cho người Việt chúng ta kính trọng các bậc tu hành, vì những vị tu hành là những người đã dứt khoát trần tục, từ bỏ giàu sang danh vọng phú quý để tìm con đường tu thân, và từ đó, dẫn dắt người đời đến một cuộc sống thánh thiện, chân thiện mỹ…
        Sở dĩ chúng ta trọng những người tu hành vì những vị nầy đã trở thành những kẻ hơn người. Họ đã từ bỏ được ba cái tầm thường ‘Tham, Sân, Si” của giới phàm tục. Như vậy, những ai một khi quyết định xa gia đình, dứt bỏ phú quý danh vọng để tự nguyện trở thành kẻ phục vụ chúng sinh, lấy đức bác ái, tinh thần từ bi hỷ xả làm lý tưởng để lo cho đời sống tâm linh con người, đồng thời chấp nhận làm kẻ thấp hèn trong xã hội cũng như quên mình để hiến dâng cho lý tưởng, thì đều được xã hội quý trọng. Người Việt chúng ta rất sùng đạo, đó là vấn đề rất tốt.
       Nhưng hành động trọng cha, kính thầy một cách quá đáng, có thể nói rằng đi đến lố bịch của một số con chiên, Phật tử đã làm hư các thầy các cha, đồng thời biến các vị tu hành thành Phật, thành Chúa, là thần thánh oai nghiêm và quyền uy vô lượng, chứ không còn là những kẻ tu hành hèn mọn, mà những vị nầy đã tâm nguyện dâng hiến cuộc sống để trọn đời phục vụ Phật tử, tín đồ cũng như con chiên!
       Những hình ảnh chấp tay cúi đầu: "Con lạy thầy, con lạy cha" làm cho các nhà tu hành quên hẳn vai trò một nhà sư, một cha xứ đạo...! Để rồi những vị nầy tự ban cho mình cái quyền linh thiêng, đại diện Phật, Chúa ban phát ân huệ cho chúng sanh, con chiên và bắt người phàm tục phục dịch cho mình.
       Hình ảnh và thái độ của thầy cha ngày nay thường bị hư hỏng và đôi lúc trịch trượng bởi hai lý do:
       - Trước hết là số người người sùng đạo có thái độ tôn trọng cha thầy một cách quá đáng, việc gì của thầy của cha làm đều tốt đều đẹp, lời thầy lời cha nói gì nghe cũng hay cũng phải.
       - Thứ đến, là một số tín đồ, giáo hữu cò mồi dựa vào tôn giáo để làm chính trị cũng như kinh doanh, họ bám sát vào thầy vào cha, nhà chùa, nhà thờ, đánh trống thổi kèn, chấp tay lạy sống thầy, cha khúm núm trình thưa như đang đứng trước mặt quan quyền vua chúa ngày xưa..
       Hành động nầy chẳng những đưa "cái tôi" của thầy, cha lên tận mây xanh. Do đó, những cái tầm thường xấu xa trong lòng các vị tu hành đã không diệt được mà còn được bơm lên thì Tham, Sân, Si trong lòng các vị tu hành càng ngày càng lớn hơn những người phàm tục nữa! Như vậy, tu hành đã không đạt được kết quả…mà một khi cái Tham, Sân, Si trong các vị tu hành thường xuyên bị dồn nén thì sẽ bộc phát dữ dội.
       Nên nhớ rằng: Các nhà tu hành một khi đã đi lạc đường, thì cái Tham, Sân, Si sẽ quậy tới bến còn hơn những người phàm tục!!!  
       Cá nhân tôi là người trong cuộc và đã chứng kiến tận mắt hai trường hợp, từ đó lòng tôi mất đi rất nhiều kính trọng đối với một số vị tu hành:
1. Trong một cuộc biểu tình, tôi được giới thiệu với một vị linh mục còn trẻ hơn tôi. Sau câu chào hỏi thân mật xong thì vị linh mục quay mặt đi nơi khác, hình như có thái độ không muốn nói chuyện với tôi nữa, vì tôi đã thẳng thắn kêu bằng cha và xưng tôi. Có lẽ chữ tôi trong cách xưng hô không thích hợp giữa một giáo dân với một vị linh mục nơi đông người đã làm giảm giá trị một vị tu hành, nên vị nầy đã quay mặt đi giã vờ nói chuyện với những người chung quanh.

        Nếu tôi trịnh trọng gọi bằng cha thì phải xưng con như những người khác thì câu chuyện sẽ được tiếp tục trong tình thân mật! Tôi có thể gọi cha và xưng con trong nhà thờ, lúc xem lễ hay vào tòa xưng tội theo con người Ky tô hữu của tôi. Nhưng ngoài đời, trong một buổi biểu tình chính trị, thì giữa hai người tu hành và giáo dân cũng đều là những người dân tỵ nạn Việt Nam. Tôi nghĩ rằng một người già trên 70 xưng con với một vị linh mục còn trẻ giữa nơi công cộng thì cũng khó nghe! Như vậy trong bộ áo màu đen quý trọng đang mặc trên linh mục nầy, cái sân si vẫn còn quá nặng mùi trần tục trong một vị tu hành.
2. Dịp cúng thất cho một người trong gia đình, nhằm buổi cơm chay, tôi có dịp phải đi ngang qua phòng ăn - nối liền từ chân cầu thang đến chánh điện – trong lúc các vị sư đang dùng bữa. Chuyện đập vào mắt tôi, vị trụ trì ngồi đầu bàn, sau khi ăn hết chén cơm vị nầy ngồi yên, không quay lại, đưa cái chén ra phía sau…thì một Phật tử chấp tay vái lạy ba cái, cúi mình xuống và đưa hai tay lên khỏi đầu đở lấy cái chén, lấy cơm xong lại cung kính dâng lên vị trụ trì như lúc đầu…trong lúc tô cơm đang nằm ngay trước mặt và trong tầm tay của vị trụ trì! Phía bên kia, một Phật tử cầm quạt đang phe phẩy để cho thầy dùng cơm mặc dù Paris lúc đó đang mát trời! Tôi thấy vị trụ trì nầy đã quên hẳn mình là kẻ tu hành mà có thái độ trịch trượng như một vị vua chúa ngày trước.
        Trở về với đề tài, nhiều người hỏi tôi thời đại nầy làm nghề gì sướng nhất, tôi có thể trả lời tức khắc không cần đắn đo suy nghĩ rằng: "Nghề Đi Tu"! Một nghề không đòi hỏi vốn kiến thức, không cần đầu tư tài chánh mà chỉ cần thuộc vài bài kinh – như loại tu hành quốc doanh - là có thể hành nghề một cách dễ dàng.
        Khi hành đạo, không cần làm việc, nhưng tài sản đất đai, nhà cửa, xe cộ, tiền bạc do con chiên thiện nam tín nữ cung hiến cũng quá dư thừa cho phép những vị nầy ăn uống no say, vợ con đầy đủ và nếu muốn thì tình nhân cũng sẵn sàng có ngay!
Nhà cửa được giảm hoặc miễn thuế, ăn khỏi tốn tiền, có người hầu hạ, có kẻ làm bếp dâng lên tận miệng. Có vị còn biến từ nhà ở cho đến nơi thờ phương thành cơ sở kinh doanh với giá bán cắt cổ từ cuốn sách cho đến gói thực phẩm. Tất cả hoạt động kinh tế đều theo hình thức chui và chỉ thu tiền mặt.                               
        Các lễ lộc phục vụ tôn giáo không có tình trạng miễn phí hoặc giảm giá cho nhà nghèo mà phải tuân theo theo từng bậc giá cả khác nhau. Cước phí xin lễ, cầu nguyện đối với các vị tu hành người nước ngoài hoàn toàn do tín hữu tự nguyện không bắt buộc theo một hình thức khuôn mẫu nào.
        Tôi chứng kiến một cha người Pháp đã từ chối số tiền lớn do một tín hữu người Việt Nam đến nhà thờ Tây xin lễ bình an cho gia đình.. Chẳng những thế, nhà thờ còn làm hóa đơn chính thức để ghi vào sổ của nhà thờ.
        Nhưng trái lại, trong một dịp gặp một cha người Việt Nam để xin lễ, vị linh mục nầy cho giá đàng hoàng và tỏ vẽ không hài lòng khi tôi đề cập đến giá cả của nhà thờ!
        Từ chỗ nầy người ta xem các vị tu hành từ trong nước ra đến hải ngoại hành nghề tôn giáo với giá cả cắt cổ tín hữu và Phật tử một cách vô tội vạ.
        Riêng việc tang chế, giá cả được ấn định bao nhiêu tiền cho cha thầy đến tư gia, đến nhà xác để tụng niệm. Bao nhiêu tiền để tổ chức theo hình thức lớn, trung bình, nhỏ đối với một lễ tiễn đưa người quá cố, bao nhiêu tiền để mang cốt tro về chùa, nhà thờ… và bao nhiêu tiền theo đẳng cấp giàu sang hay bình dân để thuê một cái hộc để đựng hủ cốt người chết!
        Tiền nhiều thì nhà chùa nhà thờ tổ chức lớn, với nhiều cha nhiều thầy làm lễ.. Nhiều tiền thì tổ chức lễ riêng rẽ một cách trang trọng vào cuối tuần.
        Ít tiền thì tổ chức cầu siêu tập thể và vào những ngày giờ làm việc.
Chính các thầy các cha đòi hỏi giá cả để tổ chức những buổi lễ đình đám cho hôn nhân, cầu siêu, án táng, đưa hài cốt về chùa, về nhà thờ.
        Những tiền lệ nầy đã tập cho tín đố Phật tử những tính xấu, xem thường việc linh thiêng tôn giáo đồng thời tạo cho những gia đình nghèo, thiếu phương tiện bị mặc cảm và đau lòng mỗi khi có người thân vừa nằm xuống.
       Chắc tất cả mọi người đều công nhận rằng nghề đi tu chẳng những là một nghề ấm thân cho kẻ tu hành mà còn giúp họ trở thành triệu phú một sớm một chiều. Chẳng mất một giọt mồ hôi, suốt đời không đóng thuế, nhà cửa được giảm tiền điện nước lại còn hưởng trợ cấp đặc biệt của xã hội.
        Cuộc đời tu hành thật đáng giá ngàn vàng, chỉ một sáng một chiều trở thành triệu phú, trở nên kẻ ăn trên ngồi trước và được trọng vọng nhất trong thiên hạ: Nhà cao cửa rộng, đi Mercedes, BMW… có tài xế, ngày ăn no, đêm ngủ với vợ, ngày thì đệ tử tự nguyện (!) thời gian rổi rảnh thì đếm bạc giấy rồi đem cất vào tủ sắt…Như vậy nghề tu hành thời nay của người Việt quả thật là tuyệt hảo và độc nhất vô nhị của thế giới tính, từ thập niên cuối cùng của thế kỷ 20 đến nay.
       Nhà thờ nhà chùa đã biến thành cái chợ và hơn nữa các nơi nầy còn cạnh tranh tổ chức văn nghệ mừng Xuân, ca hát ăn uống…thì chắc Chúa và Phật cũng phải quay mặt trước tình trạng tu hành thời nay.
        Bây giờ giới trẻ ai cũng muốn đi tu, một nghề ngồi mát ăn bát vàng mà được thiên hạ đội lên đầu, chắp tay vái lạy thì còn gì quý hơn khi phải phí cuộc đời gần hai chục năm trong các nhà trường để rồi vác bằng chạy đôn chạy đáo kiếm việc làm sau khi tốt nghiệp……”.
_____________________________Tác giã: ĐINH LÂM THANH

                         

 

    CÒN TRONG TÔN GIÁO CAO ĐÀI THÌ SAO?
        Nhân đọc bài trên đây của tác giả Đinh Lâm Thanh, tôi đã nãy sinh ý kiến là xin trích đăng tãi lại những điểm chính yếu của tài liệu về cách xưng hô trong Đạo Cao Đài và nhiệm vụ “phổ độ” mà tất cả tín đồ luôn đem hết tâm thành, thiện ý của mình ra làm cho đúng với danh đạo là “Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ”. Mục đích không phải là để hạ thấp Đạo nầy, tâng bốc Đạo kia mà chỉ nhìn vào sự thật: tâm nguyện mong sao người tu chân chính chu toàn được nhiệm vụ xã thân cứu đời của mình mà thôi.
       Thật cảm nhận tâm mình bình đẳng và giản dị làm sao khi đọc thấy những điều trọng yếu trong nội dung của Huấn Lịnh số 211/CV ngày 15 tháng 7 năm Nhâm Thìn (DL: 03-9-1952) của Hội Thánh Cao Đài Tòa Thánh Tây Ninh ban cho Chức sắc, Chức việc và toàn đạo phải triệt để thi hành.
       Những điểm chính đó là:

1-     Giáo Tông và Hộ Pháp (Chức sắc cao cấp nhứt của Đạo Cao Đài) xưng mình là: Bần Đạo. Danh xưng Bần Đạo có ý nghĩa như thế nào?
      Bần là nghèo. Bần Đạo là “ông đạo nghèo”. Bần Đạo là tiếng xưng hô khiêm nhượng của những vị đạo cao đức trọng, hay những vị đại đức, đại từ lãnh đạo trong các tôn giáo. Các đấng Tiên, Phật khi giáng đàn cũng thường dùng danh xưng khiêm nhượng Bần Đạo nầy như Đức Nhàn Âm Đạo Trưởng, Đức Lý Giáo Tông, Đức Nguyệt Tâm Chơn Nhơn, và Đức Hộ Pháp lúc còn tại thế hay khi qui tiên..v..v..
 
2-     Chưởng Pháp và Đầu Sư xưng: Tinh Tế. Ý nghĩa như sau:
Tinh là tinh vi, thuần túy; Tế là tế độ chúng sanh.
 
3-     Chánh Phối Sư và Phối sư xưng: Tiện Minh. Ý nghĩ:
Tiện là khiêm tốn, ám chỉ mình còn thiếu kém tài đức.
Minh là sáng, minh mẫn; lấy trí khôn mà xét đoán việc hành sự.
 
4-     Giáo Sư xưng là Tiện Hiền. Ý nghĩa: Tiện là khiêm tốn, cho mình là còn yếu kém về tài đức. Còn Hiền là là hiền đức, hiền lành. Đức Chí Tôn đã ban cho 72 Giáo Sư là Thất thập nhị Hiền thì cách xưng hô của Giáo Sư có chữ Hiền, nếu hiểu nghĩa trắng ra thiết tưởng không quá đáng.
 
5-     Giáo Hữu xưng là Tiện Đệ. Chữ Tiện cũng giống như trên, không ngoài tính khiêm tốn. Còn chữ Đệ là em, lấy từ ý nghĩa Tam thiên Đồ đệ (3 ngàn đệ tử) của Đức Chí Tôn ban cho. Đây là cũng cách xưng hô của người phẩm dưới đối với đàn anh, đàn chị bề trên của mình.
 
6-     Lễ sanh xưng là Thiểu Phẩm. Ý nghĩa: Thiểu là nhỏ, ít. Cách xưng thể hiện nét khiêm cung của người xưng. Đức Chí Tôn thường nói Lễ sanh là người có đức hạnh hơn hết trong các môn đệ của Ngài, mà xưng khiêm tốn như vậy thì giá trị của phẩm cấp của người xưng càng nâng cao.

       Nói một cách tổng quát, các Chức sắc phẩm dưới xưng hô với Chức sắc đàn anh của mình thì tự xưng mình là Tiện Đệ và gọi bề trên là Hiền Huynh. Còn bề trên xưng hô với đàn em dưới mình hay tín đồ thì xưng là Tiện Huynh và gọi người dưới là Hiền Đệ. Hết sức là thắm tình anh em trong gia đình, con cùng Cha chung Thượng Đế.
       Còn hai chữ Ông và Ngài thì xưng hô thế nào?
       Cũng theo qui định trên của Hội Thánh:  Khi xưng với Chức sắc mang phẩm từ Giáo Sư trở lên thì xưng gọi là Ngài. Còn từ phẩm Giáo Hữu trở xuống thì xưng gọi là Ông.
      

 Thí dụ: Kính gởi Ngài Giáo Sư Thượng Thành Thanh.
                                   Khâm Trấn Đô Thành ………….
Hay:
                    Kính gởi Ông (hay Hiền Huynh) Giáo Hữu Thượng Mỹ Thanh
                                    Khâm Châu Đạo Mỹ Tho………
      Sau đó nếu có lập lại thì xưng bề trên là Hiền Huynh và xưng mình là Tiện Đệ là đủ.
      Đặc biệt, chỉ đối với Đức Lý Giáo Tông và Đức Hộ Pháp thì phải ghi rõ Bạch Đức Giáo Tông và Bạch Đức Hộ Pháp. Và khi thư hay đơn kính trình dài thì sau đó khi cần xưng hô lập lại thì đề Bạch Đức Ngài.
       Đối với NỮ PHÁI: Chức sắc bề trên xưng hô với đàn em phẩm dưới thì xưng mình là Tiện Tỷ và gọi em mình là Hiền Muội. Chức sắc phẩm dưới xưng hô với bề trên (nữ phái) thì xưng mình là Tiện Muội và bề trên là Hiền Tỷ hay cao cấp nhứt là Đại Tỷ.
       (Tham chiếu Huấn lịnh số 211/CV- Ngày 15 tháng 7 Nhâm Thìn; DL: 03-9-1952)
       Trong các lời dạy của Đức Lý Giáo Tông hay của Đức Hộ Pháp gởi các Chức sắc, tín đồ Cao Đài, Đức Lý và Đức Hộ Pháp luôn xưng là Bần Đạo và gọi các đàn em là “Hiền Hữu” hay “các em” đầy tình yêu thương, hòa ái. Ngoài ra, trong các văn thư của Đức Hộ Pháp gởi các vị Quốc Trưởng các nước, Đức Ngài vẫn luôn luôn xưng Bần Đạo một cách khiêm cung, đạo đức.
        Luôn theo gương Đức Ngài, lấy đức tính khiêm cung làm căn bổn trong hành đạo, các vị Chức sắc lãnh đạo Cơ sở hay tổ chức Đạo khi ngõ lời chào mừng quan khách và đồng đạo luôn luôn mở đầu:
     “Kính thưa quý Quan Khách, quý Đại diện Cơ sở Đạo, Cơ quan đoàn thể các tôn giáo bạn.
        Nhưng kể từ năm Đạo thứ 50, Ngài Hiến Pháp Trương Hữu Đức, Chưởng Quản Hiệp Thiên Đài có ra Thánh Lịnh số 113-CQ/HTĐ ngày 19-5 Ất Mão (28-6-1975), tham chiếu các Thánh lịnh trước đây của Hội Thánh, đặt lịnh trong cửa Đạo Cao Đài từ ngày ký Thánh lịnh nói trên trở đi, chỉ dùng cách xưng hô Đại Huynh, Đại Tỷ, Hiền Huynh, Hiền Tỷ, Hiền Đệ, Hiền Muội trong các văn kiện giấy tờ hay trong các phiên họp Đạo. Còn ngoài ra trong giao tế hàng ngày thì xưng hô Anh lớn, Chị lớn và Anh, Chị, Em tùy theo phẩm cấp cao, thấp sao cho thuận thảo tình anh chị em thân thiện trong đại gia đình Đạo cùng một Đấng Cha chung Thượng Đế.
       Không giống như một vị Hòa Thượng của một ngôi chùa ở Texas mà một lần tôi được chứng kiến khi được mời tham dự một lễ Phật Đản. Vị Hòa Thượng, chỉ khoãng trên 30 tuổi thôi, nói trước hàng trăm tín đồ và quan khách, có vị trên 90 tuổi, có người là Phật tử hay có khách dự không phải là đạo Phật: “Bây giờ Thầy xin ngưng không giảng đạo nữa và cùng tất cả các con chơi rút thăm đánh số, coi ai trúng nghe!”, Tất cả những người có mặt đang nghe “Thầy” tự xưng mình và gọi mọi người có mặt kể cả các vị khách cao tuổi đều là con hết, nhiều người nghe nói vậy lắc đầu, có vẻ ngạc nhiên.
       Tôi thật sự không biết rõ trong các khóa đào tạo tu hoc của Phật giáo hay đạo Thiên Chúa, Tin lành, các Hội Thánh đó có ghi rõ cách xưng hô chính thức giống như trong tôn giáo Cao Đài hay không? Nhiều người phê bình thế nầy thế nọ như bài viết trên đây của tác giả Đinh Lâm Thanh, tôi thì không dám phê bình, nhưng có mục kích nhiều lần, thấy là có thật nên hơi thắc mắc nói ra vậy thôi.
                   

   CÒN VIỆC MA CHAY CHO NGƯỜI MẤT THÌ SAO?
      

 Tôi rất đồng ý với tác giả Đinh Lâm Thanh về việc “làm tiền” trong tang lễ của một số các thầy tụng trong Phật giáo. Chuyện đã xãy ra chính trong gia đình anh ruột của tôi. Một lần tôi chứng kiến tận mắt khi đến dự lễ tang cha ruột của chị dâu tôi. Bác hai (người mất) là tín đồ Phật giáo, bác trụ trì ngôi chùa ở Núi Bà, tỉnh Tây ninh. Đám tang cử hành theo Đạo Phật. Một vị Hòa Thượng và các thầy tụng được gia đình mời đến lo cho tang lễ của bác hai. Tụng kinh liên tục trong ba ngày. Đến ngày thứ hai, trong lúc tôi đang nói chuyện với anh tôi thì một vị thầy đến nói với anh tôi: “Chúng tôi tụng xong đủ 6 ngàn rồi, anh có muốn tụng thêm không?” Anh tôi và tôi rất ngạc nhiên. Nhưng anh tôi vẫn nói: “Cứ tụng tiếp cho đúng 2 ngàn nữa.” (tiền trước năm 1975).  Và các thầy tiếp tục tụng với chi phí ấn định trước đó.
        Thật tôi không hiểu gì hết, vì trong Đạo Cao Đài tất cả đều được miễn phí, đều làm công quả, phục vụ cho nhơn sanh, gọi là công tác “phổ độ” chứ không bao giờ tính tiền sòng phẳng lộ diện như vậy. Còn tiền công quả, ai có muốn đóng thì đóng góp, cứ bỏ vào tủ hành hương, bao nhiêu tùy khả năng và ý muốn. Còn ai không muốn hay không có tiền, thì việc lo tang lễ cho người chết vẫn tiến hành đầy đủ với hình thức theo luật Đạo Cao Đài qui định y như nhau không phân biệt đối xử.
        Trong Đạo Cao Đài, nhiều và rất nhiều người, có Đạo hay không phải là người Đạo, khi mất gia đình có đến nhờ các vị trách nhiệm của Đạo lo liệu giùm thì đều được sẳn sàng, dù hoàn cảnh nghèo đói không tiền đến thế nào chăng nữa. Việc làm thể hiện rõ tính nhân đạo và phổ độ của nền Đạo như danh xưng “Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ”.
       Năm 1972, khi bộ đội Cộng Sản tấn công đồn Phước Tân (Tây Ninh) . Một số chết  nằm la liệt ngoài rào của đồn,, không ai chôn cất. Hội Thánh Cao Đài Tòa Thánh Tây Ninh thấy vậy xin phép chánh quyền sở tại, cho đạo tỳ của Tòa Thánh lên lo liệu giùm, đem đi chôn cất và cầu siêu tử tế, thể hiện tính từ bi đối với tất cả những mọi người, bất kể những người đã chết khi còn sống là ai, làm gì.
        Có một trường hợp nữa xảy ra tại vùng Long Hoa tỉnh Tây ninh, thời điểm sau năm 1975, tôi biết chính xác: Một vị nữ tín đồ hiến thân cho Đạo, gia đình rất nghèo, đến độ không có đến một bộ đạo phục mới để mặc cho bà để tẩn liệm sau khi bà chết. Nhà cửa không có, tiền bạc không có, đang phải ở đậu nhờ tại nhà người quen. Khi chết, người quen báo tin, các vị Chức việc và đồng đạo địa phương đứng ra lo liệu mọi việc thật chu đáo, đúng nghi thức Đạo không thiếu xót một điều chi. Đồng đạo ở địa phương chung góp mua vải may đạo phục, thực phẩm nấu cúng tế. Hội Thánh lo cho quan tài. Xong đám tang, thân nhân vị nầy còn dư được một số tiền để lo liệu hậu sự về sau.
        Qua những việc đã trình bày trên đây đã xác nhận một điều: Cách xưng hô và phương cách phục vụ nhơn sanh trong sinh hoạt đạo hàng ngày như giúp khó, trợ nghèo, tang tế lễ trong tôn giáo thể hiện trung thực tính nhân bản, mục tiêu cao thượng của riêng từng tôn giáo. Người tu hành từ Chức sắc cao cấp đến tận tín đồ, khi đã tâm nguyện xã thân vì Đạo để phục vụ cho nhơn sanh, là chấp nhận làm “đầy tớ”cho nhơn sanh như Đức Chí Tôn đã từng dạy, chứ không phải là giã nương vào cửa Phật để vinh thân, phì gia, ăn trên ngồi trước, chờ người khác tung hô mình, rồi mình tự coi mình như Thánh, như Phật, như hoàng đế, như cha, như thầy cả ngồi trên đầu thiên hạ thì còn gì gọi là TU.
         Hơn nữa, đi tu là để sửa bỏ cái đam mê, dục vọng, diệt trừ tánh nết trần tục bợn nhơ“Tham, Sân, Si”, tất phải hạ mình xuống thật thấp, đưa người khác lên cao. Nếu làm ngược lại với ý nguyện lúc ban đầu là “xả thân” cầu Đạo thì thật uổng phí một kiếp sanh rồi.
        Thương thay! Tiếc thay!

                              
                              BẾN ĐỤC TÂM TRONG
Lý tưởng ghi tâm suốt cuộc đời,
Thị phi quyết chẳng để lòng vơi.
Thanh danh cố giữ gìn muôn thuở,
Đạo đức trau tria mãi sáng ngời.
Thử thách gian nan tâm chẳng đổi,
Khó khăn chật vật chí không dời.
Gương đời mãi sáng lưu nhân thế,
Bãi đục sen thơm mới tuyệt vời.
HỒ NGUYỄN (16-7-15)

Tài liệu do Hồ Xưa sưu tầm và bổ túc thêm.
       

Thứ Năm, 11 tháng 8, 2016

DÂN CHỦ và TÔN GIÁO CAO ĐÀI - Hồ Nguyễn

                  
A- QUYỀN DÂN CHỦ TRONG CHÍNH TRỊ ĐỜI:
        Dân chủ là "một hình thức của chính phủ, trong đó mọi người dân của một nhà nước hoặc chính thể... đều tham gia vào việc ra quyết định về các vấn đề của mình, thường bằng cách bỏ phiếu để bầu người đại diện cho một quốc hội hoặc thể chế tương tự."
         Dân chủ được định nghĩa thêm như:
        - Chính quyền của người dân, đặc biệt là chính trị của số đông.
        - Một chính phủ trong đó quyền lực tối cao được trao cho người dân và thực hiện bởi họ, trực tiếp hoặc gián tiếp, thông qua một hệ thống đại diện thường liên quan đến việc tổ chức định kỳ các cuộc bầu cử tự do.
        Theo nhà khoa học chính trị Larry Diamond, chế độ dân chủ bao gồm bốn yếu tố chính sau đây:
       1. Một hệ thống chính trị cho việc lựa chọn và thay thế các chính phủ thông qua bầu cử tự do và công bằng.
       2. Sự tham gia tích cực của mọi công dân, trong chính trị và đời sống dân sự.
       3. Bảo vệ quyền làm người của mọi công dân.
       4. Một nguyên tắc của pháp luật, trong đó các luật và thủ tục áp dụng chung cho tất cả các công dân.
        Danh từ DÂN CHỦ này xuất hiện đầu tiên tại Hy Lạp với cụm chữ δημοκρατία (dimokratia - trợ giúp·thông tin)), "quyền lực của nhân dân", được ghép từ chữ δήμος (dēmos), "nhân dân" và κράτος (kratos), "quyền lực" vào khoảng giữa thế kỷ thứ 5 đến thứ 4 trước Công nguyên để chỉ hệ thống chính trị tồn tại ở một số thành bang Hy Lạp, nổi bật nhất là khu vực thành Anthena sau cuộc nổi dậy của dân chúng vào năm 508 TCN.
        Trong học thuyết chính trị, DÂN CHỦ dùng để mô tả cho một số ít hình thức nhà nước và cũng là một loại triết học chính trị. Mặc dù chưa có một định nghĩa thống nhất về “DÂN CHỦ”, có hai nguyên tắc mà bất kỳ một định nghĩa dân chủ nào cũng đưa vào. Đó là:
-          Tất cả mọi thành viên của xã hội (công dân) đều có quyền tham gia đến quyền lực một cách bình đẳng.
-          Tất cả mọi thành viên (công dân) đều được hưởng các quyền tự do được công nhận một cách rộng rãi, công bằng.
        Chủ quyền người dân là một triết lý phổ biến nhưng không phải lúc nào cũng là động lực để hình thành một nền dân chủ. Tại một số quốc gia, dân chủ dựa trên nguyên tắc triết học về quyền bình đẳng. Nhiều người sử dụng từ ngữ "dân chủ" như một cách nói tắt của dân chủ tự do, còn bao gồm thêm một số yếu tố như đa nguyên chính trị, sự bình đẳng trước pháp luật, quyền kiến nghị các viên chức được bầu nếu cảm thấy bất bình, thủ tục tố tụng, quyền tự do công dân, quyền con người, và những yếu tố của xã hội dân sự độc lập với chánh quyền.
        Tại Hoa Kỳ, tam quyền phân lập thường được xem là đặc tính hỗ trợ cho dân chủ, nhưng ở các quốc gia khác, như Vương quốc Anh, triết lý chi phối lại là chủ quyền tối cao của nghị viện (mặc dù trên thực tế vẫn duy trì sự độc lập của các hệ thống tòa án). Trong các trường hợp, "dân chủ" được dùng với nghĩa dân chủ trực tiếp. Mặc dù từ ngữ "dân chủ" thường được dùng trong bối cảnh chính trị của quốc gia, những nguyên lý này cũng áp dụng cho các tổ chức cá nhân và các nhóm chánh trị khác.
        Dân chủ có nguồn gốc từ Hy Lạp cổ đại.  Tuy nhiên các nền văn hóa khác cũng có đóng góp đáng kể vào quá trình phát triển của dân chủ như Ấn Độ cổ đại, La Mã cổ đại, châu Âu, và Nam Bắc Mỹ. Dân chủ được gọi là "hình thức nhà nước cuối cùng" và đã lan rộng trên khắp toàn cầu. Quyền đi bầu khi xưa bắt đầu từ những nhóm nhỏ (như những người giàu có thuộc một nhóm dân tộc nào đó) qua thời gian đã được mở rộng trong nhiều bộ luật, nhưng vẫn còn là một vấn đề gây tranh cãi liên quan đến các lãnh thổ, khu vực bị tranh chấp có nhiều người nhập cư, và các quốc gia không công nhận các nhóm dân tộc nào đó.
        Những người ủng hộ tôn giáo hay thần quyền thường khước từ dân chủ nhưng cùng với sự phát triển của xã hội, nhận thức của họ cũng đã thay đổi và chấp thuận một nền dân chủ gắn với tôn giáo.
                                 TÔN GIÁO và QUYỀN DÂN CHỦ:
       
 Trong tổ chức và sinh hoạt tôn giáo từ xa xưa như Thiên chúa giáo, Tin lành, Do Thái giáo, Hồi giáo, Bà la môn, Ấn Độ giáo, Nho giáo….tính dân chủ không được đặc biệt nhắc tới như một điều tiên quyết, bó buộc nhưng phãng phất nặng nề tính Thiêng liêng, thần linh.
        Tôn giáo hay đạo (tiếng Anh: religion - xuất phát từ tiếng Latinh religio mang nghĩa "tôn trọng điều linh thiêng, tôn kính thần linh" hay "bổn phận, sự gắn kết giữa con người với thần linh") - xét trên một cách thức nào đó, đó là một phương cách để giúp con người sống và tồn tại với sức mạnh siêu nhiên từ đó làm lợi ích cho vạn vật và con người, đôi khi đồng nghĩa với tín ngưỡng, thường được định nghĩa là niềm tin vào những gì siêu nhiên, thiêng liêng hay thần thánh, cũng như những đạo lý, lễ nghi, tục lệ và tổ chức liên quan đến niềm tin đó. Những ý niệm cơ bản về tôn giáo chia thế giới thành hai phần: Thiêng liêng và trần tục. Trần tục là những gì bình thường trong cuộc sống con người, còn Thiêng liêng là cái siêu nhiên, Thần Thánh. Đứng trước sự Thiêng liêng, con người sử dụng lễ nghi để bày tỏ sự tôn kính, sùng bái và đó chính là cơ sở của tôn giáo. Trong nghĩa tổng quát nhất, có quan điểm đã định nghĩa tôn giáo là kết quả của tất cả các câu trả lời để giải thích nguồn gốc, quan hệ giữa nhân loại và vũ trụ; những câu hỏi về mục đích, ý nghĩa cuối cùng của sự tồn tại. Chính vì thế nên những tư tưởng tôn giáo thường mang tính triết học. Số tôn giáo được hình thành từ xưa đến nay được xem là vô số, có nhiều hình thức trong những nền văn hóa và quan điểm cá nhân khác nhau. Tuy thế, ngày nay trên thế giới chỉ có một số tôn giáo lớn được nhiều người theo hơn những tôn giáo khác.
Đôi khi từ "tôn giáo" cũng có thể được dùng để chỉ đến những cái gọi đúng hơn là "tổ chức tôn giáo" – một tổ chức gồm nhiều cá nhân ủng hộ việc thờ phụng, thường có tư cách pháp nhân. "Tôn giáo" hay được nhận thức là "tôn giáo" có thể không đồng nhất với những định nghĩa trên đây trong niềm tin tối hậu nơi mỗi tôn giáo (tức là khi một tín hữu theo một tôn giáo nào đó, họ không có cái gọi là ý niệm "tôn giáo" nơi tôn giáo của họ, tôn giáo chỉ là một cách suy niệm của những người không có tôn giáo bao phủ lấy thực tại nơi những người có tôn giáo). Một số tôn giáo có những giáo điều quá khích đã đưa đến tranh chấp và xãy ra các cuộc chiến, gọi là Chiến tranh tôn giáo, đã đi ngược lại mục tiêu cao cả của mọi tôn giáo phải theo là Hòa Bình và Thương Yêu.
         Chiến tranh tôn giáo là cuộc chiến tranh giữa các tín đồ tôn giáo khác nhau, hay ngay cả những người cùng một tôn giáo nữa. Và tranh chấp này vẫn còn âm ỉ trong nội bộ các tôn giáo. Thông thường, thuật ngữ này được dùng để chỉ các cuộc xung đột giữa những người Tin Lành và Công giáo ở châu Âu khoảng thế kỷ 16 và 17.
        Nổi tiếng nhất là Chiến tranh tôn giáo tại Pháp gồm 8 cuộc xung đột trong khoảng thời gian từ 1562 tới 1598.
        Tại Thụy Sĩ, Chiến tranh Kappel là cuộc xung đột về tôn giáo đầu tiên ở châu Âu, diễn ra trong khoảng 1529 tới 1531.
        Tại Hà Lan thuộc Tây Ban Nha, Chiến tranh Tám mươi năm giữa Đế chế Tây Ban Nha và Cộng hòa Hà Lan từ năm 1568 tới 1648 cũng mang màu sắc tôn giáo.
        Tại Navarre, chiến tranh tôn giáo xảy ra trong khoảng 1560 tới 1572.
        Không giống bất cứ nơi nào khác trên thế giới, Việt Nam đã thể hiện một sự hòa hợp tốt đẹp nhứt về tôn giáo để tránh được những tranh chấp xung đột như các nơi khác, đáng làm mực thước cho các nước noi theo. Sự biến đổi mình để phù hợp với hoàn cảnh để tồn tại thấm vào và thể hiện ra ngay ở tôn giáo. Chính vì sự hòa trộn tôn giáo này mà chúng ta có tâm lý cúng vái tứ phương. Từ góc độ tích cực, sự phong phú đó khiến người Việt bao dung hơn, thân thiện, dễ dàng tiếp nhận sự khác biệt hơn. Các giá trị được lặn vào, dung hòa lẫn nhau; không loại trừ nhau và mâu thuẫn nhau. Chính điều đó khiến Việt Nam không xảy ra những cuộc chiến tranh tôn giáo lớn, không xảy ra bi kịch Thánh chiến như ở các nước Trung Đông, Tây Á và châu Âu.
        Việt Nam ta là nước có nhiều tín ngưỡng, tôn giáo. Hiện nay, ở nước ta có sáu tôn giáo lớn đã được đa số dân chúng thừa nhận vì có tổ chức hẳn hoi là: Phật giáo, Công giáo, Tin lành, Hồi giáo, Cao Đài, Phật giáo Hòa Hảo. Ngoài ra còn hàng chục triệu người khác vẫn giữ tín ngưỡng dân gian, truyền thống và cả tín ngưỡng nguyên thủy.
       Tín  ngưỡng,  tôn  giáo  ở  nước  ta  chủ  yếu  ở  cấp  độ  tâm  lý  tôn  giáo. Nhiều tín đồ tôn giáo tuy khá sùng đạo, nhưng hiểu giáo lý rất ít, gia nhập đạo phần nhiều do lan truyền tâm lý, hoặc do vận động, lôi kéo; ý thức tôn giáo ở phần lớn tín đồ không thật sâu sắc nên dễ chuyển đổi từ tôn giáo nầy sang tôn giáo khác khi gặp hoàn cảnh cần thiết.
        Các  tôn  giáo,  tín  ngưỡng  dung  hợp,  đan  xen nhau và  hòa  đồng, không có kỳ thị, tranh chấp và xung đột tôn giáo. Các tín ngưỡng truyền thống và tàn dư tôn giáo nguyên thủy in dấu ấn khá sâu đậm vào đời sống tinh thần của người Việt Nam, theo suốt chiều dài lịch sử, đó là cái nền tâm linh để dễ dàng đón nhận sự du nhập của các tôn  giáo khác. Sự  khoan  dung,  lòng  độ  lượng,  tính nhân  ái  của  dân  tộc  Việt Nam, cùng với yêu cầu phải đoàn kết toàn dân để bảo vệ nền độc lập, thống nhất lãnh thổ, nên người Việt Nam tiếp nhận các tôn giáo khác nhau một cách tự nhiên, miễn là nó không trái với lợi ích dân tộc – quốc gia và truyền thống văn hóa, tín ngưỡng cổ truyền lâu đời.
        Sự phân bổ tôn giáo ở nước ta có đặc điểm nổi bật là giáo dân của các tôn giáo thường  sinh  sống  thành  từng  cụm cộng  đồng  quy  mô  nhỏ,  các  cộng đồng tôn giáo khác nhau có thể sống hài hòa, xen kẽ vào nhau. Ở nhiều nơi, trong một làng, xã cũng có các nhóm tín đồ của các tôn giáo khác nhau sống chung đụng, hòa hợp nhau, hoặc xen kẽ với những người tín ngưỡng dân gian, không theo tôn giáo nào mà không xảy ra tranh chấp, kỳ thị như các nơi khác trên thế giới.
        Các tôn giáo chính có ảnh hưởng lớn trong xã hội Việt Nam đều du  nhập  từ bên  ngoài,  ít  nhiều  đều  đã có  sự  biến  đổi  và  trở thành mang  dấu  ấn  Việt Nam.
        Các tôn giáo từ bên ngoài vào Việt Nam vừa theo cách du nhập tự nhiên qua giao lưu kinh tế, văn hoá như: Phật giáo, Hồi giáo; vừa có sự áp đặt song hành, theo gót với quá trình xâm lược của các đế quốc trong lịch sử như Công giáo, Tin lành...  Quá  trình giao  du, gặp  gỡ  các  tôn  giáo  vừa  thâm nhập, bổ sung, vừa cải biến lẫn nhau, khiến cho mỗi tôn giáo đều có sự biến đổi phù hợp với đặc điểm địa lý, lịch sử và văn hóa Việt Nam.
         Sự  pha  trộn  phức  tạp  giữa  ý  thức  tôn  giáo  với  tín  ngưỡng truyền thống và tình cảm, phong tục tập quán và nhân dân.
         Đặc biệt, chỉ có hai nền tôn giáo tự xuất phát ở Việt Nam, được gọi là tôn giáo dân tộc. Đó là Cao Đài giáo và Phật giáo Hòa Hảo.
        Tín ngưỡng truyền thống dân gian mà nổi bật nhất là phong tục thờ cúng tổ tiên, đã dung hợp với các tôn giáo dân tộc, góp phần tạo nên đặc điểm tình cảm, tâm hồn, tính cách người Việt Nam. Tuy vậy, sự pha trộn phức tạp giữa ý thức tôn giáo với tín ngưỡng cổ truyền và tình cảm, phong tục tập quán đã ăn sâu vào đời sống tinh thần người Việt Nam, làm cho một bộ phận không nhỏ quần chúng lao động rất dễ dàng tiếp nhận tình cảm, ý thức tôn giáo mới. Hơn nữa, bản chất đặc biệt của người Việt Nam từ ngàn xưa cho đến nay là đức tính hòa đồng, cảm thông và niềm tin vào các Đấng Thiêng liêng nên không mang tính cực đoan, chống đối, kỳ thị các quan điểm khác với quan điểm của mình như các dân tộc khác. Việt Nam là mảnh đất lành cho sinh hoạt, phát triển của các tôn giáo. Một tôn giáo đáng ghi nhận nhứt về tính hòa đồng, tương thân, tương ái, dễ dung nạp và xóa tan những cách biệt tín ngưỡng nhứt, là Đạo Cao Đài.
                    Một số đặc điểm văn hóa của đạo Cao Đài:
      
  Dưới góc nhìn văn hóa thì Đạo Cao Đài là một tôn giáo mang các giá trị văn hóa đặc trưng của cư dân hiền hòa miền Nam VN, và cả dân tộc Lạc Hồng. Trong đó có các đặc điểm của Đạo Cao Đài được biểu hiện qua các giá trị cụ thể là:
       1- Tính toàn cầu trong tôn giáo, tính triết lý về quan điểm “vạn giáo nhất lý”.
       2- Tính triết học trong nhân sinh quan, tính văn minh trong nghi lễ.
       3- Tính chung thủy trong gia đình, tính dân chủ trong sinh hoạt.
       4- Tính dân tộc trong lễ nhạc.
       5- Tính văn hóa vật thể trong kiến trúc.
       6- Tính truyền thống trong việc nhập thế phụng sự nhân sinh. Đạo Cao Đài là tôn giáo có tính toàn cầu được thể hiện ngay trong việc thờ Thiên nhãn, có nghĩa là con mắt Trời, biểu tượng qua hình ảnh con mắt mở của con người để nhìn thấu rõ mọi việc ở thế gian. Điều này giúp con người phải trung thực trước hành động của mình, mọi sự vật, hiện tượng của sự sống đều được Thượng Đế biết đến, lương tâm và hành vi của con người luôn được soi xét mọi lúc, mọi nơi. Với đức tin có Đấng Thượng Đế Cao Đài, người tín đồ Cao Đài luôn luôn hướng thiện, tu chỉnh bản thân để sống đạo đức, thương yêu nhân loại. Mỗi người chúng ta dù ở bất kỳ quốc gia, dân tộc nào trên địa cầu đều có con mắt để nhìn, để sống trong môi trường tự nhiên, môi trường xã hội và đều trân trọng con mắt. Để thấy sự vật hiện tượng và có nhận thức, tư duy về các sự vật hiện tượng đó, con người cần đôi mắt để nhận biết.
        Tại sao Đạo Cao Đài chỉ thờ một con mắt chứ không phải là hai con mắt?
      - Đạo Cao Đài thờ Thiên nhãn có nghĩa là mắt Trời, tượng trưng là con mắt người, nên thờ một con mắt bởi số 1 là số bắt đầu của vũ trụ (Thái Cực sinh lưỡng nghi, lưỡng nghi sinh tứ tượng, tứ tượng sinh bát quái, bát quát sinh vô cùng vô tận). Số 1 thuộc về dương, là ngôi Thái cực, ngôi độc nhất trong Càn khôn Vũ trụ. Vẽ và thờ mắt trái là bởi bên trái thuộc về dương, bên phải thuộc về âm. Đức Chí Tôn Chưởng quản khí dương nên mắt trái tượng trưng Đức Chí Tôn. Như vậy, Thiên nhãn tượng trưng cho ánh sáng tỏa khắp vũ trụ, cho sự minh bạch, trung thực của con người.
         Đạo Cao Đài quan niệm rằng các tôn giáo trên thế giới đều từ một gốc sinh ra, cùng thờ Đấng Thượng Đế Tối Cao tức là ông Trời, là Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế, hay Đức Chúa Trời,... Đạo Cao Đài đã kế thừa và dung hòa những tư tưởng căn bản của các tôn giáo trên thế giới. Trên bàn thờ của Đạo Cao Đài có các Đấng Phật, Tiên, Thánh, Thần đại diện của các tôn giáo là Phật giáo, Lão giáo, Nho giáo tượng trưng cho quan điểm Tam giáo đồng nguyên hay Vạn giáo nhất lý, tức là các tôn giáo đều có chung một Chân lý để giác ngộ nhân loại toàn cầu hướng đến sự hoàn thiện, hoàn mỹ của con người. Ngoài ra, Đạo Cao Đài còn tuyệt đối bảo vệ mạng sống do Thượng Đế ban cho, nên dù có khổ đau thế mấy cũng phải sống để trả cho xong một kiếp đời. Tự tử là điều tuyệt đối cấm kỵ trong Đạo Cao Đài. Người nào tự tử sẽ không được hưởng hành lễ tang đầy đủ như người khác và sẽ không về được gốc căn cội của mình, vì họ đã vi phạm luật của Thiên điều là: Thượng Đế sanh ra thì chỉ có Thượng Đế lấy lại mạng số, chứ con người không được tự đoán quyết định hũy hoại.
         7- Đạo Cao Đài có tính triết học thể hiện việc sử dụng hiện tượng Thông linh học để sáng tạo ra một tôn giáo với nhiều yếu tố liên quan đến phong trào cơ bút, con người có thể và có khả năng giao cảm giữa người sống và người chết, nhưng không phải là mê tín dị đoan. Khoa học thế giới đã chứng minh sự hiện hữu của linh hồn trong mỗi con người, người chết rồi vẫn tồn tại linh hồn. Trong con người có ba thể: thể xác (hữu hình), chơn thần (bán hữu hình) và linh hồn (vô hình). Chơn thần làm trung gian cho thể xác và linh hồn và là điểm mới trong giáo lý của Đạo Cao Đài để lý giải các hiện tượng của con người từ vật chất đến tinh thần, từ hữu hình qua vô hình.
         Hiện nay, vì hoàn cảnh chính trị, như Ơn Trên đã tiên tri khi từ lâu khi ra lịnh ngưng cơ bút, Đạo Cao Đài không còn sử dụng cơ bút nữa mà thay vào đó là việc tập thể nhơn sanh tín đồ, chức sắc quyết định những việc quan trọng của Đạo bằng hình thức Đại Hội Nhơn Sanh, Đại Hội Hội Thánh, nhóm họp thường niên, hàng tháng, cùng nhau bàn bạc, cuối cùng thống nhất thể hiện tính dân chủ, bình đẳng của con người trong xã hội hiện đại, văn minh đã được qui định sẳn trong Luật Đạo là Tân Luật và Pháp Chánh Truyền.
       Tính dân chủ là nét độc đáo nhứt của một tôn giáo và chỉ có trong Đạo Cao Đài.
          8- Đạo Cao Đài là một tôn giáo tiến bộ, văn minh. Trong sinh hoạt cúng lễ không dùng đồ xa xỉ, ăn mặc thì chỉ dùng y phục toàn đồ màu trắng. Việc cúng tế vong linh tại các đàn lễ dùng toàn đồ chay. Lễ cầu siêu vong linh cho người tín đồ Cao Đài quy vị từ tuần cửu đến Đại tường (581 ngày) là mãn tang. Trong khi đó, theo phong tục Việt Nam để tang là 3 năm (1095 ngày) gấp đôi thời gian theo quy định của Đạo Cao Đài. Vì vậy, thời gian chịu tang của người Đạo Cao Đài rút gắn được một nửa và dành thời gian để làm ăn, sinh hoạt không nặng nề về việc sinh ly tử biệt. Tân Luật quy định rõ: “Việc cầu siêu vong linh trong tuần cửu cửu (81 ngày), tiểu tường (200 ngày) đến Đại tường (300 ngày) là mãn tang”. Tổng cộng mang tang 581 ngày, kể từ ngày chết. Thời gian của mỗi tuần cửu, Tiểu tường hay Đại tường đều mang những ý nghĩa Thiêng liêng cao cả.
         9- Đạo Cao Đài không có tính mê tín dị đoan. Đạo cấm kỵ việc dùng bói toán, đồng cốt, giết sinh vật tế lễ, không dùng vàng mã. Để dâng lên Đức Chí Tôn lòng tín thành, người Đạo Cao Đài dùng tam bửu là ba món quý báu nhất của con người gồm Tinh, Khí, Thần qua ba thứ: bông, rượu, trà. Bông (hoa) tượng trưng cho hình thể hữu vi (thể xác) tức là Tinh. Rượu tượng trưng cho trí khôn tức là Khí. Trà tượng trưng cho linh hồn tức là Thần. Đức Cao Đài dạy rằng: “Thầy chẳng dùng sự chi mà thế gian mà thế gian gọi là tà quái dị đoan, nếu có xảy ra một ít dị đoan trong Đạo đã dùng lỡ, ấy là tại nơi tâm của một vài môn đệ, nếu chẳng giữ theo lẽ Chánh mà hành Đạo và bày biện nhiều sự vô lối thì trong ít năm sau sẽ trở nên một mối Tả Đạo”.
         9- Đạo Cao Đài đề cao tính chung thủy của con người trong cuộc sống gia đình, mỗi người chỉ một vợ một chồng. Khi trở thành Chức sắc thì luật đạo quy định “Cấm vợ chồng bỏ nhau” nên Chức sắc Đạo Cao Đài thường thủy chung với gia đình. Mặt khác, Đạo Cao Đài khuyên người đi tu để làm điều có ích cho gia đình, xã hội, trở thành người hiểu lẽ đời, lẽ đạo, học lối sống đạo đức trong sáng, tiến bộ, văn minh, không làm hại đến gia đình làm cho vợ chồng ly tán, chia lìa. Tân luật của Đạo Cao Đài quy định: "Cấm người trong Đạo, từ ngày ban hành luật này về sau, không được cưới hầu thiếp. Rủi có chích lẻ giữa đường thì được chấp nối, …Vợ chồng người Đạo không được để bỏ nhau”.
         10- Trong giao tiếp hàng ngày, người Đạo Cao Đài xưng hô với nhau thân thiện, gần gũi, không quan cách. Giáo Tông là người đứng đầu trong Đạo xưng là anh Cả, còn các vị chức sắc xưng với người tín đồ là anh, là chị. Người tín đồ gọi chức sắc mình là anh lớn, chị lớn. Đức Cao Đài khi xuất hiện qua “cơ bút” xưng với các đệ tử là Thầy, như là người hướng dẫn, chỉ dạy cho tín đồ, chứ không xưng là Đấng Tối Cao, Đấng Chúa Trời. Đây là cách xưng hô thể hiện tôn giáo Cao Đài không có sự phân biệt giai cấp trong sinh hoạt hàng ngày, họ sống dân chủ, bình dân trong giao tiếp, và trở thành những người tu hành sống chan hoà không có khoảng cách người trên, kẻ dưới, người đồng đạo coi nhau như anh em cùng Cha. Điều này khác biệt với đa số tôn giáo, chức sắc, nhà tu hành, tín đồ gọi nhau là Cha, Mẹ bề trên, Thầy, Đại sư tổ, v…v..
        11- Đạo Cao Đài cũng sáng tạo ra văn hóa tinh thần riêng của tôn giáo. Kinh, lễ nhạc của Đạo Cao Đài cũng mang âm hưởng của dân gian miền Nam, với điệu nam xuân, nam ai, thể thơ song thất lục bát, thất ngôn tứ tuyệt, thất ngôn bát cú,....
        Khi hành lễ, người Đạo Cao Đài luôn có ban lễ nhạc với các dụng cụ âm nhạc truyền thống như đàn cò, đàn kìm, phách, sáo, nhị,… để thể hiện giai điệu dân tộc và ban đồng nhi đọc kinh. Trong buổi nói chuyện về nhạc truyền thống dân tộc Việt Nam và nhạc lễ Cao Đài tại Thánh Thất Từ Vân (Phú Nhuận, Sài gòn - VN), năm 1996 - Giáo sư Trần Văn Khê nhắc lại kỷ niệm về thời còn nhỏ ở Vĩnh Long với các Chức sắc Cao Đài như Đầu Sư Nguyễn Văn Ngợi (Cao Đài Tiên Thiên) và Giáo Sư Trần Văn Quế (Truyền Giáo Cao Đài). Ông nói: “Tôi viết thơ cho thầy tôi là Trần Văn Quế, xin thầy cho biết rõ coi trong đạo Cao Đài tổ chức việc nhạc như thế nào. Một hôm, thầy tôi gửi cho tôi một bức thư trong đó có chép lại một bài cơ bút đã giáng xuống quy định cho tất cả nhạc trong Đạo Cao Đài. Lần đó tôi mới giựt mình thấy tất cả nhạc Cao Đài đều do nhạc trong dân gian Việt Nam, trong truyền thống Việt Nam đưa vào, không phải từ phương xa tới, không phải từ một nước ngoài đi tới. Chính từ trong dân gian mà đưa ra, …Tôi biết chắc căn bản âm nhạc Cao Đài như thế nào.
        Tôi mới hiểu tại sao có điệu ai, tại sao có điệu oán, tại sao có điệu xuân… Tất cả các điệu nhạc lễ đều có mặt trong Nghi lễ của Đạo Cao Đài mà còn là âm nhạc trong phong cách nhạc lễ miền Nam Việt Nam chứ không phải miền Trung hay miền Bắc nữa. Tức là âm nhạc trong đạo Cao Đài dựa vào âm nhạc truyền thống dân gian của miền Nam một cách rõ ràng”. (GS.Trần văn Khê-1996).
        12- Đạo Cao Đài còn tạo ra nét văn hoá vật chất độc đáo:
        Kiến trúc Tòa Thánh Tây Ninh và các Thánh thất Cao Đài với hai lầu chuông trống, có Tam Đài (Bát Quát Đài, Cửu Trùng Đài, Hiệp Thiên Đài) cùng mầu sắc, trang trí hoa văn kết hợp giữa truyền thống dân tộc và nét hiện đại đã trở thành một bộ phận trong cấu trúc văn hóa Việt Nam, đem lại bản sắc riêng của tôn giáo ra đời tại Việt Nam. Lối kiến trúc các ngôi thờ tự, đặc biệt là Đền Thánh, đã dung hợp một cách tuyệt vời lối kiến trúc của các mối Đạo thể hiện chủ trương của Đạo là Qui nguyên Tam giáo. Nhìn ngôi Đền Thánh Cao Đài tại Tây Ninh, người ta thấy rõ nét hình dáng các nhà thờ Phật giáo Ấn Độ, La Mã, Đạo giáo phương đông, Nhà thờ chính thống giáo Nga, v.v….Người Cao Đài ăn mặc theo truyền thống người Việt Nam, khăn đóng mầu đen, áo dài truyền thống màu trắng, thể hiện tánh trong sạch trong tư tưởng và trong sáng về hành động ở đời, nam để râu tóc, tạo ra dáng dấp bình dị, mộc mạc nhưng rất đáng kính trọng.
       Có thể nói, Đạo Cao Đài là tôn giáo có vai trò cốt yếu, nhất định trong các tôn giáo ở Việt Nam và đặc biệt có tác động tích cực đến văn hóa của cư dân miền Nam VN. Hình ảnh người tín đồ Cao Đài mặc áo dài trắng, với nét nguy nga của Tòa Thánh Tây Ninh và những Thánh Thất Cao Đài với hai lầu chuông, trống, chiếc thuyền bát nhã hình con rồng đưa vong linh tiễn biệt người quá vãng trong Đạo, tiếng kinh ngân nga theo điệu nam ai, nam xuân,… trở thành nét đẹp văn hóa của Đạo Cao Đài nói riêng và của nhân dân miền Nam nói chung. Nghi lễ dành cho người chết trong đạo Cao Đài đã thể hiện nét độc đáo nhất về mục đích phụng sự nhơn sanh với tính cách công bằng, bình đẵng như nhau giữa người giàu, người nghèo hay người cao chức trọng trong xã hội với người bình dân mộc mạc thấp kém. Nét bình đẳng đối xử trong Đạo Cao Đài thật đáng tôn trọng, quý báu. Đó mới thật là đặc tính của một tôn giáo chính danh, đối xử công bằng mọi giới.
        Tìm hiểu một số đặc điểm văn hóa trong Đạo Cao Đài giúp chúng ta thấy rõ hơn bản thể của một tôn giáo đã khai sinh ra tại Việt Nam với những đặc trưng tư tưởng, ý nghĩa nhân văn trong cuộc sống. Từ đó, mỗi chúng ta biết trân trọng những giá trị văn hóa của tôn giáo, cũng là giá trị triết lý nhân sinh của dân chúng miền Nam đã được quyện tụ lại trong Đạo Cao Đài. Đặc tính dung hợp của Đạo Cao Đài đã đào tạo người tín đồ tinh thần Hòa Đồng Tôn Giáo. Người Cao Đài thấy rất bình thường khi vào tham dự lễ đàn cúng trong Chùa Phật giáo, hay Nhà thờ Tin Lành, Thiên Chúa…không có cảm giác gì khó chịu hay bị cấm đoán. Các tôn giáo khác thì hoàn toàn không được. Bằng chứng khác, ngày lễ Phật Đản, Chúa Giáng Sanh là Đại lễ được tổ chức trọng thể trong Đạo Cao Đài.
                                TÍNH DÂN CHỦ TRONG ĐẠO CAO ĐÀI:
        
 Ngoài các đặc tính như nêu trên, cơ cấu tổ chức của Đạo CAO ĐÀI có một nét độc đáo nhứt, không giống bất cứ tổ chức của tôn giáo nào khác có từ xưa đến nay trên thế giới. Cơ cấu nầy được qui định rất rõ ràng trong Pháp Chánh Truyền (như là Bản Hiến Pháp của Đạo) được Ơn Trên ban hành vào đàn cơ ngày 26-10 năm Bính Dần (DL: 20-11-1926) và quyển Tân Luật vào ngày 02-11 năm Bính Dần (DL: 6-12-1926). Tinh thần của Pháp Chánh Truyền và Tân Luật rất tinh vi và linh diệu. Đó là tinh thần DÂN CHỦ và NAM NỮ BÌNH QUYỀN.
         Sơ lược có thể nêu ra 2 đặc điểm cách biệt của nền cai trị hành chánh trong tổ chức Đạo Cao Đài như sau:
         a/ Quyền TỰ DO DÂN CHỦ: 
 Quyền Tự Do Dân Chủ của nhơn sanh trong Đạo Cao Đài được tôn trọng và được gọi là “Quyền Vạn Linh”:
          Đức Chí Tôn là Đấng Tối Cao, Đấng sanh ra vạn vật muôn loài, thế mà Đấng ấy đã nói “Thầy là các con, các con là Thầy”, có nghĩa là Ngài đã ban đặc ân cho con người ngang bằng Ngài. Do đó, Ngài cho nhơn sanh có quyền lập ra Luật, tự kềm chế mình trong con đường tu. Nguyện ước của nhơn sanh, sau khi được Thượng Hội và Hội Thánh thảo luận đồng ý sẽ dâng trình lên quyền Chí Tôn phê chuẩn ban hành thành Luật, tất cả phải tuân theo. Nhơn sanh được quyền chọn lựa người cầm quyền hành chánh từ Hương Xã địa phương trở lên đến vị trí cao nhất trong nền Hành Chánh của Đạo, có quyền đề nghị tu chính hay bác bỏ các luật đương thời xét thấy không còn phù hợp trong Đạo. Có thể nói, các chức vị của Chức sắc, Chức việc từ hạ tầng cơ sở Đạo lên đến các chức phẩm tối cao như Giáo Tông đều có sự tham gia ý kiến công cử của toàn thể nhơn sanh. Điều nầy đã thể hiện quyền dân chủ trong cửa Đạo Cao Đài, mà từ xưa đến nay trên thế giới chỉ có một và chỉ một trong Đạo Cao Đài mà thôi.
           b/ Quyền NAM NỮ BÌNH ĐẴNG:
           Tính cách độc đáo thứ hai của Đạo Cao Đài là quyền Nam Nữ bình đẳng, Âm Dương hòa hợp mọi bậc tầng địa vị, một nét đặc biệt chưa hề có trong bất cứ tôn giáo nào khác kể từ khi nhơn loại có mặt trên quả địa cầu 68 nầy.
          Thật vậy, ngay vào đàn cơ ngày Khai Đạo năm 1926, Đức Chí Tôn Ngọc Hoàng Thượng Đế đã giáng truyền là “phải Thiên phong cho nữ phái và Khai tịch Đạo cho nữ phái”. Do đó, thi hành lời dạy tối cao, tối trọng nầy mà trong cơ cấu tổ chức Đạo Cao Đài, nữ phái đã và đang nắm giữ tất cả các chức phẩm từ Chức việc Hương Đạo cho đến hàng phẩm cao cấp như Phối Sư, Đầu Sư song song với Nam phái. Vị Nữ Đầu Sư trước tiên của Đạo là Nữ Đầu Sư LÂM HƯƠNG THANH. Việc ưu đãi nữ giới trong cơ cấu tổ chức Đạo Cao Đài là một đặc ân của Ơn Trên như lời dạy của Đức Lý Giáo Tông: “nam nữ vốn đồng quyền…” (TNHT/Q2/trang 286).
         Hai đặc điểm nêu trên đây đã thể hiện đúng và thật đầy đủ ý nghĩa của hai câu liễng được treo trước cửa Chánh vào nội ô Tòa Thánh Tây Ninh được xem như mục tiêu của Đạo Cao Đài do CHÍ TÔN khai mở cho nhơn loại vào thời kỳ ân xá lần thứ ba. Đó là:
        “CAO THƯỢNG CHÍ TÔN ĐẠI ĐẠO HÒA BÌNH DÂN CHỦ MỤC”,
         ĐÀI TIỀN SÙNG BÁI TAM KỲ CỘNG HƯỞNG TỰ DO QUYỀN”.
         Mục tiêu Hòa Bình Dân Chủ và quyền Tự Do ẩn chứa và đi sát với tổ chức và hoạt động của Đạo Cao Đài, một tôn giáo vừa có tính siêu việt căn bổn cổ kính khi Thượng Đế mới lập Đạo cho thế gian, lại vừa đi đầu về tính dân chủ của thời đại con người trong văn minh tiến bộ của nhân loại. Và dân tộc Việt Nam được Thượng Đế lựa chọn giao trách nhiệm để truyền bá chủ thuyết Đại Đồng Thế Giới để nhân loại chấm dứt mọi thù hận, ghét ganh, tranh đua, giết chóc, để cùng nhau sống trong Tình Thương Yêu của những anh chị em một nhà cùng Cha chung Thượng Đế. Đồng thời cũng thể hiện tính Dân Chủ trong tiến trình văn minh của nhơn loại. Thực hiện được như vậy, nước Việt Nam mới xứng đáng với lòng mong đợi của Người Cha Chung Thượng Đế là:
                             “Một nước nhỏ nhoi trong vạn quốc,
                               Về sau làm chủ mới là kỳ”. (TNHT)
         Làm chủ ở đây là chủ về Đạo Đức. Muốn thực hiện chu toàn nhiệm vụ thiêng liêng mà Ơn Trên giao phó, người tín đồ Cao Đài phải làm chủ cái tâm là giữ vững gốc Đạo và thực hiện cho được sự THƯƠNG YÊU, CÔNG BÌNH, DÂN CHỦ trong từng lời nói, mọi hành động mà quan trọng bậc nhất là trọn chữ THƯƠNG YÊU đó vậy. 
     
                                *                                                                                
                               (Tài liệu sưu tầm qua nhiều trang mạng)
__HT.Hồ Xưa sắp xếp, trình bày thêm và phổ biến. Kỷ niệm năm Đạo thứ 91_
 

Kính mời xem Thơ TÂM SỰ CÙNG TRĂNG của SÔNG THU và HỒ NGUYỄN HỌA

  THƠ: TÂM SỰ CÙNG TRĂNG Một đêm trăng sáng giữa vườn ngâu Thổ lộ cùng nhau mộng ước đầu Đôi lứa run run lời thệ nguyện Rụt rè, ấp úng chẳng...