Hiển thị bài đăng được sắp xếp theo mức độ liên quan cho truy vấn võ quang Yến. Sắp xếp theo ngày Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị bài đăng được sắp xếp theo mức độ liên quan cho truy vấn võ quang Yến. Sắp xếp theo ngày Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 16 tháng 11, 2021

Thư khóc tiễn vợ về nơi chín suối - Võ Quang Yến (Diển Đàn Forum )

Võ Quang Yến 


 

Một duyên, hai nợ, âu đành phận,
Năm nắng, mười mưa, dám quản công

Trần tế Xương

Lẳng lặng không một lời rên, không một tiếng khóc, sau buổi tắm ban mai, em nằm yên trên giường, thở đều đều như mấy ngày nay, rồi bất giác em tắt thở, bắt đầu giấc ngủ ngàn thu, không một lời từ giã, một lời trối trăng… thật ra mọi chuyện đã nói với nhau từ trước. Tuy nhiên anh không nghĩ em đi mau như vậy nên nghe lời gọi của cô điều dưỡng đến lượt anh đi tắm, đang thư thả hưởng dòng nước ấm chảy trên lưng thì cô khán hộ vào báo vợ anh vừa mới ra đi. Anh hỏi lại cho chắc chắn: nghĩa là bà chết ? Từ giã đột ngột, không một lời báo trước, anh không kịp nắm tay em tiễn biệt, thật đau lòng, mặc dầu từ nhiều ngày thấy em không chịu ăn, anh đã đoán trước nhưng không biết khi nào. Thế là em từ giã một cuôc sống chung hơn 60 năm, giữa gần đông đủ người thân thích lần lượt đến thăm em, nếu ở bênh viện thì là môt thân một mình. Em từ giã một cuộc khảo cứu khoa học hơn 30 năm trên cùng chung đề tài, trong cùng chung phòng thí nghiêm, cùng chia nhau một bàn giấy, với những nhóm sinh viên dự thảo luận tiến sĩ, anh trực tiếp điều khiển, em khai thác kết quả, đặc biệt quang phổ như một nhà vật lý học hơn là hóa hoc… Đúng ra, không bị cản trở thì em đã đi theo con đường vật lý, hợp với cách luận lý của em hơn. Nhưng ở đời có ai chỉ làm được những điều mình mong ước. Nói rộng ra em đâu có muốn theo đường hóa học, nếu đươc hoàn toàn chọn lựa thì có lẽ em đã theo ngành vật lý học hay…. y khoa. Sau nầy trong đời sống hằng ngày em theo dõi dễ dàng các bác sĩ và khi không có thầy thuốc một bên em cũng tháo vát tìm ra chất thuốc cho các con và hơn nữa trong ngành nghề, sau những cuộc khảo cứu căn bản, em đã theo anh kết hợp với nhóm sinh vật học, xông xáo vào cuộc tìm kiếm tổng hợp những hóa chất mới lạ có thể dùng làm chất thuốc kháng sinh… Hôm đi du lịch bên Căm Pu Chia, ông bác sĩ học bên Anh, không nói được tiếng Pháp, em làm thông ngôn giảng nghĩa bệnh tình và thuốc men dù không thông thạo tiếng Anh. Ngày nay học đại học, em thấy biết thêm tiếng Anh là cần thiết ! Có những lớp đại học thương mãi chỉ dạy toàn tiếng Anh.


Cha mẹ xa nhau, với cô em bé nhỏ hơn hai tuổi, bắt đầu từ năm tuổi, em đã biết tự lập là gì, biết lo lấy thân mình và em gái. Có Hội Hồng Thập Tự hỗ trợ, em được nuôi sống trong một gia đình nông gia nghèo cực nhưng lương thiện, giàu lòng bác ái, với một cách suy nghĩ về cuộc đời mộc mạc nhưng bổ ích, dạy cho em một cuộc sống vô tư nhưng ngay thẳng, một đường đời giúp ích hơn vụ lợi mà em không quên truyền lại cho con cháu từ thuở ấu thơ. Chính hai cô cháu nội thay nhau đọc điếu văn cho anh vì hôm lễ hỏa táng, anh quá nghẹn lời, nói không ra tiếng! Lúc còn nhỏ, em đã thích đọc, bất cứ sách gì nhưng ở nhà quê bên Pháp cũng như ở nước mình, đâu có thư viện công cộng, nhà sách rẻ tiền. Làng Champeau chỉ có một ngôi trường nhỏ do một cặp vợ chồng đảm nhiệm, bà dạy ba lớp dưới, ông phụ trách hai lớp trên. Chính ở ngôi trường nhỏ bé nầy em cùng nhóm học sinh với vợ con đầy đủ họp nhau lại một hôm cuối hè gần đây để tưởng niệm ông thầy xưa. Sau đó tất cả kéo nhau lên đồi đứng quanh nắm mồ không thánh giá trong một môi trường công giáo lâu đời. Trời thu dìu dịu, gió nhẹ đẩy bốc lên đồi cao lớp sương mù dày đặc các ao hồ vùng Morvan bao phủ mọi đồ đệ một thời xưa: linh hồn ông giáo, Monsieur Lacroute, người độc nhất trong làng đươc gọi là  « ông » gợi ý người biết chữ nghĩa, chắc không quên về đây đón nhận lời cảm ơn chân thật của bọn học trò cũ, không quên bài học thời sự trong thời chinh chiến trên tấm bản đồ đính sau bảng đen, dù học kém, dù nghịch ngợm, nay là công chức khắp nơi ; phát thư, cảnh sát, nhân viên bệnh viện… Học sinh bắt buộc đi đến trường, nhưng hễ có dịp là trốn nghỉ. Em dạy bổ túc cho bọn nó, trả công là bọn nó phải lục kiếm trong rương hòm hầm tra mọi giấy tờ báo chí đem lại cho em. Có hôm đang giữ bò em trèo lên cây có bóng mát đọc mấy trang báo cũ thì đàn bò phá hàng rào, bỏ chạy tứ tung, em bị một trận la rầy không quên được.

Không có tiền, không có gia đinh nâng đỡ, nhưng em nhắm mục tiêu học xa. Sau nầy biết em đau bệnh tim phổi, bác sĩ còn bảo em không được học nhiều, không được có con… Để lại ba đứa con thành tài, tám đứa cháu ngoan ngoãn, em đă cùng anh thách thức số phận. Đậu xong bằng tiểu học, em không có tiền vào ký túc xá trường trung học Saulieu. Thế là em phải ngồi lại lớp cuối trường tiểu học. Ông giáo dạy riêng cho em cái gì ông biết, nhất là toán học, sau nầy giúp ích em nhiều trong thi cử. Chuẩn bị ngồi lại một năm thứ ba năm cuối tiểu học, ông giáo trở thành thư ký xã, lấy tiền làng cấp cho em một học bổng tối thiểu (để trả tiền nội trú trường trung học), chuyện hiếm có thời bấy giờ. Đúng vào lúc ấy ba em hết chạy trốn vì một cái tên Kouscher do một bà mẹ không chồng chạy trốn loạn từ Ba Lan, để tên lại cho một đứa con trai ở một nhà đẻ Paris, hứa sẽ trở lại tìm con, nhưng không bao giờ trở lại. Mang tên có phát âm Do Thái đã có nghĩa là chống Đức, tương đương thời bấy giờ ở Pháp là quân kháng chiến, lại thêm một nguyên do khác, chống chủng tộc để không nói rõ, đứa con trai vô duyên bị quân Đức có cảnh sát Pháp hợp sức đuổi bắt mặc dầu ông chẳng biết gì về đạo Do Thái, hơn nữa như mọi trẻ con trong làng ông được rửa tội theo nghi lễ Công giáo. Ở Pháp giấy tờ thay đổi tên rất là phức tạp, khó khăn. Học sinh ưu tú, em được gởi làm sư gia tại nhà một ông kỹ sư hầm mỏ hằng năm đi nghỉ hè ở Bretagne, một dịp để em tiếp xúc với biển rộng mênh mông cũng như em lần đầu chiêm ngưỡng núi cao vời vợi khi theo anh lên Aussois nơi có nhà nghỉ của Trung tâm Khảo cứu Khoa học Pháp. Cha em lúc bấy giờ đã đi thêm một bước và có hai con gái. Ông nhận em và cô em về nhà, nghĩ hiến cho em một không khí gia đình. Ông biết em từ nhỏ không biết cái nóng ấm của cha mẹ, giờ đây ông muốn cho em sống lại những giờ em đã mất nhưng ông quên những điều kiện hiện tại của em được Hội đồng Hông Thập Tự và những hội đồng từ thiện khác giúp sống.

Từ nay em hết còn có tên trong hồ sơ mồ côi của các hội và những phụ cấp, quà cáp kèm theo. Hơn nữa, đi làm nhân viên bệnh viện, lương tiền eo hẹp, ông cha không thể bảo đảm một cuộc sống khá giả cho gia đình. Tuy nhiên em vẫn đeo đuổi mộng học hành. Em thành công giải quyết vấn đề bằng cách thi đậu vào trường Sư phạm giáo viên, luôn tiện thi bằng Tú tài, học bốn năm, ở ký túc xá, không tốn kém một xu nhỏ. Ở đời không có gì đẹp toàn vẹn. Học xong trường Sư pham giáo viên, mọi học sinh ưu tú tất yếu được học bổng theo tiếp trường Đại học Sư phạm. Em bị từ chối ngay từ đầu, sau nầy em được biết là cha em đã phủ quyêt, lấy lý do là em phải đi làm có nghề tự sống và giúp ông nuôi các em. Để bù vào năm nầy, họ ghi tên em học một lớp kỹ thuật sư phạm mà sau nầy em thấy rất bổ ích ngay cả ở đại học. Sau trường Sư phạm giáo viên, em được bổ làm giáo viên lớp mẫu giáo trường tiểu học Montfermel trước khi soạn thi đậu đầu (vào và ra) Trường Quốc gia Cao đẳng Sư phạm Cachan (tên mới của trường Cao đẳng Sư phạm Kỹ thuật), em lấy chồng ngay từ năm thứ nhất để tránh ký túc xá, lấy một ông chồng nghèo nhưng ham học như em, điều kiện cốt yếu để cùng em chia sẻ cuộc đời. Ở trường trung học Créteil em đã mở lớp kế toán và họa đồ cho học sinh nữ. Kết quả xuất sắc nầy về sau làm khó dễ cho em : bà hiệu trưởng không cho em rời trường đi học thêm lấy cớ là em « cần thiết cho trường » ! Xin trích một đoạn bài tựa của anh bạn giáo sư Cao Huy Thuần trong cuốn Gửi thương về Huế: Trong những bài viết của anh Võ Quang Yến được nhiều độc giả cảm mến là bài "Làm dâu xứ Huế". Anh viết về chị Liliane, vợ anh. Quyển sách này, anh đề tặng chị trước hết. Mấy chục năm trước đây, báo Bách Khoa ở miền Nam cũ có mở một đề tài kéo dài trong nhiều số liên tiếp về hôn nhân Việt-Pháp làm nhiều người trẻ thích thú theo dõi trong đó có tôi. Tất nhiên tôi hâm mộ những trường hợp thành công, tương đối hiếm, và ngậm ngùi lòng tự nhủ lòng nên rút kết luận từ những trường hợp kia, nhiều hơn, để cảnh giác. Qua Pháp, quen với vợ chồng anh Yến trong bao nhiêu năm, không lúc nào nhìn anh chị mà tôi không có cảm tưởng như đang đọc tờ Bách Khoa ở hồi hấp dẫn nhất : anh chị là những người hiếm hoi có khả năng làm tôi mất lập trường (*).

Ra trường em được bổ dạy toán trường Trung học Creil. Em còn nhớ cao 1m58, em thấp hơn đám học trò, bị xen lấn trong sân trường và không nghe rõ vì chúng nói toàn tiếng lóng ! Tuy lưỡng lự nhiều, được ông giáo sư hóa học cũ ủng hộ, được một người quen ở bộ Quốc Gia Giáo Dục chịu hy sinh một tấm hoành phi (ai bảo ở Pháp không có hối lộ ?) em được nhận vào làm tùy viên ở Viện Quốc gia Khảo cứu Khoa học. Nhưng em muốn trung thành với ngành giáo kỹ thuật nên xin chuyển qua làm Giáo sư trường Quốc gia Cao đẳng Hóa học Paris tiếp theo là Giảng nghiệm viên Đại học Paris VI làm em là người giảng dạy hầu hết các ngành giáo dục ; tiểu hoc, trung học, kỹ thuật, đại hoc. Với bằng tiến sĩ khoa hoc, lại là cựu Sinh viên trường Quốc gia Cao đẳng Sư phạm, và nhiều bài khảo cứu khoa học đăng trong các báo quốc tế, em xứng đáng được bổ nhiệm giáo sư đại học, nhưng vì bất đồng ý kiến giữa các giáo sư, em không đươc bổ, tuy trước khi về hưu, như để đền bù, họ tăng em làm giảng viên hạng ưu tú nghĩa là em có lương bổng, lương hưu như giáo sư nhưng không có hàm. Viện đại học Paris của bà Marie-Curie có tiếng là ít có giáo sư nữ. Về hưu, em tiếp tục học tiếng Việt ở Viện đại học Paris VII và văn minh ở Trường Thực hành Cao đẳng. Em thi đậu bằng Cử nhân văn minh và các tiếng Viễn Đông, thực hiện qua cuốn sách Chùa Thiên Mụ ở Huế (bộ Pénínsule). Em theo anh trên mọi nẻo đường, đặc biệt qua Mỹ thăm gia đình di tản, nơi tiếng Việt được nói trong mọi cộng đồng người Việt. Lẽ tất nhiên luôn ham muốn trau dồi trí thức và cũng vì thương anh, em cũng theo anh về Việt Nam, về làng nội Nam Phổ gần Huế, nơi em ngạc nhiên đọc tên mình trong cuốn sổ họ bắt đầu từ thế kỷ XVI ở nhà thờ Võ Quang, và về làng ngoại Mỹ Cang nơi anh và mấy anh sinh ra và sống lên thời niên thiếu. Lại xin trích anh Cao Huy Thuần : Hạnh phúc giữa anh chị là chiếc nhẫn cưới mà làng Mỹ Cang heo hút của xứ Huế xa xăm đeo vào ngón tay của chị mấy chục năm sau khi anh chị bước vào tình sử của báo Bách Khoa. Làng Mỹ Cang có thêm dâu, điều đó có nghĩa là cô dâu mới làm đậm đà thêm tình nghĩa thủy chung của anh Yến với nơi chôn rau cắt rốn. Anh Yến có hai mối tình : nước tôi và vợ tôi. Hai mối tình nhập với nhau làm một như nước một dòng của sông Ô Lâu chảy qua làng Mỹ Cang (*). Hôm lễ chung thất 49 ngày ở Phật đường Khuông Việt, sau kinh cầu nguyện của Thầy Thiện Niệm, bạn đồng môn ở Đại học Sorbonne, anh Thuần cũng có nhã ý vài lời tóm tắt mối tình của chúng ta, thật cảm động. Xin đa tạ.

Lễ An táng tại Nghĩa trang Sceaux

Anh đưa em về thăm thôn Mỹ,
Xem hàng cau soi bóng Ô Lâu,
Bụi la ngà cành tre giỡn nước
Lên Phường Trung qua một nhịp cầu

Với vốn liếng eo hẹp tiếng nói, em thử làm dâu, tiếp chuyện ngập ngùng nhưng tử tế bà con, khác hẳn với mấy bà đầm trước đây. Ở nhà quê, thường bà con quây quần quanh rổ sắn, mâm khoai, em tự nhiên bóc vỏ như khi cầm muỗng nĩa. Một bà hàng xóm nhìn em hồi lâu không biết tóc em vàng hay bạc, đứng dậy tới gần rồi bất thình lình đưa tay bóp vú xem em trẻ hay già làm mọi người cười vang… Dân quê ta bộc trưc là vậy. Trong những buổi gặp gỡ với những bạn đồng nghiệp, nhất là ở Hà Nội, các ông thường chỉ quây quần nói tiếng Việt ở phòng khách, quên đi mấy bà ở phòng sau, khi nghe em bật cười sau một chuỵện khôi hài tức thì mấy bà vén màn kéo em ra đằng sau: thì ra họ khám phá em hiểu được tiếng Viêt tuy ít nói! Cũng ở Hà Nội, hôm em đưa một nửa số khách du lịch thuộc hội Arts et Vie đi may sắm, họ khâm phục em trả giá bằng tiếng Việt. Cũng như hôm cùng về Việt Nam với cô con gái chúng ta, em mau chóng ra khỏi cửa khẩu Sài gòn ở Tân Sơn Nhất, lõm bõm vài chữ tôi chỉ nói được chút ít tiếng Việt, trước sự ngạc nhiên và khâm phục của gia đình…Hôm đi tham quan chùa Bà Chúa Kho, chị bạn giáo sư làm người hướng dẫn, dặn dò em cẩn thận vì kẻ gian nhiều trà trộn trong khách thập phưong, rút cuộc bao chị bạn bị cắt rạch may không mất mát gì. Hôm đi thuyền viếng Bích Động, trên đường về cô lái đò vui mừng trình bày những hàng hóa thêu đan may ra có khi bán được ít nhiều cho khách, em lập tức chọn mua những bức tranh mộc mạc đồng quê quí hơn cả những bức lòe loẹt đủ màu bán trên đường thành phố Hà Nội. Khi thuyền cập bến, nghe cô lái đò nói chuyện với bà con trên bờ em biết em có lý khi biết hàng bán là công lao của mấy cô trong thời gian được phép đi chèo thuyền và tiền bán là lợi tức của gần suốt cả mùa du lịch.

Bây giờ, mỗi lần về phòng thấy giường em trống rỗng, tim anh không khỏi se lại, bây giờ em ở đâu ! Theo trong triết lý nhà Phât, nghe nói sau bảy tuần em mới ra đi thật sự. Trên không gian Công viên Sceaux ? Sáng hôm chủ nhật anh thấy một bầy chim sẻ hay nhảy trên ban công phòng ta, có phải em đã gởi chúng lại thăm anh ? Không, 10 giờ em mới đi. Hay là bầy chim biết em sắp lên đường nên chực sẵn để hộ tống em về cõi hư vô ? Từ hôm chủ nhật ấy đến nay, anh không thấy một bóng chim nào nữa trên ban công! Chiều hôm qua, khi đang ngồi định tâm dưới bóng cây vải tây, thấy một con bồ câu cổ điểm nhiều màu tươi sáng bay lại kiếm ăn, anh nghĩ đến em những ngày lễ hội cũng mang khăn choàng lộng lẫy, nhưng nó không để ý đến lời mời tiếng gọi của anh, lại gần rồi đi xa, thế không phái là phải em Liliane của anh. Nếu em thư thả dạo chơi nơi chốn Bồng Lai Cực Lạc, hãy thả hồn chốc phút về cõi Trần gian. Có dịp bay trên bầu trời nhà nghỉ hưu hay trong vườn quen biết, chớ quên ra dấu cho anh, em vuốt nhẹ ngón chân anh như chúng ta đã cùng nhau từng hứa !…

Vĩnh biệt em Liliane yêu dấu.

Nhà nghỉ hưu La Faiencerie Thành Sceaux 11.2021

Võ Quang Yến

Mời Xem :TS Võ Quang Yến http://huehoc.com/hoi-vien/cac-nha-nghien-cuu-qua-cac-thoi-ky/tieu-su-vo-quang-yen/

 

Thứ Ba, 4 tháng 10, 2022

HÀNH TRÌNH QUA THẾ GIỚI BÊN KIA -Võ Quang Yến

Narayama, theo truyền thuyết, nơi ngự trị một vị thần, là một miền núi xa xăm, trong dãy cao đô Shinshu, Nhật Bản. muốn đạt đến phải vượt qua bảy thung và ba hồ, không cần thiết phải chìm đắm trong tuyết phủ nhưng tuyết rơi khi khách lại gần được xem là một điềm hay. Theo một bài hát truyền tụng dựa lên truyện kể ở một vùng nhiễm đầy chuyện hoang đường của núi rừng, đói khát ám ảnh, Núi rùng tiếp tục núi rừng, Tuyết rơi trắng xóa những ngày vận may … không có gì thực tế lịch sử. Có chăng là đôi mắt khảo cổ, phóng tầm nhìn về lịch sử nguyên thủy, quên mất tiến bộ, chìm đắm trong trong thái hoang dã, đưa chuyện phim hoang đường vào một quý tộc nguyên thủy nhưng qua một môi trường trung cổ, băng giá. 

Thật ra có hai dịp trèo núi Nara, dịp thứ nhất là đi làm việc, kiếm củi đốt than, nấu cơm, dịp thứ hai hiếm hơn là đi tìm lại thây xác ông bà cha mẹ hay đúng hơn xương cốt còn lại sau khi chim chóc lục lọi tìm bới thức ăn trên cơ thể khi chưa hư hỏng. Trong một thế giới luôn bị chuyện thiếu ăn ám ảnh, truyện đặt ra một phụ nữ biết lo cho tương lại con cái, từ đấy sinh ra một cảm giác sinh tử lẫn lộn. Công viêc làm ăn mệt nhọc chỉ đủ để nuôi sống gia đình, Người con trưởng Tatsuhei mất vợ để lại ba con trẻ, nhờ mẹ đem về một cô gái góa chồng Tamayan ở làng bên cạnh, không đẹp, người dong dỏng cao, không chỉ để thế vợ nuôi con mà còn để là thế người đàn bà cho cả trai trẻ làng xóm. Một hôm ngồi một mình với cô dâu mới, bà Osin không quên dặn phải dành mỗi tối cho một con trai trong làng. Trong lúc chờ đợi bọn trẻ không chần chừ nối đuôi nhau đến tạm vui với con chó cái nếu không có một bà nào chịu khó hiến thân một tối. Truyện tuy xưa nhưng trong nhân loại từ thuở nào bao giờ cũng có chút tình. Trong phim nầy chuyện tình chính xúc động nhất là hai mối tình mẹ con thể hiện khi mẹ con phải vĩnh viễn rời nhau. Tatsuhei bịn rịn không muốn rời mẹ đã mang nặng chín tháng và nuôi mình đến khi trưởng thành có con cái. Mẹ Osin không mạnh dạn xô con ra, tình mẫu tử dù sao cũng sau vài chục năm không cho phép bà thờ ơ với quyến luyến của đứa con nhưng rút cuộc cũng nhè nhẹ đẩy con ra. Đứa con biết mình đã hại cha, bây giờ đây đang giết mẹ, rồi vài chục năm sau cũng sẽ lại đến phiên mình được cõng lên đây làm mồi cho chim chóc trước khi phơi mình dưới tuyết lạnh nếu không có chút mặt trời sưởi nóng bộ xương, rồi như những hài cốt khác tàn rã thành xương vụn như mình đang đạp dưới chân : một biến chuyển không ngừng không sai thế hệ nầy qua thế hệ khác, trừ phi… mà làm sao họ biết được, chúng ta đã thay đổi vũ trụ, không còn có thần, ma, quỷ, quái, hết còn bị hay được cõng trên lưng lên núi Nara cuối đời.
 
Đêm trước lúc trèo núi bà Osin đãi một tiệc rượu, đã soạn từ lâu, mời những ngưỡi đã từng leo núi Nara, đúng ra chỉ là một hũ rượu saké uống chung mọi người chuyển tay nhau tùy theo chỗ ngồi trong bàn, uống một ngụm rồi kể chuyện mình biết về cuộc hành trình : đi vòng quanh hồ, leo núi, trượt bổ, chặt dây dài cột vào thân cây nằm để níu vào tiến lên,… hay đọc một câu dặn, lời khuyên : không được chuyện trò, quay mặt ngó lui khi đã rời bước,… ông bạn có lẽ già nhất, thủ thỉ khi ra khỏi phòng « lại gần và quá mệt không tiến lên được nữa thì để lại đó, không ai biết đâu ! » Thế rồi suốt buổi sáng không tuyết, người con trưởng cõng mẹ trên lưng, ngồi trên một chiếc ghế lật ngược, đứng phía trước chỉ thấy mái tóc bạc sau đầu người con và ở dưới hai bàn chân không tất đu đưa. Ở trên, một bàn tay đặt trên vai, khẽ đập nhẹ khi bà muốn dừng lại đưa một thông tin gì hay, hễ người con không nghe thì bà lay mạnh chiếc ghế. Có khi bà biếu gói bánh, anh lắc đầu. Có khi anh dừng bắt một con chim trong tổ rồi thả đi, trở về chỗ cũ thì không tìm ra mẹ nữa : « Mẹ đã trở lại trên đường về ? » Anh không kịp trả lời thì thấy mẹ bên kia hố… hoảng hồn vì mẹ đang còn đó, cùng mình trên đường lên núi Nara, không bỏ cuộc đi dọc đường. Sau cùng, bắt đầu trèo núi thì cũng hết đường mòn, khách phải tìm lối đi trong trong bãi đá đầy xương, xương tay chân, sọ ngưởi, tự do lẫn lộn từ các bộ xương chưa gãy, chim chóc, nhất là quạ đen đã mặc sức lục phá, tìm chút mồi còn lại. Người con lấy chân đánh gãy bộ xương để hết còn mục kích một cảnh đau lòng, đàn quạ bay đi, để lai những tiếng kêu thất thanh, hoảng sợ. 

Dùng dằng mãi rồi cũng phải ra đi. Bà Osin can đảm trước đẩy con còn đang ôm chùm lấy mẹ ra : tình mẫu tữ sao mà quý hóa vậy ! Anh ra đi, lòng muốn ngoảnh lại nhưng phép tắc không cho, anh đành cúi đầu thong thả xuống núi. Tuyết vẫn không rơi. Xuống được một chặng đường, Tatsuhei dừng lại nhìn xuống bên dưới, môt cặp mẹ con như anh, không đồng ý cãi nhau, lên tiếng xô xích, bà mẹ nai nịt chắc chắn bị rơi xuông đất rồi lăn xuống hố. Có lẽ sâu vì người con không xuống tìm. Tuyết bắt đầu rơi. Anh nghĩ lại mẹ đang ngồi dưới tuyết trên chiếu cũ hàng ngày. Anh chạy ngược lên, không xa lắm đủ để thấy mẹ đàng xa, ngồi yên trên chỗ cũ, hai tay chắp lại như đang cầu niệm. Bà cũng thấy anh, vẫy tay như bả khuyên anh về đi : lần nầy anh thật lòng về vì tuyết đã rơi, điềm tốt ! 


 
 
楢山節考

Võ Quang Yến

Nhà dưỡng lão La Faiencerie thành Sceaux 9.2022

Thứ Bảy, 2 tháng 10, 2021

ĐẠO ĐỨC VĂN ĐÀN

« Đạo Đức Văn Đàn » do ngài Cao Tiếp Đạo, tục danh Cao Đức Trọng, bút
tự Huyền Quang, Chánh Đức, đứng ra thành lập vào năm 1950. Hoạt động
được hai năm thì ngưng, vì ngài trưởng ban bận lo việc đạo.

Đến năm 1957, ngài bảo pháp Nguyễn Trung Hậu, bút tự Thuần Đức, phục
hồi sinh hoạt văn đàn đạo đức, đảm nhận trọng trách trưởng ban, để
giáo hóa anh em phó trưởng ban là vị phối sư Thái Đến Thanh, tục danh
Huỳnh Văn Đến, tự Thông Quang. Nhưng văn đàn hoạt động cũng không lâu,
chỉ hơn một năm thì ngài bảo pháp Thuần Đức Nguyễn Trung Hậu, tuổi già
sức yếu lui về tư gia dưỡng bệnh, rồi quy thiên vào ngày 7 tháng 9 năm
Tân Sửu (16.10.1961).

Một thời gian sau, văn đàn Đạo Đức nhóm đại hội, bầu ngài hiến pháp
Trương Hữu Đức, tự Thân Dân làm cố vấn, cụ phối sư Thông Quang Huỳnh
Văn Đến làm trưởng ban, ông Chơn Nhơn Phạm Mộc Bổn, tự Phước Huệ, làm
phó trưởng ban. Văn đàn hoạt động được chừng đôi năm rồi cũng dừng
bước tiến thủ.

Mãi đến tháng 7 năm Kỷ Dậu (1969), Đạo Đức Văn Đàn mới hoạt động trở
lại, dưới sự trông nom của cụ Thông Quang. Thành phần tổ chức theo nội
quy, gồm có : ban kiểm duyệt, ban ấn loát, thủ bổn, tổng thư ký và phó
tổng thư ký.

Ngày mùng 3 tết năm Kỷ Dậu là ngày họp đầu năm của văn đàn, được nhà
thơ lão thành Lâm Tuyền Võ Trung Nghĩa và nhà thơ Hà Ngọc Dư đến tham
dự. Ông Võ Trung Nghĩa vốn là người từng làm môi giới cho anh em thi
nhân chân thành gần anh em trong Đạo Đức Văn Đàn. Trong buổi họp ông
Hà Ngọc Dư đọc một bài thơ mừng văn đàn Đạo Đức : Tao đàn hội hữu đã
từ lâu

Tôi đến đây là kẻ đến sau

Cao thượng từng nghe vang một đạo

Đài tiền chợt thấy sáng muôn màu

Nhu hòa điệu nhạc tơ vờn trúc

Réo rắc dòng thơ ngọc kết châu

Nhắn nhủ những ai mong thoát tục

Tìm tiên đây vậy biết tìm đâu

Dứt lời, ông Hà Ngọc Dư tỏ vẻ tiếc phải xa anh em, vì phải đi Mỹ Tho.
Nhà thơ Thái Phong thay mặt anh em trong nhóm họa lại ngay :

Ngọn bút thần giao mộ bấy lâu

Duyên văn tao ngộ trước hòa sau

Thi hương ngào ngạt hoa phô gấm

Xuân tứ trau tria cảnh rỡ màu Một áng giai chương lời nhả ngọc

Năm vần tình cảm nét phun châu

Non sông nước Việt thanh bình lại

Muôn dặm, đường xa chửa mấy đâu.

Tóm lại, văn đàn Đạo Đức cũng đã làm khởi sắc cho Tây Ninh chẳng ít.
Anh em trong nhóm sáng tác rất dồi dào. Riêng về hai cụ trưởng ban đầu
tiên của văn đàn đã có những tác phẩm xuất bản đáng kể. Các tác phẩm
của cụ Thuần Đức, Nguyễn Trung Hậu :

- Tiên thiên tiểu học

- Châu trân giải

- Đại đạo căn nguyên

- Luận đạo vấn đáp

Cụ Thông Quang Huỳnh Văn Đến thì có những tác phẩm :

- Giảng đạo chơn ngôn

- Văn thi hiệp tuyển (trọn bộ hai quyển) - Giác thế tu chơn (tập 1 tập 2)

Để thưởng thức tài thơ của cụ Thuần Đức và Thông Quang, chúng tôi xin
nêu một vài bài làm nét điển hình :

Thuở còn tranh đấu ngoài đời, cụ Thuần Đức từng nổi tiếng với bài thơ
dí dỏm « Gái lấy chồng Chà » theo vận Chà và la ma tà :

Chẳng thiếu chi trai lại lấy Chà

Ăn cơm chẳng có đũa mà và

Dầu mè em bận vui lòng ướp

Thịt mỡ anh chàng thấy sợ la

Gần ngắm da đen in hịt quỉ

Xa trông răng trắng ngỡ như ma

Mười hai bến nước khuyên ai liệu

Phòng cậy nhờ nhau buổi xế tà

Xem như thế, đủ thấy « Đạo Đức Văn Đàn » rất cần góp mặt trên văn đàn
Việt Nam nói chung, và trên đàn văn Tây Ninh nói riêng, để tô điểm cho
vườn văn hóa dân tộc những đóa hoa thơm bát ngát.

Những nhà văn, nhà thơ có tuổi ở Tây Ninh hiện nay vẫn còn nhiều.
Chúng tôi hân hạnh được biết quý ông : Hi Đạm Nguyễn Hữu Trí, Lâm
Tuyền Võ Trung Nghĩa, Hàn Y Nguyễn Ngọc Diệp, ngữ pháp Nguyễn Văn Tâm…

Nhà thơ Hi Đạm, cựu giáo viên, người hay trầm ngâm, khiêm tốn, thích
khảo cứu sách vở. Tạp chí, sách, báo nào xuất bản ông cũng đều mua. Tủ
sách của ông đủ loại, cả Pháp, Việt, Hán đều có, như một thư viện nhỏ,
không thiếu thứ nào. Ông vốn là bạn thân của cố thi sĩ Đông Hồ Lâm Tấn
Phát. Văn tài của ông từ mấy mươi năm trước đã từng được văn giới khen
ngợi, xem như bật cự phách trên đài thơ. Nhất là bài thơ « Mười bốn »
của ông và các bài thơ khác đăng tải trên tuần báo « Sống » do cố thi
sĩ Đông Hồ chủ trương, vang tiếng một thời.

Nhà thơ Lâm Tuyền Võ Trung Nghĩa vốn là miêu duệ cụ Võ Văn Sâm tức Võ
Sâm danh sĩ Tây Ninh thuở trước, hiển nhiên văn tài của ông có thừa
phong độ hướng dẫn đàn em hậu tiến. Năm nay 75 tuổi, sức vẫn khỏe
mạnh, văn thơ sáng tác vẫn thao thao bất tuyệt. Năm Tân Hợi vừa qua,
trong tuần tuổi 74, ông cảm thấy đầy khí phách phong nhã đạm :

Tuổi trời mới thọ bảy mươi tư  Khí phách hiên ngang sức vẫn cừ

Cao thấp cuộc cờ nhiều nước hiểm

Dằng dai máy tạo mấy năm dư

Vui duyên nghiên bút nhờ chung rượu

Nặng nợ non sông sẵn túi thư

Mặc khách tao nhân ai nghĩ đến

Mừng xuân xướng họa lão đâu từ

Đâu từ xướng hoạ bạn xa gần

Vốn liếng ăn thua có mấy vần

Bạc biển tiền rừng hao thể xác

Mực tàu bút sắt dưỡng tinh thần

Đường danh nẻo lợi nhiều quan khách

Thi xã văn đàn hiếm vĩ nhân  Tuổi thọ chất chồng, chồng chất nợ

Nợ phong lưu mãi nặng vào thân.

Còn như các nhà thơ Hàn Y Nguyễn Ngọc Diệp, Thái Phong, Phan Yến Linh,
Từ Trẩm Lệ, Yên Giang Nguyễn Khắc Chánh… cũng đều được giới thi hữu
bốn phương nghe tiếng ít nhiều trong sách báo.

Nhà thơ Thái Phong, soạn giả quyển « Linh sơn thắng cảnh » xuất bản
năm 1968, lời thơ điêu luyện chẳng kém chi ai, ý khí cao nhã từng bộc
lộ trong văn thơ sáng tác. Trong thuở thanh xuân bạn vẫn đã ngụ lòng
trong bài thơ ký thác nhan đề là « Cục đá » :

Từng nêu tuổi đá biết nhường ai

Sánh với gươm đao đủ sức tài

Đất lấp ngàn tầm hình vẫn đượm

Nước chôn vạn trượng vóc nào phai

Vầng to hợp lại gầy non núi

Ngọc ẩn bên trong đời khó hiểu

Mưa tuôn gió thổi chẳng trôi bay.

Thi sĩ Yên Giang Nguyễn Khắc Chánh với tập « Mưa phổi » xuất bản năm
1969, làm rung chuyển được tâm hồn hằng nghìn bạn yêu thơ. Bài thơ «
Mùa phổi » của bạn sáng tác đăng trên tạp chí « Mai » năm 1962, gây
xúc động muôn vàn cho bạn đọc. Chúng tôi xin trích những hàng dưới đây
:

Đôi dòng sông máu chảy ra môi

Trong ấy vi trùng lặng lẽ bơi

Tiếng hú đâu đây nghe rợn gáy

Hình như thần chết gọi hồn tôi

Đưa tay tôi áp lên lồng ngực

Cố giữ cho đừng rạn nứt ra

Để mắt khỏi nhìn – ôi ! khiếp lắm

Từng cơn mưa phổi lặng lờ sa

Than ôi ! đau đớn và đau đớn 

 Lồng ngực là trời, phổi là mây

Những tiếng ho dài là bão tố

Vi trùng đục phổi thành mưa bay

Thể xác im lìm trong bão tố

Linh hồn lạc lõng tự nơi nao

Giữa cơn mưa phổi tôi không tỉnh

Nhưng hẳn toàn thân tôi đớn đau

Biết kẻ làm thơ là khốn khổ

Nhưng thân tằm phải trả nợ dâu

 Cho nên trong những cơn mưa phổi

Toan bỏ thơ mà bỏ được đâu

Tảng bè rời ra tạo lũy đài

 

DungHoKhanh chuyển 

Thứ Ba, 15 tháng 5, 2018

TIN BUỒN VÀ PHÂN ƯU ( Chị Võ Ngọc Diệp tạ thế 11/5/2018 )

CHIA BUỒN
         Chúng tôi vừa nhận tin buồn:
                                Đạo Hữu VÕ NGỌC DIỆP
                                  Cựu Học Sinh Tỉnh Tây Ninh
                       Nguyên Giáo viên Trường Cộng Đồng Long Hoa Tây Ninh 
                          Là Hiền nội của Hiền Huynh Trần Công Bé
       Đã qui vị vào chiều Thứ sáu, ngày 11 tháng 5 năm 2018  (Nhằm ngày 26 tháng 3 năm Mậu Tuất) tại Dallas Fort Worth, Texas, Hoa Kỳ vì bịnh.
                                    Hưởng thọ: 77 tuổi
       Chúng tôi xin thành thật chia buồn cùng Hiền Huynh Trần Công Bé và các cháu, cùng tang quyến.
      Cầu nguyện Đức CHÍ TÔN, Đức PHẬT MẪU và các Đấng Thiêng liêng độ dẫn Chơn linh Cố Đạo Hữu VÕ NGỌC DIỆP siêu thăng tịnh độ.
                                  THÀNH KÍNH CHIA BUỒN
                                     Ngày 27 tháng 3 năm Mậu Tuất
                                               (DL: 12-5-2018)
                      Hiền Tài Nguyễn Chánh Giáo và gia đình (New South Vales-Úc)
                      HH.Dương văn Ngừa và gia đình (San Jose-Cali-Hoa Kỳ)


                      HT.Hồ văn Xưa, vợ và các con cháu (San Jose-Cali & Austin-Texas-Hoa Kỳ)
                      CTS.Nguyễn công Tranh, vợ và các con (Dallas Fort Worth-Texas-Hoa Kỳ)
                          
            
                 PHÂN ƯU

         Chúng tôi vừa nhận tin buồn, hiền-thê của Đạo Huynh Trần Công Bé, là:
                              
                    Đạo Hữu VÕ NGỌC DIỆP
                              
                  Cựu Học Sinh Tỉnh Tây Ninh
                            Nguyên Giáo viên Trường Cộng Đồng Long Hoa Tây Ninh
                  Đã qui vị vào chiều Thứ sáu, ngày 11 tháng 5 năm 2018  
    (Nhằm ngày 26 tháng 3 năm Mậu Tuất) tại Dallas Fort Worth, Texas, Hoa Kỳ.
                                                      Hưởng thọ: 77 tuổi
 Chúng tôi thành kính chia buồn đến Đạo Huyngh Trần Công Bé cùng tang gia hiếu quyến.
 Nguyện cầu Đức CHÍ-TÔN, Đức PHẬT-MẪU, và các Đấng Thiêng-liêng độ dẫn Chơn-linh
 Cố Đạo-hữu VÕ NGỌC DIỆP được siêu-thăng tịnh-độ về cõi Thiêng-liêng Hằng-sống.
                                          THÀNH KÍNH PHÂN ƯU

                                        Đạo Đệ Đỗ Thanh Hải và Gia Đình, Austin, Texas

Chia Buồn
Chúng tôi nhận tin buồn:
Hiền tỷ VÕ NGỌC DIỆP
Hiền thê của hiền huynh Trần Công Bé
Đã qui vị vào chiều ngày 11 tháng 5 năm 2018
Nhằm ngày 26 tháng 3 năm Mậu Tuất
tại Dallas Fort Worth, Texas, Hoa Kỳ
Hưởng thọ 77 tuổi
Chúng tôi xin thành thật chia buồn cùng hiền huynh Trần Công Bé,
các cháu và tang quyến.
Cầu nguyện Đức CHÍ TÔN, Đức PHẬT MẪU và các Đấng Thiêng liêng độ dẫn
Chơn linh  Hiền tỷ VÕ NGỌC DIỆP
Siêu Thăng Tịnh Độ.
THÀNH KÍNH PHÂN ƯU
                                                                                            
          GĐ Nguyễn Lý Sáng - Nguyễn thị Yến (Nam Cali)


          GĐ Phạm văn Minh và Nguyễn thị Mừng (Nam Cali )                                                                          


                                          CHIA BUỒN:
Kính anh Trần Công Bé,
       Chúng tôi vô cùng thương tiếc khi nghe tin buồn chị Bé, ĐH.VÕ NGỌC DIỆP, một bạn Đạo rất dễ thương và hiếu khách, khi nhớ lại có lần chúng tôi đến thăm TT Dallas Fort Worth (Texas) trước đây.
       Kính xin góp lời cầu nguyện cho linh hồn chị VÕ NGỌC DIỆP, sớm siêu thăng trở về cựu vị nơi cỏi Thiêng Liêng Hằng Sống cùng Thầy Mẹ.
       Chúng tôi xin thành kính phân ưu cùng anh và tang gia hiếu quyến.
                                         THÀNH KÍNH CHIA BUỒN
Thân kính,
                                       Westminster Cali, ngày 12-5-2018
                               TRẦN QUANG CẢNH & VÕ KIM THOÀN

Thứ Sáu, 21 tháng 4, 2023

Tạp Ghi và Phiếm Luận : HƯ CẤU trong võ hiệp KIM DUNG. (8)

Tạp Ghi và Phiếm Luận :  

                       HƯ CẤU trong võ hiệp KIM DUNG (8)
                               (Lý thú, Hấp dẫn, Khúc Chiết, Bất ngờ. )
                    

                                                 Giang Nam Thất quái

Truyện võ hiệp Kim Dung còn làm cho người ta cảm thấy lý thú, hấp dẫn với những tình tiết dí dõm bất ngờ, như cách đặt tên và danh hiệu cho các nhân vật; chẳng hạn trong truyện "Thiên Long Bát Bộ 天龍八部" có "Tứ Đại Ác Nhân 惡人" là :

      - ÁC Quán Mãn Doanh 貫滿盈 là Tội Ác đầy cả trời đất : Đoàn Diên Khánh 段延慶. Ông là cha đẻ của Đoàn Dự.
      - Vô ÁC Bất Tác 無不作 là Không có cái ác nào mà không làm : Diệp Nhị Nương 葉二孃. Bà là mẹ của nhà sư Hư Trúc.
      - Hung Thần ÁC sát 凶神煞 là Ông thần hung ác dữ dằn : Nam Hải Ngạc Thần 南海鱷神. Ông muốn thu Đoàn Dự làm đồ đệ, kết cục phái bái Đoàn Dự làm sư phụ.
      - Cùng Hung Cực ÁC 窮凶極 là người Hung dữ ác độc hết mức : Vân Trung Hạc 雲中鶴. Rất giỏi về khinh công và cũng rất háo sắc.
      Ta thấy :
      - Người Ác thứ nhất thì ngoại hiệu có chữ ÁC đứng đầu : ÁC Quán Mãn Doanh.
      - Người Ác thứ nhì thì ngoại hiệu có chữ ÁC đứng nhì : Vô ÁC Bất Tác.
      - Người Ác thứ ba thì ngoại hiệu có chữ ÁC đứng ba : Hung Thần ÁC sát.
      - Người Ác thứ tư thì ngoại hiệu có chữ ÁC đứng tư : Cùng Hung Cực ÁC.
      
     Kim Dung đã rất dụng tâm khi tạo ra ngoại hiệu cho Tứ Ác Nhân nầy, khiến người đọc khi nhận ra thì cảm thấy thật lý thú.

     Chương mở đầu trong Truyện "Ỷ Thiên Đồ Long Ký 倚天屠龍記" có "Côn Luân Tam Thánh 崑崙三聖". Ai cũng tưởng đó là "Ba ông Thánh ở núi Côn Luân", ngay cả nhân vật trong truyện là Quách Tương cũng tưởng là thế; Ai ngờ Côn Luân Tam Thánh chỉ có một người giỏi cả ba môn CẦM, KIẾM, KỲ; là Cầm Thánh, Kiếm Thánh và Kỳ Thánh; có nghĩa : Người nầy đàn thật giỏi là Thánh ở môn đàn cầm; Kiếm pháp thật hay là thánh về kiếm pháp và Đánh cờ thật siêu, là ông thánh của cờ vây. Nhưng lại có cái tên nghe thật khiêm tốn là họ HÀ, tên là TÚC ĐẠO, là HÀ TÚC ĐẠO 何足道.
     HÀ 何 là : Sao mà; TÚC 足 là : Đủ để; ĐẠO là : Nói đến. Vừa hiệu vừa tên đọc liền một dãy thành :"CÔN LUÂN TAM THÁNH HÀ TÚC ĐẠO 崑崙三聖何足道"; Có nghĩa :"Sao có thể nói được là Công Luân Tham Thánh chớ ?". Nghe bề ngoài như rất khiêm tốn nhưng trong thâm tâm cũng có ý rất tự cao, tự hào :"Tại mọi người gọi tôi là Tam Thánh chớ tôi không dám tự xưng đâu nhé !".
     Côn Luân Tam Thánh HÀ TÚC ĐẠO là ông Tổ khai sáng ra phái Côn Luân sau nầy, cũng như Quách Tương khai sáng phái Nga My, Trương Quân Bảo (Tam Phong) khai sáng phái Võ Đang trong truyện Ỷ Thiên Đồ Long Ký vậy.

     Còn trong TIẾU NGẠO GIANG HỒ 笑傲江湖 thì có HOÀNG HÀ LÃ TỔ 黃河老祖. Mới nghe ai cũng tưởng chỉ có một người, nhưng thật ra đến hai người, là cặp bài trùng : Lão Đầu Tử 老頭子, người bào chế ra Tục Mệnh Bát Hoàn để cứu con gái; và Tổ Thiên Thu 祖千秋, chuyên gia về rượu và ly chén dùng để uống rượu.
     TỔ THIÊN THU 祖千秋, Họ TỔ 祖 tên TÔNG 宗. TỔ TÔNG 祖宗 là Ông bà Ông vãi; hiệu là THIÊN THU 千秋. Tổ Thiên Thu là Ông Tổ của ngàn thu ngàn năm.
     LÃO ĐẦU TỬ 老頭子, Họ LÃO 老 tên GIA 爺, ai cũng phải kêu bằng LÃO GIA 老爺, là Ông Nội, Ông Chủ; hiệu là ĐẦU TỬ 頭子, Lão Đầu Tử là : Ông già, Ông Cha, kêu theo kiểu bình dân. Lão Đầu Tử có cô gái vì tiên thiên bất túc bệnh rề rề suốt năm, nên ông ta đi khắp nơi tìm đủ loại được thảo quý hiếm để bào chế ra Tục Mệnh Bát Hoàn cho con gái tiếp tục kéo dài sinh mạng. Ông sợ con gái của mình chết yểu, nên đặt tên cho cô ta là LÃO BẤT TỬ 老不死; Có nghĩa là :"Đến già cũng không chết"! Cái con nhỏ bệnh ế rề rề mà lại có tên là "Đến già cũng không chết!). Làm cho ta nhớ lại BAO BẤT ĐỒNG 包不同 (Bao Bất Đồng có nghĩa : Bảo đãm không đồng ý!), người mà mở miệng ra là nói ngay bốn chữ "Phi dã, phi dã 非也,非也!"(Không phải, không phải đâu!). Bao Bất Đông có cô con gái tên là BAO BẤT TỊNH 包不靚. TỊNH 靚 là đẹp một cách lộng lẫy. Nên BAO BẤT TỊNH 包不靚 có nghĩa :"Bảo đãm không đẹp lộng lẫy chút nào cả !". Con gái ham đẹp mà lại có tên là : Bảo đãm Không đẹp chút nào cả !... Thì quả thật là tếu lâm !

      Qua các cách đặt tên hiệu ở trên, cho ta thấy Kim Dung vừa hài hước và cũng vừa sâu sắc một cách dí dõm, làm cho người đọc vừa hụt hẫng vì đoán sai lại vừa cảm thấy thích thú khi phát hiện ra sự thật.
      Hà Túc Đạo                   Lão Đầu Tử                     Tứ Đại Ác Nhân           Bao Bất Thiện       
            
Tiểu thuyết võ hiệp Kim Dung còn hấp dẫn ở chỗ vượt qua khỏi những mô hình cổ điển "CHÍNH luôn thắng TÀ". Kẻ gian tà tuy võ công lợi hại nhưng rốt cuộc luôn bị bại bởi những người chính trực. Cứ rập khuôn như thế thì đọc riết cũng đâm ra thấy chán. Kim Dung đã bức phá ra khỏi cái khuôn khổ đó. Như trong "Tuyết Sơn Phi Hồ" và "Phi Hồ Ngoại Truyện" có Hồ Nhất Đao 胡一刀 là một anh hùng bản sắc chính trực lại trúng phải âm mưu ám toán của kẻ tiểu nhân thoa thuốc độc lên đao mà vong mạng; Còn kẻ tiểu nhân thất đức là Điền Quy Nông lại có được một ngoại mạo bề ngoài thật đoan trang tuấn tú, làm cho vợ của Miêu Nhân Phượng phải bỏ nhà đi theo. Còn trong "Xạ Điêu Anh Hùng Truyện" thì kẻ ác Tây Độc Âu Dương Phong không có bị người quang minh chính trực là Cửu Chỉ Thần Cái đánh bại, mà ngược lại Hồng Thất Công lại bị ông ta hại cho mất hết võ công. Những kẻ thuộc phe phản diện ác độc gian tà như Âu Dương Khắc, Dương Khang không phải do phe chính trực sát hại mà đều chết do tay của những người gian ác. Âu Dương Khắc bị Dương Khang giết, Dương Khang chết là do chất độc rắn của Âu Dương Phong. Còn Giang Nam Thất Quái chuyên hành hiệp trượng nghĩa, thì sáu người đều bị chết về tay của kẻ xấu. Kim Dung đã đặt những nhân vật của mình vào một hoàn cảnh lịch sử khắc khe. Như Thành cát Tư Hãn đánh tới đâu là tàn sát giết hại dân lành tới đó, đã ép buộc Quách Tĩnh đem binh đi đánh nhà Tống khiến cho mẹ của Quách Tĩnh phải tự sát, nhưng ông ta vẫn hoàn thành đại nghiệp Đế quốc Mông Cổ của mình, trong khi Quách Tĩnh là người dân lành chính trực cũng phải chịu bó tay mà không thể vãn hồi đại cục cho được...

     Kim Dung thường tổng hợp nhiều mô hình tiểu thuyết võ hiệp, như "Mô Hình Phục Thù 復仇模式" như con báo thù cho cha mẹ, đệ tử báo thù cho sư phụ... "Mô Hình Tranh Chấp 爭執模式" như tranh giành kho báu, tranh giành bí kíp võ công, Tranh giành Bảo đao Bảo kiếm hoặc Linh đơn diệu dược... rồi thêm vào những tình tiết thường thấy, như trên đường phục thù lại yêu nhầm con cái hay đồ đệ của kẻ thù. Ngoài ra còn có các mô hình khác như "Tranh Hùng 爭雄" xưng bá võ lâm, "Phục Ma 伏魔" trừng trị kẻ ác, "Kháng Bạo 抗暴" phản kháng chống lại bạo lực, bạo quyền, "Ngôn Tình 言情" tả lại những mối tình lãng mãn, những mối tình vượt lễ giáo... Như...
     "Bích Huyết Kiếm" viết về Viên Thừa Chí phục thù rửa hận cho cha là Viên Sùng Hoán. "Ỷ Thiên Đồ Long Ký" là tranh giành bảo đao Đồ Long và Ỷ Thiên Kiếm, "Anh Hùng Xạ Điêu" thì tranh giành Võ Mục Di Thư và Cửu Âm Chân Kinh, "Tiếu Ngạo Giang Hồ" là phục ma diệt bạo những ngườicó tham vọng như Tả Lãnh Thiền và Ngụy Quân Tử như Nhạc Bất Quần. "Thư Kiếm Ân Cừu Lục" là kháng chiến chống lại bạo quyền... Kim Dung không lọt vào khuôn mẫu của các mô hình một cách cứng ngắt thụ động, mà kết hợp nhiều mô hình lại trong cùng một tác phẩm. Như trong "Xạ Điêu Anh Hùng Truyện", hai gia đình của Quách Khiếu Thiên và Dương Thiết Tâm gặp nạn, Quách Tĩnh và Dương Khang cùng quyết tâm trả thù cho cha mẹ gia đình (Mô hình Phục Thù), cùng tìm kiếm và tranh giành Võ Mục Di Thư và Cửu Âm Chân Kinh (Mô hình Tranh Báu); Các cao thủ Luận Kiếm Hoa Sơn (Mô hình Tranh Hùng), Quách Tĩnh và Hoàng Dung cùng giúp quan binh giữ thành Tương Dương chống quân Mông Cổ (Mô hình Kháng Bạo)... Thậm chí còn chen vào một số tình tiết Trinh Thám, như Giang Nam Ngũ Quái bị sát hại trên đảo Đào Hoa, ai cũng nghi là do Hoàng Dược Sư gây nên, nhờ có Hoàng Dung tinh ý thông minh mới phá được án oan cho cha mình, nhờ vào hai nét chữ THẬP 十 là bên trái của chữ DƯƠNG 楊, chớ không phải chữ THẬP 十 trên đầu chữ HOÀNG 黃 và nhất là nhờ vào chiếc giày con có chữ Tỉ Võ Chiêu Thân bị Diệu Thủ Thư Sinh trước khi chết đã trổ tài "Diệu Thủ Không Không" lấy được trong mình của Dương Khang... Còn "Thần Điêu Hiệp Lữ" là quyển tiểu thuyết Ngôn Tình, mở đầu bằng mối tình ngang trái giữa Lục Triển Nguyên và Lý Mạc Sầu đưa đến sự tàn độc nhẫn tâm của Lý Mạc Sầu sau nầy; Mối tình vượt ra ngoài vòng lễ giáo giữa thầy trò Dương Quá và Tiểu Long Nữ; Những mối tình "Đơn Tư 單思" một chiều của Trình Anh, Lục Vô Song, Công Tôn Lục Ngạc và Quách Tương đối với Dương Quá; Song song cũng có những mối tình êm đẹp suôn sẻ như Quách Phù và Gia Luật Tề, Anh em nhà họ Võ với Hoàng Nhan Bình và Gia Luật Yến... và cũng có "Tranh Báu" như phái Cổ Mộ Lý Mạc Sầu và Tiểu Long Ntranh nhau bí kíp "Ngọc Nữ Tâm Kinh", "Kháng Bo" như quần hùng giúp giữ thành Tương Dương chống lại quân Mông Cổ, Dương Quá dùng Đàn Chỉ Thần Công búng viên đá giết chết Đại Hãn Mông Ca. "Tranh Hùng" như Luận Kiếm Hoa Sơn ở phần cuối truyện...
          

       Tiểu Thuyết võ hiệp của Kim Dung còn hấp dẫn người ta bằng cách khơi dậy tính tò mò cố hữu của con người, nên ông luôn luôn tạo ra rất nhiều tình huống làm cho người ta thắc mắc, khó hiểu. Trong thắc mắc lớn có thắc mắc vừa, trong thắc mắc vừa có thắc mắc nhỏ. Hết lớp nầy đến lớp khác để khơi dậy tính hiếu kỳ làm cho người ta cứ mãi mê theo dõi miết đến quên ăn quên ngủ. Như truyện "Tiếu Ngạo Giang Hồ" vậy, mới vào truyện đã mở ra một tình huống hồi hộp khẩn trương để khơi dậy tính tò mò thắc mắc của người đọc...
       Thiếu gia Lâm Bình Chi của Phúc Uy tiêu cục cùng người ấu đả. Sau khi vô tình giết chết một người Tứ Xuyên họ Dư, thì trong đêm đó, các tiêu sư trong tiêu cục trên hai mươi người cứ nối tiếp nhau lăn ra chết một cách bí mật mà không có thương tích gì cả. Trước cửa tiêu cục lại có người dùng máu viết hàng chữ :"Ra khỏi cửa mười bước sẽ chết!". Bầu không khí khủng bố lan tràn. Tổng tiêu đầu Lâm Chấn Nam phải giải phẫu tử thi để tìm hiểu nguyên nhân, thì mới phát hiện ra rằng các tiêu sư chết vì Thôi Tâm Chưởng của phái Thanh Thành ở Tứ Xuyên. Trong tình cảnh nầy vợ chồng Lâm Chấn Nam quyết định bỏ tiêu cục thoát ra từ ngõ sau để lánh nạn. Nhưng vẫn bị giết hết cả nhà, chỉ có Lâm Bình Chi là thoát chết... 
      Mới đầu truyện đã treo lơ lửng nhiều nghi vấn : Tại sao lại xảy ra thảm kịch của Phúc Uy tiêu cục ? Nhà họ Lâm đã làm gì nên nỗi nầy ? Lâm Bình Chi thoát chết tương lai sẽ ra sao ? Có học được võ công thượng thừa để rửa thù tuyết hận hay không ?... Một lô thắc mắc thôi thúc đọc giả phải đọc tiếp xem cốt truyện về sau sẽ ra sao ? Nhưng khi truyện trước chưa giải quyết được tới đâu thì những biến cố sau đã dồn dập tới : Cao thủ của phái Hành Sơn là Lưu Chính Phong rửa tay gát kiếm, thoái ẩn giang hồ, nhưng Ngũ Nhạc kiếm phái lại hết sức cản trở, đến nỗi muốn sát hại cả nhà của Lưu Chính Phong, đó là vì lý do gì ? Đại đệ tử của phái Hoa Sơn là Lệnh Hồ Sung liều mạng cứu sư muội của phái Hằng Sơn là tiểu ni cô Nghi Lâm, thiếu chút nữa thì mất mạng, lại bị mọi người ghét bỏ, còn bị sư phụ trách phạt phải "Diện bích tư quá 面壁思過"là tại sao ?... Hết thắc mắc nầy đến nghi vấn khác cứ chồng chất lên nhau một cách chặc chẽ để lôi cuốn người đọc và sẽ được Kim Dung tháo gở lần lần, có lắm khi tới hồi kết thúc vẫn còn chưa tháo gở xong một cách dứt khoát, mà để dành phần cho đôc giả tự "tháo gở" lấy tùy theo thiên kiến của mỗi người. Như ở cuối truyện "Tuyết Sơn Phi Hồ", có người hỏi Kim Dung là :"Cuối cùng thì nhát đao đó Hồ Phỉ có chém xuống hay là không ?". Kim Dung đã cười mà đáp lại rằng :"Chính tôi cũng không biết nữa !". Ý là : Tùy theo cách nhìn và cách giải quyết sự việc của mỗi người. Nhát đao của Hồ Phỉ chém xuống thì sẽ như thế nào, không chém xuống thì sẽ như thế nào, và câu chuyện sẽ kết thúc ra sao ? Tất cả mọi người đều có quyền "tham gia" gii quyết và tháo gở cái gút mắc gây cấn, phức tạp và lý thú nầy !
             

     Kim Dung còn giỏi ở khâu cho cốt truyện diễn biến một cách đột xuất bất ngờ để gợi ý tò mò cuả độc giả một cách mạnh mẽ như trong một câu truyện trinh thám. Truyện "Ỷ Thiên Đồ Long Ký", chỉ trong một đêm ngủ thức dậy thì Triệu Mẫn và thuyền Ba Tư biến mất, Hân Ly bị rạch mặt, Chu Chỉ Nhược bị xẻo tai, Ta Tốn và Trương Vô Kỵ đều cảm thấy trong mình uể oải... Ai, ai đã cướp đi Đồ Long Đao và Ỷ Thiên Kiếm ? Nếu là Triệu Mẫn, thì sao nàng ta phải làm như vậy ? Tại sao lại không giết hết mọi người để cho dứt hậu hoạn ?... Rất nhiều rất nhiều nghi vấn làm cho người đọc phải nóng lòng theo dõi miết mà quên cả ngủ nghê ăn uống !

     Kim Dung còn có thủ pháp tạo sự nghi ngờ như đánh đố để cho người đọc đoán già đoán non với những tình tiết mập mờ, khi mờ khi tỏ, khi tối khi sáng. Trong cái nghi ngờ lớn có cái nghi ngờ nhỏ, như trong truyện "Hiệp Khách Hành"...
     Bài thơ "Hiệp Khách Hành và Thái Huyền Kinh" trong các hang đá trên Đảo Hiệp Khách là cái gút mắt đánh đố lớn nhất của câu truyện, làm phát sinh những gút mắt đánh đố nhỏ tiếp theo sau đó để tạo nên diễn tiến của câu truyện. Vì không giải mã được các bí kíp võ công trong hang động trên Đảo Hiệp Khách, nên Long Mộc nhị Đảo Chủ mỗi mười năm mới cho hai sứ giả Thưởng Thiện Phạt Ác đi mời các Chưởng Môn, Bang Chủ, Người đứng đầu của các phe phái võ lâm về Đảo để ăn Cháo Lạp Bát và cùng nghiên cứu võ công trên vách trong hang động. Nhưng các Bang Chủ Chưởng Môn đều có đi mà không có về, vì ai nấy đều mãi mê nghiên cứu võ công, khi chưa giải mã được các bí kíp thì đều không chịu rời đảo. Nên hễ đáo hạn mười năm là võ lâm lại xôn xao về chuyện Thưởng Thiện Phạt Ác. Vì thế mà Trường Lạc Bang mới bóc đại một tên Cẩu Tạp Chủng lấy tên là Thạch Phá Thiên lên làm Bang Chủ vì có dung mạo giống hệt như là Thạch Trung Ngọc, một hoa hoa công tử chuyên ăn chơi và tán gái được đưa lên làm Bang Chủ trước đó để nạp mạng cho Đảo Hiệp Khách. Những gì mà tên bại hoại Thạch Trung Ngọc làm thì tên Cẩu Tạp Chủng Thạch Phá Thiên đều phải lảnh hậu quả, tạo nên nhiều chuyện ngỡ ngàng tréo ngoe khó mà phân biệt được thân thế của hai nhân vật nầy. Đưa đến mối tình tay ba trước đây giữa Hắc Bạch Song Kiếm Thạch Thanh, Mẫn Nhu và Mai Phương Cô, cũng như mối tình tay ba giữa Uy Đức Tiên Sinh Bạch Tự Tại, Sử Tiểu Thuý và Đinh Bất Tứ... Tình tiết phức tạp cái nọ xọ cái kia. Đến kết cục, Kim Dung cũng chỉ giải quyết có nửa vời khi cho mẹ nuôi của Cẩu Tạp Chủng là Mai Phương Cô tự vẫn, khi Cẩu Tạp Chủng Thạch Phá Thiên chưa kịp hỏi về thân thế của mình; Nên chỉ có Thạch Phá Thiên là còn thắc mắc :"Cha ta là ai ? Mẹ ta là ai ? và TA là AI đây ?" Nhưng mọi người đều tự hiểu ngầm rằng Thạch Phá Thiên là anh em sinh đôi với Thạch Trung Ngọc và đều là con của Hắc Bạch Song Kiếm Thạch Thanh và Mẫn Nhu.
             
       Cái đánh đố lớn nhứt, phức tạp nhứt mà cũng lý thú nhất là Thân thế của ba nhân vật chính trong truyện "Thiên Long Bát Bộ 天龍八部".

     * ĐOÀN DỰ 段譽 : là một thư sinh vương tử của Đoàn Hoàng Gia nước Đại Lý, không biết võ công nhưng hay lo chuyện bao đồng, lấy đạo lý làm người để giảng cho những vũ phu chỉ biết lộng đao múa kiếm. Cũng chính vì tính chính nghĩa của chàng thư sinh gàn bát sách mà lại đánh động lòng yêu thương cảm mến của các cô gái đẹp mới lớn như Chung Linh, Mộc Uyển Thanh... Nhưng vì ông cha Đoàn Chính Thuần phong lưu hết mực, đi đến đâu là có người yêu đến đó, nên tất cả những cô gái mà Đoàn Dự cảm mến đều là em gái cùng cha khác mẹ với mình, kể cả người mà Đoàn Dự gọi là "Thần Tiên Tỉ Tỉ" Vương Ngọc Yến (sau Kim Dung đổi tên thành Vương Ngữ Yên) mà Đoàn Dự yêu chết mê chết mệt, đeo đuổi vất vả lắm mới được nàng yêu lại. Nhưng sau nầy phát hiện ra cũng là em gái cùng cha khác mẹ với mình, thì chàng ta lại thất vọng muốn buông xuôi tất cả kể cả tính mạng của mình. May mà nhờ Kim Dung... tháo gở cho ở nước chót ! Thì ra, mẹ của Đoàn Dự là Vương Phi Đao Bạch Phụng vì giận chồng quá hào hoa phong nhã, nên đi lấy một tên ăn mày dơ dáy để... trả thù. Nào ngờ tên ăn mày đó chính là Thái Tử Đoàn Diên Khánh bị thương vì loạn quân làm phản. Thế là theo phong tục tập quán của nước Đại Lý lúc bấy giờ (và có lẽ cho đến hiện nay?!) Dù là anh em chú bác hai đời nhưng không cùng cha cùng mẹ thì đều lấy nhau được cả !
    
    * KIỀU PHONG 喬峰 (sau nầy là TIÊU PHONG 蕭峰) : Thân thế của Kiều Phpng là một bi kịch lớn cho đến hồi kết thúc. Trúng gian kế của Mộ Dung Bác, quần hùng trung nguyên giết nhầm gia đình Tiêu Viễn Sơn. Là người Khất Đan, nhưng Kiều Phong lớn lên và thành Bang chủ của Cái Bang ở Trung nguyên. Vì là một bản sắc anh hùng chỉ chú trọng kết giao bằng hữu nên lơ là với tấm tình si của Mã Phu Nhân Khang Mẫn, mới bị người đàn bà dâm ác nầy làm cho thân bại danh liệt, và còn hại cho A Châu người yêu của Kiều Phong phải chết dưới chính tay của Kiều Phong. Truy tìm Thủ lĩnh đại ca, thì những người biết việc nầy đều bị giết hại. Khi vỡ lẽ ra, thì người giết hại những người đó lại chính là cha ruột của mình. Sau cùng mặc dù là Nam Viện Đại Vương của nước Đại Liêu nhưng luôn luôn muốn cho dân hai nước được chung sống hòa bình, không muốn dấy động can qua, nên đành phải hy sinh một cách oanh liệt hào hùng ở ngoài cửa ải Nhạn Môn Quan.

    * HƯ TRÚC 虛竹 : là một hòa thượng trẻ thuôc đời thứ ba của Thiếu Lâm Tự. Qua sự kết giao với Đoàn Dự và Tiêu Phong thân thế mới được từ từ lộ ra. Giải thích luôn là  tại sao Vô Ác Bất Tác Diệp Nhị Nương lại hay bắt con của người khác nựng nịu xong thì lại giết đi. Giải mã tại sao Hư Trúc vừa sanh ra thì đã làm hòa thượng rồi. Thông qua Tiêu Dao Tử, Thiên Sơn Đồng Mỗ, Lý Thu Thủy, Công Chúa Tây Hạ... làm cho nhà sư HƯ TRÚC phải hoàn tục thành HƯ TRÚC TỬ 虛竹子 và là Phò Mã của nước Tây Hạ hưởng trọn vẹn vinh hoa phú qúy mà trước đó có nằm mơ nhà sư Hư Trúc cũng không bao giờ dám nghĩ đến !

      Ba câu truyện, ba thân thế, ba hoàn cảnh sống được Kim Dung sắp xếp cho hòa quyện vào nhau, hô ứng nhau một cách chặc chẽ tạo nên một truyện võ hiệp không tiền khoáng hậu đầy đủ cả Tham Sân Si, lục dục thất tình, ân oán giang hồ với những võ công tuyệt thế làm nền cho những câu truyện sau nầy như Hàng Long Thập Bát Chưởng và Đả Cẩu Bổng Pháp của Cái Bang; Nhất Dương Chỉ của Đoàn Hoàng Gia vẫn còn âm hưởng ở các truyện "Xạ Điêu Anh Hùng Truyện" và "Thần Điêu Hiệp Lữ" sau nầy !
              

      Hẹn bài viết tới !

                                                                             杜紹德
                                                                        Đỗ Chiêu Đức

Mời Xem Lại :





NHỚ QUÊN - Thơ Sông Thu Và Thơ Họa

NHỚ...QUÊN... Tuổi già lúc nhớ lại khi quên Quên...nhớ...bao phen tạo lụy phiền Chuyện tự xa xưa lòng vẫn nhớ Điều vừa trước mắt dạ liền qu...