Thứ Năm, 2 tháng 6, 2022

NGƯỜI VIẾT MƯỚN - Tiểu Tử

Ở chợ Plateau thành phố Abidjan (thủ đô cũ của xứ Côte d Ivoire, Phi Châu) ai cũng biết ông già viết mướn đó. Người ta gọi ông là “l écrivain chinois” (ông Tàu viết mướn).



Xứ Côte d Ivoire - thuộc vùng Phi Châu Da Đen - ngày xưa là thuộc địa của Pháp. Dân bản xứ đi học bằng tiếng Pháp. Và vì họ gồm nhiều bộ tộc, mỗi bộ tộc nói một thổ ngữ, nên họ phải dùng tiếng Pháp để hiểu nhaụ Về sau, khi đã độc lập rồi, trường vẫn dạy bằng tiếng Pháp và ngôn ngữ chánh trong dân gian vẫn là tiếng Pháp. Những người ít học hay thất học thì nói “tiếng bồi”, nghĩa là tiếng Pháp không đúng văn phạm. Mấy bà buôn bán ở chợ Plateau nói trên thuộc vào thành phần nàỵ Nhiều bà có con cái “đi làm ăn” ở Pháp hay ở Bỉ, lâu lâu cần xin gì hay cần nhắn gì, họ phải nhờ người khác viết cho cái thơ.

Ngoài ra, có nhiều người cần viết đơn từ thưa gởi nhưng không đủ trình độ để viết đúng từ ngữ hành chánh nên nhờ viết dùm.

Do đó mới có cái nghề viết mướn.

Ở khu chợ Plateau, trước đây, chỉ có một người đàn ông trung niên người bản xứ làm nghề này. Anh ta hành nghề dưới hàng hiên khu phố nhìn qua chợ, nằm cách chợ một con đường. Chỗ hắn ngồi là một bức tường nhỏ nằm giữa hai cửa hàng bán radio của người libanais.

“Dụng cụ” của anh ta là cái máy đánh chữ loại xách tay đặt trên bàn gỗ nhỏ. Anh ta ngồi trên ghế thấp vừa tầm với cái bàn, nhưng vì anh ta lớn con chân dài nên khi đánh máy anh ta phải cho hết hai chân xuống dưới bàn đưa thẳng về phía trước lòi ra một khúc, trông giống như anh ta ôm cái bàn vào lòng ! Còn “khách hàng” thì hoặc đứng hoặc ngồi xổm cạnh hai bàn chân to xù mang dép Nhựt của hắn, tỉ tê kể những gì mà họ muốn để trong thư. Anh ta gõ máy bằng hai ngón tay nhưng gõ khá nhanh, khách kể đến đâu hắn gõ theo đến đấy.

Đánh xong thơ, khách hàng đưa cho hắn mảnh giấy nhỏ trong đó có ghi rõ địa chỉ của người nhận thơ, hắn lấy trong ba lô để dưới chỗ hắn ngồi một phong bì có dán tem sẵn, đánh máy địa chỉ, cho thơ vào rồi le lưỡi liếm keo dán lạị. Người khách hàng chỉ còn có cho thơ vào thùng thơ đứng ở góc đường gần đó.

Dĩ nhiên, khi hắn tính tiền, hắn tính cả tiền giấy, phong bì, tem…

Thơ gởi đi Pháp hay đi Bỉ đều cùng một giá. Cho nên đã thành lệ, sau vài câu chào hỏi, khách hàng cứ đặt tiền trước lên bàn rồi đợi hắn sửa bộ kéo bàn vào lòng với cái máy đánh chữ lúc nào cũng “ ngậm “ sẵn một tờ giấy, là bắt đầu tỉ tê kể lể…

Còn đơn từ thì hắn dùng phong bì không có tem, bởi vì khách hàng mang tay đến nộp thẳng cho cơ quan liên hệ. Loại “đơn từ” này, hắn vẫn lấy bằng giá với “thơ nhà”, bởi vì, theo hắn giải thích, viết cho hành chánh khó gấp mấy lần viết cho thân nhân. Bớt con tem nhưng thêm nhiều công suy nghĩ !

Một hôm, có ông già Á Đông – ốm nhom, già khú – đi lang thang với điếu thuốc trên môi, ngang qua đó nghe tiếng đánh máy lọc cọc nên tò mò đứng lại nhìn. Đợi anh đen làm xong công việc, ông già mới chào hỏi làm quen. Anh đen rất ngạc nhiên vì ông ta nói tiếng Pháp rất trôi chảy rành rọt, không giống những người á đông mà anh đã từng gặp hay quen biết. Ông già ghé đít ngồi lên bệ thềm gần đó, hỏi:

- Ông làm nghề gì vậy?

Anh đen nhăn răng cười:

- Viết thơ dùm người ta, người ta trả tiền. Ông không thấy bà hồi nãy cầm phong bì đi sao?

- Thấy. Nhưng mà hồi nãy hai người nói với nhau bằng thổ ngữ nên tôi không hiểu.

Ngừng một chút, ông già lại hỏi:

- Làm ăn có khá không?

- Ố! Cũng tạm được.

Hắn chỉ qua bên chợ:

- Khách hàng của tôi là mấy bà buôn bán ở bên kia. Họ không biết chữ, mà con cái họ thì đi làm công bên Pháp bên Bỉ hết. Thành ra, ngày nào cũng viết dùm vài cái thơ, lai rai… Với lại ở xứ này, người ta hay thưa gởi kiện cáo lắm nên có công việc làm hoài!

Rồi hắn nhìn ông già từ đầu đến chân:

- Còn ông? Ông làm nghề gì ở đây?

- Già quá đâu có ai mướn. Ở không, đi lang thang.

Anh đen lại nhìn ông già ra vẻ tội nghiệp:

- Rồi lấy gì sống?

- Sống nhờ con. Con gái ở nhà làm nem. Thằng em nó đạp xe đi bán. Khá chật vật!

- Ông người Tàu hả?

- Không. Tôi người Việt Nam.

Nói xong, ông già thở dài. Tội nghiệp cho cái xứ Việt Nam của ông ! Nhược tiểu đến mức độ mà người dân khi ra ngoại quốc cứ bị thiên hạ gọi là người Tàu !

Ông già đưa bao thuốc lá mời anh đen:

- Hút một điếu chơị

- Cám ơn. Tôi không biết hút thuốc.

Ngừng một chút, anh ta hỏi:

- Nhà ông ở đâu?

- Ở tuốt trên Cocody, gần nhà thờ.

- Xa quá há. Rồi ông đi bằng gì xuống đây? Xe buýt hả?

- Đi bằng xe đạp. Đạp xuống thì dễ, đạp về leo dốc mới mệt !

Anh đen lại nhìn ông già một lúc, mới nói:

- Ông nói tiếng Pháp rành quá mà không đi làm việc cũng uổng.

- Già như tôi thì còn làm được gì?

- Tuổi tác ăn nhập gì, trình độ văn hoá mới cần chớ !

Ông già hít mấy hơi thuốc, suy nghĩ. Một lúc sau ông hắng giọng rồi hỏi:

- Ông thấy tôi làm cái nghề viết mướn được không?

Anh đen nhăn răng cười hớn hở:

- Được chớ! Được chớ!

Rồi đề nghị:

- Ông cứ ngồi kế bên đây ! Đừng ngại gì hết! Cả khu Plateau chỉ có một mình tôi làm nghề này. Có thêm ông càng vui.

Thấy dễ dàng quá, ông già đứng ngẩn ra, chưa kịp nói lời nào thì anh ta nói tiếp:

- Vậy, sáng mai ông đem máy đánh chữ ra nghen.

- Tôi không có máy đánh chữ. Tôi viết tay được không?

Giọng anh đen hơi xìu xuống:

- Ồ… cũng không sao. Cứ ra đây đi, rồi tính.

Ông già mừng rỡ, bắt tay anh đen, nói “Cám ơn ! Cám ơn ! Ông tốt bụng quá!”, rồi đi xăng xớm về chỗ để xe đạp trước ngân hàng gần đó, mở khoá lấy xe phóng lên đạp đi mà nghe như vừa được bơm vào người thêm nhiều sinh lực!

Mấy hôm sau, ông già xin được của hội nhà thờ một cái bàn và ba cái ghế bằng nhôm loại xếp được để đi pique-nique. Ông mua một mớ giấy viết thư, phong bì, tem, bút bi rồi đạp xe đạp chở bàn ghế đến ngồi cạnh anh đen, hành nghề viết mướn. Buổi sáng đó, trước khi rời nhà, ông lẩm bẩm:”Bữa nay đúng là một ngày đẹp trời!”…

Ông già ngồi đã ba hôm, chẳng có một ai đến nhờ viết” Khách hàng “ cứ nhờ anh đen. Thấy vậy, anh ta an ủi:

- Đừng buồn. Từ từ rồi sẽ có khách. Tại ông không có máy đánh chữ nên người ta không biết đó thôi.

Một hôm, có hai bà cùng đến một lúc. Anh đen tiếp một bà rồi nói với bà kia:

- Nếu bà gấp thì bước qua ông đồng nghiệp của tôi đây, ổng giúp cho. Ổng viết tay, nhưng cần gì ! Viết tay hay đánh máy cũng vậy thôi ! Điều cần thiết là viết làm sao cho người đọc hiểu.

Bà khách ngần ngừ một lúc rồi bước qua ngồi lên cái ghế xếp trước mặt ông già. Như thông lệ, bà ta đặt tiền lên bàn rồi bắt đầu kể lể bằng thứ tiếng Pháp không có văn phạm. Ông già ngồi chống càm, lắng tai nghe.

Thấy ông viết mướn không viết gì hết, bà khách ngừng kể, lấy làm lạ nhìn ông:

- Sao ông không viết?

- Thưa bà, tôi đang nghe bà kể đây.

Bà ta chỉ anh đen:

- Sao kỳ vậy? Ông làm không giống anh này! Với anh ta, khi tôi bắt đầu nói là anh ta bắt đầu gõ. Còn ông thì không nhúc nhích gì hết!

Ông già phì cười, giải nghĩa chầm chậm:

- Xin lỗi. Tôi phải nghe bà kể hết những gì bà muốn nói cho người con của bà, rồi tôi mới sắp xếp câu văn để viết. Bà biết không, viết thư phải viết cho mạch lạc thì người con của bà mới hiểu được hết cái ý của bà, bà hiểu không?

Bà khách ngần ngừ rồi gật đầu. Ông già đốt điếu thuốc, nói tiếp:”Bây giờ, xin bà kể lại. Từ từ kể lại, tôi nghe”.

Bà khách liếc nhìn ông rồi nhìn vội xuống hai bàn chân của bà, thấp giọng kể…

Bà khổ lắm, buôn bán ế ẩm, con dâu mang bầu đứa thứ năm gần sanh mà cứ đau rề rề, mấy đứa cháu nội đi mót khoai mót củ nhưng không đủ ăn, bà đã gởi ba cái thơ xin tiền thằng con, xin nó thương vợ thương con của nó nheo nhóc, chắc thơ đã đi lạc nên không thấy hồi âm, bà khổ lắm, không biết thằng con ở bên Pháp còn sống hay đã bị cái gì rồi… Bà khách ngừng kể, kéo ống tay áo lên lau nước mắt.

Nghe xong, ông già viết mướn, chừng như xúc động, làm thinh hít mấy hơi thuốc dài. Bà khách len lén nhìn ông rồi lại nhìn xuống chân của bà, hai bàn chân cùi đày nằm trong đôi dép cao su rách bươm lấm lem bùn đất. Bà đợi.

Suy nghĩ một lúc, ông già mới lấy giấy viết. Lâu lâu, ông ngừng lại nhìn xa xăm qua chợ nằm phía đối diện như để tìm chữ tìm câu. Rồi lại cúi đầu viết tiếp.

Viết xong, ông hỏi:

- Bà cần tôi đọc lại không?

Bà khách chớp chớp mắt, lắc đầu. Bà đưa cho ông địa chỉ của người con, ông chép lên phong bì đã dán tem, cho thơ vào dán lại rồi trao cho bà khách. Bà cầm thơ lật qua lật lại nhìn như thiếu tin tưởng, rồi đứng lên làm thinh đi về hướng thùng thơ đứng ở góc đường. Ông già nhìn theo, lòng nghe chơi vơi như chính ông đang đi gởi thơ cho thằng con…

Ngày nào ông già viết mướn cũng mang đồ ra ngồi cạnh anh đồng nghiệp đen, nhưng không phải ngày nào ông cũng có khách. Lâu lâu, có dư người thì anh đen “ đẩy “ qua cho ông. Anh ta nói đùa:” Đồng nghiệp mà! Phải giúp nhau chớ! “ Ông cười chua chát:”Cám ơn! Cám ơn! Nhờ lòng tốt của anh mà tôi cũng vớt vát được một hai người”.

Một hôm, anh đen bỗng hỏi:

- Hồi trước ông làm gì ở Việt Nam?

- Buôn bán.

Ông không muốn nói hồi đó ông là chủ hai nhà thuốc tây, khá giàu.

- Rồi tại sao ông đi qua đây vậy?

- Tại làm ăn không được. Tại… tại nghèo.

Ông không muốn nói “cách mạng” đã tịch thâu tài sản của ông, gia đình ông sống cầu bơ cấu bất ở vùng kinh tế mới, vợ ông chết ở trên đó, ông và hai đứa con trốn về thành phố sống chui như bầy chó hoang, ăn nhờ ở đậu …

- Bộ ông có quen ai bên nầy hả?

Đến đây thì ông già không giấu diếm gì hết:

- Đâu có. Tôi đâu có quen ai. Tôi nghe nói Nhà Nước Côte D Ivoire dễ dãi và tốt bụng nên tôi viết đại một lá thơ dài gởi thẳng cho ông Tổng Thống, trong đó tôi kể hết hoàn cảnh bi đát của tôi. Tôi viết mà không có hy vọng gì hết.

- Ồ… Tại ông không biết chớ Tổng Thống Houphouet của tụi này rất bình dân và thương người lắm!

- Bây giờ thì tôi biết. Bởi vì sau bức thơ của tôi, tôi nhận được visa và luôn vé máy bay cho ba cha con tôi nữa. Chuyện thật khó tin.

- Gì mà khó tin? Tổng Thống tụi này hay làm những “cú” ngoạn mục như vậy lắm! Chắc ông viết thư cũng phải hay lắm nên mới làm xúc động “Le Vieux” (Ông Già).

Ở Côte d Ivoire, dân chúng thương Tổng Thống Houphouet nên khi nói chuyện với nhau họ gọi ông là “ Ông Già “ một cách trìu mến.

- Hồi đó tôi viết giống như tôi muốn than thở với một người nào đó để cho vơi nỗi thống khổ của mình, chớ đâu dè. Nhận được giấy tờ, tôi như trên trời rớt xuống!

Đến đây, ông già không nói rằng ông đã bán mấy chiếc nhẫn cất giấu từ sau trận nhà nước đánh tư sản, để chạy lo vô hộ khẩu của người bà con xa, rồi chạy lo chiếu khán xuất cảnh, v.v…

Ông chỉ nói:

- Hồi qua đến phi trường Abidjan, cha con tôi không biết đi đâu ở đâu. Tôi phân trần với chánh quyền sở tại, họ điện thoại gọi hội “Anciens d Indochine”. Nhờ hội này giúp nên tụi tôi mới có căn nhà nhỏ ở Cocody và chút vốn làm nem đi bán dạo, sống lây lất tới bây giờ…

- Tôi nghe nói người Việt Nam tỵ nạn ở Pháp ở Mỹ nhiều lắm. Bộ ông không có bạn bè bà con định cư ở các xứ đó sao?

- Có chớ.

- Sao ông không viết thơ cho họ? Kẻ đi trước giúp người đi sau là sự thường mà.

Ông thở dài, hít mấy hơi thuốc rồi mới nói:

- Tôi có viết thơ chớ. Chỉ viết thăm thôi và báo tin rằng tôi đã đến Côte d Ivoire. Nhưng không thấy ai trả lời hết.

- Có lẽ không đúng địa chỉ chăng.

- Đúng chớ! Nếu không đúng nó phải được trả về, bởi vì tôi có ghi rõ địa chỉ người gởi mà. Hồi ở Việt Nam người thân của họ cho tôi địa chỉ và tin tức, nói họ bây giờ ổn định và khá lắm.

- Ờ… sao vậy há?

- Chắc họ sợ tôi xin tiền…

Ông cười khẩy một tiếng nghe như ông muốn khạc ra một cái gì chận ngang cổ họng, một cái gì vừa cay đắng vừa nhờm tởm. Ông nhớ lại hồi thời “vàng son”, bạn bè bà con của ông tới lui nhà ông ăn nhậu hà rầm, trong số đó có nhiều người đã được ông giúp đỡ cưu mang. Vậy mà bây giờ…

Ông hít một hơi thuốc thật sâu rồi nhả khói ra từ từ làm khoảng trống trước mặt bị mờ đi, giống như ông muốn xoá bỏ trong đầu hình ảnh của mấy thằng bạn bè mấy người bà con mà ông vừa nhớ lại…

Anh đồng nghiệp da đen suy nghĩ một lúc lâu rồi nghiêng người qua vỗ vai ông vài cái nhè nhẹ, một cử chỉ an ủi tầm thường như vậy mà ông già viết mướn bỗng thấy nó đẹp vô cùng. Ông xoay người qua bắt tay anh đen, không nói gì hết, nhưng ông chắc chắn rằng anh bạn đó hiểu là cái cám ơn của ông già Việt Nam lưu vong…

Một hôm, bà khách hàng đầu tiên của ông già viết mướn mang biếu ông hai trái xoài Caméroun (loại xoài xứ Caméroun ngon nổi tiếng vùng Phi Châu Da Đen) vừa cười vừa nói:

- Tôi cám ơn ông. Nhờ cái thơ của ông mà thằng con của tôi hồi tâm. Nó gởi tiền về, kèm theo một cái thơ dài. Nó nói nó đọc thơ của ông nó khóc quá! Nó lạy lục xin tôi tha tội cho nó. Nó nói là nó có vợ và một con ở bên Pháp nhưng nó thề sẽ gởi tiền về đều đặn để nuôi tụi này… Tôi vui quá! Vui quá!

Bà ta nói một hơi, nói thứ tiếng Pháp “ba xí ba tú”, nhưng trong giọng nói nghe đầy xúc động. Nói xong, bà kéo ống tay áo lên lau nước mắt.

Ông già nhớ lại cách đây hơn mươi bữa, bà cũng kéo áo lên lau như vậy sau khi kể lể sự buồn khổ của bà. Thì ra, cái vui cái buồn vẫn giống nhau ở giọt nước mắt!

Ông già mỉm cười:

- Tôi viết mướn, bà trả tiền, có gì đâu mà bà cám ơn?

- Không nhờ cái thơ của ông, không biết tụi này còn khổ sở đến đâu. Cám ơn ! Cám ơn!

Nói xong, bà đi trở qua chợ. Ông già đưa một trái xoài cho anh đen:

- Anh cầm lấy để chia vui với tôi!

Anh ta cầm trái xoài trên tay nhìn ngắm một lúc rồi nói:

- Làm nghề này đã hơn năm năm, tôi chưa được khách hàng tặng quà bao giờ. Ông mới ra nghề mà được như vầy là ông viết thơ phải hay lắm.

- Thì cũng ráng viết vậy thôi.

- Đâu được! Viết mà làm xúc động người đọc đâu phải dễ. Bây giờ tôi hiểu tại sao ông tổng thống của tụi tôi đã gởi tặng ông visa và vé máy bay!

Ông già viết mướn đốt điếu thuốc, thở khói một cách sảng khoái. Ông nhớ lại ngày xưa, thuở thiếu thời, ông lúc nào cũng đứng đầu về luận văn, và về sau ra đời, ông cũng có lai rai vài ba truyện ngắn đăng báo này tạp chí nọ. Viết, đối với ông, là để giải toả tâm tư, một cách giải toả trầm lặng và sâu đậm hơn là nói. Cho nên trong đời ông, ông rất thích viết, nhứt là viết thơ cho bạn, những người cũng thích viết như ông hay ít ra cũng biết viết vài dòng hồi âm hay vài chữ để hỏi thăm nhau…

Hai hôm sau, có thêm một bà mang đến mấy trái cam để cám ơn ông đã viết thơ cho chồng bà có vợ đầm ở Bỉ. Rồi cứ như vậy, vài hôm là có người đến cám ơn, cho quà, khi thì chai đậu phọng (Ở đây, sau khi rang, đậu được cho vào chai lít đầy tới miệng rồi đóng nút để giữ cho được dòn lâu. Người nghèo bản xứ hay ăn đậu phọng với bánh mì…). Khi thì mấy trái cà chua, vài bó rau cải… Có gì cho nấy, không nề hà! Ông già nhận hết, bởi vì ông thấy làm như vậy, người cho rất vui. Cái vui của họ được bộc lộ ra một cách rất thiệt thà: họ quay lưng bước đi, vừa vỗ tay thành nhịp vừa lắc lư nhún nhảy. Lần nào ông cũng nhìn theo, thấy cũng vui lây…

Vậy rồi không biết họ đồn với nhau thế nào mà khách hàng cứ đến nhờ ông viết. Những người cần làm đơn từ cũng đến nhờ ông! Bên anh đen đồng nghiệp thấy thưa khách. Ông già bèn đề nghị:”Tình trạng này kéo dài coi kỳ quá! Tôi đề nghị anh bạn như thế này: tôi lãnh viết thơ nhà, anh lãnh viết đơn hành chánh. Mình cứ nói đơn hành chánh phải được đánh máy cho sạch sẽ dễ đọc thì các cơ quan mới mau chóng cứu xét. Anh đồng ý không?” Anh đen nhăn răng cười, bắt tay ông một cái đau điếng!

Từ đó, thấy khách đến, anh đen trịnh trọng nói:”Đơn từ thì ở bàn này. Thơ cho thân nhân thì bước sang bàn ông bạn đồng nghiệp của tôi đây!” Lần hồi, khách hàng cũng quen nên cả hai người viết mướn cùng có việc làm đều đặn. Và càng ngày càng đông khách.

Một hôm, anh đen hỏi:

- Tôi cứ thắc mắc: làm sao viết thơ mướn mà ông viết hay được như vậy?

- Tại anh không biết. Xưa nay tôi say mê viết. Tôi thích viết cho một người nào đó để giải bày, để chia xẻ những cảm nghĩ những suy tư của mình, chọn lời cho đúng, chọn câu cho hay… thú lắm !

Ông già ngừng nói, hít chầm chậm một hơi thuốc rồi chép miệng:

- Bây giờ tôi chẳng còn ai để mà viết. Bạn bè thì anh biết đó. Chúng nó cũng như người vừa đui vừa điếc, viết uổng công. Cho nên làm nghề viết mướn này, tôi có chỗ để viết. Tôi khổ cái khổ của khách hàng, tôi vui cái vui của khách hàng, tôi tâm sự cái tâm sự của khách hàng. Tôi viết với tất cả những xúc cảm chân thật đó, viết mà không nghĩ là mình viết mướn!

Anh đen vỗ tay đôm đốp, khen:

- Hay! Ông nói hay quá! Bây giờ tôi mới hiểu tại sao khách hàng mến mộ ông như vậy! Tổng thống tụi tôi đem ông qua đây, đúng là ổng có con mắt!

Rồi hắn cười hắc hắc làm ông già cũng bật cười theo. Cả hai, không người nào nhớ rằng mình da đen hay mình da vàng, họ chỉ biết họ là hai người viết mướn…

Hai năm sau…

Một hôm ông già bỗng thèm viết cho mấy thằng bạn hồi đó. Viết cho mỗi người một cái thơ, lời lẽ y chang như nhau. Viết bức thơ cuối cùng cho họ. Viết để cho họ thấy rằng ông phủi đít phủi tay, dứt khoát không còn bận bịu gì nữa với quá khứ, với lớp bụi đất đã ăn bám vào ông hồi thuở “vàng son”.

Ông đốt điếu thuốc, suy nghĩ. Đại khái, ông sẽ viết:

“Thưa anh …gì gì (hay chị …gì gì)

Tôi viết thơ này để báo tin cho anh… (hay chị…) mừng dùm cho cha con chúng tôi. Tụi này đã định cư luôn ở Côte d Ivoire. Bây giờ, đời sống tụi này đã ổn định, cuộc sống tương đối khá. Hai con tôi có cửa hàng bán nem ở chợ Cocody, thiên hạ đến mua cũng đông. Còn tôi thì làm nghề viết mướn, khách hàng cũng nhiều. 

Được như vậy là nhờ ở xứ đen này, con người thấy đen nhưng lòng dạ của họ không đen chút nào hết. Chẳng bằng người Việt mình, nhiều người bề ngoài trắng trẻo lịch sự nhưng lòng của họ chẳng những đen mà còn bạc nữa, anh…( hay chị…) có thấy như vậy không?...”

Nghĩ đến đó, ông già bật cười khan một mình!

Tiểu Tử


Mời Xem :  CƠM NGUỘI -Tác Giả : Tiểu Tử

Ngân Bình: Tình rất lạ (T.Vấn Và Bạn Hửu )

 

-Mẹ! về liền đi, ba đang bệnh nặng.

-Ừ!

-Mẹ nhớ lái xe cẩn thận….

-…

-Mẹ có nghe con nói không?

-Ừ!

-Ở đó thời tiết ra sao, mưa hay nắng?

-Trời tốt, trưa mẹ sẽ về đến.

-Dạ! “bye” mẹ.

Tôi đang sắp xếp quần áo vào va-li thì cánh cửa xịch mở. Ðức bước vào, tay bưng chiếc khay với những món ăn còn đang bốc hơi.

-Nóng hổi, vừa thổi vừa ăn. Ai muốn thì giơ tay lên.

Kéo cao chiếc rèm cửa sổ, tôi đưa mắt nhìn ánh nắng đang nhảy múa lung linh trên mặt hồ sáng loáng.

-Tôi phải về nhà liền bây giờ?

-Chuyện gì?

Ðức vừa lấy muỗng nĩa, vừa thong thả hỏi.

-Ba của Băng Băng bệnh… nghe nói bệnh nặng!

-Vậy để tôi đưa Diễm đi.

-Khỏi! tôi đi được. Ðức ở đây coi chừng nhà dùm tôi.

Ðức ngửa đầu, cười thoải mái:

-Lẩm cẩm! bộ nhà này của Diễm sao mà lo lắng dữ vậy?

Tôi chống nạnh, hất mặt trả đũa:

-Ủa! tôi cũng đâu phải là vợ của ông, sao đòi đưa đón làm gì!

Ðức lắc đầu, cười tủm tỉm rồi kéo tôi ngồi xuống ghế. Trước mặt tôi là đĩa thức ăn, mới nhìn thấy đã phát ớn, vì thịt nhiều hơn rau. Nhưng dù ớn đến đâu tôi cũng phải ráng ăn để có sức lái xe hơn bốn tiếng đồng hồ.

***

Ngày đám tang của chồng, tôi không rơi một giọt nước mắt. Sự bình thản của tôi hẳn cũng khiến thân nhân, bè bạn cảm thấy lạ lẫm với một chút khó chịu. Ðức cứ nhìn tôi, nhíu nhíu đôi chân mày như muốn nhắc nhở điều gì đó. Tôi hiểu, nhưng vờ đi. Tôi không muốn dối mình và dối người, như khi nghe Ðiểu, người bạn thân của chồng tôi lên bục nói vài điều về người chết. Những lời ca tụng đầy sáo ngữ không hề có trong thực tế của Ðiểu khiến tôi nổi gai ốc. Tôi cố đè nén, nhưng cuối cùng cũng phải đứng lên, đi về phía phòng vệ sinh để khỏi phải nghe giọng nói nghèn nghẹn của anh (thật hay giả? ngoài tôi ra, có ai nhận biết?) “… anh Triều ra đi bỏ lại người vợ yêu quý và đứa con thơ dại. Từ đây, trong căn nhà ấm cúng của ngày xưa, sẽ không còn bóng dáng người chồng thân yêu, người cha đáng kính. Hương linh anh Triều đang phảng phất đâu đây chắc cũng rất buồn bã, khổ sở khi biết rằng mình không còn được ở cạnh vợ con để chăm sóc từng miếng ăn, giấc ngủ như anh đã từng làm như thế mười mấy năm qua bằng tình yêu tha thiết…”.

“Có cần thiết phải nói những điều trái với sự thật không?”.

“Có sao đâu chị, tôi nghĩ, dù thế nào Triều cũng không còn nữa, tôi phải ráng làm đẹp mặt thằng bạn một lần”.

Nghe Ðiểu nói tôi cười nhẹ, thầm nghĩ, có thật là anh làm đẹp mặt chồng tôi hay đẹp mặt anh khi mọi người xì xầm khen ngợi “bài nói chuyện của ông này hay quá, cảm động quá, văn chương lưu loát…”. Ít ai biết Ðiểu là người từng chứng kiến những cuộc cãi vã tồi tệ giữa Triều và tôi. Anh cũng đã từng khuyên lơn, an ủi tôi hãy vì con mà cố gắng chịu đựng người chồng vô tâm, độc đoán, lúc nào cũng muốn chứng tỏ quyền gia trưởng của mình trước mặt mọi người, mà không cần biết điều đó đã làm tổn thương vợ mình như thế nào.

Rất nhiều lần tôi muốn rời khỏi căn nhà u ám này, nhưng mỗi khi xếp quần áo vào vali thì Băng Băng lại thỏ thẻ hỏi:

“Ba có đi với mình không mẹ?”

Hay:

“Mình chờ ba về đi chung nghe mẹ”.

Tôi ôm con trong cánh tay gầy guộc mà nghe lòng xót xa đau. Triều đối xử tệ bạc với tôi, nhưng với con gái thì Triều rất mực thương yêu. Triều cũng chẳng phải là người ăn chơi trác táng, cặp xách với người đàn bà khác phản bội tôi, mà chỉ vì anh quá đặt nặng tình nghĩa anh em, lén lút, gian dối để lấy tiền gửi về Việt Nam giúp đỡ gia đình. Thật ra, tôi không phải là người hẹp hòi, ích kỷ, nhưng việc làm của anh là một hành động thiếu tôn trọng đối với tôi. Số tiền dành dụm được cũng có phần của tôi trong đó, vậy mà Triều muốn làm gì thì tự ý, không hề hỏi qua ý kiến của tôi. Dù nỗi bực tức tràn ứa trong lòng, tôi cũng cố nhỏ nhẹ để nói với anh, tôi cần biết số tiền chi tiêu để ghi sổ sách hàng tháng như tôi đã có thói quen ghi chép như thế từ lúc hai vợ chồng mới về chung sống với nhau. Triều lớn tiếng nạt nộ:

-Cô là vợ chứ không phải là mẹ mà tôi phải trình, phải thưa với cô những việc tôi làm.

-Ðược! vậy thì anh cứ làm việc anh muốn làm. Còn tôi, tôi sẽ không nhịn nhục, cam chịu một cách ngu ngốc nữa.

Triều xấn tới:

-Không nhịn thì cô sẽ làm gì?

Tôi lùi ra sau, ôm chặt đứa con gái mười một tuổi đang mếu máo khóc vì sợ hãi….

Nằm bên cạnh đứa con gái tội nghiệp, co rúm người trong tấm chăn đắp ngang ngực, đang tấm tức khóc:

-Con không muốn ba mẹ cãi nhau, con không muốn ba mẹ ly dị.

Tôi kéo đầu đứa con gái vào ngực, ứa nước mắt trấn an con:

-Không! không có đâu con.

Nhưng rồi tôi lại tự hỏi, mình phải chịu đựng cảnh này đến hết cuộc đời hay sao? Tiếng khóc của tôi bỗng vỡ ra. Băng Băng đưa bàn tay lạnh ngắt lau những giọt nước mắt lăn dài trên má tôi. Hai mẹ con ôm nhau trong căn phòng tối tăm không còn chút ánh sáng.

Ngoài kia trời đã vào đêm.

***

Sau lần đó tôi quyết định mở một trương mục riêng. Triều gào thét, la hét bằng những từ ngữ cộc cằn, thô lỗ. Tôi điềm tĩnh trả lời:

-Chỉ có cách này tôi mới được bình yên để tiếp tục sống mà nuôi nấng Băng Băng cho đến ngày khôn lớn. Ðã là vợ chồng thì không nên có sự phân chia tiền anh, tiền em. Nhưng muốn như thế thì cả hai phải tôn trọng nhau và minh bạch trong vấn đề tiền bạc. Anh không làm được điều đó. Tôi cũng không có được tấm lòng quảng đại, bao dung để vui vẻ chấp nhận việc anh làm. Một việc làm đồng nghĩa với sự thách thức. Xin lỗi anh… tôi đành chọn cách này để khỏi phải quanh năm suốt tháng bực tức vì thấy mình bị xem thường một cách quá đáng. Bây giờ, anh phụ trách tiền nhà, tôi trả tiền điện, điện thoại và tiền chợ. Hai phần ngang ngửa nhau, chẳng ai được lời mà cũng chẳng ai bị lỗ.

Cuộc chiến tranh lạnh bắt đầu từ đó. Những cuộc cãi vã không diễn ra nữa, nhưng nỗi hậm hực kéo dài từ ngày này qua tháng khác vẫn còn đó, cho đến lúc Băng Băng tốt nghiệp trung học ở tuổi mười bảy. Căn nhà lạnh lẽo, thiếu bóng hạnh phúc khiến con bé quyết định đi học xa không chút quyến luyến. Tôi cũng có được một cơ hội tốt, khi người quen giới thiệu đến trông coi, chăm sóc căn nhà nghỉ mát bên cạnh cái hồ rộng lớn, phong cảnh thật thơ mộng, hữu tình của ông thương gia giàu có ở một thành phố cách nhà tôi bốn tiếng lái xe. Mọi người nghĩ rằng đây là việc làm mà tôi đã cố công tìm kiếm sau gần một năm bị thất nghiệp, nhưng thật ra, mục đích chính của tôi là tìm một chỗ trú ẩn bình an cho tâm hồn, cũng như tránh đối mặt với Triều trong căn nhà giờ đây chỉ còn lại hai người.

Và cũng tại nơi đây tôi đã gặp lại Ðức. Công việc của Ðức là giữ an ninh cho khu nhà nghỉ mát giàu có này. Ngày đầu tiên gặp mặt nơi cổng ra vào, chúng tôi nhận ra nhau ngay. Câu chuyện dòn dã đã dắt chúng tôi trở về kỷ niệm của thời tuổi trẻ. Nhắc lại tên từng đứa bạn với từng hoàn cảnh, mới thấy thương quá là thương một phần đời hoa mộng đã qua, với số phận từng người. Sung sướng cũng có mà nghiệt ngã, bất hạnh cũng có. Ðức ly dị với vợ, khi người bạn thân được anh cưu mang trong suốt thời gian đi học vừa nhận bằng tốt nghiệp dược sĩ. Và cũng chính lúc đó anh mới biết, bao nhiêu năm người bạn ấy trú ngụ trong căn nhà của anh là bấy nhiêu năm anh đã bị người vợ yêu dấu của mình phản bội mà không hề hay biết. Phần tôi, dù không ly dị, nhưng sáu năm dài không ai đặt chân đến phòng của ai thì có khác nào tình cảm đã rẽ vào ngõ cụt. Lòng thương con như sợi tơ trong suốt buộc chúng tôi vào nhau, nhưng tình yêu thì không còn nữa, dù Triều đã thức tỉnh trong lần anh về Việt Nam thăm gia đình, bị thằng em út đánh cắp “passport” và ra giá để anh chuộc lại hầu có tiền đi hút xách. Anh chị em trong gia đình, chẳng những không can ngăn mà còn đưa ra con số cao ngất ngưỡng. Triều trở về bẽn lẽn, ngượng ngùng vì đã từng lớn tiếng tuyên bố với tôi “anh em như tay chân, vợ chồng như trang phục. Tôi bỏ vợ được chứ không bỏ anh em được”.

Bây giờ, tình em anh không còn, mà tình chồng nghĩa vợ cũng phai lạt vì câu nói như lưỡi dao bén cứa vào tim. Còn có thể làm gì được nữa khi dòng sông ngăn cách quá lớn mà Triệu thì không đủ sức để bơi qua, và yêu thương trong tôi cũng đã cạn cằn, làm sao đủ bao dung để phơi thân trên bờ sông quạnh quẽ đợi chờ anh trở lại.

Cuộc sống tôi trở nên có ý nghĩa hơn từ khi tình cờ gặp lại Ðức ở một nơi không ngờ. Ngày đó, tôi là bạn thân của Mỹ, người yêu của Ðức, để rồi chẳng bao lâu tôi và Ðức cũng trở thành thân thiết. Ba đứa chúng tôi đã gắn bó với nhau suốt bốn năm dài, bên cạnh tình yêu nồng thắm của Ðức và Mỹ. Nhưng rồi, vì một lý do nào đó, cả hai đã chia tay trong bàng hoàng, hối tiếc của bạn bè. Tám tháng sau, Mỹ vội vàng kết hôn như một hành động trả thù. Thù vì duyên cớ nào tôi không biết, chỉ biết có một lần, Mỹ đến tìm tôi với vẻ xanh xao, hốc hác cùng những giọt nước mắt ngậm ngùi “Mỹ không quên được Ðức”. Vài tháng sau tôi gặp và kể cho Ðức nghe nỗi nhớ quặn lòng của Mỹ, Ðức chỉ cười nhẹ nhàng “Nói với Mỹ, hạnh phúc là do chính mình tạo ra. Hãy quên tất cả những gì nên quên”. Tôi ngỡ ngàng hỏi lại “Như vậy Ðức đã quên Mỹ rồi sao? đàn ông các anh dễ quên như vậy à?”. Ðức nhéo mũi tôi trước khi phóng xe đi “Phải vậy đời mới bớt khổ Diễm ơi!”.

****

Triều qua đời, tôi trở về căn nhà cũ, Băng Băng cũng khăn gói về sống với mẹ. Những ngày tháng này thật êm đềm, hạnh phúc. Ðức thỉnh thoảng lại lái xe đến thăm tôi. Nhưng chưa bao giờ anh ở lại lâu, bởi ánh mắt gay gắt của Băng Băng làm anh cảm thấy e ngại. Tôi nói lời xin lỗi. Ðức cười dễ dãi:

-Tôi biết, con bé sợ có một ngày nào tôi bắt cóc Diễm, thảy lên yên ngựa, phi nước đại, mang đến một ngọn núi hẻm hốc nào đó để xây tổ ấm như trong phim cao bồi. Ừ!.. ai biết được “ngày sau sẽ ra sao” há?

Nhìn Ðức, tôi bắt gặp ánh mắt trong veo đầy tinh nghịch.

Một lần, Băng Băng ngồi vào máy “computer” với cái điện thư tôi gõ cho Đức chưa xong đã phải chạy ra phòng khách chụp nhanh cái điện thoại đang reo inh ỏi. Dĩ nhiên, đây là sự tình cờ thật thú vị để Băng Băng có thể khám phá một “bí mật” đang ngày đêm gây lo lắng cho đứa con gái mồ côi cha. Tôi cũng thú vị không ít khi theo dõi phản ứng trên khuôn mặt xinh xắn của con bé. Ðể xem, nó sẽ đọc được những gì trong cái “email” dài lòng thòng qua những lần “reply” tới, “reply” lui…

“Tuần sau Ðức có lên nhớ mang cho tôi chậu hoa màu tím mà ông hứa từ năm ngoái. Cái bệnh “hứa lèo” của ông coi vậy mà khó trị ghê hén, nó đeo dính ông từ lúc tóc xanh cho tới lúc bạc đầu vẫn chưa chịu buông tay. Chán thiệt!

Ừ! còn nữa, ghé qua nhà bà Kimberly lấy quyển sách dạy nấu ăn mà bả hứa cho tôi mượn. Lúc này phải tập nấu vài món Mỹ cho Băng Băng. Thấy nó ăn trệu trạo mấy món tôi nấu mà thương. Chắc tại nó có bà mẹ nấu dở, chứ đâu phải món ăn Việt Nam không ngon. Mất mặt thiệt!!! Hay là kỳ này có lên, ông ở lâu một chút, nấu dùm tôi vài món để dành ăn vài bữa cho tôi có giờ đọc sách. Tôi cũng đang học vẽ, nên khá bận rộn. Làm ơn cứu bồ dùm, Ðức nhé!”

“Còn gì nữa không, sai bảo tiếp đi. Người gì mà lợi dụng dễ sợ. May mắn là trái tim tôi không dại dột rung động vì bà, nếu không, chắc là tôi phải hui nhị tì sớm, vì bị bà đì tối đa. Mắng nhiếc bà một chút cho vui, chứ tôi đâu có tiếc công với bà. Có điều, mỗi lần tôi đến, Băng Băng có vẻ không vui, nên tôi không muốn làm xáo trộn cuộc sống tình cảm của mẹ con Diễm. Chắc phải có một lần tôi hét vào tai nó- nếu ai bắt bác Ðức cưới mẹ con thì bác thà vào nhà dưỡng lão còn sướng hơn”

Và còn nữa, bao nhiêu bức điện thư trao đổi quanh quẩn chuyện bạn bè ngày xưa và niềm vui, nỗi buồn trong cuộc sống hiện tại, tuyệt nhiên không hề có chút tình ý thầm kín nào làm vẩn đục tình cảm hồn nhiên của hai mái tóc đã bắt đầu điểm vài sợi tóc bạc. Nhưng có một điều rất lạ khi tôi nghĩ, nếu bây giờ Ðức đột nhiên biến mất thì tôi sẽ ra sao? chắc chắc tôi sẽ hụt hẫng, bàng hoàng và có thể cuộc sống của tôi sẽ mất đi nhiều ý nghĩa. Còn như… nếu một ngày nào Ðức cầm tay và nói “Anh yêu em” tôi sẽ phản ứng thế nào? Tôi ngượng ngùng giấu mặt trong đôi bàn tay khép kín. Hình như … tôi nghe có một tiếng không rất quyết liệt, không biết nó xuất phát từ trái tim hay cái đầu đang nghĩ ngợi viễn vông. Vậy thì thứ tình tôi đang dành cho Ðức là tình gì nhỉ??? Tôi lắc đầu rồi mỉm cười một mình, chịu thôi! không có câu trả lời….

Chẳng bao lâu Băng Băng trở lại sofa, ngồi xuống cạnh tôi, ngập ngừng nói:

-Ngày mai… mình đi thăm bác Ðức nghe mẹ.

Tôi bâng quơ nhìn ra cửa sổ:

-Ủa! bộ trời sắp mưa hay sao mà con đổi tính mau vậy?

Băng Băng dúi đầu vào ngực tôi:

-Con muốn xin lỗi bác Ðức, vì…

Không muốn con ngượng ngùng, tôi nhẹ nhàng đỡ lời:

-Ừ! ngày mai mình đi. Chắc bác Ðức sẽ bất ngờ và vui lắm. Con biết không, bác Ðức là bạn tốt từ lúc mẹ bằng tuổi con bây giờ và mẹ muốn giữ tình bạn quý báu ấy mãi mãi. Bởi vì, là vợ chồng thì người ta có thể phản bội nhau, nhưng bạn bè thì không. À! cũng…. không hẳn… như vậy. Nhưng nếu là bạn bè phản bội thì mình sẽ không đau bằng lúc mẹ bị ba phản bội.

Băng Băng cau mày lắc đầu:

-Nhưng… ba đâu có phản bội mẹ.

-Ba không phản bội mẹ để theo một người đàn bà khác, nhưng ba đã phản bội lời hứa trang trọng trong ngày cưới “sẽ yêu thương và tôn trọng nhau mọi ngày suốt cuộc đời”. Ba chưa từng một lần tôn trọng mẹ. Và mẹ không bao giờ quên được điều đó.

Băng Băng nhoài người sang búng vào mũi tôi:

-Mẹ này… thù dai dễ sợ!

Ngân Bình
Ngân Bình, tên thật : Đặng Lương Nguyệt. Nguyên chủ bút tạp chí Cadao (Dallas). Đã xuất bản tuyển tập: Gởi chút niềm riêng (2011)
.

Ảnh từ Google



FM 974 Úc Châu: CM Blog :Ukraine: 225 Cây Số Từ Mariupol – Trốn Chạy Quân Nga Trên Từng Cây Số Đi Bộ

 Igor Pedin, người đàn ông 61 tuổi, như một bóng ma, với cái túi xách mang theo, đựng đồ ăn , quần áo cũ và con chó Zhu- Zhu 9 tuổi, ẩn hiện trong rừng hun hút sâu, những nẻo đường loang lỡ đạn bom, trên con đường trốn chạy quân Nga từ thành phố Mariupol, nơi bị quân Nga vây hãm, xuyên qua những vùng dầy đặc quân Nga chiếm giữ, tới thành phố Zaporizhia, cón trong tay của quân Ukrainian, con đường dài 225 cây sồ mà ông đã đi bộ trên từng cây số.

thành phố Zaporizhi

    Chiều dài con đường ông Petin đi bộ tương đương khoảng cách từ Luân Đôn tới Sheffield nhưng xuyên qua cuộc chiến mà người ta chưa thấy xảy ra tại châu Âu từ năm 1945 và vượt qua đoàn xa tăng sừng sộ, xe bọc thép hùng hỗ và chật cứng lính Nga, tay sẳn sàng nhã đạn, trên đường tiến về thành phố Mariupol. Chưa kể Pedin, với túi xách kéo theo và con chó trên tay, phải vượt qua những bải mìn rộng lớn, những cái cầu sụp gần như không còn gì, mà bên dưới là các cái hố sụp sâu hơn cả chục thước, tưởng chừng ông sẽ bị rớt xuống nếu có gì đó sơ hở, thêm nữa Pedin còn đi ngang qua, tận mặt thấy những ngôi nhà còn âm ỉ cháy và những người đàn bà đàn ông nước mắt ràng rụa vì các câu chuyện người chết đau lòng và đau khổ vì mất đi ý chí sống tiếp đời này.

    Pedin, một cựu nhân viên nấu ăn trên tàu, không cho mình là một bóng ma vô hình trên đường trốn chạy, khi kể lại chuyện tìm đến an toàn ở thủ đô Kyiv. Thay vì vậy, trong cái sợ hãi này, Pedin, dù sao cũng không quên chuyện một đêm đáng nhớ, khi ông đi qua một trong các chốt chận kiểm soát của quân Nga. Lúc đó, đám lính ngồi lặng thinh nghe chuyện của ông, bỏ gói thuốc lá vào túi áo ông rồi chào chúc ông may mắn. Hôm 20 tháng 4, Pedin quyết định rời Mariupol khi lính Nga tiến vào phía thành phố nơi ông ở và đi lùng soát từng nhà một, bắn giết tự tiện, Pedin cẩn thận sắp xếp vài thứ cần dùng, cho vào túi, cân tới cân lui xem có thể mang nổi không, từ đầu 70 chục ký rồi bỏ bớt ra, còn lại khoảng 50 ký. Chặng đường đầu tiên mà Pedin cùng con chó Zhu Zhu phải đi hơn 5 cây số để ra tới ngoại thành, mục tiêu mà ông không mấy tin là mình sẽ đạt được.

    Pedin rời nhà, ở đường Tkochenko Petrenko gần cảng Mariupol lúc 6 giờ sáng sớm ngày 23 tháng 4, và mất gần 2 giờ đồng hồ ngang qua gạch đá, sắt thép cong queo và đạn dược chưa nổ ngổn ngang trên đường, tới đường Kyprino nơi có không biết bao nhiêu là xác người chết nằm la liệt, rồi sau đó tới khu thương mại thành phố cảng này. Đêm xuống sau đó, ông tiếp tục đi, qua ngang những chiếc xe quân sự còn cháy dở dang, với con chó Zhu Zhu trên tay và tiếng gầm của đạn pháo sau lưng, cho tới khi một đoàn xe quân sự nối đuôi, tiếng động ầm ầm rung chuyển dưới chân, ông thật tình run sợ, ôm con chó sát vào bụng, giấu trong áo choàng, bò rạp xuống đất, nằm im chờ tới lúc đoàn xe chạy qua, ông cứ tưởng mình là một người vô hình.

    Đêm đó Pedin ngủ trên cái băng gỗ dài, thức giấc lúc 6 giờ sáng, ông biết lối ra duy nhất để tới thị trấn Zaporizhia là phải băng qua giữa thành phố, khi ông rời nơi đó, ở đó có một chốt kiểm soát quân Chechens, hai người lính Chechens tiến tới khi thấy ông, hỏi ông đi đâu và từ đâu tới, có qua ngang trại thanh lọc không. Họ dẫn ông tới một cao ốc, Pedin bỏ túi xách và cột con chó bên cạnh, rồi người lính Chechens dắt ông lên lầu hai, tại đây một viên sĩ quan Nga ngồi trước cái bàn hỏi ông đang đi đâu, ông nói láo là ông bị ung thư bao tử, cần phải đi tới Zaporizhzhia để được điều trị, Tên sĩ quan bảo ông giỡ nón và cỡi áo ra để tìm kiếm vết xăm, vì có vết bầm trên vai cho nên tên này cho rằng ông có súng dài, gặng hỏi hình xăm ông ở đâu, và ông đã làm hắn ta phiền quá, có lẽ nên đánh để ông khai ra. Pedin trả lời, cứ làm nếu muốn nhưng rồi, hắn ra lệnh đem ông qua một phòng khác, ở dây có bốn nữ quân nhân Nga, họ lăn lấy dấu tay, đẩy ông đứng vào tường rồi chụp hình.

Cộng hòa nhân dân Donestsk

    Họ đưa Pedin một tờ giấy chứng nhận của bộ Nội vụ cộng hòa tự xưng ‘Cộng hòa nhân dân Donestsk”, cho ông được tự do đi khỏi đó và ông bắt đầu lại hành trình với con chó một lần nữa đến chốn kiểm soát trước đây. Chừng một giờ sau, một chiếc xe buýt cở nhỏ đen ngừng lại đó, lính Chechens bảo người tài xế, đang chở vợ và hai đứa con gái khoảng 18 và 20, chở Pedin theo, không ai nói tiếng nào, tới Rozivka. Trên đường ông thấy rõ nhiều ngưới lính Nga đào hố cá nhân trên mấy cánh đồng vắng và xa hơn nữa có rất nhiều cây thánh giá cắm dài mờ mờ, ông chắc chắn biết đó là các ngôi mộ tập thể.

   Ngay khi vào Rozivka, Pedin đi tới đường Lenina ngoài ngoại ô, gặp một chốt kiểm soát khác nhưng nhờ tấm giấy chứng nhận ông qua dễ dàng, tiếp tục cúi đầu đi. Vừa lúc Pedin tới làng kế, Verzhyna, thì thình lình sau lưng ông có 6 người lính Nga, họ la hét, ông đưa hai tay cao lên, bắt ông cởi áo ra, đổ đồ đạc trong túi xách ra trong khi trời lạnh như cắt, họ ra lệnh ông đi theo, tới  trung tâm sinh hoạt cộng đồng, dùng làm tổng hành dinh chỉ huy của họ. Họ cho ông vài hộp thịt bò và súp, đưa vào một căn phòng nhỏ có cái giường sắt, họ cho biết nếu ông ra khỏi đây sớm hơn buổi sáng sẽ bị bắn chết nhưng rồi họ cho ông được tự do đi tiếp ngày hôm sau. Sáng hôm sau, Pedin bò ngang qua những người lính đang ngủ, gật đầu chào ai đó nhìn theo, ông bỏ đi. Ông đi bộ hơn 14 tiếng đồng hồ ngày hôm đó, tới một chốt kiểm soát khác khoảng 8 giờ tối, bị lục soát nữa, lính gác chỉ ông đi tới một cái nhà nhỏ bỏ hoang mà ngủ nhưng ông đã tiếp tục đi lúc 6 giờ sáng khi mặt trời vừa rựng lên.

    Tới lúc này thì Pedin thật sự mệt mõi và còn nhiều chướng ngại vật nữa mà ông phải vượt qua. Cái cầu trên đường phải qua đã bị phá hủy, 30 thước nhịp sắt rớt đè đường xe lửa ở dưới, nghĩ trong đầu, mình có thể dối gian với người ta nhưng không thể với cái cầu đã gãy. Cái cầu chỉ còn sót lại một tấm dài hẹp trên sàn cầu, khó qua dễ dàng, tấm còn lại nằm vắt đu đưa, lắc lư dính tạm đâu đó, muốn rớt xuống khi nào cũng được. Pedin cột con chó váo túi xách, thử dò xem đi qua như thế nào, không chắc lắm, Pedin trở lại, đi qua với túi xách, rồi trở lại nữa, ôm con chó lên, chậm chậm dò dẫm từng bước, nín thở, cuối cùng cũng qua, ông la lên mừng rỡ.

    Buổi sáng, sau ngày đó, một lần nữa bị giữ ở một khu phố có chốt kiểm soát của quân Chechens, sau một đêm ngủ trên ghế và ôm con chó Zhu Zhu trong áo choàng phủ kín, đám lính bảo ông không được phép đi tiếp đến Zaporizhzhia nhưng phải chọn quay trở lại hay xuống phía nam, tới thành phố Tokmak. Pedin đành đi theo đường tới Tokmak nhưng lại phải đi lên hai cái đồi rộng, cao hút, ông thì còn ráng sức đi nổi chứ con chó Zhu Zhu kể như đuối lắm rồi, cũng như lần trước qua cái cầu gãy sụp, Pedin mang túi xách đi trước rồi trở lại ôm con chó, ông nói với nó, nếu nó không đi thì cả hai chết hết, vậy mà con Zhu Zhu đã cố đi với ông lên ngọn đồi kế tiếp.

Cảng Mariupol

    Pedin đã làm như đám lính chỉ nhưng sau khi qua cái đập nước, cách hai cái đồi khá xa, gặp con đường có hai ba ngả, không có bảng chỉ đường nào đi tới Tokmak, một lần nữa, trời thương, Pedin gặp may, một chiếc xe hàng xuất hiện trước mặt, ông la lên, chận lại xin quá giang, nói mình từ Mariupol, cửa xe mở, xe chạy gần hai tiếng đồng hồ băng qua những con đường đất đá ngoằn ngoèo, ông chẳng biết đường nào với đường nào, trên xe không ai nói lời nào, im lặng hoàn toàn, tại một chốt kiểm soát, người tài xế chỉ nói vỏn vẹn hai tiếng gì đó với đám lính của cộng hòa nhân dân Donetsk, họ để xe chạy qua. Pedin thấy lá cờ Ukraine phía xa trước, nơi có mấy người lính Ukrainian coi xét giấy tờ và cho phép họ tiếp tục đi, người tài xế bỏ ông Pedin xuống ở nơi có đầy những cái lều vải tạm trú tại trung tâm thành phố Zaporizhzhia, người tài xế xe hàng cũng vẫn không nói gì, đưa cho ông 1000 đồng hryvnia (tiền Ukrainian – khoảng 30 đồng bảng Anh), cuối cùng anh ta mới nói chúc ông may mắn. Dường như anh hiểu rõ hoàn cảnh của Pedin như nhiều hoàn cảnh khác mà anh ta đã gặp rồi.

    Pedin ôm con Zhu Zhu đi vào khu lều vải, đông nghẹt người cứu trợ tình nguyện, một người đàn bà hỏi ông có cần gì không, ông chợt lặng thinh rồi nói cần lắm. Người đàn bà hỏi ông từ đâu tới, khi ông trả lời từ Mariupol, bà thét lên, trời ơi Mariupol, Pedin gật đầu mĩm cười. Người đàn bà la lớn cho mọi người nghe, người này đi bộ từ Mariupol đến, mọi người ngưng việc làm, ùa lại bên ông cảm thông han hỏi. Pedin nghĩ thầm, với ông đó là giây phút vinh quang nhỏ nhoi nhất của đời mình.

Thuyên Huy

* Thông tin đăng lại bài viết của KANGAROO VIET Úc Châu.

 

Úc Châu -CM.Blog :Bắc Hàn: Covid Vũ Hán – Có Tiền Chế Bom Dọa Người Nhưng Thiếu Tiền Mua Thuốc Cho Dân

 

KÍNH MỜI XEM và HỌA (NẾU THÍCH) THƠ TRĂNG THU của HỒ NGUYỄN

TRĂNG THU Mây buồn kéo đám bám che trăng, Cuội ngóng chờ trông bóng chị Hằng. Chim mất tổ sầu kêu thảm thiết, Lá buông cành chiếc rớt tung ...