Hiển thị bài đăng được sắp xếp theo ngày cho truy vấn người thiếu nữ ngồi khóc một mình thơ Thuyên Huy. Sắp xếp theo mức độ liên quan Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị bài đăng được sắp xếp theo ngày cho truy vấn người thiếu nữ ngồi khóc một mình thơ Thuyên Huy. Sắp xếp theo mức độ liên quan Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 24 tháng 9, 2024

TIỂU LỤC THẦN PHONG : MA XÓM ĐÌNH (T.Vấn Và Bạn Hửu )

                                       Đứng Thẳng – Tranh: THANH CHÂU

Thứ Bảy, 30 tháng 5, 2020

Thảo Nhân - Chuyện Ngắn của Phạm Nguyên Định


    Thứ sáu, tan sở làm sớm, chưa xế trưa hẳn, trời đổ mưa bất chợt, cơn mưa đầu thu lành lạnh, không nặng hột nhưng cũng đủ làm đường phố ươn ướt, đứng trú mưa gần sát khung cửa kiếng, cùng với năm sáu người, dưới mái hiên chênh vênh cao của dãy phố, trước căn tiệm bán thực phẩm người mình, vậy mà nước cứ mặc tình tát nghiêng tạt ngã vào, chuyến xe điện về nhà vẫn chưa tới, mặc dù người xuống xe lửa từ Melbourne, phía trong nhà ga Footscray đã túa ra, băng qua đường đông nghẹt, Hiển lắc đầu, hết nhìn mưa, mưa làm thinh trút nước, rồi nhìn cuối phố, phố đông người, người vội vã đi người lầm lũi đếm bước, từ dưới này cho tới đầu ngã ba trên.   
    Người con gái, tóc ngang lưng, tay kéo vạt áo che đầu đứa bé gái nhỏ độ ba bốn tuổi, cũng hai tay đưa lên tóc xuýt xoa, tay dắt nó chạy lẹ vào mái hiên, có chỗ trống sát hông tường, nơi Hiển đang đứng, nghĩ vẫn nghĩ vơ, anh không quay nhìn mà xê qua chút xíu một bên, cứ xem là chuyện bình thường vậy thôi, không màn để ý là ai. Trên ngã ba, có tiếng xe điện tới, mưa bớt nặng hột, lất phất như bụi phấn, cũng như đám người trốn mưa nãy giờ, Hiển vừa bước ra trạm chờ vài ba bước, nghe tiếng con bé nói tiếng Việt khá rành “mẹ ơi con khát nước”, Hiển đứng quay lại nhìn, hai mẹ con phía sau lưng, cúi xuống nói với con nhỏ nhỏ gì đó, rồi ẳm con bé lên, con bé cười ôm hôn tới tấp vào mặt, chị ngước nhìn theo, Hiển giựt cả mình, trố mắt, chị  không khác gì anh, Hiển đứng khựng lại “chị Nhân”, chị cũng buột miệng “Hiển hả”, xe điện vừa ngừng ở trạm, không thêm được lời nào, lặng thinh, cả hai rươm rướm mắt, mưa tạnh hẳn, có chút nắng xế rựng lên ở phía ngã ba, lửng lờ vắt ngang mái lầu dãy nhà hàng bên kia đường, phố xá đông người trở lại. 
    Hai chị em dẫn nhau vào cái tiệm bán nước giải khát nhỏ góc phố, trời thôi âm u buồn, nắng buông từng vạt sáng trên đường, con bé ngây thơ, nhảy bước thấp bước cao, nắm tay mẹ cười toe toét, chiếc xe điện lúc nãy chầm chậm qua ngang, hai chị em cùng cười nhìn theo, nói thầm “thôi mình chờ chuyến sau”. 
*
    Trưa thứ bảy, lang thang ra chợ Sài gòn, đi lên đi xuống, nhìn thiên hạ, trai gái quần là áo lụa, dập dìu tài tử giai nhân cho bớt chút buồn chút tủi, gió mang hơi nước sông mát từ bến Bạch Đằng lùa lên làm cái nằng đầu hạ có phần nào dịu bớt đi, đường lên Lê Lợi, đường xuống Nguyễn Huệ ngập người, băng qua bên này, Hiển tấp vô cái xe nước mía Viễn Đông, nơi góc đi về phia chùa Chà Và, hông bộ Công chánh, vắng khách nên không phải chờ lâu, cầm bịch nước mía, chợt nghĩ tới chuyện quần áo Hiển lững thững thả bộ ngược lên dãy sạp bán vải dài cùng bên này đường Nguyễn Huệ, không có mấy người mua, sấp vải “ga-bạc-din”màu xanh dương đậm, màu mà anh thích, treo lủng lẳng trên khung kệ cây nhỏ, trước cái sạp không xa chỗ xe nước mía bao nhiêu, làm Hiển ngừng ngay lại, trố mắt nhìn chăm chú, chần chừ bước đi bước ở.    
    Gia đình Hiển tạm đủ ăn, chỉ còn hai mẹ con, ba mất sớm, nhà ở phía đầu dốc ngã ba Liên Hiệp, ngó ra đường đi Đơn Dương, mẹ Hiển có cái sạp bán rau cải bên hông chợ Tùng Nghĩa, nhờ trời buôn may bán đắt nên nhà cũng có chút đồng ra đồng vô. Đậu tú tài hai, Hiển vào Đại học Sư Phạm Sài Gòn, một thân một mình, nhớ mẹ ngoài đó cực nhọc, để bớt gánh nặng cho bà, nhờ vào vốn liếng toán lý hóa kha khá của những năm trung học Trần Hưng Đạo, Hiển tìm được vài chỗ dạy kèm nên cũng đở phần nào. Mỗi khi muốn may thêm cái quần cái áo cho bảnh chút xíu thì phải suy đi nghĩ lại, tính trước tính sau, tiền ăn tiền ở, tiền vải tiền may rồi mới dám nghĩ tới.
   Chị chủ sạp, chắc chừng trên dưới ba mươi, khá đẹp, bỏ cuốn sách đang đọc ngó ra, cười chào, nụ cười duyên nhìn là có cảm tình liền thật trọn, Hiển cũng  ngài ngại chào lại,  nửa đùa nửa thật “dạ muốn mua sấp vải này mà không đủ tiền, chị cho em thiếu mai mốt trả được không?”, mà thật vậy, thứ bảy tuần tới Hiển mới nhận tiền trả công dạy kèm cho đám con mấy gia đình bên cư xá Bắc Hải, trong túi còn độ hơn vài chục, muốn lắm nhưng chưa biết tính sao, chị vui vẻ đứng lên, đi ra gần anh “được mà, cứ lấy đi, chừng nào trả cũng được”, rồi kéo cái ghế dư, làm dấu “em ngồi chơi, coi đi, mua hay không mua cũng không sao”. 
    Chút xíu rồi quen sau vài ba câu hỏi qua hỏi lại, chuyện này chuyện nọ, chị Nhân, chủ sạp vải, quê quán Thủ Thừa, Long An, chị còn cô em tên Hậu, năm nay học lớp đệ nhị trường Phan Sào Nam, nhà ở cái hẻm nhỏ sát bên hông rạp hát Long Vân, Hiển cũng cho chị biết đang học năm thứ ba Đại Học Sư Phạm, đang ở trọ chung nhà với vài người bạn ở gần chợ Nancy, quê Tùng Nghĩa Đà Lạt, thấy ở cũng hơi lâu, Hiển, chưa kịp đứng dậy, chị đã nhanh nhẹn xếp sấp vải, bỏ vào bao, đưa tận tay, Hiển ngại quá, chưa biết tính sao, chị tươi cười “nè, em lấy đi, chừng nào có tiền, nếu nhớ thì trả quên thì thôi”, Hiển ngỡ ngàng, đành cầm lấy, rồi móc cái thẻ sinh viên ra “em gởi lại cái này làm tin, tuần tới em sẽ ghé, cám ơn chị nhiều lắm”, chị gạt ra cười ngặt nghẻo.
    Sáng chủ nhật tuần sau đó, Hiển đón xe buýt ra chợ thật sớm, phố xá hàng quán đã rần rần rộ rộ, trới chưa có nắng, lãng đãng một chút sương đêm, xe xích lô xe ba gát ồn ào cả một góc chợ Bến Thành, Hiển băng qua bồn binh, nhanh chân về phía dãy sạp vải, đã có ngưới mua người bán rồi, vừa tới chỗ sạp chị Nhân, Hiển hơi khựng lại, không phải chị mà là cô gái trẻ, nhìn giống chị Nhân, chắc là cô em tên Hậu, anh đứng ngờ ngợ hỏi, cô em nhanh nhẩu cười “chị em đi mua gì đó, nếu không gấp thì anh ngồi chơi chút đi, chị về bây giờ”, Hiển cũng gật đầu cười, cô em Hậu đây rồi, Hiển loay hoay hỏi vài ba câu, chị Nhân về tới, vồn vã mời vào trong ngồi, có người tới hỏi mua, Hậu bước ra tiếp, chị nhìn theo rồi quay qua Hiển “con Hậu, em chị đó”. 
     Sau ngày đó, ngày càng thân càng mến, đời bớt cô đơn hơn, Hiển thường ra sạp vải ngồi tán dốc, khi thì với chị Nhân khi thì cả hai chị em, Hậu không còn thẹn thùng bẽn lẽn như hồi mới gặp, nhất là từ nhũng ngày Hiển ghé nhà hàng tuần dạy thêm cho cô nàng chuẩn bị thi tú tài Một, Hậu dễ thương, như chị mình, lúc nào cũng cười, ít khi thấy buồn, gần gũi rồi mến nhau, anh anh em em dịu dàng êm ái. Mồ côi cha mẹ từ nhỏ, sống với bà ngoại già, nhà nghèo học hành dang dỡ, với mớ tiền dành dụm có sau những ngày buôn gánh bán bưng, chị dắt em lên Sài Gòn hy vọng sẽ đở hơn, sau vài ngày ở đậu nhà của vợ chồng  cũng dân Thủ Thừa chị may mắn tìm được công việc phụ bán cho sạp vải, rồi với mớ tiền có được, vừa đủ sang lại sạp vải này giá qua loa khi ông bà chủ về Tuy Hòa mở tiệm thuốc tây gì đó, chí thú, chịu khó chị mua được căn nhà nhỏ mà hai chị em ở hiện giờ. 
    Lần hồi, mấy thằng bạn trọ chung nhà cũng theo Hiển, mua chịu mua thiếu vải vóc sạp chị Nhân, trả trước trả sau sòng phẳng, đôi khi chị vui vẻ bớt cho vài chục, đủ tiền uống cà phê lề đường, nhìn người qua lại, ngay cả mấy thằng bạn con nhà giàu ở Sài Gòn này cũng khoái chí tới mua, có tiền trả liền, rẽ hơn chỗ khác, không đủ tiền lần tới, không sao, đám họ ra tới sạp thì ôi thôi, một chị Nhân hai chị Nhân ngọt sớt, sạp chị ngày càng vui hơn, khách hàng  không chỉ bao nhiêu đó mà còn thêm mấy cô bạn gái của đám bạn này, rộn rịp ồn ào, không kể gì thứ bảy chủ nhật hay ngày thường, trời mưa mịt mù hay nắng nung lửa hấp. 
*
    Cuối năm ra trường Hiển lên dạy trên trung học Pleime ở Pleiku, Hậu cũng xin được vào đệ nhất trường nữ Lê Văn Duyệt, không còn ở trường cũ vì có điểm khá cao của tú tài Một. Sáng ngày rời Sài Gòn về Tùng Nghĩa thăm nhà, trước khi lên nhận nhiệm sở, hai chị em chị Nhân đưa Hiển ra tận bến xe lô Sài Gòn- Đà Lạt, ngồi chờ giờ khởi hành, bên nhau mà không nói được gì nhiều, Hậu mắt rươm rướm đỏ, đường phố thưa người, cuối hè trời ngấp nghé lạnh, đôi chút sương đêm vẫn còn lầm tấm vài hạt mong manh trên cành lá hàng phượng bên kia đường, khẳng khiu hoa tím  bầm lưa thưa tàn, chờ thu đến. Hiển đi rồi, trên đường về, chị Nhân chợt thương cho em, nhìn Hậu buồn thiu, chị biết em mình đã thầm thương trộm nhớ gì đây rồi.
    Dạy được vài tháng, Hiển nhận thư của Hậu từ Sài Gòn gởi ra, cái thư không dài lắm, nhắc đủ chuyện vui, chuyện buồn từ ngày mới gặp cho đến ngày biết mến biết thân, những chiều mưa chờ ở cổng trường những sáng nắng hanh vàng chủ nhật, bên nhau đuổi lá me bay ven lề Lê Thánh Tôn trên đường ra sạp vải, kể vậy thôi chứ không viết thêm gì khác, và báo tin đám cưới chị Nhân, nhắc ráng về dự nếu được. Hiển cũng muốn lắm nhưng tình hình chiến trận sau mùa hè năm 1972, tưởng có phần lắng dịu nhưng xem ra dữ dội hơn trước, đường bộ đi lại khó khăn, nội chuyện về Tùng Nghĩa thăm mẹ cũng không trơn tru cho lắm, nên thôi, Hiển viết thư trả lời ngay, cám ơn hai chị em đã dành cho mình nhiều thương mến, thân tình và cầu chúc chị Nhân trăm năm hạnh phúc. 
    Gẩn cuối năm 1974, tình hình cuộc chiến ác liệt hơn, miền Nam mất đi một số tỉnh vùng biên giới Cao Miên, Ai Lao, quân Bắc Việt với xe tăng đại pháo Trung cộng Nga sô tiến càng ngày càng sâu vào lãnh địa còn lại mặc cho quân VNCH ra sức chống đở mãnh liệt, dân chúng miền trung, từ Quảng Trị xuống vào tới Đà Lạt Nha Trang hoảng loạn, rục rịch bồng bế nhau xuôi nam, rồi thì, không còn gì trong tay, quân VNCH đành rút bỏ triệt thoái về miền xuôi, đất miền Nam cũng từ ngày đó lọt vào tay quân Bắc Việt từng nơi một, từ vùng Một xuống vùng Hai. Về Tùng Nghĩa thăm nhà, ở nán lại nghe ngóng tình hình, qua Tết định trở lên Pleiku thì tin Ban Mê Thuộc mất, rồi giữa tháng ba năm 1975, cao nguyên di tản, Đà Lạt cũng theo chân, Hiển cùng mẹ theo đoàn người chạy loạn trên đường ra Nha Trang nhưng không may, mẹ Hiển bị bệnh nên đành phải đưa bà quay lại Tùng Nghĩa rồi, kẹt ở đó tới ngày miền Nam sụp đổ Ba Mươi tháng Tư Bảy Lăm. 
*
       Sáng chủ nhật, trời Melbourne những ngày giữa thu, cái lạnh cũng lạnh lùng lạnh như mấy mùa thu trước, hôm gặp lại mẹ con chị Nhân ở trạm xe điện Footscray, cả tuần rồi, xong việc ở chỗ làm, được xếp cho nghĩ xã hơi, hẹn đến thăm chị, hôm nay mới đi được, trước khi tới, Hiển không quên chạy ra tiệm bánh quen người mình mua vài thứ, làm quà tái ngộ nhứt là con bé, có cái tên Thảo Nhân ngồ ngộ dễ thương, không thương không được. Con đường Maribyrnong giờ này vắng tanh nhưng hai bên chạy dọc bờ sông, người đi người chạy đông nghẹt len nhau dưới cái nắng sớm, “làm bộ làm điệu” rực lên từng vạt hâm hấp ấm mong manh “tơ liễu buông mành”. Người đi lễ sáng đã tấp nập tới từ lâu, Hiển đành phải đậu xe xa ngoài ngã ba đường Epsom. 
    Nhà chị ở cũng dễ kiếm, căn nhà gỗ nhỏ màu vôi vàng nhạt, nằm ngay góc đường St Leonards, cách nhà thờ St Mary không mấy xa, hai mẹ con đứng trước sân cỏ, ngay cái cổng rào sắt bạc màu đen, đám hoa “băng –xê” dọc hiên nhà nở rộ một màu tím tím thẳm, chị đi qua đi lại, con bé Thảo Nhân, lắc lư bước sau, thì Hiển vừa tới, con bé chạy ùa ra “chú Hiển, chú Hiển”, Hiển bồng nó lên chào, chị Nhân mừng muốn khóc. Chợt nhớ gì đó, bỏ con bé xuống, đưa cho nó cầm cái túi giấy đựng bánh, con bé cười nức nẻ, hai người đi vào, Hiển nhìn quanh, như hiểu ý, chị Nhân cười “Hậu mới chạy ra phố mua gì đó, chắc cũng sắp về”.
    Hậu bước vào nhà, con bé không ngồi chung với mẹ mà ngồi sát Hiển trên ghế sa lông trong phòng khách, chị Nhân im lặng chờ, Hậu đứng chết trân, gói đồ đi mua hồi sáng run run theo từng nhịp run của tay, Hiển đứng dậy, không bước thêm bước nào, vẫn đứng đó, cánh cửa vẫn mở, Hậu mừng rỡ òa lên khóc, nghẹn ngào, chị Nhân nhìn cô nàng, cười mà rưng rưng “ai đây, có quen hôn”, Hậu đưa tay lau vội lau vàng nước mắt “ anh Hiển”, con bé Thảo Nhân tròn xoe mắt chạy lại nắm tay dì “dì Hậu dì Hậu”. 
*
    Hiển ngồi nghe chị, và được chị cho xem tấm hình chụp ngày cưới, không ngờ chồng chị là anh Nguyễn Trọng Thảo, quê ở Bình Long, sĩ quan Thủy Quân Lục Chiến, anh chết ngày 20 tháng 3, khi 3 ngàn quân TQLC thuộc Lữ đoàn 147 tập trung tại bải biển Thuận An, xã An Dương, Phú Vang, Huế chờ tàu hải quân đón nhưng không có chiếc nào đến, quân Bắc cộng truy kích và tàn sát gần như toàn bộ lữ đoàn, một số tử thương, tự sát, và những người còn lại đều bị bắt, chiến cuộc chấm dứt, sau đó người dân An Dương đã chôn cất vội vàng những người lính TQLC này trên bải biển.    
* 
    Hiển gặp anh Thảo lần đầu năm lên lớp đệ ngủ trung học, buổi sáng hôm đó, trời giữa thu Đà Lạt mù sương lạnh, vào lớp không bao lâu, thầy giám thị tới lớp Hiển, có một người sĩ quan cấp bực Thiếu Úy, mặc đồ lính TQLC còn trẻ đi theo, muốn gặp Hiển một chút. Hiển rời lớp, vừa sợ vừa ngơ ngơ vì không quen, đi ra, theo anh ngồi trên cái băng ghế đá dưới cây thông già cuối sân trường, không dám nhìn, lo lắng chờ, anh đã ghé qua nhà dưới Tùng Nghĩa thăm mẹ mới biết Hiển học ở đây.
    Lúc ba Hiển chưa có mẹ, còn bôn ba thời vận ở miệt đồn điền cao su Xa Cam Hớn Quản, gặp ông, cô tư Cúc, người Bình Long phải lòng rồi thương nhau, quên tính toán, lỡ cô mang thai, gia đình cô tư không chịu cho lấy nhau vì lý do gì đó, ba Hiển đau buồn lang thang lên Đà Lạt, làm nhân viên cho nhà ga xe lửa, một hai năm sau, ông gặp mẹ Hiển khi bà đi buôn hàng từ Phan Thiết về, lần này ông ngược về Mỹ Tho, đem ông bà nội lên Tùng Nghĩa, hai người cưới nhau, sinh ra Hiển. Sau đó không lâu, ông trở lên Bình Long, cô tư Cúc lấy chồng, một người giáo viên trường tiểu học tỉnh, tốt bụng, biết chuyện nhưng không phàn nàn, không nhắc tới, cô Cúc sinh anh Thảo ra, giống hệt ba, ông đến thăm anh Thảo, lúc đó vừa thôi nôi, rồi thôi, vì ông không muốn làm gia đình cô tư xào xáo vô ích, không may ba Hiển mất vì bệnh viêm phổi khá nặng năm Hiển lên bốn, cho tới ngày Hiển lớn, mẹ không hề nhắc gì tới chuyện này, chuyện con riêng của ba và Hiển có một người anh cùng cha khác mẹ. 
     Anh kể lại chuyện, hỏi Hiển học hành ra sao, mẹ thế nào rồi đưa cho một số tiền vài trăm đồng, bảo cất kỹ, ăn bánh uống nước, Hiển ngồi nghe mà ngớ người ra, tới khi trở lại lớp học, trước hành lang, anh Thảo ôm hôn lên đầu, bảo sẽ về thăm, ráng học, ráng giúp mẹ, anh chào cô giáo, một lần nữa, vò đầu Hiển, rồi bỏ đi, thình thoảng quay lại vẫy tay làm dấu bảo Hiển vào lớp, dưới trời sương lạnh mù mờ, nhìn theo, bỗng dưng Hiển muốn khóc và bấy giờ mới thì thầm hai tiếng “anh Thảo”, anh đi xa rồi. Hiển gặp lại anh Thảo lần thứ hai, ở Tùng Nghĩa, ngày Hiển đậu tú tài một, và cũng là những ngày chiến trận diễn ra ác liệt khắp nơi, những ngày người dân thành phố biết sợ tiếng đại pháo, tiếng bom rơi, hôm đó áo quần, giày đinh bám đầy bụi đỏ, anh không ở lâu, vội vàng không như lần trước, anh cũng đưa cho mẹ gói quà, rồi vội vã ra đi, hỏi anh chuyện thư từ, anh cho số KBC đơn vị nhưng dặn là đừng viết vì anh cứ theo quân rày đây mai đó, rừng sâu núi thẳm, đồng hoang sông nước, khi nào rãnh anh sẽ về thăm.
    Chị Nhân mân mê tấm hình, nghe Hiển kể phần mình, Hậu ngồi kế bên, hai chị em nhìn nhau rồi nhìn xa xăm ra đường, lặng thinh buồn vời vợi, ngưng chuyện vừa lúc con bé Thảo Nhân chạy loanh quanh đâu đó trở lại chỗ ba người, Hiển đứng dậy, ôm trọn nó vào tay mình cười mà rươm rướm “Thảo Nhân, cháu của tôi đây mà”, con bé chẳng biết ất giáp gì, cười ngặt nghẻo “chú Hiển, chú Hiển”. 
*
    Buổi sáng, trời bỗng dưng có nắng ấm sớm, cái nắng hiếm hoi của những ngày cuối đông xứ này, cả nhà dắt nhau thả bộ ra tiệm ăn Mac Donald ở ngã ba đường, con bé Thảo Nhân chạy lúp súp trước, quẹo ngả đường Ferguson, Hiển và Hậu theo sau, chị Nhân tủm tỉm cười đi sau cùng, ngang qua trường tiểu học St Mary, do hội nhà thờ St Mary quản trị, phía sau hông nhà thờ nơi Hậu đang dạy lớp Mẫu giáo, tới cổng, cái cổng sắt cao đóng kín, sân trường vắng tanh, chỉ toàn là chim với chim, từng đám đuổi nhau tắm nắng, mùa này học trò đã nghỉ cuối năm, con bé đứng lại, chờ  ba người lên, nắm tay Hậu chỉ vào trong “dì Hậu dì Hậu”, Hậu cười, ẳm nó lên nựng càm “mai mốt Thảo Nhân đi học trong đó hả”, con bé khoái chí gật đầu lia lịa. 
   Chị Nhân đi lên trước, con bé nắm tay mẹ, nhảy cò cò bước thấp bước cao ngoáy cổ nhìn lại, mẹ con trước, hai người sau cũng tay nắm tay níu cười, nắng bất chợt rực ấm, ấm như lòng người vừa có mà họ đã chờ từ lâu lắm, ở một góc sân vườn, trước nhà ai đó, hai con bướm vàng vươn đôi cánh nép liền bên nhau trên cành bụi hoa cúc nở rộ, cũng một màu vàng thẳm, long lanh sáng dưới những hạt sương đêm, nấn ná chưa vội tan.
    
Thuyên Huy

Mượn tên và chút chuyện thật của một người, các nhân vật khác, địa danh, tình tiết được tự dựng bằng tưởng tượng để nhớ người đã nằm xuống ở chiến trường miền Trung cho tôi có được hơn hai mươi năm bình yên, hạnh phúc.
Melbourne, những ngày hạ cháy rừng 2019.

Thứ Hai, 6 tháng 1, 2020

THÀNH NGỮ ĐIỂN TÍCH 48 : GƯƠNG

                                      GƯƠNG NGA chênh chếch dòm song,
                                      Vàng gieo ngấn nước cây lồng bóng sân.

           Đó là hai câu thơ chuyển cảnh thật hay, thật nên thơ như trong nghệ thuật điện ảnh của cụ Nguyễn Du trong Truyện Kiều, khi diễn tả Thúy Kiều vừa về đến nhà sau buổi đạp thanh với nhiều gặp gỡ : Gặp hồn ma Đạm Tiên và gặp chàng Kim Trọng với "Đề huề lưng túi gió trăng" và dáng vẻ "Vào trong phong nhã, ra ngoài hào hoa". GƯƠNG NGA là vầng trăng mới mọc "chênh chếch dòm song", còn được cụ Nguyễn Du gọi là BÓNG NGA ở những câu sau đó :

                                        Một mình lặng ngắm BÓNG NGA,
                                        Rộn đường gần với nỗi xa bời bời.

                                         Inline image
         GƯƠNG NGA hay BÓNG NGA còn được gọi là GƯƠNG QUẢNG HÀN như trong truyện Nôm khuyết danh Lưu Nữ Tướng :

                                          Kiệu dừng, hé bức màn sương,
                                  Khác nào non thúy, rạng GƯƠNG QUẢNG HÀN.

                                         Inline image

         GƯƠNG NGA, BÓNG NGA hay GƯƠNG QUẢNG HÀN đều dùng để chỉ mặt trăng một cách nên thơ trong bầu trời ban đêm, nhưng có những cái gương làm cho người ta phải khiếp đãm kinh hồn, đó chính là Gương Chiếu Yêu (Chiếu yêu kính) làm cho yêu quái bị chiếu vào sẽ hiện nguyên hình như trong truyện Phong Thần; đến đời Tần còn xuất hiện thêm một cái kiếng chiếu thấy cả gan ruột con người, gọi là CHIẾU ĐÃM KÍNH 照膽鏡. Theo sách Tây Lương Tạp Ký đời Đông Tấn của Cát Hồng 东晋葛洪《西京杂记》có ghi : Trong cung Hàm Dương  đời Tần có một cái gương rộng 4 thước (khoảng 1m2 tây), cao 5 thước 9 (gần 2 thước tây), bên trong kiến phát sáng. Người đến trước gương soi sẽ thấy cả lòng dạ ruột gan, ngũ tạng lục phủ.  Tần Thủy Hoàng đã dùng chiếc gương nầy để cho các cung nhân soi vào, người nào tim rung động, mật nở to là có gian tình thì giết chết. Chiếc gương nầy đã gây chấn động và làm khiếp đãm mọi người, nên Tần Thủy Hoàng đã lợi dụng cái tâm lý "Có tật thời Giật mình" đã phát hiện rất nhiều gian tình và nịnh thần trong cung cấm và trong triều đình. Vì những người gian xảo dối trá khi đứng trước gương sẽ không tránh khỏi sợ hãi hoang mang, chính nét mặt, cử chỉ và biểu hiện bất bình thường... của chính bản thân họ đã tố cáo cho sự gian dối của họ với những người chung quanh. 
         Trong văn học cổ của ta gọi cái Chiếu Đãm Kính nầy là GƯƠNG LẦU TẦN, như trong Chinh Phụ Ngâm Khúc để diễn tả lòng chung thủy của người chinh phụ đối với chồng đang đi chinh chiến ở biên cương xa xôi, nữ sĩ Đoàn Thị Điểm đã có câu :

                                    Thoa cung Hán thuở ngày xuất giá,
                                    GƯƠNG LẦU TẦN dầu đã soi chung.
    
                           Inline image
         Còn trong truyện thơ Nôm Lưu Nữ Tướng thì gọi là  GƯƠNG TẦN ĐÀI như :

                                     Bỗng đâu hẩy trận Đằng Vương,
                                  Thày lay sớm đã tỏ GƯƠNG TẦN ĐÀI.    

         Gương soi còn là vật để làm đẹp chốn khuê phòng của các bà các cô ở trên bàn trang điểm, thường được trang trí bởi hình con chim loan, nên thường gọi là GƯƠNG LOAN. Theo sách Thái Bình Ngự Lãm 太平御覽 : Kế Tân Vương 罽賓王 xây nhà ở núi Tuấn Kỳ, bắt được một con chim loan. Vương rất yêu thích cho ăn toàn ngũ cốc, ở lồng vàng, nhưng suốt ba năm chim vẫn không hót. Phu nhân mới hiến kế rằng :"Thiếp nghe nói, khi chim loan gặp được đồng loại thì sẽ vui mừng mà kêu hót". Vương nghe theo. bèn cho dựng một tấm gương lớn trước mặt chim. Quả nhiên chim loan vui mừng kêu hót không ngừng, nhưng kêu mãi mà chim loan trong gương vẫn không bay ra, nên tiếng kêu hót trở nên bi thương. Cuối cùng gục chết trước gương. Sau dùng rộng ra, GƯƠNG LOAN là gương dùng để cho lứa đôi soi bóng và là chiếc gương trang điểm trên bàn phấn của qúy bà qúy cô. Trong Cung Oán Ngâm Khúc của Ôn Như Hầu Nguyễn Gia Thiều tả lúc nàng cung nữ bị thất sủng có câu :

                                         Phòng tiêu lạnh ngắt như đồng,
                                     GƯƠNG LOAN bẻ nửa, dải đồng xẻ đôi.

                                       Inline image

          Còn trong bài "Mai Rụng" của Jean.Leiba thời Tiền chiến đã diễn tả vẻ sầu thương ủ rủ của nàng thiếu nữ đang mòn mõi chờ đợi tình quân bằng những câu :


                                        Sầu đối GƯƠNG LOAN, bóng lạ người,
                                        Chàng không lại nữa, đẹp cùng ai ?
                                        Bơ phờ tóc rối, vành khăn lệch,
                                        Ủ rũ hoa gầy, má đỏ phai !
             
          Nhắc đến câu "GƯƠNG LOAN bẻ nửa, dải đồng xẻ đôi" làm cho ta lại nhớ đến điển tích GƯƠNG VỠ LẠI LÀNH. Theo  "Bổn Sự Thi" của Mạnh Khải đời Đường 唐.孟棨《本事詩》có kể lại chuyện như sau :

                                Inline image


         Em gái của Trần Hậu Chúa 陳後主 Nam Triều là Lạc Xương Công Chúa 樂昌公主 có chồng là Thái tử Xá nhân Từ Đức Ngôn 徐德言. Vợ chồng rất mực thương yêu nhau.                  
         Khi Tùy Văn Đế cử binh đánh nước Trần, thì Trần Hậu Chủ chỉ lo ở trong cung ăn chơi, làm thơ đề từ. Nên quân Trần thua chạy khắp nơi. Từ Đức Ngôn thấy đại cuộc sắp tiêu vong, nên vô cùng lo lắng. Biết rằng nước Trần sẽ mất trong nay mai, không còn cách gì cứu vãn được nữa. Từ bèn nói với Công chúa rằng : " Với tài hoa và sắc đẹp của nàng, khi nước đã mất rồi, chắc chắn sẽ lọt vào tay những bậc quyền qúy sau nầy. Nếu duyên phận chúng ta chưa dứt, ta rất mong gặp lại nàng sau nầy, nhưng chúng ta cũng phải có một tín vật gì đó để mà nhận ra nhau chứ!". Nói đoạn, Từ Đức Ngôn vói tay lấy chiếc gương đồng trên bàn trang điểm của công chúa, đập bể làm đôi. Đưa cho công chúa một nửa, còn mình thì giữ một nửa còn lại. Hai người cùng ước hẹn nhau rằng, sau nầy nếu có muốn gặp nhau thì vào ngày Tiết Nguyên Tiêu, rằm tháng giêng hàng năm, cứ đem nửa mảnh gương nầy mà rao bán giữa chợ Trường An.
       Qủa nhiên, nước Trần mất vào tay nước Tùy. Lạc Xương Công chúa lọt vào tay của hoàng thân nước Tùy là Dương Tố. Tố rất sủng ái công chúa, nhưng nàng thì luôn luôn buồn bã vì nhớ đến chồng.             
       Những năm sau đó, tuy cuộc chiến đã yên, nhưng Từ Đức Ngôn luôn nhớ đến công chúa qua nửa mảnh gương, nên thường ra dạo chợ Trường an. Tiết Nguyên Tiêu năm đó, Từ cũng mang nửa mảnh gương ra chợ, tình cờ gặp được một gia nhân cũng đang rao bán nửa mảnh gương. Ráp lại thì vừa vặn với nửa mảnh gương của mình.              
       Từ bèn khẩn khoản mời gia nhân về nhà trọ hỏi thăm về tin tức của công chúa. Sau khi biết công chúa luôn thương nhớ đến mình. Từ rất xúc động viết một bài thơ ngũ ngôn gởi cho công chúa như sau :

                    鏡與人俱去,   Kính dữ nhân câu khứ,
                    鏡歸人不歸;   Kính quy nhân bất quy;
                    無復嫦娥影,   Vô phục Thường Nga ảnh,
                    空留明月輝!    Không lưu minh nguyệt huy!
Có nghĩa :
                     Gương đi người cũng đi theo,
                     Gương về người chẳng về theo lại nhà.   
                     Đâu còn thấy được bóng Nga,
                     Bơ vơ như ánh trăng tà trống không !

                      Inline image
         
      Công chúa đọc thơ của Từ Đức Ngôn mà lòng đau như cắt. Suốt mấy ngày liền không ăn uống gì cả. Dương Tố biết chuyện, cảm thông cho tình vợ chồng sắt son gắn bó, mới cho người đi mời Từ Đức Ngôn vào dinh, làm tiệc khoản đãi và mời cả công chúa đến dự. Khi công chúa đến nơi, thấy trong bàn tiệc có cả chồng cũ lẫn chồng mới, nàng vô cùng ngỡ ngàng, nửa mừng nửa lo, xúc động mà ngâm rằng :

                       今日何遷次,   Kim nhật hà thuyên thứ,
                       新官對舊官;   Tân quan đối cựu quan.
                       笑啼俱不敢,   Tiếu đề câu bất cảm,
                       方驗作人難!    Phương nghiệm tác nhân nan!
Có nghĩa :
                      Hôm nay khéo đổi dời,
                      Chồng cũ cùng chồng mới.
                      Cười khóc cũng lỡ làng,
                      Khó làm người cho nổi !
Lục bát :
                      Hôm nay sao khéo đổi dời,
                      Chồng cũ chồng mới cùng ngồi chung nhau.
                      Khóc, cười thiếp biết phải sao ?
                Làm người khó lắm phải nào dễ đâu !                  
                       
        Từ Đức Ngôn nghe xong cảm động mà rơi nước mắt; còn Dương Tố nghe xong thì cảm động mà cười lớn rằng :"Thôi được rồi, ta sẽ trả nàng về để cho vợ chồng đoàn viên sum họp". 
        Sau tiệc, Dương Tố chẳng những trả Lạc Xương Công Chúa về cho Từ Đức Ngôn mà còn ban thưởng rất nhiều vàng bạc cho vợ chồng về lại Giang Nam để sống yên vui hạnh phúc tới già .

                         Inline image

       Câu chuyện PHÁ KÍNH TRÙNG VIÊN 破鏡重圓 từ đó được lan truyền khắp thiên hạ, qua đến Việt Nam ta thì thành "GƯƠNG VỠ LẠI LÀNH". Thành ngữ nầy thường dùng để chỉ vợ chồng hoặc đôi lứa yêu nhau, vì hoàn cảnh mà phải phân ly cách trở, xa nhau một thời gian, rồi do một cơ duyên nào đó lại được sum họp đoàn viên trở lại. Như Thúy Kiều sau mười lăm năm lưu lạc vì phải bán mình chuộc cha, "thanh lâu hai lượt thanh y hai lần", cuối cùng cũng được đoàn viên sum họp với gia đình và Kim Trọng, nên trong buổi tiệc đoàn viên, khi đã "Tàng tàng chén cúc dở say" Thúy Vân mới đứng lên phân bua :

                       Rằng : Trong tác hợp cơ trời,
                     Hai bên gặp gỡ một lời kết giao.
                     ...Những là rày ước mai ao,
                   Mười lăm năm ấy biết bao nhiêu tình.
                        Bây giờ GƯƠNG VỠ LẠI LÀNH
                   Khuôn duyên lừa lọc đã dành có nơi ...

                    Inline image

      Xin được kết thúc các GƯƠNG ở nơi đây, và...

      Tha thiết mong rằng tất cả những GƯƠNG VỠ trong thiên hạ đều LẠI LÀNH sau những sầu thương lận đận tang thương chìm nổi của cuộc đời !

                                                                                              Đỗ Chiêu Đức


            Xem :  THÀNH NGỮ ĐIỂN TÍCH 47 : GÁC



TRÀ NGUỘI -Thơ kiều Mộng Hà và Thơ Họa

TRÀ NGUỘI Chớp mắt còn chi!!! Tiệc đã tàn Cố quên vết xước của thời gian Người đi trà nguội tình sương khói Bướm vắng hoa tàn mộng dở dang N...