Thứ Ba, 15 tháng 4, 2014

Nơi dòng sông lẻ bạn - Thuyên Huy

Nơi dòng sông lẽ bạn
Để tặng một người bạn tên Hân mà tôi đã không gặp lại từ những ngày cuối hè năm 1969


                                                                    *

Từ bên này cầu đò, tôi có thể nhìn thấy rõ mồn một khói cơm chiều nhà Hân tỏa trắng như sương sớm trên mấy ngọn cây cau vàng lá. Tôi thích nhất là buổi sáng đihọc. Tôi thường dậy thật sớm, ra cầu đò chờ Hân từ bên kia sông, theo chuyến đò ngang của bà Tư, rồi cùng nhau đi bộ đến trường, ngang qua cái quán nước ọp ẹp đầu chợ, không quên mua cho được mấy cái bánh tay heo giòn thơm mùi mỡ.

Nhà Hân ở đầu xóm nhỏ, bên kia cù lao, cách phố chợ nhà tôi một dòng sông. Dòng sông và cái cầu đò cũ kỹ này đã cho hai đứa tôi không biết bao nhiêu là kỷ niệm.
Mỗi lần mưa đổ bên kia sông là tôi thấy lòng mình buồn man mác nếu bên này trời sáng rực. Tôi thích buổi sáng bao nhiêu thì tôi lại ghét buổi chiều bấy nhiêu.
Tôi ghét cả cái trống trường treo lũng lẵng cuối hành lang lớp nhất. Cái chia tay tan trường ngắn ngủi của buổi chiều buồn buồn làm sao. Chân đứa nào cũng bước ngập bước ngừng, không chịu xuống đò, bịn rịn không chịu bỏ đi khó mà quên được.
Ba Hân mất sớm từ thuở nào, lúc Hân còn nhỏ xíu. Mẹ Hân, bác Diệu đã vất vả
chắt chiu nuôi con trong cái nghèo quanh quẩn. Tôi sinh ra may mắn hơn, cha mẹ gia cảnh tương đối khá giả nhưng tôi không có được cái nhà chòi làm bằng lá dừa, nằm khiêm nhượng ở cuối vuờn thơm hương cau kỳ diệu. Cái nhà chòi vừa đủ cho hai đứa ngồi ôn bài và hát ca dao nhớ ơn cha mẹ. Tôi ăn cơm với thịt kho dưa giá nhưhg lại thèm tô cá lìm kìm kho cay thơm mùi đất nung khó tả. Cũng như Hân,tôi thương làm sao tiếng mưa rơi lẻ loi êm đềm trên mái tranh già nua hơn tiếng mưa ào trên mái ngói của khu nhà ngói phố chợ. Khói cơm chiều nhà Hân tan dần rồi mất hút đâu đó.
Đêm chầm chậm xuống từ phía bên kia chân trời xa. Đám con nít tắm sông ồn ào từ xế chiều đã về nhà từ lâu lắm rồi. Nước sông chảy chậm hơn trong cái vắng lặng cuối ngày. Tôi trở lại nhà lặng lẽ.
Giữa thu, hàng cây bàng quanh sân trường bắt đầu rụng đầy lá úa. Cái chớm thu lành lạnh theo từng cơn gió heo may về mỗi sáng. Cô giáo Chiêu thường cho học trò chúng tôi đi nhặt lá bàng, gom lại ở cuối sân, gần lớp học đốt lên sưởi ấm.
Chúng tôi ngồi quanh, nghe cô giảng bài Bắc Bình Vương hay chuyện Con Rồng Cháu Tiên của một thời lập nước cho đến khi nắng lên gần hết nửa sân trường.
Trường chúng tôi tuy nghèo nhưng đầy ắp tình thương cô thầy và bè bạn. Cô Chiêu cô Quỳnh đã bỏ ra không biết bao nhiêu công lao để trồng bông Vạn Thọ quanh sân trường cho kịp mùa Tết đến. Thầy Tỵ thầy Quân lúc nào cũng tươi cười dù có tập cho chúng tôi đánh bóng bàn mệt mõi vì đứa nào cũng dở tệ. Tiếng thầy cô giảng bài lúc nào cũng êm êm như tiếng lúa rì rào sáng sớm trên đám ruộng quanh hông trường hay tiếng sáo diều căng gió trên trời xanh của những ngày đầu hè rực nắng.
Hè về, tiếng ve sầu kêu não nuột trên hàng phượng già cuối sân, làm cái vắng lặng của sân trường càng thêm lặng vắng. Thầy cô đã về nghỉ hè với gia đình ở một nơi nào xa xa đó. Học trò bọn tôi bắt đầu bày vẽ trò chơi tung tăng không biết mệt. Ngoài đôi ba ngày phải theo ba mẹ đi thăm họ hàng ở miệt dưới Gò Dầu Hạ hay ngược lên Long Hoa, hình như tôi với Hân chưa hề rời nhau nửa bước. Đám bướm có lẽ đã phải khổ nhiều với chúng tôi khi bay lượn trên hàng bông bụp đỏ.
Hân thích đuổi bắt cho được, đem ép vào tập cùng với đủ loại hoa dại. Tôi giống như Hân, hai đứa không thích hoa phượng vì chúng tôi cho nó là biểu tượng của biệt ly của ngăn cách. Hai đứa theo đám bạn ra đồng bắt cá lia thia đem về cho chúng nó đá nhau cho đến khi nào thấm mệt. Chưa kể là rủ nhau đi hái ổi hoang, đem xuống chấm ăn với muối hột. Hân thường rủ tôi lân ngồi lặng im trên khu đồi có nhiều hoa sim tím. Ở đó, chúng tôi có thể nhìn rõ được bóng mặt trời lặn từ phía chân trời xa, để cùng nhau ước mơ mình sẽ là chim đại bàng rộng cánh. Tôi cũng thường hay theo mẹ Hân chèo ghe hái bông súng. Bên cạnh đám hoa sen rực rỡ đỏ, đám bông súng dễ thương khép nép cúi mình khiêm tốn. Hân thường ví mình là bông súng nhỏ nhoi bên cạnh mẹ là cánh sen vĩ đại. Tôi chưa hề nghĩ ra điều đó, thế mới biết là tại sao Hân hay nhắc tới mẹ nhiều.


                                                                     *

Rồi thì mùa hè cũng đi qua như những mùa hè năm trước. Sân trường lại rộn rã tiếng nói tiếng cười. Thầy cô trở lại với thiên chức của mình, cái thiên chức rạng ngời đã có từ khi con người tìm ra sách vở. Tiếng trống lại chập chùng vô lớp ra về. Tôi cũng thức dậy sớm ra chờ Hân ở cầu đò, rồi cũng mua bánh tai heo mặc dù năm nay đã lớn hơn năm trước. 


Cuối năm lớp nhất, chúng tôi phải học nhiều hơn để chuẩn bị thi vào trung học. Nghe thầy cô nói về cái lớp đệ thất của trường trung học tỉnh sao mà thích quá. Nào là chúng tôi phải mặc đồng phục mỗi ngày, áo trắng quần ka ki xanh dương với giày ba ta trắng, nào là sẽ học nhiều thầy cô trong ngày chứ không phải một người như bây giờ.

Trường trung học tỉnh lớn lắm vì mỗi tỉnh chỉ có một cái mà thôi. Lớp học đủ chỗ, trên lầu dưới đất. Hành lang thơm phức tường vôi, nhất là học trò đông vô số kể. Hân đã từng ước mơ sẽ thi đậu vào trung học cũng như tôi nhưng rồi mình sẽ nhớ nhà vô hạn. Nhớ đủ thứ vì từ ngày đó mình sẽ là người phương xa, lẻ loi theo kiếp đời ở trọ.
Những ngày gần cuối năm học, mẹ Hân đau nặng. Ba mẹ tôi cố gắng đưa bà đi nằm bệnh viện nhưng tất cả không qua được định mệnh. Mấy ngày sau mẹ Hân mất. Còn cái đau thương tột cùng nào hơn khi đoá sen che nắng đậy mưa cho cái bông súng nhỏ nhoi đã úa tàn rã cánh. Cái bông súng Hân phải biết làm sao đây trước cái nắng hung tàn của mặt trời và cái mưa bão bùng cuồng lũ của gió lốc. 

Bà con trong xóm ai nấy ngậm ngùi tiễn đưa mẹ Hân về nơi an nghỉ cuối cùng trong khu nghĩa trang nhỏ lưa thưa cuối chân cái đồi mà hai đứa tôi thường lên ngồi nhìn mặt trời lặn. Tôi biết là bà sẽ không ngủ yên lành. Tôi ôm Hân khóc như chưa từng được khóc trước mộ. Chúng tôi chỉ biết khóc mà không biết gì khác nữa. 

Như số phận đã định trước, sau đám tang đôi ngày, Hân sửa soạn theo người dì bà con về trên Cẫm Giang vì ở đây Hân không còn có ai nữa.
Ngày chia tay, hai đứa lại khóc như đã khóc trước mộ mẹ Hân. Cái cầu đò cũ   kỹ bây giờ hình như run rẩy hơn . Nước sông chơt dừng hẳn lại. Hân tặng cho tôi cuốn tập có ép bướm và hoa dại mà Hân coi là một báu vật. Cái nhà chòi quạnh quẽ nín thinh, dấu chân hai đứa ra vào rồi sẽ tan đi theo nắng mưa của trời đất.
Con chim đại bàng rộng cánh trong mơ ước ngày xưa đã gãy cánh một mình trên ngọn đồi đầy bông sim tím. Tôi đưa cho Hân tấm hình đen trắng của hai đứa chụp chung với cô Chiêu trong ngày phát thưởng cuối năm. Hân ôm tấm hình vào lòng rồi vụt chạy theo dì Hân xuống đò để đón tàu lớn xuôi về Long Thuận. 

Tôi nức nở gọi Hân, ba mẹ tôi níu tay giữ lại. Qua cái lờ mờ của sương sáng sớm, tôi thấy Hân đứng vẫy tay giã biệt ở cuối đò rồi khuất mất.
Dòng sông cuồn cuộn chảy, dường như muốn cuốn trôi chiếc đò đi nhanh hơn để nổi buồn mất bạn của hai đứa tôi đừng kéo dài thêm nữa.
Tôi chia tay Hân từ đó. Dòng sông cách ngăn hai bên nhà tự nó có lẽ là một định mệnh. Bên cù lao xóm nhà Hân đã không còn khói cơm chiều quyện trắng.
Mấy ngọn cau già cũng đã rụng lá tự lúc nào. Và cũng từ đó, tôi không còn thấp thỏm ra cầu đò chờ con đò bên kia sông buổi sáng.


Con cá chết đuối

Xem và suy nghĩ


“ Có một người chuyên thuần hóa rồi nuôi dậy thú hoang, thú dữ…biết hành động, làm trò vui  khi nghe tiếng người sai khiến, để bán cho các gánh xiệc. Ông ta rất nổi tiếng trong giới làm xiệc, phải nói, ộng ta là một bậc thầy trong việc nuôi, dậy thú làm xiệc.
Đã nổi tiếng và giầu có nhờ tay nghề, nhưng ông ta có vẻ như chưa hài lòng với những thành công nuôi dậy thú vật của ông ta.
Ông ta nghĩ đến cách :

“ phải làm thế nào để đưa một con cá lên sống trên cạn và phải  đi được như động vật hai chân 

Ông ta bắt đầu thực hiện bằng cách “mỗi ngày ông đổ bùn vào hồ nước nuôi cá.”
Hồ nước bị đặc dần dần theo ngày tháng, con cá ông nuôi cũng mỗi ngày dần dần bị đẩy lên sống trong vũng bùn lõang, lúc nào đầu cá cũng ngẩng cao trên mặt bùn để thở.
Mỗi lần cho cá ăn, ông ta thường tìm cách làm cho cá phải cất mình cao khỏi mặt bùn, ngóc đầu lên đớp mồi như những lần ông cho mèo hay chó ăn, chúng cũng phải chồm lên vồ mồi.
Bùn càng ngày càng khô dần, con cá ông nuôi cũng đã quen dần với môi trường sống thay đổi chậm chạp.
Không biết thời gian nuôi và dậy con cá này mất bao năm tháng ?
Nhưng nay ông đã thành công.
Con cá ông nuôi từ bùn loãng, sệt,  qua đặc, rồi sau cùng bùn đã trở nên khô cứng, cũng qua cách tập luyện kiên nhẫn của ông, đến nay, cá đã nghe được những tiếng gọi của ông, làm theo những gì ông chỉ dậy, và kỳ công hơn cả là con cá ấy đã đi được trên hai cánh  đuôi như  lòai động vật hai chân.
Ông có thể dẫn con cá của ông đi chơi như người ta dẫn chó, mèo đi rạo mát mỗi chiều.
Rồi có một buổi chiều, như nhiều buổi chiều ông vẫn dẫn cá đi chơi, ai thấy cũng nhòm ngó, chầm trồ thích thú vì quá lạ.
Không lạ sao được ! Cá sống trên cạn, lại biết đi nữa !
Lạ quá đi chứ !!!

Bất chợt,  trời đổ cơn mưa !!!

Cũng như những người khác, đang giắt chó, mèo, ông phải chạy tìm nơi trú mưa, mải nhìn trời xem cơn mưa bao giờ tạnh, ông cũng quên cả chăm sóc con cá của mình.
Đến khi trời ngớt mưa, định bước chân đi,  ông nhìn lại, thấy con cá của ông không còn cột ở đầu dây ông vẫn dẫn nó đi chơi !!!
Ông vỗi chạy trở lại khu vườn ông vừa dẫn cá đi rong, xem nó lạc đâu mất….
Ông đi lại đọan đưòng ông và cá chạy trú mưa ……

Chợt một hình ảnh làm ông choáng váng, muốn ngã vật ra đất, khi ông nhìn thấy con cá ông nuôi dậy trong bao năm tháng, nay đã CHẾT, Nó CHẾT thật rồi,. nó nằm trương bụng trong một vũng nước chỉ sâu hơn chiều cao của nó.( Vì cá đã biết đi, nên gọi là chiều cao thay vì chiều dài)

Con cá  đã CHẾT ĐUỐI trong vũng nước sau cơn mưa !!!

Cuối câu truyện không thấy nói gì về người nuôi dậy thú này nữa.

Chẳng lẽ “ CÁ CHẾT LÀ HẾT TRUYỆN ?”.
Không, truyện không hết ở đó dù cá  đã chết đuối !

Cá đã chết , chết trong chính môi trường sống nguyên thủy của nó,

chỉ vì nó: KHÔNG CÒN  BƠI ĐƯỢC NỮA ! NÓ KHÔNG CÒN THÍCH HỢP VỚI CHÍNH MỘI TRƯỜNG SỐNG CỦA NÓ…… CÁ  CHẾT ĐUỐI !!!



Sự thật bất ngờ về cuộc đời danh họa Picasso

Sự thật bất ngờ về cuộc đời danh họa Pablo Picasso

Picasso từng được rửa tội và đặt tên là Pablo Diego José Francisco de Paula Juan Nepomuceno María de los Remedios Cipriano de la Santísima Trinidad Martyr Patricio Clito Ruíz y Picasso.

- Tên đầy đủ của Picasso có tất cả 23 từ. Lúc mới ra đời, bà đỡ tưởng Picasso bị chết yểu. Khi đi học, Picasso là một học sinh vô kỷ luật và thường bị đuổi ra khỏi lớp… Đó là một vài sự thật thú vị về danh họa người Tây Ban Nha.

Tên đầy đủ của Picasso có tất cả 23 từ
Sự thật bất ngờ về cuộc đời danh họa Pablo Picasso
Picasso từng được rửa tội và đặt tên là Pablo Diego José Francisco de Paula Juan Nepomuceno María de los Remedios Cipriano de la Santísima Trinidad Martyr Patricio Clito Ruíz y Picasso. Cái tên rất dài này bao gồm tên của nhiều vị thánh và tên của một số họ hàng thân thiết với gia đình. “Picasso” thực tế là tên họ thừa hưởng từ mẹ - bà Maria Picasso y Lopez. Tên của cha Picasso là Jose Ruiz Blasco.

Khi Picasso ra đời, bà đỡ tưởng rằng ông bị… chết yểu
Mẹ của Picasso đã rất khó khăn mới có thể sinh ra ông. Lúc chào đời, Picasso rất yếu ớt, đến mức bà đỡ tưởng rằng đứa bé đã bị chết yểu, vì vậy, bà đặt cậu bé Picasso lên bàn để mọi người vào chào từ biệt cậu bé tội nghiệp. Một người bác của Picasso vốn là bác sĩ - ông Don Salvador, đã thử một biện pháp rất đơn giản để cứu sống đứa cháu trai.

Ông Don Salvador vốn bị nghiện thuốc lá. Lúc vào chào từ biệt cháu, ông đang ngậm điếu thuốc trên môi. Để thử phản ứng của đứa trẻ, ông liền nhả khói thuốc lá vào mặt cậu bé. Khuôn mặt đứa cháu trai có biểu hiện khó chịu và ngay lập tức, đứa trẻ bật khóc.

Từ đầu tiên mà Picasso biết nói là “bút chì”
Sự thật bất ngờ về cuộc đời danh họa Pablo Picasso
Picasso có lẽ đã được sinh ra để làm họa sĩ. Từ đầu tiên mà ông biết nói là “piz” - một từ viết tắt của “lápiz”, trong tiếng Tây Ban Nha có nghĩa là “bút chì”. Cha của ông cũng vốn là một họa sĩ, một giáo sư giảng dạy về hội họa.

Chính cha đã cho Picasso những bài giảng đầu tiên về mỹ thuật từ khi ông lên 7. Khi Picasso ở tuổi 13, cha ông đã thề sẽ không bao giờ cầm cọ vẽ nữa bởi ông cảm thấy cậu con trai đã thực sự vượt qua mình.

Bức tranh đầu tiên của Picasso
Sự thật bất ngờ về cuộc đời danh họa Pablo Picasso
Lên 9 tuổi, Piccasso đã thực hiện hoàn chỉnh bức tranh đầu tiên có tên “Le picador” khắc họa một người đàn ông cưỡi ngựa trong một trận đấu bò tót.

Sự thật bất ngờ về cuộc đời danh họa Pablo Picasso

Bức tranh “nghiêm túc” đầu tiên mà Picasso dồn tâm sức thực hiện là “First Communion” (Lễ ban thánh thể đầu tiên) khắc họa cha mẹ và em gái của ông đang hành lễ trước bàn thờ Chúa. Picasso mới 15 tuổi khi hoàn thành bức tranh này.

Picasso là một học sinh… “vô kỷ luật”
Không nghi ngờ gì Picasso là một thiên tài trong lĩnh vực hội họa. Khi còn đi học ở trường, cậu bé Picasso cũng được đánh giá là già giặn hơn hẳn các bạn bè cùng lớp. Picasso ghét bị ra lệnh phải làm gì, vì vậy, cậu bé thường hay phạm lỗi vô kỷ luật trong lớp học, thường bị đuổi ra khỏi lớp và phải lên phòng “xưng tội” để chịu kỷ luật.

Khi ngồi trong phòng “xưng tội” - một căn phòng có bốn bức tường màu trắng với duy nhất một chiếc ghế dài để học sinh vô kỷ luật ngồi trên đó suy ngẫm về lỗi lầm của mình - Picasso cảm thấy rất yên bình và rất thích được ở trong phòng này vì ông có thể thực sự tập trung vẽ.

Mỗi khi bị đuổi ra khỏi lớp và phải lên phòng kỷ luật ngồi, ông đều mang theo giấy bút để vẽ: “Tôi rất thích căn phòng đó vì tôi có thể vẽ không ngừng nghỉ, lại chẳng bị ai làm phiền. Thời đó, tôi đã nghĩ rằng mình ở trong căn phòng này mãi cũng được”.

Có phải Picasso đã đánh cắp bức Mona Lisa?
Năm 1911, khi bức nàng Mona Lisa bị đánh cắp khỏi viện bảo tàng Louvre (Pháp), cảnh sát đã tìm đến tra hỏi một người bạn của Picasso - nhà thơ Guillaume Apollinaire. Apollinaire đã nói với cảnh sát rằng có thể Picasso chính là kẻ trộm, vì vậy, cảnh sát đã tới bắt Picasso đi để thẩm vấn, nhưng sau đó ông đã được thả ra vì không có bằng chứng phạm tội.

Xu hướng lập thể
Bức “Le Guitariste” của Pablo Picasso (vẽ năm 1910)Bức “Le Guitariste” của Pablo Picasso (vẽ năm 1910)
Năm 1909, Picasso và một họa sĩ Pháp có tên Georges Braque đã cùng khởi xướng xu hướng tranh lập thể. Tuy vậy, ở thời điểm đó, hai vị họa sĩ đã không đặt tên cho xu hướng nghệ thuật mà mình đang đi tiên phong.

Chính nhà phê bình mỹ thuật người Pháp Louis Vauxcelles là người đầu tiên đặt tên cho xu hướng này, sau khi nhận thấy tranh của Picasso và Braque bao gồm toàn những hình khối nhỏ.

Picasso từng là bạn thân của Marc Chagall
Picasso (trái) và Chagall (phải)
Picasso (trái) và Chagall (phải)
Picasso và Chagall, hai vị họa sĩ vĩ đại của thế kỷ 20, thực tế từng là hai người bạn rất thân, cho tới một tối nọ khi Picasso tới dùng bữa ở nhà Chagall hồi năm 1964. Trong lúc chuyện vui, Picasso hỏi Chagall: “Khi nào thì cậu sẽ trở về Nga?”.

Thực tế cả Picasso và Chagall đều là những người ngoại quốc trên đất Pháp, Chagall là người Nga và Picasso là người Tây Ban Nha.
Chagall trả lời với một nụ cười: “Sau khi anh đặt chân tới Nga, tôi sẽ trở về ngay lập tức. Tôi biết rằng anh sẽ rất được người Nga yêu quý, ngoại trừ các tác phẩm của anh. Anh sẽ phải vật lộn kiếm sống ở nước Nga và tôi sẽ chờ đợi để xem anh sẽ sống như thế nào”.

Picasso không vừa lòng với câu nói này. Sau bữa tối, khi rượu đã bắt đầu ngấm và sự tỉnh táo đã không còn như lúc đầu, Picasso lại gần Chagall và bảo: “Tôi cho rằng với cậu, tất cả chỉ là vấn đề tiền bạc. Tôi biết cậu sẽ chẳng trở về quê hương mình trừ phi ở đó có thật nhiều tiền cho cậu kiếm chác”.

Nhà văn kiêm họa sĩ người Pháp Francoise Gilot cũng có mặt trong bữa tối hôm đó. Về sau, ông kể lại rằng thoạt tiên, Chagall nở nụ cười rất sảng khoái như chẳng có vấn đề gì khi nghe Picasso nói vậy, nhưng thực tế, trong lòng Chagall rất giận. Kể từ sau bữa tối đó, tình bạn của Picasso và Chagall chấm dứt.

Hai “người khổng lồ” trong lĩnh vực hội họa - Picasso và Chagall - trong những năm tháng cuối đời đều có tham vọng trở nên giàu có nhờ việc bán tranh, có lẽ vì vậy mà họ đã tan vỡ tình bạn lúc tuổi già xế bóng.

Picasso là một người đàn ông đào hoa
Picasso và người vợ thứ hai - Jacqueline Roque
Picasso và người vợ thứ hai - Jacqueline Roque
Trong suốt cuộc đời mình, Picasso có rất nhiều mối tình. Thực tế người ta không thể biết hết những người tình “thoảng qua” của ông. Picasso có hai đời vợ. Người vợ thứ nhất - Olga Khokhlova - kém ông 10 tuổi. Người vợ thứ hai - Jacqueline Roque - kém ông… 52 tuổi. Trong suốt “thiên tình sử” của mình, Picasso luôn chỉ hẹn hò với những cô gái trẻ, thường ở độ tuổi ngoài 20.

Picasso được chôn cất ở đâu?
Picasso và người vợ thứ hai - Jacqueline Roque
Picasso được chôn cất trong khuôn viên của một tòa lâu đài mà ông đã mua hồi năm 1958, nằm ở ngôi làng Vauvenargues, miền nam nước Pháp. Ngôi mộ của ông thu hút rất đông du khách đến thăm. Ông đã yên nghỉ vĩnh hằng tại đây sau khi qua đời ở tuổi 91 năm 1973.

Picasso đã mua lại lâu đài này sau khi phát hiện ra nó nằm trên sườn đồi Mont Sainte-Victoire - ngọn đồi đã từng xuất hiện hơn 30 lần trong tranh của họa sĩ Pháp theo trường phái Ấn Tượng - Paul Cézanne. Khi mua được lâu đài này, ông đã nói với mọi người rằng: “Thế là tôi đã tự mình mua được ngọn đồi của Cézanne”.
Duy Quang chuyển

Thứ Hai, 14 tháng 4, 2014

Quê tôi - Hồ thị Đậm (cựu GV CĐLong Hoa Tây Ninh

                                                QUÊ  TÔI
                        Hội Ái hữu Biên hòa rất hân-hạnh giới thiệu cùng quí vị một bài văn rất hay, một tuyệt tác của Thân hữu Biên hòa, Bà Hồ thị Đậm, bút hiệu Trường Phan
Dưới ngọn bút điêu luyện, những dòng kỷ-niệm chan chứa tình quê, thấm đậm hương lòng yêu mến về nơi xưa thuở nào khi bóng thời gian đã dần mang đi những cuộc đời nội, ngoại, được viết ra để cùng chia sẻ cùng chúng ta. Một bài văn không thể thiếu mất trong cuộc sống tạm dung nơi xứ người, một di sản văn hóa quí báu xin dành cho đời sau. Hội chân-thành cảm tạ Thân-hữu Bà Hồ thị Đậm. Kính mời quí vị .
                                                                                                QUÊ TÔI
                                                Trong cuộc sống đôi khi có những bất ngờ gây ấn tượng sâu xa vào tâm não con người chúng ta, nhất là những bất ngờ về quê hương.Hầu hết ai cũng nghĩ mình chỉ có một quê hương. Vậy mà sau biến cố 1975, biết bao người con của Việt nam đã gọi một đất nước xa lạ nào đó là quê hương thứ hai của mình. Chung qui, tôi cũng thế.Tôi còn thấy, tôi có vài quê hương nhỏ trong quê hương lớn Việt-nam.Mỗi quê hương nhỏ ấy có bao kỷ-niệm khó quên. Tôi có quê hương thời thơ ấu, quê tôi thời trưởng-thành và quê tôi buổi chiều vàng bóng xế, khi cuộc sống lôi cuốn tôi từ một cù lao thơ mộng ở Tiền-giang đến vùng đất đạo Tây-ninh, rồi nay ở một tỉnh nhỏ Kentucky. Các nơi đều có nét thân thương riêng biệt, tuy nhiên khi trở về già người ta hay hoài tưởng thời thơ-ấu và thường nhớ về quê hương của tuổi non dại. Tôi không ra thông lệ đó.
                                                Tiền-gianglà một trong  hai con sông lớn nhất ở miền Nam Việt-nam, cách huyện Tân châu về nướng Đông khoảng năm cây số ngàn. Khúc sông nầy rất rộng và chính giữa lòng sông là cù-lao Long-khánh lớn và cù lao Long khánh nhỏ, chúng nằm cạnh nhau, chỉ ngăn cách bởi cái hồ dài. Theo mấy cụ già xưa kể lại rằng, có lẽ khúc sông nầy trước kia không rộng như thế, nhưng vì giữa sông nổi lên hai cồn cát to, nên khi nước chảy tới đây bị nghẽn, vì thế hướng nước lại đẩy vào hai bên bờ sông, lưu-lượng nước khá lớn nên làm đất hai bên bờ bị xói mòn và lở dần, lở dần theo năm tháng; vì vậy khúc sông ở đây trở nên rộng bao la.Cồn cát thì ngày càng lớn và cao dần, biến thành cù-lao. Dân chúng sống trên hai cù –lao nầy từ lâu đời rồi và Long khánh lớn là nơi tôi sống cả một thời thơ-ấu.
                                                Vào khỏng tháng bảy ta , nước sông Tiền-giang bắt đầu dâng cao, gọi là mùa nước nổi. Nước chảy mạnh, dòng nước trở nên màu hồng vì trong nướtc có chứa đất phù-sa. Nước sông theo mấy con rạch, kênh đào chảy vào đồng ruộng, mang đấtt phù-sa đấp lên ruộng vườn, nên đất ở cù- lao rất màu-mỡ. Mùa nước lớn, trong đồng nước ngập sâu, chỗ cạn khoảng vài mét, chỗ sâu độ ba, bốn mét.Vì vậy trước khi nước sông dâng, nông dân lo dọn đất và sạ lúa, loại lúa nầy gọi là lúa nổi vì lúc nào lúa cũng vượt cao hơn mặt nước sáu hoặc bảy tấc.Đến khi nước rút cạn, coi như qua thời gian sáu tháng thì lúa chín. Tuy cùng làm ruộng nhưng nông dân ở cù-lao quê tôi được nghỉ ngơi suốt mùa nước nổi, vì họ không cần bón phân, không phải làm cỏ như mấy vùng ruộng cao, nhưng số lúa thu-hoạch được gấp bội.Người giàu có đất nhiều, số thu-hoạch  đến vài ngàn giạ lúa. Người nghèo có ít đất ruộng cũng có lúa đổ đầy bồ để ăn suốt năm. Mấy cụ già đắc ý hay nói “ Dân làng ta làm chơi ăn thiệt “
                        Mùa khô nông dân trồng dưa, đậu hoặc bắp.Số thu-hoạch mùa nào cũng cao, nhờ vậy đời sống người dân ở đây thật thoải-mái.Nhờ cuộc sóng dễ dàng nên lòng người dễ dãi, việc lễ-nghĩa được coi trọng, người người cư xử với nhau thân thiện, đoàn-kết, trộm đạo ít xảy ra. Đặc-biệt dân làng hiếu khách, khi có khách xa đến viếng, họ hay làm gà, vịt đãi khách, bữa cơm rất thịnh- soạn vì gia-cầm nhà nào cũng có nuôi và rau quả thì nhà nào cũng có trồng.
                        Trong mùa nước nổi, người dân  không phải bận-rộn việc đồng-áng, nhóm người trẻ thường rủ nhau đá gà, đá cá, đá gà hoặc đờn ca giải-trí. Những cụ già gặp nhau đàm-đạo, đánh cờ tướng hay ngâm vịnh.Có khi chánh quyền địa phương mời mấy gánh hát về hát ở đình làng. Trong những ngày nầy, trai gái có dịp gặp nhau, trẻ con vui nhộn như ngày Tết. Cũng trong mùa nước nổi, có nhiều người đi giăng câu, đặt nò, đặt lọp kiếm cá ăn hoặc bán. Không có gì thú-vị bằng bơi xuồng vô đồng vào sáng sớm, hít thở không khí trong lành của đồng ruộng bao-la, nhìn bầu trời xanh với vài cánh nhạn bay lượn trên không, phía dưới là thảm lúa xanh, gió thổi rì-rào, ngọn lúa rập-rờn theo làn gió, chạy tít tận chân trời xa thẳm. Trên thảm lúa xanh, lác-đác mấy cụm  điên-điển với những bông vàng rực-rỡ, khoe mình trong nắng sớm. Có những khoảng trống không có lúa, đó là giang-sơn của bông sen và bông súng, lộng-lẫy với những cánh hoa màu trắng hoặc hồng, chen nhụy vàng đẹp mắt. Đó đây những con ốc bươu mập tròn đeo trên thân lúa, rau muống non mềm, dài cả thước nằm rải-rác nhiều nơi. Bơi xuồng vô đồng ruộng, sau vài ba giờ, trong khoang xuồng đầy ấp nào ốc, bông điên-điển, rau muống, ngó sen, bông súng. Người dân ở đây thường xào ốc với bông điên-điển hoặc với cọng súng hay ngó sen ăn với cơm. Người ta cũng dùng ngó sen làm gỏi làm dưa, ăn giòn, ngon tuyệt.

Sau khi gặt lúa là tới ngày tát cá đồng trong những cái đìa to lớn, nằm rải-rác trong những thửa ruộng. Đìa là cái ao to, bề dài độ hai mươi mét, bề ngang độ sáu, bảy mét, bề sâu độ ba, bốn mét. Trong đìa người ta để chà gai, lục bình để cá thích vào trú-ngụ.Người có ruộng nhiều, họ đào đìa để khi nước bắt đầu cạn, cá đồng tập trung xuống đìa, định cư ở đó.Ngoài lúa, người chủ ruộng còn có số tiền khá lớn khi bán cá ở các đìa.Những ngày tát cá, trong cánh đồng cũng vui nhộn Người ta đi mua cá về bán lại cho các vựa ở chợ, mua về làm khô, làm mắm, hoặc cho vào ao nuôi, khi cần bắt lên ăn. Có nhiều loại cá đồng như cá lóc, cá trê, cá rô, cá chạch, lươn...Cá lóc to lớn, có con nặng hơn một ký, các loại cá khác cũng mập tròn, béo ngậy. Từ đìa ra đường cái, không có đường cho  xe đi, người ta phải gánh cá đi trên bờ ruộng nên vất-vả lắm. Vì lúc đó cá rẻ, nên ai cũng muốn mua nhiều, nhưng khi gánh cá đi thì ôi thôi nặng quá, vì vậy, đi dọc đường họ hay dừng lại, lựa những con cá nhỏ bỏ bớt. Trẻ con biết thế, xách giỏ đi theo sau, nhặt những con cá bị bỏ rơi, khi về đến nhà cũng được ba ,bốn ký; mỗi ngày chúng nhặt ba, bốn lượt, , có khi chúng không mang về nhà nữa ,mà cùng nhau nhặt cá, đem vào bóng mát dưới lũy tre, dùng nhánh tre khô đốt lên nướng cá, quây-quần cùng nhau ngồi ăn vui-vẻ. Ở cù lao tuy được nhiều ưu-đãi của thiên-nhiên nhưng cũng có cài bất tiện, như việc đi lại khó-khăn, muốn ra khói cù lao, phải dùng đò ngang qua sông, mất nhiều thì giờ.Bây giờ ở đây có trường Cấp ba, ngày xưa chỉ có trường Sơ cấp (chỉ có Lớp Một, Lớp Hai và Lớp Ba ) Nhà nào muốn cho con học cao hơn thì phải có nhiều tiền cho con ở trọ học ở Tỉnh hoặc ở Sài-gòn . Việc cho con đi học xa là cả vấn đề khó-khăn !
Những người khá-giả, có đất thổ cư nhiều, họ đấp đất cao, trồng cây trái xung quanh nhà, trước nhà là sân xi măng hoặc sân gạch tàu rộng lớn để phơi lúa bắp.Sau nhà họ, gần bờ ruộng còn có gò đất cao để chôn cất thân-nhân khi quá-cố. Trái lại những người nghèo, khi có thân-nhân chết vào mùa nước nổi, không có gò đất cao, họ phải cất nhà quàn thô-sơ trong cánh  đồng  xa, để quan tài thân-nhân ở đó. Mỗi ngày họ bơi xuồng đến đó đốt nhang, đèn hay cúng cơm, chờ khi nước rút khô thì đem quan tài về chôn-cất ở phần đất sau nhà họ.Ban ngày, giữa cánh đồn g bao la, gặp nhà quàn cũng sợ lắm rồi, ban đêm ,  một mình bơi xuồng trong ruộng, gặp nhà quàn càng kinh-dị hơn. Cậu tôi kể, có một lần, vào buổi chiều nọ, cậu vào đồng xa để giăng câu. Trên đường về nhà, trời sắp mưa to, mây kéo đen nghịt một góc trời, dông gió nổi lên, cậu tôi cố bơi xuồng về nhà, nhưng cậu nghĩ, đường còn xa không thể về kịp vì cơn mưa sắp tới, cậu phải tìm chòi nhỏ mà người nông dân hay cất để nghỉ trưa trong mùa nước cạn , để  cậu nghỉ tạm cho qua cơn mưa. Thình-lình cậu thấy một căn chòi, mừng quá,cậu cố bơi xuồng về hướng  đó, khi tới nơi trời tối đen và cơn mưa vừa trút xuống, cậu vội cột xuồng vào cây cột tre trong gian chòi rồi nằm trên xuồng hút thuốc, chờ qua cơn mưa sẽ về nhà. Cậu nằm nghỉ chừng mười phút thì trời chớp, lóe lên ánh sáng, cậu thấy có một quan tài trong gian chòi nầy. Thì ra đây là nhà quàn người chết !. Vì gió to, làm nhang đèn tắt hết nên cậu lầm tưởng đó chỉ là căn chòi bình thường.Sợ quá, cậu lấy dầm cố bơi khỏi nhà quàn dù mưa to, gió lớn. Cậu cố bơi, bơi hoài không được, cậu tưởng người chết kéo níu xuồng cậu lại, rồi cậu chợt nhớ ra, cậu chưa mở dây xuồng !Sợ điếng người, loay-hoay mãi cậu mở dây không được, cuối cùng cậu phải dùng dao chặt vội dây và bơi riết về nhà. Vừa bơi cậu vừa tưởng chừng người chết đang theo sau lưng cậu, cậu mất bình-tĩnh, run lập-cập, lạnh vì mưa thì ít, nhưng lạnh vì sợ ma thì nhiều. Nghe cậu kể, sắp nhỏ chúng tôi lúc bấy giờ cũng sợ theo, càng lấn xích dần về chỗ cậu ngồi. Sau nầy vì vệ-sinh chung, tục nhà quàn không còn nữa .
Trong mùa khô, trước nhà tôi, cách nhà chừng hai trăm mét là cái cồn cát to. Mỗi ngày vào buổi sáng, nước thủy triều dâng cao thì cồn cát mất dạng, nó nằm dưới mặt nước. Đến chiều, khi nước thủy triều xuống thì cồn cao hơn mặt nước độ năm, sáu tấc.Cồn nằm phơi mình với những hột cát vàng óng-ánh dưới ánh mặt trời. Vì sông lớn nên nước rất sạch, trong  veo. Cồn nằm cách bờ không xa và mực nước không sâu nên đó là nơi lý tưởng cho trẻ con trong  xóm đến tắm, đùa-giỡn trên bãi cát. Ở đây có nhiều ốc gạo nên người lớn cũng thích đến tắm để nhặt ốc.Lúc yên trời, trẻ con chúng tôi hay rủ nhau ra chơi ở vườn chuối gần bờ sông, chặt tàu chuối làm nhà chòi, xé lá chuối làm kèn, lấy hộp nhận cát vào rồi gõ ra trên lá chuối làm bánh.Chúng tôi thích nghe tiếng xào-xạc của những tàu lá chuối cọ vào nhau khi gió thoảng qua hay tiếng vi-vu như sáo thổi của hàng lau sậy cạnh mé sông. Lúc bình minh, Tiền-giang đẹp lắm, trên là bầu trời rộng bao-la,mây xanh cao vút, đó đây xen vào những đám mây ngũ sắc đẹp tuyệt vời, phía dưới là dòng nước trong xanh lững-lờ chảy. Những cụm lục bình với những hoa to màu hoa cà rực-rỡ,nổi bập-bềnh trôi theo dòng nước. Nhấp-nhô đó đây những thuyền tàu qua lại.Dân làng lúc nào cũng được hít thở không-khí trong lành, mát rượi từ phía sông thổi vào.
         Trước năm 1.954, đoàn tàu buôn của Pháp từ Nam-vang đi Sài-gòn, khi đến huyện Tân châu, tàu dừng lại, , cất hàng lên bán và nhận hàng khác đem bán ở Sài-gòn. Một đoàn tàu có khoảng hai mươi chiếc tàu, tàu không lớn lắm nhưng mỗi chiếc dòng theo sau khoảng hai mươi chiếc ghe chài lớn hoặc xà-lan sắt chở những khúc gỗ to từ Nam-vang. Những chiếc ghe chài khác chở nhiều mặt hàng như: đậu, bắp, lúa, cá ,khô, mắm, bò, heo...Chiếc nầy được dòng sau chiếc kia bằng sợi  dây thừng thật to bằng cổ tay quấn ngang,quấn dọc và ghe nầy cách ghe kia không xa ,khoảng cách chỉ độ một mét nên khi tàu chạy, người ta có thể bước từ ghe nầy sang ghe kia một cách dễ-dàng.
                        Mỗi khi nghe đoàn tàu kéo còi inh-ỏi, trẻ con chúng tôi chạy nhanh ra mé sông , đứng nhìn tàu chạy ra chiều thích-thú. Muốn đi Sài-gòn, dân ở cù-lao Long-khánh hay lên Tân-châu mua vé và đi theo đoàn tàu nầy.Khi tàu lướt sóng, tôi thích đứng ở bao-lơn tàu ngắm dòng sông. Tàu đang chạy, nhìn hai bên bờ sông, chỉ thấy hai rặng cây xanh trải dài mút mắt, như chạy ngược chiều với đoàn tàu, gió lồng-lộng thổi, trên là vòm trời xanh, dưới là làn nước biếc, lă-tăn gợn sóng.
                        Mỗi khi có bão tố, Tiền-giang trông hung-dữ vô cùng. Những lượn sóng to, cao đến một, hai mét, hùng-hổ  đuổi xô nhau liên tiếp để rồi cùng va mạnh vào bờ oàm-oạp và biến mất. Không có ai đủ can đảm xuống sông lúc bão tố, vô phước cho những chiếc ghe xuồng đang đi trên dòng sông, họ vội chèo thuyền vào bờ ẩn-núp tạm. Năm nào Tiền giang cũng nhận chìm bao ghe thuyền và cướp bao mạng sống người dân vô tội.trong những năm chinh-chiến, thỉnh-thoáng có xác người bị giết thả trôi sông, xác trôi giạt vào bờ, vì lòng trắc-ẩn, dân làng cùng nhau vớt lên chôn cất giùm
                        Bao nhiêu năm trôi giạt nhiều nơi, nhưng tôi chưa thấy nơi nào yên lành, nhàn hạ hơn ở quê tôi.Tôi yêu quê tôi và những người dân hiền lành, chất- phác.Ngày nay vẫn còn mái đình ở đầu làng với cây cổ-thụ cao vút, vẫn còn lũy tre xanh lã ngọn bao bọc làng mạc, vẫn còn những bến đò ngang thơ mộng và những cây dừa nghiêng bóng bên sông. Tuy nhiên làng tôi giờ đây đã thay- đổi nhiều vì dân số gia tăng nhanh và người ở xứ khác đến định cư khá đông, nhà cửa nhiều gấp bội.
                        Sau 1.975, nhà nước mới muốn có nhiều gạo để xuất khẩu, nên bắt buộc nông dân khắp nơi trong nước trồng lúa ngắn ngày. Nông dân ở cù lao phải lấp mấy con kênh lại để tránh nước sông tràn vào ngập ruộng trong mùa nước nổi. Có nghĩa là đồng ruộng ở cù lao không còn nhận phù-sa của Tiền-giang nữa, do đó ruộng ở đây dần-dần kém màu-mỡ, người dân phải dùng phân bón nhiều và không được hưởng cuộc sống an-nhàn trong mùa nước nổi như ngày xưa.
                        Trước kia khi nước sông dâng cao, cá sông theo mấy con kênh vào ruộng sống , đẻ trứng, bây giờ dòng nước bị găn-chận, không  vào ruộng được và vì ảnh hưởng thuốc trừ sâu nên cá càng ngày càng khan-hiếm, không còn dư thừa phung-phí như câu hò:
                                                                                                “ Xóm trên làm cá bỏ đầu,
                                                                                                Xóm dưới thấy vậy xỏ xâu đem về “ 
                        Sau bao năm bon-chen , dãi dầu với cuộc sống, lắm lúc tôi thèm sống lại khoảng thời gian thanh bình, thơ mộng của quê tôi thời thơ-ấu,  dưới mái gia-đình ấm-cúng bên cạnh cha mẹ, anh chị thân-thương. Dù ở cách xa vạn dặm mà tâm-hồn tôi vẫn hướng về chốn cũ , quê xưa vô cùng yêu- quí.
                                                                                                                                                                        Hồ thị Đậm  (2005 ) 
     (ảnh:du lich Tiền giang)                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                  

                                               





               





   

Thứ Bảy, 12 tháng 4, 2014

14 cây cầu nổi tiếng Thế giới

Những công trình kiến trúc vĩ đại luôn thu hút sự quan tâm của du khách đến tham quan và khám phá, trong đó có 14 cây cầu nổi tiếng thế giới.



1. Cầu Great Belt, Đan Mạch.
Great Belt gồm 2 cây cầu (một phần ở phía Đông và một phần ở phía Tây) bị chia tách bởi hòn đảo nhỏ Sporo. Cầu treo ở phía Đông dài 1624m, chạy xuyên qua StoreBelt, nằm giữa hòn đảo của Zealand và Sprogo. Đây là một trong những cây cầu có nhịp chính dài nhất thế giới. Hai cột tháp của nhánh cầu phía Đông là điểm cao nhất (cao 254m so với mực nước biển) ở Đan Mạch. Nhánh cầu phía Tây dài 6611m, nối Sprogo và Funen, là sự kết hợp giữa đường sắt và đường bộ. Du khách sẽ thực sự thích thú khi ngắm nhìn khung cảnh xung quanh từ trên cầu.

2. Chapel, Thụy Sĩ 
Cầu Chapel dài 204m, bắc qua con sông Reuss thuộc thành phố Luzerne ở Thụy Sĩ. Đây là cây cầu bọc gỗ cổ xưa nhất châu Âu và là một trong những điểm du lịch hấp dẫn chính của Thụy Sĩ. Cầu xây dựng vào năm 1333, được thiết kế để bảo vệ thành phố Luzerne chống lại các cuộc tấn công. Bên trong cây cầu có trưng bày các bức vẽ từ thế kỷ 17 miêu tả các sự kiện lịch sử của Luzerne. Nhiều bức tranh vẽ và bộ phận chính của cây cầu bị hủy hoại trong một trận hỏa hoạn năm 1993. Tuy nhiên, nó đã nhanh chóng được xây dựng lại sau đó.

3. Chengyang, Trung Quốc 
Cầu Chengyang được xây dựng vào năm 1916. Đây là cây cầu nổi tiếng nhất so với những cây cầu khác trong vùng Dong Minority của Trung Quốc. Cầu bắc qua sông Linxi, được xây dựng từ gỗ và đá, dài nhất trong tất cả các cây cầu cầu gió và mưa ở Trung Quốc. Cầu Chengyang dài 64.4m, rộng 3.4m và cao 10.6m. Đây là công trình xây dựng thu hút khá nhiều du khách.

Cầu Alcantara-Tây Ban Nha
Bắc qua sông Tagus tại Alcantara ở Tây Ban Nha, cầu Alcantara là kiệt tác của thời La Mã cổ xưa. Cầu được xây dựng vào khoảng giữa năm 104 – 106, theo đơn đặt hàng của hoàng đế Trajan vào năm 98 sau Công nguyên. Cầu Alcantara chịu nhiều thiệt hại do chiến tranh hơn là do thiên nhiên tác động. Người Marốc đã hủy hoại phần nhịp cầu nhỏ nhất ở một bên, trong khi đó nhịp cầu thứ hai ở bên kia lại bị hủy hoại bởi người Tây Ban Nha trong quá trình đấu tranh chống lại người Bồ Đào Nha. Lối kiến trúc cổ xưa là nét hấp dẫn du khách đến khám phá cây cầu lịch sử này của đất nước Tây Ban Nha.

5. Cầu cảng Sydney, Úc 
Cầu cảng Sydney là một trong những cây cầu nổi tiếng nhất nước Úc và là nơi có thể chụp được nhiều ảnh đẹp với nhiều góc độ khác nhau. Đây là cây cầu dạng vòng cung bằng thép rộng nhất (không phải lớn nhất) thế giới với điểm cao của cầu là 134m so với cảng Sydney. Phải mất 8 năm mới xây dựng xong và cầu được khánh thành vào tháng 3.1932. Vì thép có thể giãn nở theo nhiệt độ nóng lạnh nên cây cầu này có thể cao lên hoặc giảm xuống khoảng 18cm. Đây là điểm du lịch hấp dẫn của nước Úc.

6. Cầu Stari Most, Bosnia Stari Most (“Cầu cổ xưa”)
là một cây cầu nổi tiếng bắc qua sông Naretva ở thành phố Mostar của Bosnia và Herzegovina. Cầu được người Thổ Nhĩ Kì xây dựng vào năm 1566 và tồn tại trong 427 năm, cho đến khi bị hủy hoại vào năm 1993 trong cuộc chiến tranh của người Bosnia. Sau đó, một dự án được đưa ra để xây dựng lại cây cầu này và cầu mới được khánh thành vào năm 2004. Cây cầu là kiệt tác nổi bật của Bosnia.

7. Cầu Si-o-se Pol, Iran 
Si-o-se Pol (cây cầu 33 nhịp) là cây cầu nổi tiếng của thành phố Isfahan ở Iran. Cầu được xây dựng vào năm 1602 bởi Shah Abbas, chất liệu gạch và đá. Si-o-se Pol dài 295m và rộng 13,75m. Trước kia cầu có 40 nhịp, tuy nhiên dần dần giảm xuống còn 33 nhịp.

8. Cầu Akashi – Kaikyo, Nhật Bản 
Akashi – Kaikyo còn được biết đến như là cây cầu ngọc trai. Đây là cầu treo dài nhất (1991m) thế giới. Cầu bắc qua sông Akashi Strait kết nối Kobe và Iwaya trên đảo Awayi, được xây dựng trong vòng 12 năm và được khánh thành năm 1998. Nhịp cầu trung tâm trước kia chỉ dài 1.990m, nhưng trận động đất Kobe vào ngày 17.1.1995 đã làm xê dịch 2 cột tháp và làm tăng thêm 1m.

9. Cầu Rialto, Ý 
Rialto là 1 trong 4 cây cầu bắc qua kênh Grand ở thành phố Venice, Ý. Đây là cây cầu cổ xưa nhất bắc qua con kênh Grand này. Cầu đá hiện tại có một nhịp đơn được thiết kế bởi Antonio da Ponte, xây dựng và hoàn thành vào năm 1591. Nó được sử dụng để thay thế cho một cây cầu gỗ bị sụp đổ vào năm 1524. Cầu Rialto đã trở thành một trong những biểu tượng của Venice.

10. Cầu Charles, Cộng hòa Séc Charles là cầu đá có kiến trúc Gothic nổi tiếng bắc ngang sông Vltava ở Prague của cộng hòa Séc. Nó được xây dựng vào năm 1357, dưới sự bảo trợ của vua Charles IV, và được hoàn thành vào đầu thế kỷ 15. Vì là cây cầu duy nhất bắc qua sông Vltava, Charles là điểm liên kết quan trọng giữa thị trấn cổ và vùng quanh lâu đài Prague. Sự kết nối đã làm cho Prague trở nên quan trọng như là trục thương mại chính giữa miền Đông và Tây châu Âu. Ngày nay, đây là một trong những nơi có nhiều phong cảnh đẹp thu hút du khách đến tham quan Prague.

11. Cầu tòa tháp
, Vương quốc Anh Cầu tòa tháp bắc ngang sông Thame là biểu tượng của thủ đô London, Anh Quốc. Cầu được xây dựng vào năm 1886 và khánh thành 8 năm sau đó. Cầu có 2 tòa tháp vững chắc được thiết kế để chịu lực cho phần trên của cây cầu.

12. Cầu Millau, Pháp 
Millau Viaduct là cầu cáp treo khổng lồ bắc ngang qua thung lũng của sông Tern, gần Millau ở miền Nam nước Pháp. Đây là cây cầu cao nhất thế giới với cột mốc cao nhất đạt 343m, cao hơn cả tháp Eiffel.

13. Cầu Cổng Vàng, Mỹ (Golden Gate)
Cầu Cổng vàng là cầu treo bắc qua cổng vàng nối liền San Francisco và Martin County ở phía Bắc. Đây là một kiệt tác của kiến trúc sư Joseph B.Strauss. Phải mất 7 năm để xây dựng cây cầu này và nó được hoàn thành vào năm 1937. Cầu Cổng vàng là cầu treo dài nhất thế giới và là biểu tượng của San Francisco và California. Màu sắc vàng cam đặc biệt của cây cầu đã làm nó nổi bật ngay cả trong những lúc có sương mù dày đặc bao phủ.

14. Cầu Ponte Vecchio, Ý
Ponte Vecchio là cây cầu thời cổ bắc qua sông Arno ở Florence, nước Ý. Cầu nổi tiếng với các cửa hàng mua sắm tấp nập được xây dựng dọc theo chiều dài của nó... Cây cầu với nét đẹp duyên dáng của một công trình lịch sử cổ xưa của nước Ý thu hút rất nhiều du khách đến tham quan.
Theo Zing.vn

Thứ Sáu, 11 tháng 4, 2014

Ngôi đền toàn rắn độc ở Malaysia

                                      NGÔI ĐỀN toàn RẮN ĐỘC.
 
 
              NGÔI ĐỀN toàn RẮN ĐỘC. 

Nhiều người sợ hãi chết ngất khi bước chân vào đền, nhìn tứ phía đều thấy rắn độc. 


 
Ở Malaysia, có một ngôi đền kỳ lạ, là nơi tụ tập của vô số rắn độc, từ hổ mang cho đến rắn lục. 

 
Đó là đền Penang, còn gọi là Đền Rắn, thuộc tỉnh Sungai Kluang trên đảo Penang. 

 
Ngoài ra, ngôi đền còn có tên là Đền Mây Xanh, hay Đền Mây Trong, biểu tượng cho bầu trời trong xanh của đảo Penang. 

 
Mặc dù không phải ngôi đền lớn, nhưng Penang được coi là ngôi đền bí ẩn và hấp dẫn du khách hàng đầu Malaysia. 

 
Người dân khắp nơi đổ về ngôi đền này để được chiêm ngưỡng các loài rắn độc bám vắt vẻo trên xà nhà, đậu trên cây, chui vào bình hoa, bàn thờ, tượng. 

 
Ngôi đền được người Hoa xây dựng năm 1873, thờ Thanh Thủy tổ sư. Ông là Trần Chiếu Ứng, một pháp sư, anh hùng chống nhà Nguyên cuối triều Tống, quê ở An Khê – Phúc Kiến. Lúc đầu nó chỉ là cái am nhỏ phục vụ nhu cầu tâm linh của nhóm người Hoa. 

 
Điều lạ lùng là có rất nhiều loài rắn, đặc biệt là rắn lục tìm đến ngôi đền cư ngụ. 

 
Theo các nhà nghiên cứu, sở dĩ loài rắn tìm đến ngôi đền này trú ngụ nhiều, bởi trong đền lúc nào cũng có sẵn thức ăn của những người dâng cúng. 

 
Mùa xuân, khí hậu bắt đầu ấm lên, không khí ẩm ướt, rắn bò về chùa rất nhiều. Đó cũng là mùa khai hội, du khách thập phương kéo đến đền rất đông để chiêm ngưỡng rắn. 

Chiếm số lượng đông đảo nhất là loài rắn Viper. Người dân tin rằng, chúng là bầy tôi của Chor Soo Kong, tức vị thần của đền. Người Malaysia tin rằng, loài rắn có mặt ở đền là để bảo vệ, giữ gìn sự tôn nghiêm. 

 
Truyền thuyết kể rằng, Chor Soo Kong là một thầy tăng kiêm thầy thuốc. Ông là người đã cứu những con rắn bị kẹt trong một khu rừng đang bốc hỏa. Ông đã chữa trị cho rắn, rồi thả chúng về thế giới tự do. Các nhà khoa học đã nghiên cứu và khẳng định tất cả những con rắn tìm đến đền đều là loài rất độc. Chỉ một cú đớp của con rắn lục Viper, có thể đoạn mạng người trong phút chốc. 

 
Tuy nhiên, có một điều lạ, là từ cả trăm năm nay, chưa ghi nhận trường hợp nào bị rắn độc cắn ở chùa Penang. Có người sợ hãi chết ngất khi bước chân vào chùa, nhìn tứ phía đều thấy rắn. Tuy nhiên, có người bạo dạn, động chạm vào rắn, cũng không bị rắn cắn. 

 
Ban ngày, cả trăm con rắn nằm im một chỗ, mở mắt quan sát những du khách vào đền. Chúng không nhúc nhích, không trườn đi nơi khác, dù có tìm cách đuổi chúng. 

 
Khi màn đêm buông xuống, là lúc bọn rắn tìm thức ăn. Chúng bò lổm ngổm khắp đền kiếm ăn. Thức ăn là những thứ người dân dâng cúng. 

 

 
Loài Viper thích ăn trứng gà, nên trứng là thứ được dâng cúng rất nhiều trong đền. 

 

KÍNH MỜI XEM và HỌA (NẾU THÍCH) THƠ TRĂNG THU của HỒ NGUYỄN

TRĂNG THU Mây buồn kéo đám bám che trăng, Cuội ngóng chờ trông bóng chị Hằng. Chim mất tổ sầu kêu thảm thiết, Lá buông cành chiếc rớt tung ...