Thứ Sáu, 4 tháng 12, 2020

Thằng mọi đen không là con của chúa! - Hoàng Chính (TC.Da Màu )

 Độc giả có thể nghe tác giả đọc truyện này theo link: https://youtu.be/Ylsyexl0WC4

Đêm phủ tấm màn nhung đen xuống khoảng sân lồi lõm, vắng tanh. Âm thanh bồng bềnh của tiếng ếch nhái rỉ rả chìm trong tiếng nước róc rách vọng lại từ mé sông phía sau dãy nhà tối ám, lẫn vào tiếng chó sủa từ xa vọng lại nghe mơ hồ như có như không. Trong cái khoảng âm u ấy, một chiếc bóng nhỏ bé lừng lững dò từng bước chập choạng trên nền đất ẩm. Cái bóng đen ấy lướt đi – như thể hai chân không chạm đất – trong vũng đêm đen đặc.

Chợt tiếng dép lẹp xẹp vọng ra từ khoảng tối âm u của dãy nhà. Một bóng đen khác thập thò bên khung cửa, rồi phóng vụt về phía đầu dãy nhà, nơi ánh đèn le lói.

Tiếng gõ cửa dồn dập khuấy động cái tĩnh lặng của đêm. Rồi giọng ồm ồm của một đứa con trai vừa bắt đầu vỡ tiếng, vang lên, giật giọng, “Ma sơ ơi, Ma sơ ơi!”

Tiếng lách cách bên trong. Cánh cửa hé mở. Ánh đèn chảy loang bậc thềm.

“Hùng đấy à? Chuyện gì vậy con?” Giọng phụ nữ. Khô và dịu dàng.

“Ma sơ ơi, thằng Mọi Đen lại đi ngoài sân kìa.” Cái giọng ồm ồm lại cất lên. Khuôn mặt dài ngoằng của một thằng bé khoảng mười ba mười bốn tuổi hiện ra dưới ánh đèn. Một khuôn mặt phụ nữ với chiếc khăn trùm trên đầu lấp ló bên trong khung cửa.

“Sao, cái gì, đứa nào bị cái gì vậy con?” Giọng người nữ tu xớn xác.

“Thằng mọi đen. Thằng mọi đen đi ngoài sân.”

Cánh cửa mở toang. Ánh đèn tràn ra khoảng sân đất. Người nữ tu bước hẳn ra ngoài. “Nó đâu? Nó đâu rồi?”

Thằng bé xoay người chỉ về phía góc sân, nơi bóng cây me già đen thẫm lù lù góc tối.

Vị nữ tu quay vào lấy vội vật gì đó rồi lao nhanh ra sân. Ánh sáng ngọn đèn bin trong tay bà lóe lên, vung vẩy theo nhịp bước.

“Thằng bé này lại mộng du nữa rồi!” Bà lẩm bẩm.

Người nữ tu chạy nhanh về phía cái bóng đen đang lừng lững trôi trong vũng đêm keo đặc. Cái bóng của thằng bé tên Hùng cũng thấp thoáng trôi theo. Vị nữ tu đi chậm lại khi đến gần cái bóng đen nhỏ bé kia. Bà nhẹ nhàng đặt tay lên vai nó, thì thào, “An ơi, An ơi, thức dậy đi con.”

Hùng từ sau lưng bà chồm tới, lớn tiếng gọi, “Thức dậy đi, thằng mọi đen!”

Vị nữ tu quay ngoắt lại, gằn giọng nhưng vẫn cố thì thầm với cái đứa vừa nói ra câu ấy. “Tên nó là An, con đừng đóng thêm đinh vào Thánh Giá Chúa như thế,” rồi vội vã đưa cái đèn bin cho nó, dịu giọng, “Con cầm dùm ma sơ.”

Hùng nheo mũi hít cái mùi gây gây của đất ẩm và nhanh nhẹn vồ lấy cái đèn bin.

Dì phước đặt hai bàn tay lên đôi vai bé nhỏ của thằng bé mộng du, níu chặt lấy nó. Giọng bà dịu dàng, “Thức dậy An ơi. Thức dậy đi con.”

Thân thể thằng bé bỗng dưng mềm oặt. Vị nữ tu dùng hai tay xốc nách cái bóng nhỏ bé ấy lên, dìu nó về phía dãy nhà tăm tối sau lưng. Tiếng nhóp nhép bóc lên từ những bước chân kéo lê trên mặt đất ẩm của khoảng sân chưa kịp ráo nước trận mưa ngày hôm trước.

“Hùng, con rọi đèn cho dì đưa nó về phòng.” Dì phước thì thầm.

Cái bóng của đứa thiếu niên nhanh nhẹn gật đầu. Ánh sáng ngọn đèn bin vạch một vệt dài loang lổ sân đất.

“Làm sao con biết nó ở ngoài này,” dì phước hỏi.

“Con… không ngủ…” Hùng ngập ngừng, “Con không buồn ngủ.”

“Sao vậy?”

“Con cứ nghĩ tới ngày mai…” Nó lúng túng nói, rồi quay qua vị nữ tu. “Ma sơ cũng thức mà.”

“Sao con biết?”

“Ban nãy con thấy ma sơ đọc sách.”

Người nữ tu lặng thinh. Ý nghĩ lan man trong đầu. Đúng là bà đang thức đọc sách. Nhưng còn cái gì khác nữa chi phối tâm tư, làm bà không ngủ được. Ngày mai, ngày trọng đại của cô nhi viện; ngày vui của bốn mươi tám đứa trẻ mồ côi; chính cái ngày mai ấy làm tâm trí bà náo nức cơn vui khiến bà khó ngủ.

Gần tới thềm nhà, thằng bé mộng du bừng tỉnh. Nó sựng lại trong cánh tay người nữ tu. Đầu lắc lư, hai mắt mở lớn. Nhận ra dì phước, nó co người lại, ngước mắt nhìn cái kẻ đang cầm đèn bin soi đường.

“Ma sơ,” nó thì thào. “Mình đi đâu?”

Giọng người nữ tu reo vui, “Ơ, con thức rồi hở An?”

Hùng xoay cái đèn bin, chiếu thẳng vào mặt thằng bé, “Mày chiêm bao cái gì vậy, thằng mọi đen?” Câu hỏi tuột ra khỏi miệng Hùng. Thằng bé mộng du nhắm nghiền hai mắt.

“Hùng!” Dì phước ngắt lời nó. “Đừng gọi bạn như thế. Đen, trắng, đỏ, vàng, nâu gì cũng là con của Chúa. Đừng đóng thêm đinh vào Thánh Giá Chúa nữa. Dì nói bao nhiêu lần rồi.”

Giọng nói người nữ tu thả vào cái tĩnh lặng của đêm âm vọng của điều gì đó thật sâu lắng, vô cùng da diết, và đắng chát muộn phiền.

Ba người bước lên bậc thềm. Cánh tay người nữ tu rời hai vai thằng bé, “Hai con vào ngủ đi, đi khẽ thôi. Các bạn khác còn đang ngủ.”

Hai đứa trẻ lặng lẽ gật đầu.

“Còn Hùng,” dì phước vừa đón cái đèn bin từ tay Hùng vừa nói nhỏ. “Đừng bao giờ dùng những từ ấy với bạn. Tất cả chúng ta đều là con của Chúa.”

Trong đêm thanh vắng, chỉ có tiếng côn trùng rì rào đáp lời người nữ tu.

“Nghe không, hai đứa?”

“Vâng, ma sơ.”

“Hai con vào ngủ đi.”

Cánh cửa khép lại sau lưng. Trong ánh đèn lù mù từ chiếc bóng đèn màu xanh ở góc tường, những chiếc giường nhỏ bé xếp hàng dài dọc theo vách tường hiện ra trước mặt hai thằng bé.

Hùng thì thào vào tai bạn, “Có phải mày đang mơ được đoàn từ thiện trao quà không?”

Thằng bé vừa bị gỡ ra khỏi cơn mộng du ngơ ngác, “Sao anh biết?”

“Cái gì tao cũng biết.” Hùng thổi vào tai thằng bạn nhỏ.

Thằng bé mộng du thì thào, “Em đi… lãnh quà của cô Bác Ái…”

Hùng phì cười, “Mày là thằng mọi đen tham lam.”

Bị kêu là thằng mọi đen, thằng bé hơi sựng lại, rồi khẽ lắc đầu lủi thủi bước về phía chiếc giường cỏn con của nó. Bạn nó nhanh chân bước theo, thì thầm vào tai nó, “Tao nói chơi. Mày không phải thằng mọi đen, mày là An Còi. Đúng không? Tao là Hùng Cao, mày là An Còi, vậy nhé?”

Thằng bé gật đầu. Nó là An, nó còi cọc, gọi là An Còi thì đúng quá rồi. Còi hay cọc thì vẫn tử tế hơn thằng mọi đen chứ.

Hai đứa trẻ mò mẫm trong bóng tối. Cái bóng nhỏ bé loắt choắt của thằng bé mộng du lướt nhanh và đậu xuống chiếc giường gỗ ọp ẹp của nó. Trong đầu nó vẫn xào xáo những ý nghĩ ngầu đục. Nó không thích ai gọi nó là thằng mọi đen, dù da nó đen như thể lúc sinh ra bà mụ đã lấy nhọ nồi quệt khắp thân thể nó để chữa bệnh hoặc đánh đuổi tà ma gì đó, rồi quên tắm rửa cho nó. Chính thằng Hùng Cao cấy câu chuyện ấy vào óc nó. Không tin nhưng nghe cái thằng cao nhòng kia lập đi lập lại hoài, nó đâm ra hoang mang, rồi nửa tin nửa ngờ.

An Còi không có bố mẹ. Đúng ra nó cũng có, có điều nó không biết họ là ai. Lúc còn bé, nó nhớ rõ ràng đã có lần nó hỏi dì phước về bố mẹ, dì chỉ nói ngắn gọn là Chúa gửi nó đến đây. Nghe hoài nó cũng muốn tin chuyện ấy dù thằng Hùng Cao luôn luôn nhắc nhở, “Bố mày là tây đen Phi Châu, mẹ mày là Việt Nam. Bố mày là Tây ba lô, mẹ mày vừa đẻ mày ra là ném mày ngay trước cổng cô nhi viện, mày cũng như tao thôi, Chúa không có gửi mày đến đây đâu.”

Nó không tin dù Hùng Cao lớn hơn nó mấy tuổi, và sống ở cô nhi viện lâu hơn nó. Nó biết nó không phải mọi đen dù mặt mũi chân tay, mình mẩy nó đen kịt. Chúa vừa gửi nó đến đây là dì phước đặt ngay cho nó tên An. “An là bình an”. Dì phước bảo thế, “Như là bình an dưới thế cho người thiện tâm vậy. Con phải nhớ như thế, An ạ.”

Và nó luôn thầm nhắc mình như thế.

Trời hầm hập nóng. An Còi đưa bàn tay phẩy chút gió lên mặt. Có tiếng đứa trẻ nào đó nói vu vơ trong giấc ngủ. Tiếng ngáy của đứa nào khác nữa ro ro như tiếng máy những chiếc ghe chạy qua khúc sông tuốt phía sau cô nhi viện. Tiếng giun dế râm ran. Có tiếng ho khan ở cuối phòng. Đứa nào đó ngủ mê, gọi Mẹ ơi giật giọng. Đêm càng vắng những âm thanh ấy càng dâng cao làm An Còi không sao ngủ được.

Đã vậy, lại còn một thứ quấy động đầu óc nó, đầu óc nhiều đứa bạn khác của nó, và cả đầu óc của dì phước nữa. Ấy là chuyện ngày mai đoàn thiện nguyện của cô Bác Ái sẽ đến nơi này. Không đứa trẻ nào biết tên thật của cô Bác Ái. Tháng nào cô cũng đem quà đến tặng cô nhi viện. Cái áo, cái quần nó đang mặc trên người – có hơi rộng một tí nhưng – là quà của cô Bác Ái. Những tập vở và cây bút chì nó dùng để viết trong lớp học cũng từ cô Bác Ái. Cái gối nó gối đầu hàng đêm cũng từ cô Bác Ái. Đôi dép nhựa lẹp xẹp dưới chân nó cũng là cô Bác Ái đem cho. Những gói mì tôm, mì bò, mì thập cẩm, những miếng sô cô la ngọt lịm đều từ bàn tay cô Bác Ái. Những bữa cơm có thịt của bốn mươi tám đứa chúng nó cũng là từ cô Bác Ái. Mấy đứa con gái ở đây, đứa nào cũng mong lớn lên được như cô Bác Ái: có được đôi mắt đẹp, có sẵn cái miệng xinh, có cả dáng người thon gọn, lại còn có tài viết văn làm thơ… như cô Bác Ái. Chúng nó đã nghe cô Bác Ái đọc thơ của cô ấy. Chúng nó không hiểu gì mấy nhưng dì phước và mấy cô giáo ở cô nhi viện thì tíu tít khen hay. Cô Bác Ái có tất cả mọi thứ. Và quan trọng nhất là cô có tấm lòng nhân ái. Dì phước bảo thế.

“Cô Bác Ái là hình ảnh Mẹ Tê Rê Sa.” Dì phước thường nói với bọn trẻ. “Dù trôi dạt về đâu trong cuộc sống, các con cũng nhớ mang theo trong hành trang của mình tấm lòng nhân ái.” Dì dặn dò chúng nó hoài như thế.

Và bao giờ dì cũng kết luận, “Hãy sống như cô Bác Ái vậy.”

Hình ảnh cô Bác Ái với nụ cười rạng rỡ hiện ra rõ nét trước mắt An Còi dù nó đang nhắm nghiền hai mắt, và hình ảnh ấy ru nó vào giấc ngủ thật hiền.

Hôm sau đoàn thiện nguyện đến cô nhi viện lúc xế trưa. Một chiếc xe tải nhỏ chở đầy quà. Không khí cô nhi viện sống động hẳn lên. Tiếng cười nói lao xao khắp mấy gian nhà. Lan cả ra ngoài khoảng sân đất còn ẩm nước trận mưa dai dẳng ngày hôm trước. Bọn trẻ bu quanh đống quà. Quần áo, thực phẩm, và cả đồ chơi nữa. Cô Bác Ái tỏa sáng giữa đám đông những người đàn ông, đàn bà mà bọn trẻ không quen. An Còi và Hùng Cao cũng bám sát chiếc xe đầy quà cáp ấy. Bọn con gái vây quanh cô Bác Ái che cả tầm nhìn của An Còi. Thằng bé chỉ muốn nhìn thấy cô Bác Ái, chỉ muốn nghe giọng nói thanh và sắc của cô, muốn nhìn bước đi nhanh nhẹn như con chim sẻ vẫn nhảy loi choi trên bậc thềm lớp học trong ánh nắng ban mai mỗi sáng. An Còi thèm được có cô Bác Ái là mẹ mình. Nó nghểnh cô nhìn cô. Nó thấy nước da cô trắng bóc. Mắt cô tròn. Môi cô đỏ. Và nó giật mình nhận ra nó không thể có người mẹ đẹp mà lại có tấm lòng nhân ái như cô Bác Ái. Mẹ nó – người ta kể – ném nó ở cổng cô nhi viện khi vừa mới sinh nó ra, như vậy mẹ nó đâu có lòng nhân ái như cô Bác Ái. Thêm vào đó, da nó đen thui còn da cô Bác Ái trắng như… như… nó không biết ví von như thế nào cho đúng, và nó nghĩ đến những trang giấy trắng trong cuốn vở. Da cô Bác Ái trắng như trang giấy mới trong cuốn vở học của nó. Nó sựng lại. Nó không còn mơ tưởng có cô Bác Ái là mẹ nữa. Cô trắng. Nó đen. Chẳng giống nhau chút nào. Thôi vậy. Không mơ ước gì nữa.

Hai tay đặt lên nhau trước ngực, dì phước tươi cười tiếp đón đoàn thiện nguyện. Cô Bác Ái giới thiệu những người đàn ông đàn bà trong đoàn là bạn của cô, “Ông này là nhà văn, ba ông kia là nhà thơ, nổi tiếng hết đấy ma sơ ạ.” Cô nói bằng giọng thanh thoát cùng với một nụ cười.

An Còi ngẩn người ra trước nụ cười rạng rỡ ấy. Như thể bị thôi miên.

Bốn mươi tám đứa trẻ xếp hàng sáu trong khoảng sân ẩm ướt. Hai cô giáo đứng hai bên, mắt lấp lánh những tia vui. Dì phước cảm ơn đoàn thiện nguyện. Cô Bác Ái đáp lời. Giọng cô trong veo.

Và cô hát. Một chú trong đoàn ôm cây đàn guitar, vẩy lên trong không gian vàng hương nắng những hợp âm rộn ràng.

Tràng vỗ tay của bọn trẻ tưởng chừng không bao giờ chấm dứt.

Buổi lễ kết thúc. Bọn trẻ tiếp tay khiêng những gói quà vào văn phòng. Ma sơ hướng dẫn bọn trẻ chỗ nào đặt những gói áo quần, chỗ nào xếp những bọc thức ăn, chỗ nào để những túi đồ chơi. Đám người trong đoàn thiện nguyện cười nói rộn ràng. An Còi xớ rớ cạnh những người lớn ấy, cố khiêng hộ vài gói nhỏ vừa cỡ nó. Giọng nói của những người trong đoàn thiện nguyện bỗng dưng sôi nổi. An Còi nghe được những từ lạ tai. Bầu cử. Gian lận. Hiệp Chủng Quốc. Tài Phiệt. Tư bản… gì gì đó. Rồi một người mở rộng một tờ báo, chỉ tay vào tấm hình một người đàn ông. Và giọng cô Bác Ái vung lên như nhát chém vô hình. Âm thanh xoáy vào tai thằng bé. An Còi khiêng túi đồ chơi lên, không quên liếc mắt nhìn tấm hình trên trang báo. Và ngực nó bỗng thắt lại, nó buông rơi túi đồ chơi xuống chân. Tuông chạy.

Tới giờ cơm chiều dì phước mới phát hiện ra sự vắng mặt của thằng bé An Còi. Dì tập trung bọn trẻ trong sân cô nhi viện, tra vấn, “Các con có biết bạn An đi đâu không?”

Không có tiếng trả lời. Đôi mắt dì dừng lại ở thằng Hùng Cao, cái đứa cao nhất trong bọn trẻ. Nó là đứa hay chọc ghẹo An Còi. Và mỗi lần bị ai đem màu da nhọ nồi của mình ra trêu chọc, An Còi thường biến đi, lẩn trốn trong bụi cây như bị ma giấu, hay lầm lũi ra bờ sông ngồi nhìn nước chảy, hoặc ngồi co ro sau hè một mình.

Dì phước dặn dò bọn trẻ vài điều quan trọng và mọi người đổ xô đi tìm.

Một cô giáo trẻ hỏi nhỏ dì phước là có khi nào bị trêu chọc quá mức, bị bắt nạt liên tục, An Còi nhảy xuống sông để tự giải thoát không. Dì lắc đầu quả quyết, “Không bao giờ.” Nhưng rồi trong lòng dì cũng thoáng chút lo âu. Và dì tất tả đi quanh lối mòn, ra bờ sông.

Chính dì phước là người tìm thấy An Còi. Nó ngồi co ro, thu mình như con nhái bén trên một thân cây mọc gie ra bờ nước, hai chân đong đưa. Dì gọi nó, nó ngần ngừ, rồi riu ríu leo xuống. Nó trượt chân suýt ngã xuống sông. May mà nó bám kịp vào cành cây đong đưa bên bờ nước. Dì phước đi bên nó, cánh tay đặt hờ trên vai nó. Dì biết chuyện gì đã xảy ra. Bởi chuyện này vẫn thường xảy ra. Mỗi lần như thế, An Còi lại bỏ ăn bỏ uống, ra bờ sông ngồi dán lên cái thân chĩa ra bờ nước của cây me già; hoặc chui vào bụi rậm, ngồi co quắp trong ấy, như con chó vừa lỡ chạm mõm vào nồi thịt kho, bị chủ cho một trận đòn tươm máu. Thủ phạm có thể là thằng Hùng Cao. Nhưng đêm vừa rồi dì đã nhắc nhở Hùng Cao không được làm như thế nữa. Cho dù có rắn mặt đến đâu, có mau quên đến cỡ nào cái thằng Hùng đang vỡ tiếng ấy cũng không thể tái phạm ngay ngày hôm sau được.

Vậy thì ai gọi An Còi là Thằng Mọi Đen mới được chứ.

“Đứa nào gọi con như thế?” Dì phước hỏi.

An Còi lặng lẽ lắc đầu. Những giọt nước mắt rụng xuống ngực áo nó.

“Con phải nói để ma sơ dậy dỗ nó. Tất cả mọi người đều là con của Chúa; đen, trắng, đỏ, vàng, nâu gì cũng thế.” Giọng dì quả quyết.

An Còi lặng thinh. Điều này thì nó biết rồi, nhưng đâu phải ai cũng nghĩ như thế.

“Đứa nào gọi con như thế?”

“Không có đứa nào hết.” An Còi nói như hụt hơi.

Lũ trẻ dãn ra khi dì phước và An Còi về tới sân cô nhi viện. Dì dẫn nó vào văn phòng. Dì ấn nó ngồi xuống cái ghế trước bàn làm việc của mình. Dì đi vòng ra sau, ngồi xuống, đặt khuỷu tay lên bàn, chập hai bàn tay chống lấy cằm.

“Tất cả chúng ta đều là con của Chúa.” Dì chậm rãi nói.

An Còi khẽ gật đầu.

“Tất cả chúng ta đều có thể thành công nếu cố gắng, và luôn mang theo lòng nhân ái trong hành trang của mình.” Dì phước lập lại cái câu cũ rích.

An Còi không gật đầu cũng không lắc đầu. Cổ nó cứng lại, thành khúc gỗ.

Vài cái mặt trẻ con thập thò trước cửa văn phòng. Dì phước quơ tay ra dấu đuổi chúng nó đi.

“Con hiểu điều dì nói không?” Dì hỏi.

Thằng bé lại khẽ gật đầu.

“Chúng ta đều là con của Chúa, và ai trong chúng ta cũng có thể trở thành người hữu ích cho xã hội.”

Cái cổ thằng bé lại cứng đơ. Nó còn nhớ như in một lần tan lễ sáng Chủ Nhật ở ngôi giáo đường nhỏ bé gần đó, nó cùng bốn mươi bảy đứa kia hàng dọc lũ lượt về lại cô nhi viện, hai gã thanh niên đèo nhau trên chiếc xe gắn máy bóng loáng vòng vèo lượn qua ghẹo cô giáo của nó, rồi chợt phát hiện thằng bé đen như cục than giữa một bầy da vàng mũi tẹt, một gã đã hét toáng lên, “Thằng mọi đen, mày có phải là con của Chúa đâu mà cũng đi nhà thờ?” Tiếng cười sằng sặc của hai gã thanh niên hôm ấy là những lưỡi dao cùm băm vằm An Còi thành đống bùi nhùi nát vụn.

Thấy vẻ nghi hoặc của An Còi, dì phước mở hộc tủ, lấy ra một tờ báo. Bà mở trang báo đang xếp làm tư làm tám ấy ra, trải lên mặt bàn. Bà chỉ vào người đàn ông da đen trong tấm hình.

“Con thấy ông này không? Ông ấy cũng như con. Con biết ông ấy làm gì không?”

An Còi nhướng mắt nhìn tấm hình. Và nó hoảng hốt quay mặt đi. Tia nhìn của nó bắt gặp tượng Chúa Chịu Nạn treo trên tường.

Dì phước vẫn thong thả, “Ông ấy đã từng làm tới chức Tổng Thống nước Mỹ đấy, con biết không?” Vừa nói dì vừa đẩy tờ báo cho chạm vào người An Còi. “Ông ấy cũng là người như con.”

Dì không nói “Ông ấy cũng da đen như con” nhưng An Còi hiểu hết.

An Còi nhắm nghiền hai mắt. Miệng nó lắp bắp, “Cái ông ấy… ông ấy…”

Dì phước nhướng mắt, săm soi nhìn nó, “Ông ấy… làm sao? Nói cho dì nghe đi.”

Một tràng ngôn ngữ phun ra từ cặp môi đen thẫm, “Ông ấy là Thằng Mọi Đen, Thằng Mọi Đen chỉ giỏi đi ăn mày. Thằng Mọi Đen quỳ gối ăn mày. Con sợ…. Con sợ…”

Vị nữ tu tròn con mắt kinh hãi, “Lạy Chúa tôi! Con sợ gì? Ai nói với con như thế? Hở An?”

An Còi nhìn vào đôi mắt hiền từ của dì phước, “Con không được như ông ấy…”

“Ai nói với con như thế?”

An Còi cắn môi thật chặt, cố kềm cho câu nói không bật ra cửa miệng, nhưng rồi câu nói như con ễnh ương, càng lúc càng phình bụng to xù trong miệng nó, làm nó khó thở, nó buột miệng cho con ễnh ương nhảy chồm xuống mặt bàn, trên trang báo có hình ông Tổng Thống da đen nước Mỹ.

“Cô Bác Ái nói. Cô Bác Ái bảo Thằng Mọi Đen này chỉ giỏi đi ăn mày. Cái chú đeo kính bảo ông này là Thằng Môi Thâm, là Thằng Quỷ Đen, cái chú đánh đàn bảo…”

“Thôi được rồi An ơi.” Dì phước ngắt lời An Còi. Khuôn mặt xanh xám của dì lạnh ngắt. Dì nhớ lại lúc chuyển quà vào văn phòng, đám người làm thiện nguyện bỗng dưng bàn tán sôi nổi chuyện nước Mỹ. Dì nhớ có nghe cô Bác Ái phê phán người nào đó – ở tận bên Mỹ – là không phải sinh ra ở nước Mỹ… nhưng vì phải đi ra đi vào khuân những thùng quà, dì không nghe cô Bác Ái nói mấy chữ “Thằng Mọi Đen”. Dì nghĩ những con người đầy lòng nhân ái như cô Bác Ái không bao giờ nỡ mở miệng gọi một con người khác – cũng là con của Chúa như họ – bằng ba chữ ấy.

Nhưng dì cũng biết không ngôn từ nào đủ độc địa – để làm thằng bé An này bỏ ăn, bỏ ngủ, ngồi miết trên cành cây mọc chuồi ra trên dòng nước – bằng ba chữ ấy. Chuyện ấy xảy ra ở cái cô nhi viện nhỏ bé này hoài chứ hiếm hoi gì.

Vị nữ tu đẩy ghế đứng dậy, bước đến bên An Còi, dịu dàng đặt hai tay lên vai nó. Dì không biết phải giải thích như thế nào với thằng bé mồ côi chưa tròn chín tuổi đầu. Dì ngước nhìn tượng Chúa Chịu Nạn treo trên tường. Rồi dì xoay đầu nhìn những thùng quà từ thiện chất đầy một góc phòng. Dì thầm hỏi trong những gói đủ màu sắc chứa đầy kẹo bánh, áo quần, đồ chơi ấy, có gói nào chứa đầy đinh nhọn để quân lính La Mã có thêm đinh mà đóng vào tay Chúa…

Cơn quặn thắt siết ngang lồng ngực. Mãi dì mới thở dài, lẩm bẩm, như nói cho một mình dì nghe, “Có là mọi đen thì cũng vẫn là con của Chúa, con biết không.”

Và dì lập lại cái câu đã nói có đến hàng nghìn lần với bốn mươi tám đứa trẻ không cha không mẹ, “Con hãy mang theo trong hành trang của mình một tấm lòng nhân ái…”

Cái đầu của An Còi ngúc ngắc nửa như muốn gật, nửa như muốn lắc. Rồi nó quay sang nhìn đống quà chất đống ở góc phòng. Dì phước ngó theo hướng nhìn của nó. Những gói quà chất đống, lan ra cả lối đi. Bỗng dưng dì thấy dường như gói nào cũng tua tủa lòi ra những mũi đinh nhọn sét rỉ.

Rồi hình ảnh người đàn bà làm thơ viết văn, trẻ trung, xinh đẹp, môi mắt long lanh, cười nói rộn ràng lướt thướt hiện ra trong trí người nữ tu. Dì hấp tấp lắc đầu, lẩm bẩm nói với thằng bé côi cút, cọc còi và đen đủi nhất trong đám cô nhi, mà chẳng cần biết nó có hiểu hay không, “Hành trang nhân ái ấy phải phát xuất từ trái tim, nhất định phải đến từ trái tim, con ạ! ”

Thứ Sáu, 20 tháng 11, 2020

Tranh của Lâm Phong Miên TQ




Nếu gặp 4 hiện tượng này khi ngủ nên đi khám ngay trước khi mất mạng vì đột quỵ

 

Ngày nay, mọi người có thể hay nghe thấy từ “máu đặc”, có nghĩa là máu có độ nhớt cao hay còn gọi là hội chứng tăng độ nhớt máu. Nguyên nhân dẫn đến máu đặc, thường liên quan đến cảm xúc, thói quen, tuổi tác, và thành phần trong máu thay đổi.

Những điều cần biết về hội chứng tăng độ nhớt máu

Hội chứng tăng độ nhớt máu là gì?

Hội chứng tăng độ nhớt máu là một tình trạng làm cho máu không thể chảy tự do qua các động mạch. Độ nhớt của máu tăng, hồng cầu bị cô đặc, dễ hình thành cục máu đông, nguyên nhân hàng đầu gây đột quỵ. 


Độ nhớt của máu tăng, hồng cầu bị cô đặc, dễ hình thành cục máu đông gây ra đột quy.

Trong hội chứng này, tắc nghẽn động mạch có thể xảy ra do quá nhiều tế bào hồng cầu, bạch cầu hoặc protein trong máu. Bệnh cũng có thể xảy ra khi hồng cầu có hình dạng bất thường, ví dụ như thiếu máu hồng cầu hình liềm.

Tăng độ nhớt máu xảy ra ở cả trẻ em và người lớn. Ở trẻ em, bệnh có thể ảnh hưởng đến tăng trưởng do giảm lưu lượng máu đến các cơ quan quan trọng như tim, ruột, thận và não. Ở người lớn, hội chứng này có thể gặp cùng với các bệnh tự miễn như viêm khớp dạng thấp hoặc lupus ban đỏ; hoặc xuất hiện cùng các bệnh ung thư máu như ung thư hạch và bệnh bạch cầu.

Bác sĩ cảnh báo trong khi ngủ có 4 triệu chứng này chứng tỏ máu có độ nhớt tương đối cao

1. Trong khi ngủ bị đánh thức vì sự ngột ngạt

Sau khi phổi bị huyết khối do máu đặc dính, khiến lượng oxy cung cấp cho cơ thể bị ảnh hưởng, tim sẽ tăng lượng vận động để cung cấp đủ oxy cho cơ thể. Nhưng đồng thời, khi tim hoạt động ở mức quá cao, con người sẽ sản sinh ra triệu chứng như tức ngực, cơ thể bị đánh thức vì ngột ngạt.

2. Tay chân lạnh

Nếu mọi người khi ngủ, thường cảm thấy chân tay lạnh, như vậy cần phải chú ý. Cơ thể con người khi ngủ dù đắp chăn rất ấm áp, nhưng ở trong môi trường ấm áp mà tay chân vẫn tương đối lạnh chứng tỏ tuần hoàn máu không được lưu thông, rất có khả năng đã bị tắc mạch.

3. Sau khi thức dậy thị lực bị suy giảm

Một số người sau khi thức dậy, phát hiện thị lực của bản thân bị suy giảm, nhìn mọi thứ tương đối mờ. Thực tế, điều này là do máu không cung cấp đủ cho mắt. Lý do khiến phần mắt không được cung cấp đủ máu, chính là do nguyên nhân máu đặc. Thông thường các triệu chứng không nghiêm trọng, sẽ dần dần hồi phục, nhưng nếu thời gian dài không hồi phục, còn có triệu chứng buồn nôn, điều này rất có khả năng các mạch máu não bị tắc nghẽn gây ảnh hưởng đến thị lực.

Lý do khiến phần mắt không được cung cấp đủ máu, chính là do nguyên nhân máu đặc.

4. Người già ngủ sẽ chảy nước dãi

Ngủ chảy nước dãi, nhiều người có thể cảm thấy bình thường nhưng không phải vậy. Trẻ em chảy nước dãi vì khả năng kiểm soát của chúng chưa hoàn toàn phát triển. Nhưng nếu người già chảy nước dãi, có khả năng lớn là các mạch máu trong não bị tắc nghẽn bởi các cục máu đông, ảnh hưởng đến sự kiểm soát của các dây thần kinh trên các mô, cuối cùng dẫn đến hiện tượng chảy nước dãi.

Làm thế nào để đối phó với hội chứng tăng độ nhớt máu

Trên thực tế, đối mặt với vấn đề máu đặc, chúng ta không cần quá lo lắng, sự hình thành máu đặc không phải là trong thời gian ngắn và khả năng phục hồi trong thời gian ngắn cũng rất nhỏ. Vì vậy phương pháp đối phó chính xác với tình trạng máu đặc chính là cần phải có một kế hoặc lâu dài. Trước hết, người bệnh cần phải hiểu hoàn toàn về tình trạng của cơ thể, tìm hiểu một số kiến thức cơ bản về bệnh, cũng chính là hiểu về sức khỏe của bản thân. Tích cực tham gia điều trị bệnh.

Tiếp theo, người bệnh cũng cần phải nuôi dưỡng thói quen sống tốt, ăn uống lành mạnh, làm việc nghỉ ngơi hợp lý, thường xuyên tập thể dục. Cuối cùng, một khi phát hiện cơ thể có những triệu chứng khó chịu, thì cần phải kịp thời đến bệnh viện để kiểm tra và điều trị.


Theo khamphá

NỖI NHỚ VÔ TƯ - Thơ Trần Chu Ngoc

(ảnh BBC)

 NỖI NHỚ VÔ TƯ

Ta mãi là chàng trai khờ khạo
Đi tìm một chút nắng mùa đông
Như thuở xưa nhớ tóc em bồng
Khăn choàng bay nhẹ nhàng buổi sáng
Ta thèm một khoảng đời trống vắng
Trên bầu trời mây trắng bay bay
Chợt thinh không cái rét về đây
Cho cơn mơ mùa đông thức dậy
Ơi ! Ta nhớ những ngày tháng ấy
Cơn mưa phùn tóc ướt lung linh
Nụ cười em như đoá hoa xinh
Vừa mới nở ngát hương hàm tiếu
Ơi ! Nắng bên đồi dạt dào nỗi nhớ
Có bao giờ gặp lại ngày xưa
Dù cuộc đời lúc nắng khi mưa
Em vẫn thế cho mùa đông ấm áp
Ta cũng có bao giờ đổi khác
Bao thăng trầm là giấc mộng thôi
Như mùa đông vừa đến đây rồi
Kỷ niệm xưa mang về chút lạnh

Nguyễn Ngọc Chu: Thủy điện nhỏ và vấn đề lũ lụt

 1. VỀ TÁC ĐỘNG ĐA DẠNG CỦA THUỶ ĐIỆN Ở BA MIỀN BẮC - TRUNG - NAM

Thuỷ điện là nguồn năng lượng quý giá. Nhưng phải được sử dụng một cách khoa học. Nếu không, nó sẽ mang lại những tác hại khôn lường.
Trong thời kỳ phát triển công nghiệp ban đầu, các quốc gia đều cần đến thuỷ điện và thường tập trung phát triển thuỷ điện. Sự phụ thuộc lớn vào thuỷ điện đã dẫn đến các vi phạm vượt ngoài tầm kiểm soát và để lại các tác hại cho con người cùng môi trường. Mức độ tác hại có khác nhau tuỳ theo sự kiểm soát ở mỗi quốc gia.
Cho đến cuối thế kỷ 20, và đầu thế kỷ 21, sự phát triển thuỷ điện ở các nước công nghiệp phát triển đã có những thay đổi quan trọng. Nhờ sự tiến bộ công nghệ, năng lượng tái tạo như điện mặt trời, điện gió, điện thuỷ triều đã tăng đột phá thị phần, từng bước thay thế cho các năng lượng truyền thống. Vì thế, các dự án thuỷ điện mang lại nhiều tác hại xấu không được đón chào. Nhiều thuỷ điện không được mở rộng hoặc ngừng khai thác. Hàng ngàn đập thuỷ điện đã được dỡ bỏ.
Với Việt Nam, thuỷ điện đang mang đến những thách thức sống còn cho nhiều thế hệ con người, động vật, sinh vật trên phạm vi toàn lãnh thổ.
Ở đồng bằng sông Cửu Long, việc Trung Quốc xây hàng chục thuỷ điện lớn trên thượng nguồn sông Mê Kông là những cú đòn chí tử lên toàn bộ môi trường sống. Sau Trung Quốc, các đập thuỷ điện của Lào, Campuchia trên sông Mê Kông, của Myanmar, Thái Lan và Việt Nam trên lưu vực sông Mê Kông đã đồng loạt trở thành những đòn đánh bồi tổng hợp - đưa môi trường sống ở đồng bằng sông Cửu Long dần vào hoàn cảnh nguy hiểm.
Mức nước sông Cửu Long bị khô cạn. Trong nước không còn phù sa. Nước biển lấn tràn sâu vào nội địa lên đến 80-100km. Toàn bộ môi trường sống của đồng bằng sông Cửu Long bị thay đổi. Phải chống ngập mặn, chống hạn hán, tìm nguồn nước ngọt. Con người bị đe doạ, cá tôm bị đe doạ, cây trồng bị đe doạ. Mức đe doạ đạt tới biên giới sinh tử. Hàng chục vấn đề trầm trọng đặt ra cho cư dân đồng bằng sông Cửu Long. Phải thay đổi cơ cấu cây trồng, thuỷ sản. Phải thay đổi cơ cấu cư dân. Đến mức con người cũng phải di tản.
Ở đồng bằng sông Hồng, tuy chưa có mức độ ngập mặn, nhưng một bức tranh xấu đang hiện ra mỗi ngày một ảm đạm hơn.
Nếu thuỷ điện Hoà Bình và thuỷ điện Thác Bà vừa đưa lại nguồn điện, vừa giúp cắt lũ cho thủ đô Hà Nội, có làm cạn dòng chảy sông Hồng, nhưng chưa đến mức nguy hiểm, thì việc xây dựng thêm các thuỷ điện Sơn La, Lai Châu và cả trăm thuỷ điện khác trên lưu vực sông Đà và sông Lô đã làm cho đồng bằng sông Hồng rơi vào hoàn cảnh môi sinh bị đe doạ. Chưa kể đến trước đó, hàng chục thuỷ điện của Trung Quốc xây dựng ở thượng nguồn sông Hồng - là những chiếc thòng lọng đón chờ mọi cá thể trong toàn bộ hệ sinh thái châu thổ sông Hồng. Các dòng sông bị cạn. Các mạch nước ngầm bị cạn. Kéo theo sự thay đổi của thuỷ mạch và toàn bộ hệ sinh thái ở châu thổ sông Hồng.
Thuỷ mạch thay đổi, các vết nứt địa chất gia tăng khi phải hứng chịu hai khối nặng khổng lồ ở Hoà Bình và Sơn La, mỗi hồ nước nặng khoảng 10 tỷ tấn và 10 tỷ tấn ở các hồ nước khác. Khả năng gia tăng động đất là không tránh khỏi. Hãy đợi chờ nhiều hơn những cơn động đất ở vùng Tây Bắc trong tương lai.
Ở miền Trung, thuỷ điện đưa đến các hậu quả không kém phần nguy hiểm, nhưng có thêm phần khác lạ. Với địa hình dốc từ Tây sang Đông, có nơi chỉ 40-50km, sông miền Trung ngắn nhưng có độ dốc lớn. Chính độ dốc lớn của sông miền Trung là nguyên do sinh ra chi chít những thuỷ điện nhỏ. Len lỏi quanh co giữa các khe núi cao, là nơi hứng nước mưa chảy từ các triền núi, với độ dốc đột ngột, cứ cách khoảng 10-20 km, thậm chí 5 -7 km đắp một chiếc đập là tạo nên một trạm thuỷ điện. Cụ thể như trên 24 km của sông Rào Trăng mà có đến 4 nhà máy thuỷ điện. Miền Trung là cứ địa của các thuỷ điện “cóc”. Và đó cũng chính là nguồn cơn đưa đến tai hoạ lũ lụt và sụt lở đất nguy hiểm ngày một nhiều hơn cho miền Trung.
Rõ ràng, ngoài tai hoạ biến đổi hệ sinh thái và môi trường sống ở cả 3 miền, thì tác động của thuỷ điện ở mỗi miền có những phương diện khác biệt. Thuỷ điện đưa đến cho đồng bằng sông Cửu Long trực diện nạn hạn hán, nạn ngập mặn, nạn thiếu nước ngọt - dẫn đến thay đổi cơ cấu kinh tế và cư dân. Còn ở đồng bằng châu thổ sông Hồng thì thuỷ điện mang đến sự thay đổi thuỷ mạch và tăng nguy cơ động đất. Và ở miền Trung, thì thuỷ điện tham gia đưa đến các cơn lũ lụt và sụt lở đất kinh hoàng.
2. PHẢI HIỂU CHO ĐÚNG KHÁI NIỆM RỪNG TỰ NHIÊN
Loài người xuất hiện sau rừng tự nhiên. Đó là điều không phải bàn luận. Cho nên mỗi m2 rừng trước đây đều là rừng tự nhiên.
Khi con người tiến vào rừng, đất nhà, đất nương rẫy của họ đều là rừng tự nhiên bị họ khai phá. Có m2 đất nào giữa vùng rừng núi mà không phải là rừng tự nhiên? Ngay cả các hồ tự nhiên, các dòng sông dòng suối giữa núi rừng đều là đất của rừng tự nhiên. Cho nên, đừng thấy vùng cư dân, thấy nương rẫy, thấy đồi trọc mà khẳng định là không phải rừng tự nhiên. Xa xưa đó là rừng tự nhiên. Bây giờ thì nó đã bị con người tàn phá.
Những ai đã đến rừng Tây Nguyên sau năm 1975 mới thấy rừng tự nhiên bạt ngàn như thế nào. Bây giờ quay trở lại có thể nói rất ít nơi còn rừng tự nhiên đúng nghĩa. Theo đánh giá, thì lượng rừng nguyên sinh của Việt Nam chỉ còn khoảng 0,25%. Dù rằng theo báo cáo của Bộ NN&PTNN, thì tính đến ngày 31/12/2019 diện tích đất có rừng của Việt nam là 14,6 triệu ha (146.000km2), trong đó rừng tự nhiên là 10,3 triệu ha và rừng trồng là 4,3 triệu ha. Diện tích đất có rừng đủ tỷ lệ tính độ che phủ là 13,8 triệu ha, tỷ lệ che phủ khoảng 41,89% diện tích toàn quốc. Tỷ lệ che phủ này thấp hơn 2 nước láng giềng là Lào (58%) và Campuchia (47%).
Ba tỉnh có diện tích rừng tự nhiên lớn nhất, dẫn đầu là Nghệ An (784.340ha), tiếp theo là Sơn La (588.343ha) và Kon Tum (547.800ha).
Theo thông tin của Sở Tài nguyên Môi trường Đắk Lắk cho biết, rằng ở độ dốc 5-8 độ, dưới lượng mưa hàng năm 1.905mm thì trên 1ha đất cà phê 2 tuổi sẽ bị trôi đi 69,2 tấn đất, 1ha đất nương rẫy sẽ bị trôi đi 95,1 tấn đất, trên 1ha đất trồng ngô sẽ bị trôi đi 105,7 tấn đất. Nhưng trên 1ha đất rừng nguyên sinh chỉ bị trôi đi không quá 6 tấn đất, và 1ha đất rừng tái sinh bị trôi đi 12 tấn đất. Những con số trên nói lên sự vô giá của rừng nguyên sinh trong bảo vệ đất.
Đưa ra số liệu trên để thấy tại sao nạn sụt đất kinh hoàng đã xẩy ra như trong các cơn lũ lụt thời gian vừa qua ở các tỉnh miền Trung. Đó là vì rừng tự nhiên bị tàn phá. Trong sự huỷ diệt rừng tự nhiên ở Việt Nam có vai trò không nhỏ của thuỷ điện.
3. DIỆN TÍCH DÀNH CHO THUỶ ĐIỆN NHỎ MIỀN TRUNG TUYỆT ĐẠI ĐA SỐ LẤY TỪ ĐẤT RỪNG TỰ NHIÊN
Bằng điện thoại cầm tay, với sự giúp đỡ của Google maps, không khó để nhận thấy các thuỷ điện nhỏ hoàn toàn nằm trong rừng tự nhiên. Hãy thử tự kiểm nghiệm các thuỷ điện A Lin B1, A Lin B2, Rào Trăng 3, Rào Trăng 4 để thấy điều khẳng định này. Nghĩa là toàn bộ đất cấp cho thuỷ điện, trừ một phần nhỏ hồ tự nhiên có trước, đều hoàn toàn thuộc về diện tích rừng tự nhiên. Phần hồ mở rộng (nhiều lần) - hình thành sau khi đắp đập thuỷ điện - cũng đều là diện tích của rừng tự nhiên. Hơn thế nữa toàn bộ các đường giao thông đi đến các nhà máy thuỷ điện này đều làm trên đất rừng tự nhiên.
Điều mâu thuẫn của người bảo vệ thuỷ điện nằm ở chỗ, khi báo cáo diện tích phủ xanh của rừng tự nhiên, thì họ lấy toàn bộ diện tích rừng tự nhiên (dù đã bị tàn phá) để có được 10,3 triệu ha, nhưng khi nói đến thuỷ điện thì họ lại nói không 1m2 đất rừng tự nhiên nào được cấp cho thuỷ điện. Vậy từ hàng chục đến hàng trăm ha đất cấp cho mỗi thuỷ điện nhỏ - không nằm trong rừng tự nhiên thì nằm ở đâu? Các thuỷ điện nhỏ, bởi vậy, lại là “con thú khổng lồ” ngốn rừng tự nhiên.
Một nguyên do khác nữa làm giảm rừng tự nhiên là việc lợi dụng xây dựng thuỷ điện để khai thác gỗ. Không chỉ trong diện tích rừng cấp cho thuỷ điện và làm đường giao thông, mà là ngoài các diện tích đó. Số lượng này không hề nhỏ.
4. CÁC NGUY CƠ MẤT AN TOÀN TRONG XÂY DỰNG THUỶ ĐIỆN NHỎ Ở MIỀN TRUNG
Thập niên đầu của thế kỷ 21 ở Việt Nam diễn ra những cuộc “thập tự chinh” náo loạn. Đó là các tập đoàn, các doanh nghiệp, các gia đình, các cá nhân – tất cả - đổ xô đi làm bất động sản, kinh doanh khách sạn, kinh doanh ngân hàng, buôn bán chứng khoán… Hậu quả là lãi suất ngân hàng tăng vọt đến 25% và nền kinh tế đổ bể. Cuối cùng thì các tập đoàn lớn, trong đó có người khổng lồ Vinashin bị chìm xuống đáy, và các tập đoàn Sông Đà, dầu khí… phải rút ra khỏi các lĩnh vực ngoại đạo, mà quay trở về chuyên môn với “đầy mình thương tích”.
Nổi trội trong số các cuộc “thập tự chinh” náo loạn đó là cuộc “chinh phạt” thuỷ điện nhỏ. Khắp Bắc - Trung - Nam, các doanh nghiệp dù lớn hay nhỏ, dù có vốn pháp định từ vài tỷ cho đến vài trăm tỷ đồng đều đổ xô đi làm thuỷ điện. Vốn cần ghi bao nhiêu cũng không khó. Nên các công ty tư nhân, công ty cổ phần vừa thành lập đều có thể làm thuỷ điện. Họ nhận được dự án, bất chấp năng lực thực tế, miễn là biết đi đúng đường. Và không ít các dự án đã được bán lại cho các chủ mới.
Không có các chuyên gia giỏi trong ngành thuỷ điện. Không khảo sát địa chất. Không nghiên cứu tác hại môi trường. Nhưng hồ sơ vẫn hoàn chỉnh, kín kẽ. Lập hồ sơ dự án ở nước ta đã trở thành một lĩnh vực nhiệm mầu của copy và thuê viết. Mà đâu chỉ hồ sơ dự án, nhiều luận án từ tốt nghiệp đại học, cho đến thạc sĩ và tiến sĩ ở nhiều nơi - đều được sinh ra từ copy và thuê viết. Hãy tự gõ vào google để kiểm nghiệm sự rao bán. Hãy tự kiểm tra để đừng cho là bôi đen hay vơ đũa cả nắm.
Còn thiết bị từ đâu? – từ Trung Quốc, dù dán mác G7. Đắp đập thành hồ. Mua thiết bị và thuê người lắp đặt là thành thuỷ điện. Người bán thiết bị đến lắp đặt xong thì về nước. An toàn hay không thì mặc nơi có thuỷ điện phải gánh chịu. Đây chính là mối nguy về sự không an toàn trong xây dựng thuỷ điện nhỏ.
Một mối nguy không an toàn khác chính là việc xây dựng đường giao thông đến thuỷ điện nhỏ. Các nhà đầu tư chỉ chú trọng đến chi phí. Họ chọn những cung đường ngắn nhất dù phải làm đường dưới sườn núi dốc đứng. Những con đường không đủ rộng. Họ bạt rừng để làm đường. Nguy cơ sạt lạt lở ở các con đường dẫn đến thuỷ điện nhỏ rất cao, đầy ắp nguy hiểm. Các trận lũ lụtvà sụt lở đất trong tháng 10/2020 ở miền Trung đã minh chứng điều đó.
5. CÁC HỒ CHỨA NƯỚC CỦA THUỶ ĐIỆN NHỎ Ở MIỀN TRUNG KHÔNG GIÚP GIẢM ĐƯỢC LŨ LỚN
Sông Rào Trăng chỉ dài 26km với lưu vực 141km2 nhưng lại có đến 4 thuỷ điện A Lin B1 (42 MW), A Lin B2 (20 MW), Rào Trăng 3 (11 MW, lòng hồ 8,8ha), Rào Trăng 4 (14 MW, lòng hồ 22,281ha). Như vậy khoảng cách trung bình giữa các thuỷ điện chừng 8km. Một khoảng cách quá dày đặc.
Thuỷ điện A Lin B1 có hồ chứa nước 24,8 triệu m3, lấy nước từ suối A Lin trong mạng lưới song Sê Kông - Mekong sang Rào Trăng. Còn 3 thuỷ điện A Lin B2 , Rào Trăng 3, Rào Trăng 4 lấy nước lưu vực sông Rào Trăng.
Để minh chứng các thuỷ điện nhỏ trên sông Rào Trăng không có khả năng làm giảm lũ trong mùa lũ, hãy lấy thí dụ về thuỷ điện Rào Trăng 4 trong đợt lũ vừa qua.
Đợt mưa vừa qua trong suốt một tuần ở khu vực này đo được từ 2.200 - 2.500 milimet. Nếu lấy mức thấp nhất là 2.200 milimet thì lượng nước lưu vực sông Rào Trăng là 141km2 x 2.200 milimet = 310,2 triệu m3. Còn tính cho cả huyện A Lưới sẽ là 1.232,7 km2 x 2.200 milimet = 2 tỷ 711.940.000m3.
Lòng hồ thuỷ điện Rào Trăng 4 là 22,281ha. Theo quy trình xả lũ, mà Bộ Công Thương duyệt cho thuỷ điện Rào Trăng 4 thì mực nước dâng bình thường 99,5m; mực nước chết: 93,0m. Cụ thể như sau:
“1. Cao trình mực nước lũ của hồ chứa thuỷ điện Rào Trăng 4 trong mùa lũ ở điều kiện bình thường khi không có lũ không được vượt quá cao trình mực nước 99,5m;
2. Quy định về chế độ vận hành
Căn cứ dự báo của cơ quan dự báo khí tượng thủy văn có thẩm quyền và quan trắc của Công ty Cổ phần Thủy điện Rào Trăng 4 về số liệu mưa, lưu lượng lũ vào hồ và mực nước hồ chứa, phương thức vận hành cửa van đập tràn như sau:
a) Nguyên tắc cơ bản: Duy trì mực nước hồ ở cao trình mực nước dâng bình thường 99,50m bằng chế độ xả nước qua các tổ máy phát điện và chế độ đóng mở cửa van đập tràn.
b) Trong trường hợp bình thường từ thời điểm lũ vào hồ đến khi đạt đỉnh, việc mở các cửa van đập tràn phải tiến hành lần lượt để tổng lưu lượng xả qua các tổ máy phát điện và đập tràn không được lớn hơn lưu lượng tự nhiên vào hồ tại cùng thời điểm.
- Đảm bảo an toàn tuyệt đối cho công trình đầu mối thủy điện Rào Trăng 4, chủ động đề phòng mọi bất trắc, với mọi trận lũ có chu kỳ lặp lại nhỏ hơn hoặc bằng 500 năm; không để mực nước hồ chứa Rào Trăng 4 vượt mực nước lũ kiểm tra ở cao trình 101,27m”.
Như vậy, trên 101,27m là hoàn toàn xả lũ. Lúc đó mực nước giữ thêm cho phép tối đa chỉ có: 101,27m - 99,5m = 1,77m. Lượng nước chứa thêm 222.810m2 x 1,77m = 403.737m3. Một con số vô cùng nhỏ nhoi so với 310,2 triệu m3, chỉ bằng 0,13%. Vậy làm sao dám gọi là “cắt lũ”?
Còn nếu tính ưu ái cho thuỷ điện Rào Trăng 4, rằng trước khi lũ, mực nước ở mức chết là 93,0m, thì mức nước giữ thêm cũng chỉ là 101,27m – 93,0m = 8,27m. Và lượng nước chứa thêm được so với mức chết là 222.810m2 x 8,27m = 1 triệu 842.638 m3. Vẫn là con số vô cùng nhỏ so với 310,2 triệu m3 (0,59%). Thuỷ điện nhỏ không giúp giảm được lũ là bởi thế.
Còn nếu ai đó nói rằng lòng hồ thuỷ điện Rào Trăng 4 vào mùa lũ lớn hơn 22,281 ha, thì chính họ đã chỉ ra sự sai trái trong cấp phép. Lòng hồ là diện tích đất được cấp. Nó phải được tính toán ở mức nước cao nhất của hồ chứa nước. Đó chính là mức nước hồ ở độ cao ngang với đập.
Thí dụ cụ thể của thuỷ điện Rào Trăng 4 đã chỉ ra rằng thuỷ điện nhỏ không thể giúp gì được cho giảm lũ. Đó là chưa bàn đến ở đây, việc xả lũ làm tăng thêm thiệt hại to lớn cho người dân trong mùa lũ.
6. HIỂU THẾ NÀO CHO ĐÚNG KHÁI NIỆM “CẮT LŨ”?
Nếu cứ nghe theo những chuyên gia bảo vệ cho thuỷ điện nhỏ ở miền Trung thì thuỷ điện nhỏ có vai trò “cắt lũ” đến mức vĩ đại. Chẳng hạn như, họ đã đưa ra các con số rằng
“Tại miền Trung, các hồ thủy điện cũng đã góp phần không nhỏ vào việc cắt lũ, như hồ Quảng Trị 21%, Hương Điền cắt tới 45% đỉnh lũ, hồ Bình Điền 42,3%, Sông Bung 4 cắt 42,7%, Đăk Mi 4 cắt 74,7%, đặc biệt trận lũ ngày 29/10, hồ Sông Tranh 2 cắt tới hơn 50%”…
Làm sao mà có thể cắt lũ đến mức 50%? 74,7%? Đây chỉ là trò chơi con số. Là cách hiểu khác nhau về 2 từ “cắt lũ”.
Bởi vì những người đưa ra chỉ số “cắt lũ” này dựa vào tỷ lệ lưu lượng nước đổ về hồ và lưu lượng nước xả qua đập thuỷ điện để ghi công cho thuỷ điện “cắt lũ”. Chẳng hạn lưu lượng đổ về đầu hồ là 100 m3/s và lưu lượng xả qua đập thuỷ điện cuối hồ là 80 m3/s. Lúc đó, có lẽ những nhà điều tiết xả lũ cho rằng họ đã cắt được lũ 20m3/s. Và tỷ lệ “cắt lũ” là 20/100 = 20%?
Thực ra hồ chứa nước của thuỷ điện không giữ lại 20% lượng nước lũ trong thí dụ trên. 20 m3 nước đó chỉ bị lưu giữ chậm lại, và chỉ 0,25 giây sau nó sẽ đi qua cửa xả của đập thuỷ điện. Nghĩa là sau 1,25 giây thì toàn bộ 100 m3 nước đi qua đập thuỷ điện, không giọt nào lưu lại hồ. Nước lũ chỉ bị dồn lại trước đập thuỷ điện và thông qua đập thuỷ điện với độ trễ. Giống như dòng người ở trạm soát vé. Khi lũ tiếp tục tràn về, nước dâng lên đến mức cho phép tối đa thì phải xả lũ đúng bằng lượng nước đổ về hồ, nếu không nước sẽ tràn qua đập và có thể gây vỡ đập.
Cách tính “cắt lũ” như trên gây ra hiểu nhầm là hồ thuỷ điện giữ lại được một lượng nước đến 50%, 74,7% toàn bộ lượng nước lũ.
Bởi thế, phải hiểu cho đúng khái niệm “cắt lũ”. Như thí dụ của thuỷ điện Rào Trăng 4 nêu ở trên, thì thực tế hồ thuỷ điện Rào Trăng 4 chỉ giữ thêm được có 1,77m chiều cao mặt hồ nước, tương đương với 403 737 m3.
Các ‘hiệp sỹ” bảo vệ thuỷ điện nhỏ, trớ trêu thay tự mâu thuẫn với chính họ. Họ biện luận về “cắt lũ” giúp dân khi lũ không đủ lớn. Khi lũ lên cao thì đột ngột ồ ạt xả lũ để bảo về đập, rồi họ lại thanh minh là không làm cho lũ trầm trọng, vì xả đúng lượng nước đổ về đầu hồ. Chỉ có người dân địa phương nơi vùng bị xả lũ mới biết được việc xả lũ của thuỷ điện đã đẩy họ vào thảm cảnh bi đát như thế nào!
7. ĐỪNG SO SÁNH VỚI CHÂU ÂU
Có người vin vào số lượng thuỷ điện nhỏ ở châu Âu để cổ suý cho thuỷ điện nhỏ ở Việt Nam.
Nhưng đó là 2 thế giới khác nhau. Ví như cùng là cảnh sát giao thông, mà cảnh sát giao thông Singapore không hề nhận hối lộ, trong khi điều đó lại xẩy ra ở nước hàng xóm Malaysia.
Như ngay tại phần đầu đã lưu ý, thuỷ điện là năng lượng quý giá trong trường hợp nó được sử dụng một cách khoa học. Thuỷ điện nhỏ được xây dựng và khai thác ở châu Âu trong một thực tế khác hoàn toàn với Việt Nam, dù quy trình trên giấy có vẻ gần giống nhau.
Để nói lên sự khác biệt giữa châu Âu và Việt Nam trong cách làm thuỷ điện nhỏ, thì trước hết là phải nói đến quy trình và sự tuân thủ quy trình. Ở Việt Nam không có sự tuân thủ quy trình như ở châu Âu. Tính nghiêm ngặt trong tuân thủ pháp luật ở 2 nơi là rất khác biệt. Còn nữa, thêm một minh chứng về yêu cầu bảo vệ môi trường ở châu Âu, không chỉ trong lĩnh vực thuỷ điện, là sự tồn tại cả những đảng phái chính trị bảo vệ môi trường - chẳng hạn như đảng Xanh, có ở nhiều quốc gia châu Âu.
Không ai chống thuỷ điện nhỏ khi nó được khai thác một cách khoa học. Nhưng ở Việt Nam, thuỷ điện nhỏ đang tàn phá rừng, làm tăng thêm sụt lở, làm trầm trọng thêm lũ lụt, làm thay đổi môi sinh. Bởi vì việc xây dựng thuỷ điện nhỏ ở Việt Nam thoát ra ngoài tầm kiểm soát. Và không có cách nào để kiểm soát được trong cơ chế hiện nay.
Khi không kiểm soát được, thì cách tốt nhất là dừng.
8. THUỶ ĐIỆN ĐÃ TỚI HẠN
Theo thống kê của Bộ Công Thương, đến cuối năm 2018 cả nước có 818 dự án thuỷ điện đã được phê duyệt với tổng công suất 23.182 MW. Hiện có 385 công trình thuỷ điện đang vận hành với tổng công suất 18.564 MW. 143 dự án đang xây dựng có công suất 1.848 MW. 290 dự án đang nghiên cứu có tổng công suất 2.770 MW. Tổng công suất điện toàn quốc năm 2018 đạt khoảng 48.000 MW. Như vậy thuỷ điện chiếm khoảng 38,675% công suất lắp đặt. Kế hoạch đến năm 2030 của thuỷ điện là 25.400 MW.
Nhu cầu về điện tăng rất nhanh do đòi hỏi phát triển của đất nước. Tổng công suất điện đã lắp đặt của cả nước năm 2019 đạt 54.880MW. Phải dự liệu tăng trưởng điện ở mức độ từ 10-12% hàng năm. Nhiệt điện than cần phải hạn chế do mức độ ô nhiễm. Còn thuỷ điện đã đạt mức tới hạn. Nếu tính cả 143 dự án đang triển khai thì tổng công suất của thuỷ điện đạt 20.412 MW. Nếu tiếp tục triển khai hết 290 dự án đang nghiên cứu cũng chỉ cho thêm 2.770 MW. Tiếp tục theo kế hoạch đến năm 2030 để đạt 25.400 MW thì cũng chỉ tăng thêm 2.218 MW. Nghĩa là không đủ đáp ứng cho nhu cầu tăng trưởng điện trong 1 năm. Bởi vậy, không nên phát triển các dự án thuỷ điện mới nữa, và dừng hoàn toàn các dự án thuỷ điện nhỏ mà chưa triển khai, nhất là tại khu vực miền Trung.
Thay vào đó là điện mặt trời và điện gió. Tính đến tháng 6/2019, đã có 89 nhà máy điện gió và điện mặt trời hòa lưới với tổng công suất 5.038 MW, chiếm khoảng 9,18% tổng công suất điện quốc gia. Theo kế hoạch, đến 31/12/2019 sẽ có thêm khoảng 1.000 MW năng lượng tái tạo hoà vào lưới điện quốc gia. Phát triển mạnh điện mặt trời và điện gió là hướng chiến lược chủ đạo dài lâu của Việt Nam. Nhất là điện mặt trời. Vì Việt Nam nằm trong vùng nhiệt đới.
Vì rừng bị tàn phá, đồng bào miền Trung không chỉ sẽ phải đối mặt với lũ lụt ngày càng hung dữ, mà còn phải sống trong nơm nớp lo âu của sụt lở đất kinh hoàng. Trong số các kẻ thù hiểm ác của rừng, phải kể đến: lâm tặc, sự di dân, sự bành trướng đô thị, sự phá rừng trồng cây lương thực và cây công nghiệp, sự xâm chiếm của các dự án, và thuỷ điện. Cách tốt nhất giúp cho đồng bào miền Trung bớt lũ và tránh sụt lở đất là bảo vệ rừng, trồng thêm rừng, và thay thế thuỷ điện bằng năng lượng tái tạo.
Không ai chống làm thủy điện một cách khoa học. Chỉ chống cách làm thủy điện nhỏ hỗn loạn như hiện nay.

TG: Nguyễn Ngoc Chu

Ảnh từ Google : Vỡ đập thủy điện ở Lào 25/7/2018




Rất hay: Có thể bạn chưa biết...?

(Dam Ho chuyển)

KÍNH MỜI XEM và HỌA (NẾU THÍCH) THƠ TRĂNG THU của HỒ NGUYỄN

TRĂNG THU Mây buồn kéo đám bám che trăng, Cuội ngóng chờ trông bóng chị Hằng. Chim mất tổ sầu kêu thảm thiết, Lá buông cành chiếc rớt tung ...