Thứ Năm, 4 tháng 11, 2021

HALLOWEEN - Nguyễn Đức Tùng ( Văn Việt )

               Tom Shropshire, Halloween Dare (2012)

Halloween nhằm ngày cuối tháng Mười, cũng là ngày cuối của mùa thu. Thời tiết chuyển giao, người ta tin rằng có một thế giới siêu nhiên hiện ra khi mùa màng thay đổi, lúc con người có thể chạm được vào thế giới thần linh. Đêm nay trong cảnh đất trời mờ ảo, vật chất và tinh thần giao hòa nhau, người sống và người chết nhìn thấy nhau. Ma quỷ không sợ hãi con người như mọi khi, cũng không làm con người sợ hãi bằng họ sợ hãi nhau. Tối nay, bạn đi ra đường, nếu sẵn sàng đón nhận thế giới vô hình bạn sẽ nhìn thấy những điều ngày thường không thấy được. Đêm nay bạn đặt mấy chiếc đèn lồng trên lối vào nhà, nhiều kẹo trước cửa, trong một cái giỏ ngay ngắn, ghi một tấm giấy nhỏ bên cạnh “take one”, lấy một cái, “take two”, lấy hai cái. Những đứa trẻ sẽ lấy đúng như thế. Đôi khi cũng có một thằng bé sáu hay bảy tuổi quay lại, thò tay lấy thêm một cái nữa, vì không cưỡng nổi cám dỗ. Thằng bé ấy là Tony. Hay chính bạn thời bé.

Chiều nay, thế giới lạnh lẽo trở nên ấm lại, như vùng trời trong cái lu sành đựng chuối mẹ tôi ủ chín, chuối mật ngày rằm, nóng hổi, bụi bặm hương khói. Trần gian trở nên bé bỏng như dưới đường cày mới lật cho đất thở sau mùa gặt hái. Bạn đi ngang nhà nào bật đèn sáng, có đèn lồng khoét bí ngô, Jack o’ lantern, bạn biết có kẹo bánh. Đêm nay có những nhà đóng cửa im ỉm vì chủ nhà đi vắng hay vợ chồng cãi lộn hay nhà có người bệnh. Đêm nay có những người ở trong căn nhà đó, nhưng họ không có gì để tặng, tắt đèn, nhà cửa tối om, buồn ngồi im, bạn đừng trách họ vì người đang có một điều gì để cho đi là người may mắn hơn những người không có gì cho bạn cả. Đêm nay những đứa trẻ dễ dàng giao thoa với thế giới thần linh, vì chúng ngây thơ. Đêm nay những người đứng trước cửa nhà mình để phát kẹo cho trẻ dễ dàng nhìn thấy thế giới huyền bí cũng vì họ chịu khó. Đó là những người chiều hôm trước bỏ chút thì giờ bận rộn, đứng xếp hàng ở tiệm tạp hóa đông người, mua những thứ cho bọn trẻ không phải con mình, vì nhà họ không có trẻ con.

Khi bạn yêu một người nào, bạn không tin vào cái chết, bạn muốn họ sống mãi, nhưng cuối cùng cái chết vẫn đến. Khi bạn yêu một xứ sở, bạn không tin nó tan vỡ, nhưng nó tan vỡ. Thế mà bạn không bỏ cuộc. Bạn ước ao một lần bước qua ranh giới ấy, dù chỉ một lần, khoảnh khắc ấy, nhìn thấy phía khác của tồn tại, như phía sau của mặt trăng. Đất trời lá rụng buồn bã, tâm trạng bạn ảm đạm, bạn mặc áo khoác đi ra đường. Vào lúc ấy, chỉ sương mù làm bạn với chúng ta, sương mù là lòng tiếc thương biết bay lảo đảo. Trong những khu vườn nhỏ, dưới cửa sổ, ánh nến leo lét thắp. Giữa những bụi cây, những con chuột đồng, nhím hoang, sóc, mèo, chạy vụt qua, rủ nhau đi từng đàn, tìm kiếm một điều gì trên mặt đất, thức ăn, trái thông rụng, mùi hạt dẻ nướng. Chúng tìm kiếm một tâm hồn lưu lạc. Nhưng ai trong chúng ta mà không lưu lạc trên trần thế, không xuống địa ngục không vào thiên đàng. Ngoài đường, bọn trẻ bắt đầu đi lại, mang mặt nạ, xúng xính quần áo hóa trang, con trai quần áo cao bồi, người nhện, cảnh sát, con gái công chúa, quỷ hút máu, đủ màu đủ kiểu, cầm đèn lồng, cha mẹ đi theo sau chúng cách một quãng, tiếng la hét của gã đàn ông say rượu trong xóm, pháo nổ đì đùng, tia lửa bắn vọt lên trời, tiếng hát bất ngờ của con bé xinh đẹp láu lỉnh đội nón rộng vành đóng vai phù thủy, làm chúng ta nhớ tất cả. Bạn không biết có bao nhiêu linh hồn đang đi lại trên mặt đất, của những người thân, vợ bạn vừa mất hay chồng bạn mất đã lâu, cha hay mẹ, người bạn học cũ, người yêu phụ bạc, linh hồn của chính bạn.

Cách nơi tôi ở ba khu phố có một căn nhà gỗ nhỏ, hai tầng, sơn xanh sẫm, mùa lễ năm nào cũng để sáng đèn rọi lối đi vào nhà gập ghềnh, um tùm bụi cây dâm bụt, phúc bồn tử, có hai vợ chồng già ở đó nhiều năm, năm nào cũng có một thùng kẹo lớn, một hũ sành đựng nước bạn can đảm cho tay vào toàn là con mắt người, lỏng bỏng tròn như bi, nhơn nhớt, lạnh. Có khi họ trao kẹo cho những đứa bé, có khi họ để sẵn chờ chúng lấy. Năm nay người vợ dùng một cái sào dài gắp lấy bánh kẹo cho trẻ con, để tránh tiếp xúc vì đại dịch. Ngoài vườn, dưới bóng tối của cây mộc lan nhiều tuổi, hoa tím tàn vài hôm trước, lúc nào cũng vang tiếng kêu kẽo kẹt của cái ghế xích đu nhỏ, trên ghế là một con ma áo trắng, đứa con gái cỡ bảy hay tám tuổi, gầy gầy, mặt bụ bẫm, trong tối nó ngồi đó, trắng và sáng, im lặng khiến bạn giật bắn người. Năm nay tôi để ý không thấy đứa con gái đâu cả. Tôi thất vọng, đánh bạo hỏi người chủ nhà. Bà trả lời, trời sắp tuyết, năm nay lạnh sớm quá nên bà đem con bé vào nhà cho nó ủ ấm một hai đêm. Đó là đứa cháu ngoại của ông bà, qua đời lúc bảy tuổi, chờ khi trời ấm hơn sẽ mang trở lại chỗ nó vẫn thích ngồi ngày trước, đu đưa. Tôi đứng im một lát, không nói gì, nhìn sâu vào mắt bà cụ. Tôi nhìn thấy từng bông tuyết đầu mùa trắng nõn bay trong mắt bà, nhẹ như tơ, mờ mịt. Bây giờ tôi nhận ra sau nhiều năm bà cũng già đi quá thể. Đó là những bông tuyết của thời gian bay qua trước mặt hai chúng tôi, bay đi trước một mùa đông sắp tới. Nhưng gần nửa đêm trời ấm lên, tuyết hóa thành mưa lác đác.

Thời tiết đổi mùa, vạn vật đổi thay, trong sự mờ ảo ấy thời gian lạnh lùng trôi đi, nhưng thời gian chưa chắc đã lạnh lùng như tôi vẫn tưởng, vào đêm Halloween năm nay, nó xé rách một tấm màng mỏng như khăn voan che mặt cô dâu để cho hai thế giới nhìn thấy nhau trong một khoảnh khắc, qua khổ đau và qua hạnh phúc, qua hiện tại và qua thương nhớ. Khoảnh khắc ấy đánh dấu như cột cây số trên đường đi, làm thay đổi cấu trúc của một ngày của một người. Tiếng pháo thưa dần, tôi ra về giữa những đứa trẻ chộn rộn cười nói trong tiếng giày va trên lớp sỏi kêu lạo xạo, trong khi tuyết bắt đầu tan thành nước chảy lênh láng trên đường, đất ấm lại một lần nữa trước khi bước hẳn vào mùa đông lạnh giá.

Nguyễn Đức Tùng


 

Trên đời có bốn cái ngu ...


 

Trên đời có bốn cái ngu 
LÀM MAI ,GÁ NỢ ,GÁC CU ,CẦM CHẦU !

                      Đây là một câu vè nói về tính thiệt thà trượng nghĩa và hào phóng của vùng đất Nam Kỳ lục tỉnh .

     1/ Làm Mai : 
Ngày xưa trai gái nên duyên chồng vợ , đều do mai mối , vì thời phong kiến có câu : KHUÊ MÔN BẤT XUÂT , NAM NỮ THỌ THỌ BẤT THÂN ... nghĩa là người con gái không được ra khỏi ngưỡng cửa gia đình nếu không được phép hoặc có sự kềm cặp giám sát của người thân trong gia đình . Thì làm sao hai người biết mặt nhau để mà làm quen hay hò hẹn , do đó nam nữ tới tuổi cặp kê dựng vợ gã chồng đều phải qua bàn tay dàn dựng sắp xếp của Ông mai bà mối , nếu hai người ăn ở với nhau bền duyên cầm sắt , nên cửa nên nhà , làm ăn tấn tới nhiều khi chưa chắc gì ông mai , bà mối được nhắc tới . Nhưng nếu mà trục trặc trở ngại , tính nết không hợp , làm ăn không khắm khá , nhất là vướng vô vụ lộn nài , tháo ống thì bao nhiêu cái lỗi đều đổ trút vào một mình ông mai , bà mối lãnh đủ , mọi ưu phiền dù rằng hôn nhân là do hai gia đình quyết định , cha mẹ sinh con , trời sanh tính , làm sao ông mai bà mối ngờ tới được . Đó là cái dại thứ nhất . Ngày xưa hỏi , cưới đa số đều có con heo trong mâm lễ vật , phần cái thủ vĩ lợn gia chủ dành kiến cho Ông mai .

         2/ Gá nợ : (Người Miền Nam gọi là Nhận Nợ
Câu nầy xuất phát từ tính hào hiệp , thương người , khi thấy người quen mình lâm vào cảnh khó khăn về tài chánh , mà mình muốn giúp nhưng đang kẹt dù là mình thừa sức , do đó mới đứng ra thuyết phục người quen , bạn bè cho họ vay mượn rồi nổi hứng lên tuyên bố : Nếu nó không trả tao bán nhà trả nợ thay nó cho mầy .
        Đây là một thức tế đối với tôi : 
         Hồi tôi còn đi làm cho Cty QG tôi có cho Cty mượn trên 100 triệu với lãi suất nhẹ nhàng là 2% một tháng . Khi tôi định nghỉ làm nên bằng mọi cách xin rút vốn lại . 9 Oánh là bạn thân với Anh thứ Ba của tôi . Mà cũng chơi khá thân với tôi . Biết tôi mới vừa lấy về số tiền nói trên nên kêu tôi cho cô cháu vợ vay với lãi suất 10% một tháng . Tôi lắc đầu và nói tôi không tham lời . Rồi hỏi cách làm ăn của cô cháu vợ như sau : ổng nói cô cháu chở đá bụi từ An Giang về giao cho Cty gạch men ĐT , cứ 100 triệu là lời 30 triệu . Tôi mới phân tích huỵch toẹt ra cho ổng biết về thủ đoạn của giới làm ăn như sau :
                 Bỏ ra 100 triệu lời một chuyến 30 triệu . Nhưng tiền bán có thanh toán liền hay không ,hay là ghi sổ để cả năm mới thanh toán một lần hoặc trả nhỏ giọt ? Cháu anh vay tôi mỗi tháng 10% .lãi một năm là 120% . trong khi một chuyến lời chỉ có 30% . Cty ĐT để một năm mới trả thì cứ 100 triệu vốn cháu anh lỗ vài chục triệu một năm , đi càng nhiều là càng chết cứng , người ta làm được vì người ta vốn mạnh , thay vì gửi nhà băng chỉ có lãi suất 1% một tháng còn buôn bán thì dù có bị chiếm dụng vốn vẫn lời 3% một tháng . Còn đối với Cty ĐT thì việc chiếm dụng vốn nói trên dù rằng có mua vật tư cao nhưng trái lại còn rẻ hơn là đi vay ngân hàng hay vay nóng . Sau này cô cháu đổ nợ , 9 oánh nghe lời tôi nói đã rút vốn từ từ nên chỉ thiệt hại nhẹ ...và ổng đã nói : May mà mầy khôn và không tham chớ mầy cho vay thì tao chắc bán nhà để trả nợ cho mầy . Đó là cái ngu do lòng hào hiệp của dân Nam Kỳ lục tỉnh mới có .
              3/ Gác Cu :  
Gác cu miền Bắc có hay không thì tôi không biết , chớ hồi đó xóm tôi có hai người thích đi gác cu .
    -Người thứ nhất là ông Bảy Gạo vì trước đó ông làm phu bốc vác gạo  mấy ghe chài Nam Vang cho mấy kho gạo ở kinh Tàu Hủ tức là bên bến Lê Quang Liêm và bến Bình Đông . Khi rãnh rổi ông cũng xách cái lồng có con Chim Cu mồi để đi kiếm chổ bắt Cu Gáy .
     - Người thứ hai là anh Ba Đồng trước cùng chạy xe lam , sau nầy ảnh lái xe đò Chợ lớn An Hữu Mỹ Thuận . Tôi có đi theo ảnh một vài lần , mà chán lắm , quần mấy khu xóm có cây cối rậm rạp như xoài , mận , mít ở miệt đường An Dương Vương Cầu Mỹ Thuận hôm nào đi xa thì qua An Lạc Bình Chánh , đi thì đi xe đạp rồi vểnh tai nghe ngóng xem chổ nào có tiếng Cu gáy mới dừng lại đặt cái lồng trong đó có con Cu mồi đã bị cột chân vào lồng , sau đó mở cữa lồng để cho con cu mồi gáy , cho con Cu khác chui vào lồng , nhiều khi mò tới bắt bịt miệng lồng không kịp con Cu kia bay mất .
        Tiếng kêu cù cúc cu nó buồn não nuột làm sao ,nhất là những buổi trưa mùa thu trời hiu hiu gió thổi mát nó cũng làm cho con ngươi sụp mí mở không lên . Nhiều khi nằm ngủ quên ngon lành một giấc , bị kiến cắn là chuyện thường tình , vì hễ cây ăn trái là có kiến vàng , nhiều khi gặp kiến bù nhót cắn là nhảy dựng luôn .
           Thời đó nhà cửa miệt thôn quê , nhà tắm thường làm đơn giản bằng lá trầm cao cở khỏi vai , cửa  thường được làm bằng một miếng nylon giống như là vải treo cửa buồng . Do đó gió mạnh nhiều khi nó tốc lên lộ hết trơn hết trọi  dung nhan người đang tắm . Chưa nói đến việc nhiều nơi không có nhà tắm cứ ra sau hè xối nước xối xả tắm vì cứ đinh ninh là mình đang mặc trên người nguyên bộ bà ba , mà bộ đồ ướt sủng nước nhất là bộ bà ba ba vải dù nó còn ác liệt hơn là trống phốc . Trưa vắng có ai đâu mà nhìn thấy , ai ngờ cha gác Cu ngồi một mình cười múm mím được mục sở thị từ đầu tới cuối , có khi đang rình con Cu say đắm bị ăn trọn nguyên thau nước đồ dơ mà ngậm câm không dám một lời hó he vì sợ bị nghi là đạo tặc .
        Con Cu hồi đó bẫy được nếu bán cũng hỏng có bao nhiêu tiền , nhưng vì là một thứ đam mê , mê Cu và mê những hình ảnh dí dỏm quanh quẩn  nơi mà con Cu đang gáy , hỏng tin gặp mấy ông gác cu hỏi xem lời tôi kể có đúng không , bảo đảm mấy chả chỉ cười múm mím mà thôi , ngu sao mà  nói .

     4/ Cầm Chầu : 
Vùng đất Phương Nam thời xưa trù phú
lắm , ruộng vườn phì nhiêu , cò bay thẳng cánh . Nên qua khỏi rằm tháng 2 AL là các địa phương vào lễ hội Kỳ Yên . Tức là cúng đình thần sở tại . Thần là một vị quan nho nhỏ có công trong việc mở mang bờ cỏi , trong những ngày đầu đến lập nghiệp tại địa phương , sau khi chết đi người dân mới lập đình để thờ phụng . Có nơi đình thần được phong sắc từ triều đình Huế , có nơi chưa hoặc không được sắc thần . Hồi đó tôi có nghe các bô lão trong hội đình Phú Định kể lại là một trong hai đình Phú Định và Hoà Lục có một đình chưa được phong sắc thần . Sắc thần là một vải lụa màu vàng có mấy hàng chữ Nôm , nó như là công văn hay quyết định của vua ban phẩm tước ngày xưa nó được để trong một cái khay bằng gỗ  quí cẩn xà cừ .
          Thời trước đa số các đình khi cúng kỳ yên đều có rước gánh hát bội , mà tuồng hát được biểu diễn nhiều nhất là tuồng Đổng Kim Lân phò ấu chúa , hay San Hậu , Tiết Đinh San cầu Phàn Lê Huê. Cúng kỳ yên cũng như cúng đám giổ , ngày đầu là tiên thường , ngày sau mới chính lễ , mà thông thường tuồng Đổng Kim Lân là để hát trong ngày lễ chính .
               Thời đó ở địa phương thì có Ông Hội Đồng ,rồi thầy Cai Tổng đó là những quan thuộc hàng Phụ Mẫu Chi dân . Quan đầu xứ ,nên mỗi khi cúng kỳ yên ,thì họ là những người thuộc hàng ăn trên ngồi trước . Nên được giao cầm chịch cái trống chầu , mỗi khi đào kép hát một đoạn hay một lớp tuồng hay là người cầm trống chầu nhịp gỏ trống khen ,đồng thời quăng lên sân khấu một cái quạt giấy ,trong đó có kẹp buộc sẵn tiền ,cũng xem như là khen thưởng . Người đời cười ngạo là như vậy cầm chầu gỏ chỉ mỏi tay mà còn phải tốn tiền túi chớ có lợi lộc gì đâu , nhằm nhò gì bởi họ là dân xứ Nam Kỳ
Lục Tỉnh nên phải chịu chơi thôi , nhưng mà so với Hắc Bạch Công Tử ngày xưa  thì hỏng nhằm nhò gì ba cái lẻ tẻ...
  -Ghi lại theo hồi ức ngày xưa qua lời kể của người lớn tuổi và các bậc đàn anh có gì sơ suất mong bà con lượng thứ . 

      CÁM ƠN
  Saigon 20-09-2019
TonyNguyen chuyển

Thứ Tư, 3 tháng 11, 2021

NỔI BUỒN CỦA SÂM CẦM - NTVLongXuyen

NỔI BUỒN CỦA SÂM CẦM
 
Ngày còn ở Việt Nam Ntv chưa từng nhìn thấy chim sâm cầm. Chỉ biết sâm cầm ngày xưa là thức ăn thượng hảo hạng của ông vua và đám quần thần. Mùa đông nó bay từ phướng bắc xuống để tránh lạnh. Nay nó bị Tập ăn hết rồi nên không còn thấy bay về hồ Tây nữa. Sáng sáng dạo này trời se lạnh nên sương mù bao phủ công viên bên cạnh trường Santa Ana. Từ một tuần nay đám sâm cầm "tạm trú" ở đây. Không thấy nó ăn sâm mà chỉ gặm cỏ như đám ngổng trời định cư dài hạn tại công viên này. Không thấy vua quan nào nhào ra vây bắt sâm cầm hết. Buồn thật!
 
 FB. NTVLongXuyen

 

NỒI CÁ LINH SẢ ỚT KHO QUẸT -MẸ HIỀN VỚI CHIẾC XUỒNG CON - Đăng Lê Hùng

Thầy Đặng Lê Hùng là CGS.TH>NLS.Tay Ninh dạy môn Canh Nông nhưng lại thích làm thơ,viết nhạc

 🌷🌷🌷🌷🌷🌷🌷

 Mời Xem 1 Bài Khác :Tuổi chưa biết buồn

PHAN: Ðằng Sau Bức Màn Vải Hoa

 Phan
Bên hông nhà hát cũ trong downtown là quán cà phê của Mễ. Tôi gặp anh
bạn nhạc sĩ, cũng là Phật tử của chùa nhà. Ðã trò chuyện với nhau
nhiều lần ngoài chùa, hứa hẹn khi rảnh sẽ gọi nhau đi uống cà phê để
nói những chuyện không cho Phật nghe. Nhưng đôi lần gặp nhau ngoài đất
Phật thì cũng chỉ cười trừ bởi công việc. Thế là hôm nay không hẹn,
chúng tôi gặp nhau trong áy náy về lời hứa với nhau vẫn chưa quên…Hai
chúng tôi ngồi xuống cái bàn cà phê ngoài hiên quán Mễ, những chuyện
muốn nói nhau nghe nhưng gặp trong chùa nên không dám nói thì đã quên
hết, chỉ nhớ đó là lý do người ta trở lại chùa. Chúng tôi nghĩ ra
chuyện động trời là sẽ cùng đối ẩm sau khi uống hết hai ly cà phê trả
tiền trước. Hai cái ly bằng giấy như ly cà phê Starbucks thì ai biết
thức uống gì bên trong, trong khi trong xe tôi lại có tới 6 chai rượu
đỏ mới mua. Mua một chai nguyên giá, mua 6 chai bớt 10%, bớt thêm 5%
nữa nếu trả bằng thẻ tín dụng của chợ. Chúng tôi ngồi nói chuyện với
nhau cách thức kinh doanh của Mỹ thật đáng suy ngẫm. Không ngờ hai
người ngấm hết hai chai rồi mà suy chưa ra gì hết, (xe đậu trước mặt
thì cứ việc cầm cái ly của mình vô xe, rót rượu, rồi trở ra bàn lề
đường mà ngồi). Cảnh sát lơn tơn đi bắt người uống rượu hàm hồ ngoài
đường chứ đâu bắt người uống rượu tế nhị. Chúng tôi cứ thế thay phiên,
bốc cái điện thoại để lên tai dù không ai gọi nhưng vỉa hè ồn quá nên
phải chui vô xe mới… rót được 1 ly.

Sang chai thứ ba thì chúng tôi về đến Việt Nam, chuyện người cùng thời
nên nói tới đâu hiểu tới đó vì người này nói ra người kia biết, không
lạt như chuyện lính của chú bác vì cỡ chúng tôi có biết ông tướng ông
tá nào đâu!

Xuôi theo dòng xe, dòng đời trôi chảy mãi trên những con đường chậm rì
trong downtown. Bạn tôi kể, sau biến cố 1975, ba tôi đi tù không ảnh
hưởng mấy tới anh em tôi. Bởi chúng tôi đã quen sống với mẹ, không có
ba ở nhà. Ba tôi là niềm vui ngắn ngủi của tuổi thơ vì những ngày ông
về phép là những ngày ba đi nhậu với bạn bè nhiều hơn chơi với con
cái. Nhưng ba có chở chúng tôi đi chơi Vũng Tàu, lần khác đi xa hơn là
lên Ðà Lạt. Ðôi lần tôi còn nhớ chỉ đủ an ủi cho tháng ngày mẹ dẫn anh
em tôi về nhà ngoại sau 1975. Ðó là một vùng quê trong ký ức tuổi thơ.
Chúng tôi sống với ông bà ngoại, mẹ đi buôn bán theo những chuyến xe
đò chạy ngoài lộ lớn.

Hôm đó tôi bị bệnh tới qua ngày là ghê gớm lắm, ói mửa, nóng sốt. Bà
ngoại phải ra tới bến xe để nhắn mẹ về nhà đưa tôi đi khám bác sĩ.
Trên đường từ phòng mạch bác sĩ trở về, mẹ ghé nhà thuốc tây mua thuốc
cho tôi uống, ghé vào quán đầu ngõ cho tôi ăn một tô mì. Hôm đó mẹ tôi
nói chuyện với bà chủ quán khá lâu về tiệm hủ tíu mì của bà…

Về đến nhà ngoại, con nhỏ em tôi khóc lóc ỉ ôi khi nghe tôi kể mà nó
không được ăn hủ tíu, mẹ chỉ mua cho nó cái bánh tiêu với miếng bánh
bò. Nó hăm dọa mẹ với bà ngoại là tối nay nó sẽ bệnh nặng, ngày mai
phải dẫn nó đi khám bác sĩ, ăn hủ tíu… Tôi nằm lơ mơ trên bộ ván ở nhà
ngoại, nghe mẹ bàn tính với ngoại về việc sang lại tiệm hủ tíu để làm
ăn. Câu chuyeẹn làm tôi hết bệnh luôn vì từ nay có hủ tíu ăn rồi. Ở
nhà ngoại, ngoại cho ăn cơm với rau dền luộc, mấy con cá kèo kho tanh
rình, hai anh em tôi khóc mấy cũng không có thịt kho trứng.

Từ ngày gia đình tôi có tiệm hủ tíu, gia đình gọn nhẹ của tôi vốn có
ba người. Mẹ tôi không có tuổi, vì lúc nào mẹ cũng hoạt bát, năng
động… tôi hơn mười và con nhỏ em chưa tới mười tuổi. Căn tiệm được mẹ
tôi sang lại không có chỗ ngủ nhưng mẹ dọn dẹp một góc, kê được cái
giường, căng tấm màn vải hoa để che đi mớ mền gối nhếch nhác…

Anh em tôi hăng hái ăn hủ tíu ngày ba, bốn lần. Mẹ thì thức rất khuya
để nấu, làm hàng bán ngày mai. Bà ngoại phải lo việc nhà, lo cho ông
ngoại đã già. Nhưng rảnh là ngoại ra quán để giúp mẹ tôi. Tôi nhớ mãi
hình ảnh ngoại ngồi rửa tô, rửa hoài không hết. Ngoại đi gánh nước
ngọt về quán để nấu, để rửa vì thuê người gánh nước rất tốn tiền.
Ngoại chỉ khác mẹ tôi là không đánh, không rầy la tôi lớn tiếng. Tôi
thương ngoại hơn mẹ nhưng không nói ai nghe, tôi đi xách nước cho
ngoại, phụ ngoại rửa tô. Ngoại tôi có cách không nói nhưng làm tôi nhớ
ngoại nhiều, hai bà cháu rửa tô với nhau tối mắt tối mặt, nhưng thỉnh
thoảng ngoại ngưng tay lau mồ hôi trán cho tôi bằng cái khăn quàng lúc
nào cũng quấn trên cổ ngoại. Ngoại nắm hai bàn tay tôi, lật tới lật
lui xem xét rồi thở dài, những lúc ngoại nhìn sâu vào mắt tôi, tôi
không hiểu ngoại nghĩ gì. Nhưng sau này tôi hiểu được quyết định quan
trọng của ngoại. Ngoại ráng rửa tô để có tiền cho tôi đi vượt biên.

Quán của mẹ tôi làm ăn phát đạt, mẹ có thuê thêm một chị, rồi hai chị
phụ bán hàng và dọn rửa. Nhưng tôi với ngoại cũng không rảnh hơn vì đủ
thứ chuyện phải làm. Tôi đi học về là làm việc chứ không được đi chơi.
Tôi chán hủ tíu lắm rồi, ước gì được ăn cơm với rau dền luộc, cá kèo
kho cũng được nhưng tha hồ đi chơi…

Thế rồi ông ngoại tôi mất, một đám tang diễn ra như gánh hát về. Nhà
đông vui, người đông vui. Chỉ vắng vẻ từ hôm đưa ông ngoại ra đồng. Bà
ngoại già xọp đi; ít khi ra quán giúp mẹ tôi nữa vì người cậu duy nhất
của tôi đã dọn cả gia đình về ở với bà ngoại. Bà tôi thường ngồi một
mình ngoài góc vườn từ chạng vạng tới trăng lên, trăng tỏ… Tôi đã đủ
lớn để chiều tối thì dắt con nhỏ em về nhà bà ngoại, ngủ với bà ngoại.
Ðiều tôi không hiểu trước khi ông ngoại mất là sao chúng tôi không
được về nhà ngoại ngủ cho rộng rãi mà phải ngủ ngoài quán chật chội.
Ông ngoại không thương mẹ con tôi chỉ mới lờ mờ trong đầu óc trẻ con
tôi. Tôi chứng minh được với em tôi là từ sau ông ngoại mất, bà ngoại
lại cho anh em tôi về nhà ngoại ngủ cho rộng.

Rồi tiếp đến cậu tôi dọn về nhà ngoại ở, cậu lại không cho chúng tôi
về nhà ngoại ngủ. Ðến hôm cậu tôi say rượu, đuổi anh em tôi trở ra
quán ngủ với mẹ chứ không cho về nhà ngoại ngủ nữa. Tôi không hiểu
nhưng linh cảm được mẹ tôi với cậu không thương nhau. Ðặc biệt là cậu
ưa nhìn tôi nhưng khi tôi nhìn lại thì cậu nhìn đi chỗ khác. Bây giờ
tôi chỉ còn mỗi việc là khi mẹ có món gì ngon thì nhờ tôi đưa về nhà
ngoại cho bà ngoại ăn. Mẹ lo buôn bán tất bật, mấy người phụ việc do
mẹ mướn thì trộm cắp liên miên, hở ra là họ trộm cắp bất cứ thứ gì có
thể từ tiền tới miếng thịt sống, thịt đã luộc, bó cải ngọt… Tôi cứ
phải lảng vảng giờ trưa, hay khi trời chập tối để cho họ biết tôi
không đi chơi mà bớt dám trộm cắp.

Cuộc sống không có gì vui vì chỉ đi học rồi về canh trộm. Ðêm đến,
đóng cửa quán xong thì mẹ lại lo tính tiền, sổ sách, nấu nướng, làm
hàng để bán sáng mai. Không biết mẹ tôi đi ngủ mấy giờ nhưng sáng ra
thì mẹ đã thức từ bao giờ! Tôi cũng không biết bao giờ ba tôi được về
để giúp mẹ tôi buôn bán hay vượt biên. Chỉ thấy một hôm có người đàn
bà trẻ hơn mẹ đến quán nhà tôi. Dì với mẹ vào buồng nói chuyện. Bên
ngoài miếng vải hoa làm màn, tôi thấy rõ hai người ngồi hai đầu giường
thì thầm với nhau. Ðêm đó dì ở lại quán với ba mẹ con tôi. Tới giờ đi
ngủ thì dì với con nhỏ em tôi ngủ chung trên cái giường duy nhất. Tôi
kê bàn lại làm giường để ngủ. Còn mẹ tôi ngủ đâu, tôi không biết.

Tôi tưởng dì là bạn của mẹ đến chơi vài hôm, không ngờ dì ở luôn trong
cái quán đã quá chật chội. Dì không hề giúp mẹ tôi một việc gì, tôi
cũng không biết dì đi ngủ mấy giờ. Chỉ biết sáng ra, tôi đi học thì dì
chưa thức. Có hôm tôi đã tan trường, về tới quán nhà, dì còn chưa dậy…
Thật ít khi dì bước ra khỏi bức màn vải hoa, cả ngày dì chỉ ở trên
giường, khi quán vắng thật vắng thì dì mới ra ngoài uống ly nước, hay
đi vệ sinh. Tôi chưa từng thấy dì ăn hủ tíu. Tôi thắc mắc thì được mẹ
giải thích, “Ðúng, mẹ chỉ có hai chị em ruột là mẹ với cậu, dì đây là
chị em bạn dì với mẹ. Gia đình dì đi nước ngoài hết rồi, dì sống tạm
với chúng ta ít ngày rồi dì cũng đi…”

Nhưng tôi không thấy dấu hiệu gì cho biết là dì sắp đi. Hôm ông trưởng
công an xã đến quán và hỏi thăm dì, kêu dì ra gặp mặt nói chuyện. Từ
đó, thỉnh thoảng ông ghé qua quán nhà để mẹ tôi đưa tiền kín đáo cho
ông. Dì tôi vẫn ở sau bức màn vải hoa bí ẩn. Nhưng hôm đầu ông trưởng
công an đến đây, ông có hỏi dì một câu làm tôi suy nghĩ, “thằng bé này
là con của cô?” Dĩ nhiên dì trả lời không phải. Nhưng tôi đã thấy mình
giống dì hơn giống mẹ. Mẹ tôi trông thô kệch nhưng mạnh khoẻ, trong
khi dì mảnh dẻ như công chúa, hoàng hậu… dì tôi đẹp đến nhiều người
tới quán ngồi cả ngày chỉ để được thấy mặt vì nghe đồn là dì tôi đẹp
lắm!

Mẹ tôi vẫn vất vả với công việc buôn bán, dì tôi vẫn không đụng móng
tay vào bất cứ việc gì. Một hôm mẹ bảo tôi, mẹ phải đi thăm ba đang ở
tù xa lắm. Con ở nhà với dì thì phải coi chừng em vì dì bận rộn thay
mẹ lo buôn bán. Tôi vâng lời chứ biết sao hơn, nhưng kỳ thực mẹ đi rồi
thì dì vẫn ở trong bức màn vải hoa. Ngoài nhà ngoài người làm tha hồ
buôn bán, trộm cắp tứ tung… Tôi đi báo tin cho bà ngoại thì bà ngoại
ra quán. Nhưng chỉ hơn tiếng đồng hồ thì cậu tôi đến, bắt bà ngoại về
nhà. Tôi hết biết làm gì nên ngủ mê trên mấy cái bàn kê lại làm
giường.

Ðêm khuya lắc khuya lơ bởi ngoài cửa quán lúc nào không có tiếng nói
cười của người buôn bán hàng rong, tiếng chú bác xích lô đậu bến nhậu
nhẹt… Trời chắc là khuya lắm, tôi giật mình khi có người ôm hôn tôi,
tôi bừng mắt thấy gương mặt dì đầm đìa nước mắt. Dì bụm miệng không
cho tôi la, một tay đỡ sau gáy tôi, tay bụm miệng tôi nhẹ hều như cầm
mớ bông gòn áp vào mặt mình. Bàn tay dì tôi không có xương. Trong ánh
sáng lờ mờ của cái đèn đỏ trên trang thờ, dì tôi như bà tiên đẹp đẽ,
khác hẳn với mẹ tôi thô kệch, cục cằn, nói lớn tiếng oang oang… còn
chửi lộn nữa khi người ta ăn hủ tíu mà không trả tiền.

Khi dì biết tôi không chống cự, dì ghì đầu tôi vào lòng dì và giữ như
thế thật lâu. Cuối cùng dì nói với tôi, “con ngủ đi.” Rồi dì đi ra sau
quán là sông rạch. Ðêm đó tôi không ngủ nên biết dì uống rượu. Dì ngồi
trong bóng đêm, nhìn ra sông rạch lấp loáng mấy bóng ghe thương hồ, dì
uống rượu tới sáng thì vào giường. Chuyện buôn bán rối loạn vì những
người giúp việc cho mẹ không biết phải làm sao nhưng dì cũng vẫn không
ra khỏi bức màn vải hoa đã sỉn màu năm tháng.

Dì chỉ uống rượu hàng đêm đến sáng. Ðến hôm nửa đêm thì ba mẹ tôi về
tới nhà. Ba cũng dựng tôi dậy, bụm miệng tôi để hôn tôi một cái giữa
trán. Rồi ba dắt dì đi.

Mẹ tôi không trả lời những câu hỏi của tôi vì mẹ nói, “mẹ bận lắm,
phải chỉnh đốn lại công việc làm ăn. Nhưng con không bao giờ nói với
ai là ba có về đây. Nghe chưa!” Tôi giữ im lặng đến thù ghét mẹ và bà
ngoại vì không ai chịu nói cho tôi nghe chuyện gì về ba; về mẹ, về
cậu, về dì… Tôi chán ghét gia đình trong từng ngày lớn lên. Tôi bỏ
học, đi theo băng đảng, bị bắt ở tù thì mẹ lãnh tôi ra. Chu kỳ ấy lập
đi lập lại vì tôi vào tù ra khám như cơm bữa. Không biết làm gì cho
hết ấm ức thì đi đánh lộn dù chẳng ai gây hấn với mình. Con nhỏ em tôi
đã trở bạn thành thù. Nó từ tôi sau lần bắt quả tang tôi đang ăn cắp
vàng của mẹ giấu dưới chân giường. Nó chỉ nghiến răng nói một câu,
“nòi nào giống nấy”. Nó không đòi lại vàng cho mẹ, cũng không hô hoán
cho mẹ biết tôi đang ăn cắp vàng. Nó làm tim tôi thắt lại niềm đau
đánh mất hai chữ “anh Hai” mà nó kính nể tôi từ nhỏ. Tôi bỏ lại mấy
chỉ vàng, rồi đi.

Tôi không về nhà có đến mấy năm, làm ma cô ở vùng biên giới Việt-Miên.
Tôi nhớ gia đình, thương mẹ, thương em, thương bà ngoại và thương mình
không còn mặt mũi để quay về thì con em tôi tìm được tôi. Nó nói tôi,
“về nhà nhanh lên, bà ngoại hấp hối rồi anh Hai ơi! Ngoại chờ anh về
để chết.” Anh em tôi cùng khóc giữa chợ đời biên giới xa xôi. Chúng
tôi về còn kịp.

Tôi không bỏ nhà đi nữa vì sau đám tang bà ngoại, con nhỏ em tôi tính
chuyện lấy chồng. Nó xin lỗi tôi đã làm anh Hai giận mà bỏ nhà đi… Nó
nói tôi, “má già rồi đó. Má bệnh hoài hà. Em đã lấy chồng. Anh Hai
phải ở nhà trông tiệm hủ tíu cho má, nuôi má…”

Tôi cũng không hiểu sao tôi gọi mẹ tôi là mẹ mà em tôi gọi mẹ tôi là
má. Tới khi lớn rồi thì nó tự giải thích cho tôi nghe là nó thấy má
gọi bà ngoại là má và nó thích. Tôi không cãi mà lơ luôn vì tôi tìm
thấy hạnh phúc khi nghe con đầu lòng của vợ chồng nhỏ em gọi tiếng
“cậu Hai”. Tôi nghe lời mẹ tôi nên bỏ tiền ra xây lại căn nhà của ông
bà ngoại đã mục nát, dù người ở là gia đình cậu tôi, người cậu đuổi
anh em tôi khi còn thơ dại; người em trai không nhìn chị… nhưng nước
chảy xuôi. Mẹ tôi nói sao tôi nghe vậy. Còn cậu, tôi không thương,
không giận người đàn ông đã già hơn tuổi tác.

Tôi tưởng cuộc sống đã bình an với quán hủ tíu. Thì ba tôi về sau
nhiều năm không biết ông có liên lạc với mẹ tôi hay không. Gia đình
tôi cứ như những gì diễn ra sau bức màn vải hoa thấy được lờ mờ nhưng
không hiểu gì hết. Ông không nói chuyện ngày xưa, không nhắc tới dì
tôi, không hỏi thăm anh em tôi đã sống thế nào… ông chỉ mê cháu ngoại,
cứ ôm con bé vào lòng rồi ngủ ngồi trên ghế sa-lông.

Sau chuyến về Việt Nam của ba tôi, ông bảo lãnh cả nhà đi Mỹ. Tôi thề
phải vén được bức màn vải hoa lên mới chịu đi. Nhưng em tôi cứ nài nỉ
anh Hai đi với má, đi với gia đình em, chứ anh sống một mình bên đây
sao… Rồi thì cậu Hai tưởng không vì ai cũng phải mềm lòng với tiếng
thỏ thẻ của con cháu gái. Nó đòi ở lại với cậu Hai nên cậu Hai phải đi
thôi…

Tôi đến Mỹ không ân hận vì tôi đi vì em gái, cháu gái tôi. Ðến Mỹ tôi
mới biết ba sống với dì đã nhiều năm nay trên nước Mỹ. Tôi biết ra
tình yêu của ông trao cho dì chứ không phải mẹ tôi, nhưng mẹ tôi đã hy
sinh cả đời cho người mình yêu được hạnh phúc. Mẹ chịu đựng hết khổ
đau; mẹ làm tất cả để có tiền hối lộ, dọn đường cho ông trốn tù; vượt
biên với dì cũng hoàn toàn là tiền hủ tíu của mẹ. Mẹ nuôi tình địch
trong nhà bằng hai bàn tay thô nhám của mẹ để có cơm ăn, rượu uống cho
người tình của chồng bà. Mẹ tôi đẻ ra em tôi, nó biết hết chuyện nhà
nhưng không hé môi, giận tôi nhưng cứ lặn lội đi tìm tôi không tung
tích từ sau hôm nó không truy hô anh Hai ăn cắp vàng của mẹ. Nó giống
mẹ tôi nhất ở điểm mở lời xin lỗi anh Hai sau đám tang bà ngoại để
trói chân tôi thoái bước giang hồ.

Không ngờ ngày định mệnh an bày cho tôi vén bức màn vải hoa của gia
đình tôi lên đến quá đột ngột trong tháng qua. Tôi lái xe đưa mẹ tôi
đi thăm người bạn nằm trong bệnh viện, người bạn lâu năm của mẹ không
ai khác hơn là dì. Ba tôi đứng đó như pho tượng. Mẹ tôi nói, “Hôm nay
đủ mặt hết thì mẹ mới nói: Sau hôm gia đình ba qua dạm ngõ hỏi cưới
mẹ. Mẹ đồng ý xong thì coi như mình đã có chồng. Tiếp theo là đám hỏi,
rồi đám cưới… Nhưng trong thời gian ấy thì dì con có thai với ba con.
Dì con vô tội, dì đang học trung học ở quê dì. Có thai với ba con nên
bị gia đình từ bỏ, đuổi đi, để giữ thể diện gia đình. Ba về nói thật
với mẹ khi ba mẹ chưa làm đám cưới với nhau. Nhưng mẹ đã có chồng từ
hôm dạm ngõ thì lỗi của chồng là lỗi của mình. Mẹ đã gạt gia đình bên
mẹ nhưng chỉ gạt được bà ngoại. Không gạt được ông ngoại với cậu của
con. Sau đám cưới thì mẹ đi theo ba hết mấy năm để khi ẵm con về nhà
thì nói con là con của mẹ. Mấy năm ấy… đến sau 1975 thì ba của con đi
tù, ông có nhờ mẹ chăm sóc dì dùm ông. Vì thế dì tìm mẹ là vậy. Nhưng
thôi đi. Nay dì, mẹ của con, đang hấp hối trên giường bệnh, bà chỉ
muốn nghe một tiếng mẹ từ miệng con thốt ra, trước khi bà nhắm mắt.
Con gọi dì một tiếng mẹ đi con”.

Tôi chỉ biết người đàn bà đến phút lâm chung trên giường bệnh kia hãy
còn đài các, nét quý phái của bà không nhầm lẫn trong dân gian này
được. Ông lính hầu nhan sắc đứng bất động làm tôi hiểu mình sao cứ mãi
vẫn chưa lập gia đình. Tôi không nói được câu nào hơn là, “con đưa mẹ
về”. Tôi đưa mẹ tôi ra hành lang, vô thang máy, xuống lầu, ra bãi đậu
xe… Mẹ tôi giống dì hơn bao giờ hết là bà đã thôi hấp tấp, không lớn
tiếng, gương mặt bình thản khi nghe tiếng còi vĩnh biệt của nhà thương
hụ lên – vĩnh biệt một người vừa tắt thở.

Nắng tắt đã lâu rồi, ông Mễ chủ quán bước ra bàn chúng tôi với cái ly
giấy của tiệm ông ta. Ông mời chúng tôi thử loại Taquila do ông pha
chế, chúc vui! Một người sành điệu khả kính khi biết chúng tôi đã hết
rượu. Những người khả kính chưa chết hết như tôi thường nghĩ, tôi hẹn
anh bạn hôm nào sẽ đến chào mẹ anh, nắm bàn tay thô nhám của bà nhưng
tôi tin là ấm áp hơn những bàn tay tuyệt đẹp như tay anh. Chúng tôi
chia tay, gió tháng ba đưa tôi về huyễn mộng, nàng thơ xưa về dạo phố
quanh đây, hơi hướm nàng lan toả trời đêm miên viễn như tình yêu của
người lính hầu với giai nhân đã thành thiên cổ. Hàng đèn đường không
hắt bóng người đàn bà một mình trên phố đêm cô độc, nhưng sáng mai bà
thức giấc thanh an hơn loài quỷ dữ vì bà không sanh nhưng có thằng con
trai thương mẹ hết lòng. Sáu cái vỏ chai tranh nhau kể chuyện trong
xe, tiếng rổn rảng đưa tôi về gác trọ.

Phan

 

Hoa Huỳnh chuyền

Thứ Ba, 2 tháng 11, 2021

KHÓC BẠN THƠ -Thơ Mỹ Ngọc và Bài Họa của Hồ Nguyễn

 


KHÓC BẠN THƠ
(theo vần bài “Con tim thoi thóp” của nhà thơ Mai Huyền Nga)

Hà Nguyên Thi Sĩ mới qua đời,
Trời đất giăng sầu khắp mọi nơi.
Bè bạn bàng hoàng bao luyến tiếc,
Đồng môn ngơ ngác lệ tuôn rơi.
Chào buồn vĩnh biệt nay đôi ngả,
Cực lạc cõi hằng Anh nghỉ ngơi.

Một vì sao sáng mới vừa rơi,
Thi sĩ Huyền Nga quá vãng rồi.
Lục cú cách tân nay vắng bóng,
Thất ngôn lịch lãm cũng ngưng lời.
Vạn bài thơ đẹp còn lưu lại.
Nước nhược non bồng lướt gió chơi.

Mũi súng cài thơ cũng một thời,
Giầy saut áo trận nếm mùi chơi.
Bút nghiên phấn bảng hoàn trường lớp,
Nón sắt hoa mai trả nợ đời.
Cải tạo hai năm ôm bụng đói,
Tù ra di tản đất quê người.

Hơn bốn mươi năm tuổi hạc rồi,
Thương nhà nhớ nước hận chưa nguôi.
Con tim thoi thóp luôn hành hạ,
Sức khỏe vơi dần muốn tắt hơi.
Cách biệt âm dương chào vĩnh biệt,
Ngàn thu yên giấc nhé Anh ơi... !! Anh ơi ...!!

Mỹ Ngọc
(Ngày 11 tháng 10 năm 2021). 

CON TIM THOI THÓP

BỆNH TIM QUÁI ÁC NHẤT TRÊN ĐỜI,
DÙNG CHỈ TREO CHUÔNG ĐỂ NGẮM CHƠI.
ĐI ĐỨNG BÌNH THƯỜNG NHƯ KHỎE KHOẮN,
NẰM NGỒI BẤT CHỢT LẠI NGƯNG HƠI.
CON TIM THOI THÓP ÔM THẤT VỌNG,
LẶNG LẼ CHIA TAY CHẲNG MỘT LỜI.
MAI-HUYỀN-NGA. 



HỌA: TIỄN BIỆT THI NHÂN

Thi sĩ Hà Nguyên đã bỏ đời,
Đau buồn lệ nhỏ nhớ muôn nơi.
Bạn bè thương tiếc tim tê nhói,
Thân tộc đau sầu nước mắt rơi.
 Vĩnh biệt chia tay phân ngả rẻ,
Cõi hằng anh vĩnh viễn an ngơi.

Sao sáng cung hằng buông cánh rơi,
Huyền Nga nay biền biệt xa rồi.
Còn chăng chỉ giữ lưu hình bóng,
Lục cú thi văn mãi sáng lời.
Vần vận ý lung linh cuộn chuyển,
Cầu mong người thanh thản vui chơi.

Ngày xưa vang bóng lúc đương thời,
Súng trận tung hoành bỏ cuộc chơi.
Gởi lớp cho thầy theo chiến sự,
Chung tay bạn hữu để lo đời.
Tháng tư năm ấy ba mươi nhớ,
Cải tạo về… xa biệt xứ người.

Trần gian anh đã mỏi chân rồi,
Hận nước thù nhà chẳng lúc nguôi.
Mỗi độ nhớ quay tìm quá khứ,
Tim se đau nhói tợ mòn hơi.
Giờ này tám sáu năm trên thế,
Chẳng uổng công trình thi sĩ ơi!

HỒ NGUYỄN (30-10-2021)

Mời Xem :Nhà Thơ GS. Mai Huyền Nga Tạ Thế 16/9/2021

 

The Mountains Sing: Tiểu thuyết Việt Nam làm độc giả phương Tây ‘cảm động’ (BBC/tiếng Việt )

                                               Ảnh Tác giả
 

Tiểu thuyết tiếng Anh của một tác giả Việt Nam đang nhận được sự quan tâm tích cực của các nhà phê bình nước ngoài.

The Mountains Sing là tựa đề tiểu thuyết đầu tay của nhà văn - dịch giả Nguyễn Phan Quế Mai, do nhà xuất bản đặt ở London Oneworld Publications ấn hành năm 2020.

Nhà văn được giải Pulitzer Viet Thanh Nguyen ca ngợi tiểu thuyết The Mountains Sing "cảm động và hấp dẫn".

Báo chuyên ngành xuất bản Publishers Weekly khen sách: "Lá thư tình gửi Việt Nam xuất sắc, không che giấu nỗi đau này sẽ làm độc giả cảm động."

Cuốn tiểu thuyết trải dài cả trăm năm lịch sử Việt Nam, tập trung vào một gia đình họ Trần.

Qua cuộc đời của các nhân vật như Hương và người bà Diệu Lan, The Mountains Sing đề cập đến các biến cố như cải cách ruộng đất ở miền Bắc, chiến tranh với người Mỹ và giữa hai miền Nam - Bắc, và giai đoạn hậu chiến.

Là dịch giả tiếng Anh, bà Nguyễn Phan Quế Mai đã viết The Mountains Sing trực tiếp bằng tiếng Anh.

Hiện đang sống và làm việc ở Indonesia, bà đã dành cho BBC cuộc phỏng vấn về tiểu thuyết đầu tay này.

Nguyễn Phan Quế Mai: Tôi đã xây dựng không gian của tiểu thuyết The Mountains Sing (Những ngọn núi ngân vang) trong suốt bảy năm. Trước đó, tôi đã lắng nghe rất nhiều những câu chuyện của người Việt từ miền Bắc tới miền Nam, từ trong nước đến hải ngoại. Tôi cũng đã đọc rất nhiều các tác phẩm hư cấu và phi hư cấu bằng tiếng Việt và tiếng Anh viết về các sự kiện lịch sử Việt Nam, đặc biệt về các sự kiện mà tiểu thuyết của tôi đề cập tới: sự đô hộ của thực dân Pháp ở Việt Nam, sự xâm lược của đế quốc Nhật, nạn đói năm Ất Dậu, cải cách ruộng đất, sự chia cắt Bắc Nam, chiến tranh Việt Nam, thời kỳ bao cấp…

Tất cả những câu chuyện và các tác phẩm kể trên đều cung cấp cho tôi những tư liệu quý và thúc giục tôi sáng tạo nên một tiểu thuyết khác biệt, ở đó, những người phụ nữ là trung tâm tác phẩm: họ là những người kể chuyện, dẫn dắt người đọc qua chiều dài gần một thế kỷ lịch sử Việt Nam, qua sự thăng trầm của bốn thế hệ trong một gia đình người Việt.

Tiểu thuyết này ra đời trong khuôn khổ chương trình Thạc sĩ và Tiến sĩ Viết văn mà tôi thực hiện với trường đại học Lancaster (Anh quốc). Đó là lý do tôi viết nó bằng tiếng Anh thay vì tiếng mẹ đẻ của mình. Một lý do nữa để tôi viết bằng tiếng Anh là hiện nay bạn đọc quốc tế biết rất ít về văn học Việt Nam, và văn học tiếng Anh có rất ít các tác phẩm viết qua đôi mắt và trải nghiệm của người Việt trong nước.

Tôi được sinh ra ở một vùng quê nghèo Bắc bộ và lớn lên ở đồng bằng sông Cửu Long (thị xã Bạc Liêu). Tôi bắt đầu chập chững học tiếng Anh khi vào lớp 8, với sự giúp đỡ của một người thầy mở lớp dạy tiếng Anh tình nguyện cho các trẻ em nghèo. Vì thế việc sáng tác tiểu thuyết đầu tay bằng tiếng Anh là sự liều lĩnh và thử thách lớn, tuy nhiên, tôi đã học hỏi được rất nhiều và biết ơn cơ hội được đặt một chân vào văn học thế giới qua tiểu thuyết này.

BBC: Tuy đây là tác phẩm hư cấu, bà có hy vọng giải thích một số chương lịch sử Việt Nam qua truyện kể của các nhân vật?

Tiểu thuyết Những ngọn núi ngân vang là sự kế thừa văn hoá kể chuyện của người Việt: tiểu thuyết bắt đầu bằng việc một người bà kể cho người cháu nghe những gì đã xảy ra với gia đình mình trong lúc hai người phải trốn chạy khỏi những trận bom Mỹ dội xuống Hà Nội. Người cháu tiếp tục những câu chuyện ấy của người bà để rồi khi người bà mất đi, cô viết lại những gì xảy ra với gia đình mình. Khi hoàn thành tiểu thuyết, cô đốt bản sao của bản thảo trước ngôi mộ của người bà đã mất để bà có thể đọc ở thế giới bên kia.

Lịch sử của Việt Nam có rất nhiều thăng trầm, có quá nhiều đau thương, mất mát. Với tiểu thuyết này, tôi muốn tái hiện lại những biến cố chính trong chiều dài lịch sử ấy, qua thân phận của những người dân bình thường, những người ấy rất cần được lắng nghe.

Lịch sử Việt Nam cũng vô cùng phức tạp, và vì thế không dễ tiếp cận. Với Những ngọn núi ngân vang, tôi hy vọng bạn đọc sẽ vào vai các nhân vật trong gia đình họ Trần, để từ đó, họ trực tiếp trải nghiệm các biến cố chính của lịch sử, để rồi cảm nhận sự tác động của các biến cố ấy lên số phận con người. Tuy viết về các sự kiện lịch sử, nhưng trọng tâm của quyển sách này là số phận con người và cách con người vượt qua biến cố để giữ gìn không chỉ mạng sống mà còn phẩm giá, tình yêu, tình cảm gia đình và sự bình an trong tâm tưởng.

Bạn đọc quốc tế hầu như chỉ biết về Việt Nam như một cuộc chiến tranh. Qua tiểu thuyết này, tôi muốn khắc họa nên hình ảnh của một Việt Nam giàu truyền thống văn hoá bao gồm truyền thống văn học (kể cả văn học dân gian). Dù phải đi qua rất nhiều thảm kịch, nhưng niềm tin và hy vọng vào tương lai, vào lòng tốt con người là những ngọn đuốc sưởi ấm cho các nhân vật trong tiểu thuyết, giúp họ vượt qua nhiều vực thẳm của bóng đêm.


BBC:Một bài điểm sách ghi nhận rằng "tha thứ và hòa giải - trong gia đình, giữa người Việt và với ngoại bang - là những chủ đề xuyên suốt" trong tiểu thuyết. Bà có hy vọng độc giả người Việt đồng tình với những gì bà viết trong sách, hay sẽ có những người không tán thành?

Một trong những điều thôi thúc tôi viết quyển sách này là sự chia cắt vẫn còn sâu thẳm giữa cộng đồng người Việt. Tiểu thuyết Những ngọn núi ngân vang nói về gốc rễ của sự chia cắt ấy, về nỗi đau của một gia đình khi họ bị chia lìa bởi lịch sử, để rồi người Bắc kẻ Nam, anh em ruột thịt phải cầm súng ở hai đầu chiến tuyến. Khi tiểu thuyết kết thúc, nỗi đau chia cắt ấy vẫn còn hằn sâu vào từng thành viên gia đình, dai dẳng và khó nguôi ngoai. Với tiểu thuyết này, tôi ước ao người Việt chúng ta lắng nghe và chia sẻ nhiều hơn các câu chuyện của cộng đồng mình - dù các câu chuyện đó có khác biệt thế nào chăng nữa. Tôi tin rằng khi chúng ta đọc và lắng nghe các câu chuyện của nhau, sẽ có nhiều hơn sự thấu hiểu và cảm thông.

Tôi tin rằng mỗi gia tộc người Việt đều có những trải nghiệm độc đáo, kịch tích và nhiều màu sắc - những trải nghiệm ấy hoàn toàn có thể biến hoá thành một tiểu thuyết hấp dẫn. Và tôi cũng tin rằng không một câu chuyện nào có thể đại diện cho tất cả mọi trải nghiệm của người Việt. Gia đình họ Trần trong tiểu thuyết của tôi là một gia đình được xây dựng nên bởi trí tưởng tượng. Trải nghiệm của họ phản ánh một phần trải nghiệm của gia đình tôi cũng như trải nghiệm của nhiều gia đình mà tôi đã từng tiếp xúc. Nhưng gia đình Trần có một cuộc sống riêng, nơi đó trí tưởng tượng, bắt nguồn từ các sự kiện lịch sử, được phép thăng hoa.

Tôi không dám mong đợi rằng mọi người Việt đều đồng tình với những quyết định, suy nghĩ của các nhân vật trong tiểu thuyết Những ngọn núi ngân vang. Tôi chỉ mong những gì xảy ra trong sách khiến bạn đọc xúc động, để từ đó họ liên tưởng và suy ngẫm tới gia đình họ và quê hương của họ, về những gì ông bà cha mẹ của họ đã phải trải qua để cho họ cuộc sống hôm nay. Tôi viết về sự thảm khốc của chiến tranh và xung đột để nói lên giá trị hoà bình, viết về sự chia lìa để nói về giá trị của sự đoàn tụ, viết về cái chết để nói về giá trị của mỗi phút giây bình thường. Tôi luôn ước ao mọi người Việt, dù ở bất cứ nơi đâu, cũng được hưởng một cuộc sống bình an, nơi họ có thể quây quần bên gia đình, được làm việc, học tập, được trân trọng và được yêu thương.

BBC.TV

KÍNH MỜI XEM và HỌA (NẾU THÍCH) THƠ TRĂNG THU của HỒ NGUYỄN

TRĂNG THU Mây buồn kéo đám bám che trăng, Cuội ngóng chờ trông bóng chị Hằng. Chim mất tổ sầu kêu thảm thiết, Lá buông cành chiếc rớt tung ...