Hiển thị bài đăng được sắp xếp theo mức độ liên quan cho truy vấn những thằng già nhớ Mẹ. Sắp xếp theo ngày Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị bài đăng được sắp xếp theo mức độ liên quan cho truy vấn những thằng già nhớ Mẹ. Sắp xếp theo ngày Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 22 tháng 8, 2019

Những thằng già nhớ Mẹ

… Hai mươi năm trước, ông tổng giám đốc công ty tôi mất mẹ. Lúc đương quyền, ông đem mẹ vào Sài Gòn ở với ông. Khi ông về hưu, bà đòi về quê ở vùng ngoại ô Hà Nội và mất ở đó. Tôi đến thăm khi ông trở lại Sài Gòn được vài tháng. 
– Tuổi già được về quê sống những năm tháng cuối đời, rồi mất nhẹ nhàng như thế thì còn gì bằng, tôi an ủi. 
– Mất mẹ tớ cảm thấy như thiêu thiếu thế nào ấy… 
– Thiếu cái gì? 
– Tớ muốn trồng dàn bầu hay dàn mướp ở sau nhà cho mát, trồng cây nào khác hay hơn vì tớ sợ kiến… Tớ vẫn hay hỏi bà những chuyện lặt vặt như thế. Tớ sinh ra ở quê, nhưng có sống ở quê đâu. Bây giờ bà mất, tớ chẳng biết hỏi ai… 
Hồi đó tôi chưa quá 40, còn mẹ, thấy cái thiêu thiếu của ông đúng là lẩm cẩm. Mấy chuyện vặt đó hỏi đâu chẳng được. Bây giờ thì tôi mới cảm nhận được cái thiêu thiếu của ông là thế nào. 
Tôi có thằng bạn hồi trung học. Tay này quậy phá thầy cô dàn trời. Trường đuổi học, mời phụ huynh đến thông báo. Mẹ nó đến, đứng khoanh tay như người phạm tội, nhẫn nhục nghe thầy tổng giám thị trút cơn thịnh nộ, hài tội thằng con gần nửa tiếng đồng hồ. 
Mẹ nó chảy nước mắt: Nhà cháu nghèo, chạy cơm từng bữa cho anh em nhà nó có cái ăn. Nhà cháu lại không biết chữ, biết thế nào mà dạy nó. Nhờ thầy cô thương đến mà dạy dỗ. Đuổi học, thì nó học ở đâu? Ra trường tư làm gì có tiền. Trăm sự nhờ thầy thương cháu, roi vọt cho cháu nên người. Để rồi tối về, nhà cháu răn đe nó… 

Cơn thịnh nộ trôi qua, dường như thương cảm với người đàn bà quê mùa trước mặt, thầy tổng giám thị rồi cũng bỏ qua. Tôi và thằng ông mãnh đó lấp ló ngoài văn phòng theo dõi. Nó cười hi hí khi biết mình tai qua nạn khỏi. Chưa hết, hôm sau nó hớn hở, may quá, bà già tao giấu biệt chuyện này với ông già, nếu không thì… hì…hì… 
Nó tiếp tục quậy phá, nhưng kín đáo hơn, quậy phá cho đến khi vào lính vẫn còn, nên lãnh “củ” đều đều. Lần này thì chẳng ai nhẫn nhục thay cho nó. Hôm rồi, thằng ông mãnh về nhà sau ca làm đêm ở Mỹ, ngồi uống rượu một mình, lướt “net”, đọc được bài “Cá bống kho tiêu” nào đó trên mạng, gọi phone cho tôi từ Mỹ, nói rằng tự nhiên nhớ mẹ, rồi khóc hu…hu… qua điện thoại: Cả đời tao làm khổ bà già. Bà già bệnh, tao bận việc, cứ hẹn lần, không về chăm sóc được. Bà già mất, tao về, không kịp nhìn mặt… Tiền bạc bây giờ có ích gì… Mẹ nó mất cũng gần 10 năm rồi… Càng quậy phá, càng mềm nhũn. Nguôi ngoai gì nổi! 
Mẹ tôi mất hồi đầu năm. Thấy tôi buồn, thằng bạn học rủ về quê nó ở Châu Đốc chơi cho khuây khỏa. Chén thù chén tạc, say túy lúy, cả bọn chuệnh choạng kéo nhau đi hát… karaoke. Thằng bạn cầm micro: Xin giới thiệu với các anh em Châu Đốc, thằng bạn tôi đây ở Sài Gòn vừa mất mẹ. Tôi xin hát tặng nó bài… “Bông hồng cài áo”… Rồi nó say sưa hát, động tác biểu diễn như một ca sĩ chuyên nghiệp. Bỗng nhiên giọng hát run run… Nó khóc nấc lên… Cách đây hai năm, tôi về Châu Đốc dự đám tang mẹ nó. Nó hát cho tôi hay hát cho nó? 
Chuyện khác, lần này không phải thằng già, mà là… bà già. Tôi có cô bạn người Ý trạc tuổi, mỗi lần về Milan, ra nghĩa trang thăm mẹ, mang theo thỏi chocolate, ngày xưa bà thích ăn (mà cô ta cũng thích nữa), bẻ chocolate, cùng ăn với cái… bóng mẹ. Chocolate Tây thay cho nhang đèn Ta, cũng chỉ là tấm lòng. Mẹ cô ta mất cũng 10 năm rồi. 
Lại có thằng, có thức ăn hay trái cây nào hay hay, lại mang để trên bàn thờ mẹ, và đặc biệt chỉ thích món ăn lấy từ bàn thờ mẹ. Khách đến chơi, thân thiết lắm, mới mang đồ cúng mẹ xuống đãi. Hỏi vì sao? Ừ, thì cũng như hồi xưa bà cho mình ăn vậy, có đồ gì ngon cũng để dành cho mình… 

Mà có thằng con nào, dù có làm tới cái ông gì vĩ đại đến đâu lại trưởng thành dưới con mắt của mẹ mình đâu nhỉ? Có thằng 6 bó rồi, xách xe ra khỏi nhà, vẫn bị gọi lại, lại quên mang nón (bảo hiểm). Mùa mưa, trời chưa mưa, ngồi một chỗ, nhưng vẫn gọi vói thằng con, nhớ mang theo áo mưa. 

Tôi có thằng bạn trẻ người Đức chừng… 50, ra ngoài đường cũng bị bà già “vịn” theo kiểu đó: Alex, quên mang dù! Thằng này lúc nào cũng tự hào vì còn mẹ.. Nó khoe: Từ hồi tôi qua Việt Nam, mẹ tôi lấy làm lạ vì tôi quan tâm tới bả khác xưa nhiều lắm. Bả vui! Alex làm ăn ở Việt Nam hơn 12 năm rồi. 

Bông hồng đỏ hay bông hồng trắng cho Ngày-của-Mẹ, đối với tôi chỉ là biểu tượng, chẳng ép phê gì. Ký ức về mẹ, dù gần hay xa, mới là điều nhức nhối. Tuổi càng cao, càng dễ quên chuyện trước mắt, nhưng càng nhớ chuyện xa xôi. Tuổi đời, tình đời trải miết rồi, nay nhớ về mẹ, thấy mình còn biết bao điều thiếu sót và ray rứt, cứ giá mà… giá mà… 

Hồi nhỏ học “Nhị thập tứ hiếu”, có chuyện lão Lai, già khú đế ra rồi mà còn làm trò hề, giả vờ té ngã như con nít để mẹ cười. Tôi thấy ông này giễu dở. Bây giờ tôi muốn giễu dở như ông cũng không được. Nụ cười của người già, dù là móm mém, dù là mù lòa, nghễnh ngãng… nhớ lại, sao thấy hiền quá.. Nhớ tận đáy lòng. Ray rứt và ân hận là thế! Làm sao thời gian có thể lùi lại để ngồi giã trầu, đấm lưng và chiêm ngưỡng nụ cười móm mém? 
Nụ cười của mẹ già không phải là nụ cười vì tiền vì bạc, vì chén cơm manh áo, vì quyền bính thế gian. Đó là là nụ cười mãn nguyện khi con cháu ở bên mình, vẫn chưa quên mình… 
Các bạn trẻ hẳn có nhiều cơ may còn mẹ.. Hãy biết trân trọng và tận dụng thời gian bên mẹ. Tôi biết (cũng như tôi ngày xưa), cách biện minh dễ nhất là bận việc và hẹn lần. 
Thời gian chẳng quay lại, và cũng chẳng làm nguôi ngoai nỗi nhớ đâu! Những giọt lệ già mà nhớ mẹ, như nuốt ngược vào tim, mặn biết chừng nào! 

VŨ THẾ THÀNH -
 
Những giọt lệ già mà nhớ mẹ, như nuốt ngược vào tim, mặn biết chừng nào! 

(Hoa Huỳnh chuyển)
🌹🌹🌹🌹
Mời xem :Khuất Đẩu: CÀNG GIÀ CÀNG NHỚ MẸ! (Từ T.Vấn Và Bạn Hửu )

Thứ Hai, 23 tháng 7, 2018

Chữ hiếu hôm nay?

Tác Giả  Chu Tất Tiến

Inline image

Tại trước khu chợ Phúc Lộc Thọ, CA, Phuc Jean cũng đã gặp một bà già Việt Nam lụ khụ ngả nón ăn mày. Không biết bà sang Mỹ đã lâu hay bây giờ mới qua? Tại sao bà lại phải ăn mày ở cái xứ người già có tiền trợ cấp xã hội đàng hoàng? Ôi, vì sao? tại sao? làm sao?

Trong giờ lễ Chủ Nhật, tại nhà thờ Saint Columban, linh mục T.  đã làm nhiều người nghe phải nhỏ lệ khi ông kể một câu chuyện về một người Mẹ đã nuôi cả mười đứa con thành công về tài chánh, đứa bác sĩ, đứa kỹ sư, dược sĩ, nhưng rồi cả mười đứa con ấy, không nuôi nổi một bà Mẹ già. Đứa nào cũng có lý do để từ chối không muốn ở với Mẹ.
Linh mục T. cũng kể lại lúc ông còn ở Chicago, có một lần trong thời tiết lạnh giá, đến thăm một bà Mẹ, thấy căn nhà rộng mông mênh, không có ai, vì hai vợ chồng đứa con đi làm cả. Điều ông quan tâm là thấy trong nhà rất lạnh, bà Mẹ phải mặc hai áo nhưng vẫn lạnh cóng. Ông có hỏi bà mẹ tại sao không mở máy sưởi, thì bà Mẹ cho biết là không dám mở vì sợ khi con đi làm về, sẽ càm ràm là “tốn tiền điện quá!” Những đứa con sang trọng kia, có thể chờ đến ngày Lễ Mẹ, thì đưa mẹ ra ăn tô phở, hoặc gọi điện thoại về nhà, nói: “I love you, mom!” Thế là đủ bổn phận của một đứa con thành công ở Mỹ đối với người mẹ yêu dấu của mình.

Những Bà Mẹ ở đây là hiện thân của Mẹ Việt Nam đau khổ, đã hy sinh cả cuộc đời cho con cái, nhưng khi con cái phụ rẫy, bỏ bê, cũng im lặng chấp nhận cho đến hết cuộc đời.
Có biết bao nhiêu trường hợp như thế trong cộng đồng Việt Nam hải ngoại? Biết bao nhiêu bà mẹ âm thầm, lặng lẽ chịu đựng tất cả những đau khổ từ khi lấy chồng, sinh con, rồi ráng nuôi dạy con nên người, sau đó lại chấp nhận những đứa con bất hiếu như một định mệnh mà không hề thốt lời than vãn?

Một bà mẹ đã dành dụm bao năm buôn gánh bán bưng để cho con vượt biên một mình, sau đó, khi qua đến Mỹ, thằng con sợ vợ quá, không dám để mẹ ngủ trong phòng, mà bảo mẹ phải ngủ dưới đất trong phòng khách. Một lần, con chó xù của hai vợ chồng đứng đái ngay vào đầu mẹ. Bà mẹ kêu lên, thì đứa con dâu cười, trong khi chồng đứng yên, chẳng dám nói gì.

Bà mẹ khác, không được ở chung với con trai, phải thuê một phòng của người bạn, vì sức khoẻ yếu, lúc nào cũng lo là chết không có ai chôn. Khi nghe nói về bảo hiểm nhân thọ, bà có năn nỉ thằng con trai đứng tên mua giùm, để bà bớt chút tiền già và đóng hàng tháng để mai sau, con có tiền lo hậu sự cho bà, nhưng đứa con dâu nhất định không chịu, cho rằng “tốn tiền vô ích, chết thì thiêu, liệng tro xuống biển là xong, chôn làm gì cho mất thời giờ đi chăm sóc.” Bà cụ uất quá, phát bệnh và qua đời. Không biết rồi bà có được chôn cất đàng hoàng theo ý muốn, hay lại bị cô con dâu vứt tro ra biển.

Inline image

Không thiếu những bà mẹ khi đến thăm con trai, phải ngồi nhìn vợ chồng ăn uống ríu rít với nhau, vì con dâu không chịu dọn thêm một chén cơm mời mẹ. Một bà mẹ nhớ con nhớ cháu quá, đến thăm con, nhưng sợ con dâu sẽ nhiếc móc thằng chồng, nên vừa vào tới cửa đã vội thanh minh: “Mẹ không ăn cơm đâu! Mẹ vừa ăn phở xong, còn no đầy bụng. Mẹ chỉ đến cho thằng cháu nội món quà thôi!”

Không thiếu những bà mẹ vì lỡ đánh đổ một chút nước trên thảm mà bị con nhiếc móc tơi bời. “Trời đất ơi! Cái thảm của người ta cả vài ngàn bạc mà đánh đổ đánh tháo ra thế thì có chết không?”

Có bà mẹ bị bệnh ung thư, biết là sắp chết, mong được con gái đưa về Việt Nam, nhưng con đổ thừa cho chồng không cho phép về, rồi biến mất tăm, sợ trách nhiệm. Mẹ phải nhờ người đưa ra phi trường, nhờ người dưng đi cùng chuyến bay chăm sóc cho đến khi về tới nhà. Từ lúc đó đến lúc mẹ mất, cả con gái lẫn con rể, cháu chắt cũng chẳng hề gọi điện thoại hỏi thăm một lần.

Một bà mẹ già trên 70 tuổi rồi, có thằng con trai thành công lẫy lừng, bốn năm căn nhà cho thuê, nhưng bà mẹ phải lụm cụm đi giữ trẻ, nói đúng ra là đi ở đợ vì phải lau nhà, rửa chén, nấu cơm, để có tiền tiêu vặt và để gộp với tiền già, đưa cả cho… con trai, một thanh niên ham vui, nhẩy nhót tung trời, hai, ba bà vợ. Mỗi khi gặp bà con, chưa cần hỏi, bà đã thanh minh: “Ấy, tôi ngồi không cũng chả biết làm gì, thôi thì đi làm cho nó qua ngày, kẻo ở nhà rộng quá, một mình buồn lắm!”

Trong một cuộc hội thoại, một bà mẹ đã khóc nức nở vì chỉ đứa con gái phụ rẫy, bỏ bà một mình cô đơn. Bà chỉ có một đứa con gái duy nhất, chồng chết trong trại cải tạo. Trong bao nhiêu năm, bà đã gồng gánh nuôi con, rồi cùng vượt biên với con, tưởng mang hạnh phúc cho hai mẹ con, ai ngờ cô con chờ đúng 18 tuổi là lẳng lặng xách vali ra đi.. Nước mắt bà đã chảy cho chồng, nay lại chảy hết cho con.

Inline image

Tại những nhà dưỡng lão gần trung tâm Thủ Đô Tị Nạn, có biết bao nhiêu bà mẹ ngày đêm ngóng con đến thăm nhưng vẫn biệt vô âm tín. Một bà cụ suốt ba năm dài, không bao giờ chịu bước xuống giường, vì biết rằng chẳng bao giờ có đứa con nào đến thăm. Bà đã lẳng lặng nằm suốt ngày trên giường như một sự trừng phạt chính mình vì đã thương yêu con cái quá sức để đến tình trạng bị bỏ bê như hiện tại. Sau ba năm, bà mất vì các vết lở, vì nỗi u uất, mà những người chăm sóc bà vẫn không biết gia cảnh bà như thế nào, vì bà không hề nhắc đến. Có điều chắc chắn là khi bà còn là một thiếu nữ, bà phải là một mẫu người làm cho nhiều người theo đuổi, quyến luyến, tôn sùng. Chắc chắn bà đã trải qua bao năm tháng thật tươi đẹp, vì cho đến khi mất, khuôn mặt bà, những ngón tay bà, và dáng dấp bà vẫn khoan thai, dịu dàng, pha một chút quý phái. Nhưng tất cả những bí ẩn đó đã được bà mang xuống mồ một cách trầm lặng.

Một buổi chiều tháng 5, tại một tiệm phở Việt Nam, một mẹ già đứng tần ngần bên cánh cửa. Khi được mời vào, mẹ cho biết mẹ không đói, nhưng chỉ muốn đứng nhìn những khuôn mặt vui vẻ, để nhớ đến con mình, đứa con đã bỏ bà đi tiểu bang khác, để mẹ ở với đứa cháu là một tên nghiện rượu, đã hăm doạ đánh mẹ hoài. Hắn đã lấy hết tiền trợ cấp của mẹ, lại còn xua đuổi mẹ như cùi hủi. Hôm nay, hắn lái xe chở mẹ đến đầu chợ, đẩy mẹ xuống và bảo mẹ cút đi! Mẹ biết đi đâu bây giờ?

Trong một căn phòng điều trị tại bệnh viện Ung Thư, một bà cụ đã gào lên nức nở khi người bệnh nằm bên được chuyển đi nơi khác. “Bà ơi! Bà bỏ tôi sao? Bà ơi! Đừng đi! Đừng bỏ tôi nằm một mình! Tôi sợ lắm, bà ơi!” Những tiếng kêu, tiếng khóc nấc nghẹn đó lặp đi lặp lại làm người bệnh sắp chuyển đi cũng khóc theo. Người y tá cũng khóc lặng lẽ. Anh con trai của người sắp đi xa, không cầm được giọt lệ, cũng đứng nức nở. Cả căn phòng như ngập nước mắt. Mầu trắng của những tấm trải giường, mầu trắng của tấm áo cánh của bà cụ như những tấm khăn liệm, tự nhiên sáng lên, buồn bã. Bà cụ nằm lại đó đã không có đứa con nào ở gần đây. Chúng đã mỗi đứa mỗi nơi, như những cánh chim không bao giờ trở lại.

Trên đại lộ Bolsa, thỉnh thoảng người ta thấy một bà mẹ già, đẩy chiếc xe chợ trên chứa đầy đồ linh tinh. Mẹ chỉ có một cái nón lá để che nắng che mưa. Khuôn mặt khắc khổ của mẹ như những đường rãnh bùn lầy nước đọng, đâu đó ở chợ Cầu Ông Lãnh, Thủ Thiêm, gần bến Ninh Kiều, Bắc Mỹ Thuận hay ở gần cầu Tràng Tiền, Chợ Đông Ba? Mẹ đi về đâu, hỡi Mẹ? Những đứa con của mẹ giờ chắc đang vui vầy…


Chu Tất Tiến
(Theo gia đình NAZARETH)

Thứ Tư, 6 tháng 1, 2021

RUỘT RÀ - Vũ Thư Hiên (Văn Việt )

Vũ  Thư Hiên

Bác sĩ viện trưởng, mắt lấp lánh sau cặp kính cận, nhìn Tân:

- Đồng chí đợi chút – ông gập tờ bìa xanh, vuốt lại cái mép bị cong. Tân thấy tên mình trên đó – Tôi hỏi thật: đồng chí thấy trong người giờ thế nào?

- Tôi hoàn toàn khỏe mạnh – Tân nhắc lại câu nói hôm trước – Thật mà. Xin đồng chí cho tôi ra viện!

Ông viện trưởng mỉm cười, ngả người trên thành ghế, nheo mắt nhìn anh. Ông thích anh chàng vui tính và nhanh nhảu vừa dậy khỏi giường bệnh đã lăn vào săn sóc thương binh cùng với cán bộ quân y.

- Thật. Tôi cảm thấy khỏe hẳn rồi – anh nhắc lại lần nữa, bằng giọng nhấn mạnh.

Ông lắc đầu, tháo cặp kính ra lần thứ hai, thói quen mỗi khi ông gặp chuyện khó xử.

Trời rét ngọt – gió rì rào trong tán lá. Đôi mắt không kính của bác sĩ làm ông có vẻ ngơ ngác.

- Để xem sao – ông đeo kính vào, trả cho đôi mắt sắc thái nghiêm nghị, rót nước trong phích mời Tân.

- Uống cho ấm, đồng chí. Cuối năm mà chả thấy ấm hơn. Tết đến nơi rồi. Mùa xuân ở đây chỉ bắt đầu vào cuối tháng giêng âm lịch. Lúc đó cây cỏ mới đâm chồi, các thứ hoa mới nở. Xuân đến, tôi thấy mình trẻ lại – đấy là cái mâu thuẫn muôn thuở giữa cái cảm thấy và cái sự thật, anh bạn ạ!

Tân kiên trì nhắc lại đề nghị.

- Tôi hiểu, hiểu rồi. Sao lại không hiểu chứ? Nằm mãi ở cái bệnh viện giữa rừng này thì vui thú nỗi gì?

Ông đặt bệnh án xuống, gõ mấy ngón tay xuống mặt bàn nứa ghép, ngẩng mặt nhìn anh hồi lâu rồi hạ câu phán quyết:

- Tôi đồng ý.

Tân không tin ở tai mình.

Đến gặp bác sĩ lần này, anh tin rằng sự việc sẽ diễn ra y như mấy lần gặp trước: viện trưởng sẽ nói chuyện giời đất nắng mưa với anh một lúc rồi ân cần đẩy anh ra cửa.

- Thật đấy! – ông hài lòng nhìn nét mặt sửng sốt của Tân và bật lửa châm điếu “sừng bò”.

Khói thuốc đặc sệt che phủ cái nhìn ranh mãnh của ông.

- Với điều kiện: đồng chí không được về đơn vị ngay – ông nói tiếp – Cần phải nghỉ thêm. Không ở đây thì ở nơi khác. Về nhà chẳng hạn.

Tân thở dài.

- Tôi biết chứ: đồng chí ngượng vì vết thương của mình. Người ta cụt chân, cụt tay, thủng bụng, vỡ ngực, còn đồng chí thì đố ai gọi là thương binh. Một mảnh “moóc” tí xíu găm vào đầu! Nó vào sâu thêm một phân thì thành tử sĩ rồi đấy, còn bây giờ thì chỉ độc một dải băng quấn trên đầu. Giống một thằng bé bị ngã khi trèo ổi!

Ông nhại đúng ý nghĩ của anh làm anh đỏ mặt.

- Kể cũng khó – ông tiếp – Về quê thì không được rồi, đường dài, có biến chứng thì sao? Này, tôi với đồng chí người cùng quê đấy. Chà, ở đây tôi nhớ biển vô cùng. Đêm nào nằm mơ thấy biển là sáng dậy tôi ra một chỗ thật vắng, nằm lên một cây gỗ đổ, nhìn những đám mây và nhớ những cái diều…

- Ở rừng người ta không chơi diều – Tân rụt rè mỉm cười.

Ông đứng dậy, đi đi lại lại.

– Hừm, đồng chí có họ hàng gần đây không? Không à? Hay là về một làng nào đó mà đồng chí đã dừng lại trên đường hành quân, nhỉ? Nghĩ đi. Rồi lên gặp tôi.

Tân trở về, tủm tỉm trong lòng. Anh yêu bác sĩ của mình cả trong những phút ông cáu kỉnh.

Giờ đây, đi trên đường, nhớ lại câu chuyện với bác sĩ, anh cảm ơn ông đã gợi một ý hay.

Ra khỏi khu rừng, anh ngồi lại một lúc bên dòng suối róc rách qua một tảng đá rạn nứt, ngắm những con sóc nhút nhát nấp trong lá rậm. Chúng đứng trên hai chân sau nhấm nháp những quả khô, lúc lắc cái đầu xinh xinh ngờ vực nhìn anh. Tân tự hứa với mình rồi sẽ trở lại đây, nơi anh bỏ lại những bạn quen, một cô y tá mắt bồ câu hút hồn anh, rồi buồn rầu nghĩ anh đã tự hứa như thế nhiều lần mỗi khi rời một nơi nào đó.

Trên con đường ngoằn nghèo nằm lút giữa màu xanh đơn điệu của rừng Tân chỉ thích có hai thứ: cây lá trắng và cây hương xôi.

Cây lá trắng anh hay gặp ven những con đường hàng tỉnh hoang vắng.

Nó lạ – trên những cành đầy lá xanh bỗng nổi bật những đốm trắng, đến gần thì thấy chỉ là những cái lá. Nhìn từ xa ai cũng tưởng ở đó có một đàn bướm đang vẫy cánh. Những cánh bướm thực vật gợi nhớ những cánh bướm động vật chập chờn trong tuổi thơ. Cây lá trắng ân cần chào đón và lưu luyến tiễn đưa người đi ngang. Anh không biết tên thật của nó là gì, anh không có kiến thức về thực vật. Với anh, nó đơn giản là “cây lá trắng”.

Rừng còn đón anh bằng mùi cơm nếp gợi nhớ mẹ. Mẹ thường nấu xôi cho anh, những đĩa xôi đủ các loại vị và màu: xôi đỗ đen, xôi đỗ xanh, xôi vừng, xôi vò, xôi gấc, xôi lạc… Trên đường hành quân thỉnh thoảng anh lại bắt gặp ở một đoạn khuất nẻo nào đó mùi xôi mẹ nấu bay trong gió. Anh không biết tên cây cơm xôi. Người ta chỉ cho anh một bụi nhỏ nằm lẫn trong những khóm cây con um tùm. Khi anh đến gần thì hương nếp biến mất. Nó cho anh kỷ niệm về mùi xôi nếp khi anh ở xa. Những vật gợi nhớ thường thế, chúng gọi về kỷ niệm bằng những nét thấp thoáng.

Không ai hái lá trắng dù nó đẹp kỳ lạ. Các thiếu nữ trong tuổi học trò ép chúng vào giữa những trang lưu niệm. Tân đã viết những dòng ủy mị vào một trang như thế. Rồi anh quên cả cuốn sổ lẫn chủ nó, một cô gái tóc thề ngang vai, cặp mắt mơ màng và giọng nói trong vắt. Người lính không được phép mang trong lòng nhiều kỷ niệm.

Ông bác sĩ già vui tính đã gợi nhớ tới lời mẹ dặn trong đêm anh lên đường.

- Con nhớ tìm dì, con ạ – bà sụt sùi – Biết đâu trời phật chả dun dủi cho con gặp. Có người nói dì ở Cầu Hai hay Cầu Ba trên đường Phú Thọ đi Tuyên Quang, mẹ không biết có nhớ đúng không. Con tìm dì, nói mẹ nhắn ông bà mất rồi, đừng giận ông bà nữa. Bố mẹ ai chả thương con, thương quá đâm ra làm khổ con. Bảo dì rằng mẹ nhớ lắm, về dòm mẹ một cái cho mẹ thấy mặt. Có khi dì cũng muốn về đấy, cơ mà loạn lạc thế này, về sao được. Con cố mà tìm.

Người làng kể: “cô Ngọ” phải lòng anh kép trong gánh chèo qua làng. Ông ngoại Tân ép dì anh làm dâu một nhà giàu. Dì anh không chịu. Một buổi sáng bà ra đồng bắt cua rồi “cứ thế xách giỏ cua đi thẳng”. Người ta không hiểu sao cứ đinh ninh “cô Ngọ” xách giỏ cua đi thẳng chứ không vứt nó lại một bờ ruộng nào đó.

Mẹ anh vẫn còn xấu hổ về việc em mình bỏ nhà theo giai. Nhưng trong lòng, bà thương, bà nhớ em mình khôn nguôi.

Sau khi suy nghĩ Tân quyết định đi tìm dì anh ở Cầu Hai như mẹ dặn. Anh không biết có cái cầu nào khác dính với một con số nằm trên đường anh đi không. Có thể mẹ anh nhớ nhầm.

Những dây bìm bìm xanh thẫm đã bám chắc trên xác mấy chiếc xe tăng han rỉ ở Trạm Thản. Những chiếc xe tăng chính đơn vị anh đã đánh.

Tân rẽ vào thăm các bạn đã nằm lại trên sườn đồi bên đường. Trên những ngôi mộ, hoa cúc dại đung đưa. Những con bướm xanh hoa lý bay quanh những đồng tiền vàng của cúc rừng.

Một bà lão bán hàng nước ở cuối con phố lèo tèo đãi anh cơm với cá kho, lắc mái đầu bạc trắng:

- Tìm cầu may thế thì biết bao giờ thấy, hả con? Bằng đáy biển mò kim, con ạ – bà chép miệng – Con tìm mấy hôm rồi?

- Con mới đến đây, chưa đi đâu khác.

- Tìm người như thể tìm chim. Vất vả lắm.

Bà dọn giường cho anh ngủ nhưng bà không ngủ được. Bà lão nhớ đứa con cũng bộ đội như anh.

- Này con! – nửa đêm, bà gọi Tân – Con thức hay con ngủ đấy?

- Con còn thức, mẹ ạ.

- Thảo nào, mẹ thấy con giở mình luôn. Mẹ bảo: “Hay là nó lạ nhà?”. Rồi mẹ lại cười lẩn thẩn: “Bộ đội có đứa nào lạ nhà”. Mẹ tính thế này, con ạ.

- Sao hả mẹ?

- Con cứ dọc đường con tìm. Có cái nhà nào bên cạnh cái cầu thì xông vào mà hỏi. Chửa biết chừng thấy cũng nên.

- Vâng, mẹ ạ! Chửa biết chừng…

- Chắc mẹ con lẫn, không nhớ là cầu gì. Già rồi ai cũng lẫn. Cầu Hai cũng không xa đây.

Tân nghe theo lời khuyên của bà. Đàng nào anh cũng nghỉ, tại sao không thể nghỉ trên đường? Anh vừa đi vừa ngắm cảnh, vừa nghĩ mung lung. Nắng lên, anh xuống suối tắm và đùa nghịch với những con cá béo lẳn lấy mõm đấm vào những vết sẹo đã lành trên người anh. Anh lắng nghe chú gõ kiến – người gác rừng nhẫn nại – đang từng bước dịch ngược trên thân cây mà gõ công cốc hết ngày này sang ngày khác.

Anh nghĩ đến dì anh, bà chắc giống mẹ anh, cũng cái dáng đi tất bật như muốn làm một lúc tất cả mọi việc, cũng cái giọng nói ngọt ngào và hơi run run trong tuổi già, cũng đôi mắt nhìn anh trìu mến.

Anh chăm chú nhìn những người đàn bà gặp trên đường, ngờ vực nhìn vào những nếp tranh trên sườn đồi và tim anh đập mạnh mỗi lần gặp một mái lá xám lộ ra trong màn cây xanh hoặc đột khởi trên nương sắn, bên một cái cầu.

Một buổi tối, rẽ vào túp lều ven đường anh gặp một ông già đang uống chè tươi một mình.

Ông già mừng rỡ đón anh như thể ông biết anh sẽ đến và ông đang chờ anh. Ông rót cho anh uống thứ chè móc câu đặc biệt của vùng ông, đặc sánh và tuyệt ngon.

Ông già rủ anh ngồi bên bếp lửa đặt giữa nhà, thỉnh thoảng lại mỉm cười vô nguyên cớ với ngọn lửa rồi lấy que cời đập vào than hồng cho bụi lửa bay lên. Bụi lửa soi sáng khuôn mặt chất phác với những nét thô, phân minh của ông già bằng một thứ ánh sáng làm cho nó trở nên quắc thước.

- Bà Ngọ hử? – ông lão kêu lên – Ngọ, phải không nào? Người vùng xuôi lên đây từ lúc còn trẻ, phải không nào? Người hơi gày này, có cái nốt ruồi ở đây này, bên dưới dái tai một tẹo, đúng không? Thế thì tôi biết. Dì anh à? Khắp vùng này ai ở xuôi lên tôi biết hết. Làm sơn tràng, có rừng nào tôi không vào. Những lúc rảnh rang hoặc giả xong công xong việc thì ngồi trong rừng làm gì? Ngắm khỉ đánh đu à? Thế là gặp nhà nào ở gần là tôi mò vào, làm điếu thuốc, uống bát nước, rồi chuyện nọ xọ chuyện kia…

Tân rụt rè nhắc ông quay lại với dì anh!

- Vậy ra anh không biết mặt dì? Khổ? – ông lắc đầu, thương hại – Đi tìm hú họa như thế thì có mà đến Tết năm Mùi, tôi nói thật. Bà Ngọ đúng là ở gần cầu, nhưng không phải Cầu Hai, Cầu Ba dì sất. Cái cầu ấy không có tên. Nó bé tèo tẹo ấy mà. Bắc qua cái suối, nói anh bỏ ngoài tai, vừa bằng cái dạng đái. Suối ở trong rừng ấy anh ạ, phải to, bốn mùa ăm ắp nước mới gọi là suối. Còn đây là cái rãnh. Giời ơi, bà Ngọ! Bà ấy chuyến này mừng phải chết. Được, sáng mai tôi đưa anh đi. Cách đây hơn chục cây thôi.

- Phiền ông giúp con.

- Phiền gì? Chẳng phiền gì sất. Nhân dân thì phải giúp bộ đội thôi. Anh không cần cảm ơn. Bà Ngọ với tôi đây là chỗ quen biết. Anh là cháu bà Ngọ thì cũng như là cháu tôi, nói anh đừng giận. Tính tôi thật thà.

Tân mừng quýnh. Cùng với những bát chè đặc, niềm vui sẽ được gặp người thân không cho anh ngủ.

Anh nằm nghe tiếng gió rít ở ngạch cửa, đòi được vào nhà.

Ông lão đặt mình xuống chiếc chõng tre là lập tức ngủ ngay, ngáy khe khẽ. Ánh lửa yếu dần chập chờn trên tấm chăn sui (*) trên mình ông. Những hòn than thôi nổ lép bép chỉ còn lại một chút hồng dưới lớp tro mỏng.

Ông già dậy từ sớm gầy lại bếp, luộc mấy củ sắn cho hai người rồi mới dẫn anh đi. Dọc đường ông luyên thuyên hết chuyện này đến chuyện khác. Anh phải bước rảo mới theo kịp ông.

Dì anh không có nhà, căn nhà lá ba gian đóng im ỉm không cài then. Ông già thành thạo lên nương tìm và lôi về một cô gái giương đôi mắt to ngây thơ như mắt thỏ con ngỡ ngàng nhìn anh. Trời lạnh mà cô mặc phong phanh như mùa hè. Mặt cô đỏ hồng vì gió bấc.

- Anh mày đấy! – ông lão cười hà hà ngả người về phía sau, hết ngắm cô gái lại ngắm Tân – Còn con bé đây là em Vân. Anh em đôi con dì mà giống nhau gớm. Anh đi tìm mẹ cháu, tức thị là dì anh ấy. Đã nghe ra chửa?

- Anh ạ! – cô gái chào khẽ và bẽn lẽn nhìn xuống, mân mê vạt áo.

Rồi cô ngẩng đầu lên, lấy ngón út tay phải đẩy nhẹ mấy sợi tóc mai ra sau, cử chỉ quen thuộc của những cô gái mới lớn. Cô liếm môi, mỉm cười e thẹn và ấp úng:

- Mời bác với lại anh vào nhà xơi nước.

- Chao ôi, cháu tôi! – ông lão cười to – Nhớn rồi mà chẳng biết ăn biết nói gì sất. Anh ấy không phải vào nhà xơi nước mà ở lại đây, nghe chửa? Anh ấy về nhà mình.

Bà mẹ đi chợ xa, tối mịt mới về.

Anh ôm lấy dì như ôm mẹ:

- Cháu đã thất vọng, tưởng không tìm được dì.

Ông sơn tràng mặt sáng bừng ngắm hai dì cháu:

- Anh ấy đã tưởng không tài nào tìm được bà. May mà gặp tôi.

Bà dì ôm anh với một chút bỡ ngỡ rồi tất tả bắt gà làm cơm đãi khách.

Ông già lục lọi trong nhà, lôi ra một chai rượu:

- Rượu thuốc. Cũng tốt. Một ngày vui thế này mà không có chút đưa cay thì vô duyên lắm. Mà bà ngâm gì vậy?

Bà ngẩng mặt, thở dài:

- Tam thất, với lại trăm thứ bà dằn nào khác, em không biết đâu. Nhà em ngâm từ năm nảo năm nào, em không nhớ.

- Ông ấy mất dễ đến năm năm rồi, bà nhỉ?

- Sáu, ông ạ.

Tân ngồi bên dì xem bà vặt lông gà:

- Mẹ cháu nhớ dì lắm. Dặn đi dặn lại thể nào con cũng phải tìm dì bằng được. Nhà chỉ có hai chị em mà giờ mất dấu nhau. Rồi khóc, dì ạ.

Bữa cơm đoàn viên thật vui. Dì anh đon đả gắp thức ăn cho anh, cho ông già, nụ cười không tắt trên môi.

- Anh kể cho dì nghe nữa đi. Dì muốn nghe nữa mà. Dì nhớ mẹ anh lắm, nhớ lắm í.

Tân kể. Nỗi nhớ mẹ trào dâng. Anh nhớ lúc mẹ tất tả chạy theo anh ngày anh lên đường vào bộ đội, dúi vào tay anh cái đồng hồ Wyler. Anh quý nó lắm. Nó ở với anh không lâu. Thoạt đầu, nó được trao cho trung đội trưởng để theo dõi các phiên gác. Rồi nó sang tay đại đội trưởng trong một trận công đồn quy mô tiểu đoàn tập trung. Rồi nó đi đâu tiếp, anh không biết, không nhớ.

Đêm ấy, anh ngủ vùi trong cảm giác hạnh phúc.

Anh ngủ say đến nỗi không nghe thấy dì anh và ông già sơn tràng nói chuyện gì trong đêm khuya ấy.

Anh không biết dì anh nói:

- Anh bộ đội nhầm, ông ạ. Tôi không có chị.

- Tội nghiệp, anh ấy đinh ninh đã tìm được.

- Ông chớ nói gì nhá.

Ông già gật:

- Tôi không nói đâu.

Dì anh đặt tay lên vai ông, một cử chỉ bất thường:

- Chẳng có gì sai. Anh bộ đội có thêm một bà dì. Tôi có thêm một đứa cháu. Phải không ông?

- Chí phải.

Ông già nói, thấy mũi mình cay cay và mắt mình rơm rớm.

Moskva, 1993



(*) Chăn sui làm bằng vỏ cây sui được lóc ra, ngâm dưới suối, rồi đập kỹ cho mềm, dùng làm chăn.

Chủ Nhật, 14 tháng 1, 2024

CHỮ HIẾU NGÀY NAY TRONG CỘNG ĐỒNG VIỆT HOA KỲ


Tại trước khu chợ Phúc Lộc Thọ, California, Phuc Jean cũng đã gặp một bà già Việt Nam lụ khụ ngả nón ăn mày. Không biết bà sang Mỹ đã lâu hay bây giờ mới qua? Tại sao bà lại phải ăn mày ở cái xứ người già có tiền trợ cấρ xã hội đàng hoàng? Ôi, vì sao? tại sao? làm sao?
Trong giờ lễ Chủ Nhật, tại Nhà Thờ Saint Columban, Linh Mục T. đã làm nhiều người nghe ρhải nhỏ lệ khi ông kể một câu chuyện về một người mẹ đã nuôi cả mười đứa con thành công về tài chánh, đứa bác sĩ, đứa kỹ sư, dược sĩ, nhưng rồi cả mười đứa con ấy, không nuôi nổi một bà mẹ già. Đứa nào cũng có lý do để từ chối không muốn ở với mẹ.
Linh Mục T. kể: lúc ông còn ở Chicago, có một lần trong thời tiết lạnh giá, đến thăm một bà Mẹ, thấy căn nhà rộng mông mênh, không có ai, vì hai vợ chồng đứa con đi làm cả.
Điều ông quan tâm là thấy trong nhà rất lạnh, bà mẹ phải mặc hai áo nhưng vẫn lạnh cóng. Ông có hỏi bà mẹ tại sao không mở máy sưởi, thì bà mẹ cho biết là không dám mở vì sợ khi con đi làm về, sẽ càm ràm là “tốn tiền điện quá!”
Những đứa con sang trọng kia, có thể chờ đến ngày Lễ Mẹ, thì đưa mẹ ra ăn tô phở, hoặc gọi điện thoại về nhà, nói: “I love you, mom!” Thế là đủ bổn phận của một đứa con thành công ở Mỹ đối với người mẹ yêu dấu của mình!.
Những bà mẹ ở đây là hiện thân của Mẹ Việt Nam đau khổ, hy siпh cả cuộc đời cho con cái, nhưng khi con cái phụ rẫy, bỏ bê, cũng im lặng chấρ nhận cho đến hết cuộc đời còn lại.
Có biết bao nhiêu trường hợp như thế trong cộng đồng Việt Nam hải ngoại? Biết bao nhiêu bà mẹ âm thầm, lặng lẽ chịu đựng tất cả những đau khổ từ khi lấy chồng, sinh con, rồi ráng nuôi dạy con nên người, sau đó lại chấρ nhận những đứa con bất hiếu như một định mệnh mà không hề thốt lời than vãn?
Biết bao nhiêu bà mẹ đã dành dụm bao năm buôn gánh bán bưng để cho con vượt biên một mình, sau đó, khi qua đến Mỹ, thằng con sợ vợ quá, không dám để mẹ ngủ trong phòng, mà bảo mẹ ρhải ngủ dưới đất trong phòng khách.
Một lần, con chó xù của hai vợ chồng đứng đái ngay vào đầu mẹ. Bà mẹ kêu lên, thì đứa con dâu cười, trong khi chồng đứng yên, chẳng dám nói gì.
Bà mẹ Việt khác, không được ở chung với con trai, phải thuê một ρhòng của người bạn, vì sức khỏe yếu, lúc nào cũng lo là chết không có ai chôn. Khi nghe nói về bảo hiểm nhân thọ, bà năn nỉ thằng con trai đứng tên mua giùm, để bà bớt chút tiền già và đóng hàng tháng để mai sau, con có tiền lo hậu sự cho bà, nhưng đứa con dâu nhất định không chịu, cho rằng “tốn tiền vô ích, chết thì thiêu, liệng tro xuống biển là xong, chôn làm gì cho mất thời giờ đi chăm sóc”. Bà cụ uất quá, phát bệпh và qua ᵭời. Không biết rồi bà có được chôn cất đàng hoàng theo ý muốn, hay lại bị cô con dâu vứt tro ra biển.
Không thiếu những bà mẹ khi đến thăm con trai, phải ngồi nhìn vợ chồng ăn uống ríu rít với nhau, vì con dâu không chịu dọn thêm một chén cơm mời mẹ. Một bà mẹ nhớ con nhớ cháu quá, đến thăm con, nhưng sợ con dâu sẽ nhiếc móc thằng chồng, nên vừa vào tới cửa đã vội thanh minh:
“Mẹ không ăn cơm đâu! Mẹ vừa ăn phở xong, còn no đầy bụng. Mẹ chỉ đến cho thằng cháu nội món quà thôi!”
Không thiếu những bà mẹ vì lỡ ᵭáпh đổ một chút nước trên thảm mà bị con nhiếc móc tơi bời. “Trời đất ơi! Cái thảm của người ta cả vài ngàn bạc mà ᵭáпh đổ ᵭáпh tháo ra thế thì có chết không?”
Có bà mẹ bị bệпh uпg thư, biết là sắρ chết, mong được con gái đưa về Việt Nam, nhưng con đổ thừa chồng không cho phéρ về, rồi biến mất tăm, sợ trách nhiệm. Mẹ ρhải nhờ người dưng đưa ra phi trường, nhờ người dưng đi cùng chuyến bay chăm sóc cho đến khi về tới nhà. Từ lúc đó đến lúc mẹ mất, cả con gáι lẫn con rể, cháu chắt cũng chẳng hề gọi điện thoại hỏi thăm một lần.
Một bà mẹ già trên 70 tuổi rồi, có thằng con trai thành công lẫy lừng, bốn năm căn nhà cho thuê, nhưng bà mẹ phải lụm cụm đi giữ trẻ, nói đúng ra là đi ở đợ vì phải lau nhà, rửa chén, nấu cơm, để có tiền tiêu vặt. Mỗi khi gặρ bà con, chưa cần hỏi, bà đã thanh minh: “Ấy, tôi ngồi không cũng chả biết làm gì, thôi thì đi làm cho nó qua ngày, kẻo ở nhà rộng quá, một mình buồn lắm!”
Trong một cuộc hội thoại, một bà mẹ đã khóc nức nở vì chỉ đứa con gáι phụ rẫy, bỏ bà một mình cô đơn. Bà chỉ có một đứa con gáι duy nhất, chồng chết trong trại cải tạo. Trong bao nhiêu năm, bà đã gồng gánh nuôi con, rồi cùng vượt biên với con, tưởng mang hạnh phúc cho hai mẹ con, ai ngờ cô con chờ đúng 18 tuổi là lẳng lặng xách vali ra đi. Nước mắt bà đã chảy vì chồng, nay lại cạn hết vì con.
Tại những nhà dưỡng lão gần trung tâm Thủ Đô Tị Nạn, có biết bao nhiêu bà mẹ ngày đêm ngóng con đến thăm nhưng vẫn biệt vô âm tín. Một bà cụ suốt ba năm dài, không bao giờ chịu bước xuống giường, vì biết rằng chẳng bao giờ có đứa con nào đến thăm. Bà đã lẳng lặng nằm suốt ngày trên giường như một sự trừng ρhạt chính mình vì đã thươпg yêu con cái quá sức để đến tình trạng bị bỏ bê như hiện tại. Sau ba năm, bà mất vì các vết lở, vì nỗi u uất, mà những người chăm sóc bà vẫn không biết gia cảnh bà như thế nào, vì bà không hề nhắc đến. Có điều chắc chắn là khi bà còn là một thiếu nữ, bà ρhải là một mẫu người làm cho nhiều người theo đuổi, quyến luyến, tôn sùng. Chắc chắn bà đã trải qua bao năm tháng thật tươi đẹρ, vì cho đến khi mất, khuôn mặt bà, những ngón tay bà, và dáng dấρ bà vẫn khoan thai, dịu dàng, ρha một chút quý ρhái. Nhưng tất cả những bí ẩn đó đã được bà mang xuống mồ một cách trầm lặng.
Một buổi chiều tháng 5, tại một tiệm ρhở Việt Nam, một mẹ già đứng tần ngần bên cáпh cửa. Khi được mời vào, mẹ cho biết mẹ không đói, nhưng chỉ muốn đứng nhìn những khuôn mặt vui vẻ, để nhớ đến con mình, đứa con đã bỏ bà đi tiểu bang khác, để mẹ ở với đứa cháu là một kẻ пghiệп rượu, đã hăm dọa ᵭáпh bà hoài. Hắn đã lấy hết tiền trợ cấρ của bà, lại còn xua đuổi bà như cùi hủi. Hôm nay, hắn lái xe chở bà đến đầu chợ, đẩy bà xuống và bảo bà cút đi! Bà biết đi đâu bây giờ?
Trong một căn phòng điều trị tại bệпh viện Ung Thư, một bà cụ đã gào lên nức nở khi người bệпh nằm bên được chuyển đi nơi khác. “Bà ơi! Bà bỏ tôi sao? Bà ơi! Đừng đi! Đừng bỏ tôi nằm một mình! Tôi sợ lắm, bà ơi!” Những tiếng kêu, tiếng khóc nấc nghẹn đó lặρ đi lặρ lại làm người bệпh sắρ chuyển đi cũng khóc theo. Người y tá cũng khóc lặng lẽ. Cả căn ρhòng như ngập nước mắt. Mầu trắng của những tấm trải giường, mầu trắng của tấm áo cáпh của bà cụ như những tấm khăn liệm, tự nhiên sáng lên, buồn bã. Bà cụ nằm lại đó đã không có đứa con nào ở gần đây. Chúng đã mỗi đứa mỗi nơi, như những cáпh chim không bao giờ trở lại.
Trên đại lộ Bolsa, thỉnh thoảng người ta thấy một bà mẹ già, đẩy chiếc xe chợ trên chứa đầy đồ linh tiпh. Mẹ chỉ có một cái nón lá để che nắng che mưa. Khuôn mặt khắc khổ của mẹ như những đường rãnh bùn lầy nước đọng, đâu đó ở chợ Cầu Ông Lãnh, Thủ Thiêm, gần bến Ninh Kiều, Bắc Mỹ Thuận hay ở gần cầu Tràng Tiền, Chợ Đông Ba?
Mẹ đi về đâu, hỡi mẹ? Những đứa con của mẹ giờ chắc đang vui vầy…
 
Phuc Jean

Chủ Nhật, 25 tháng 12, 2016

Luật sư Trịnh Hội viết về bà Đặng Tuyết Mai


 
Bà Đặng Tuyết Mai cùng Trịnh Hội và cháu ngoại
Chưa bao giờ tôi thấy bà Đặng Tuyết Mai muốn chứng tỏ với bất kỳ ai rằng bàlà một ai đó, từng là một bà tướng hay một ‘mệnh phụ phu nhân’.
Đây là một câu chuyện. Nó là một câu chuyện về những kỷ niệm đáng nhớ giữa hai người. Nó cũng là một câu chuyện về một người mẹ, về một gia đình, hoặc cũng có thể là về những gì mình vẫn còn giữ lại được hay đã đánh mất.
Nhưng trên hết, đây là một câu chuyện về tình yêu. Về những gì cuối cùng chúng ta chỉ có, chỉ còn lại ở nhau. Trước khi từng người một, từng người một, kể cả chính mình sẽ phải bước sang một cõi xa xăm khác.
Tôi gặp mẹ Mai lần đầu tiên vào khoảng đầu thập niên 2000, lúc tôi mới quen cô con gái út độc nhất của mẹ. Hôm ấy trời đã khuya và tôi chỉ ghé vào nhà chào hỏi thăm mẹ vài câu trước khi về lại Philippines nơi tôi sinh sống. Tôi vẫn còn nhớ lúc ấy tôi khá lo lắng và hồi hộp. Bởi ‘bác Mai’ không chỉ là mẹ của bạn gái mình mà từ nhỏ tôi đã đọc, nghe và cho biết rất nhiều điều về bà.
Về chuyện tình của mẹ với bố Kỳ. Về lý do tại sao mẹ được cho là văn minh, quý phái. Và dĩ nhiên là về sắc đẹp nổi tiếng của mẹ.
Nhưng thật lòng, ấn tượng đầu tiên của tôi lại không phải là sắc đẹp của mẹ. Có lẽ vì lúc ấy mẹ đã không còn trẻ như lúc mới về làm vợ bố để đóng vai trò là đệ nhất phu nhân của Miền Nam Việt Nam vào giữa thập niên 1960.
Lúc ấy tôi cũng chưa có dịp tiếp xúc nhiều với mẹ để có thể cho là mẹ văn minh, quý phái đến dường nào. Điều mà làm cho tôi ấn tượng nhất, nhớ nhất mãi cho đến ngày hôm nay đó là sự hoà đồng, thân thiện ở mẹ. Mẹ đã hỏi tôi muốn uống gì không và tự tay đi lấy nước cho tôi uống trước khi ân cần hỏi thăm sức khoẻ cũng như công việc tỵ nạn của tôi lúc ấy ở Philippines
 Mẹ đã không nói gì đến mẹ, càng không (và từ đó cho đến nay) chưa bao giờ tôi thấy mẹ muốn chứng tỏ với bất kỳ ai rằng mẹ là một ai đó, từng là một bà tướng hay một ‘mệnh phụ phu nhân’ đã gặp được biết bao lãnh tụ, vua chúa. Đối với tất cả mọi người, già cũng như trẻ, mẹ luôn nhã nhặn, ân cần và gần gũi bất kể họ thuộc thành phần nào và đến từ đâu.
Đây có lẽ là lý do tại sao có khá nhiều người được mẹ nhận làm con nuôi, từ bạn bè của con ruột cho đến vợ hoặc chồng của 5 người con kế. Đối với mẹ, hình như con rể cũ hay con dâu mới không quan trọng cho lắm. Mẹ vẫn đối xử như ngày nào nếu không muốn nói là còn gần nhau hơn. Tôi là một thí dụ điển hình.
Tôi vẫn còn nhớ lúc cả gia đình còn chung sống với nhau, mẹ vẫn luôn nhỏ nhẹ, từ tốn với tất cả mọi người, kể cả những người giúp việc trong nhà. Ở Mỹ cũng thế. Về Việt Nam cũng thế. Những người từng làm việc trong nhà lúc mẹ còn là ‘bà’ bảo mẹ từ đó đến giờ vẫn vậy. Không bao giờ lớn tiếng, gọi những người giúp việc hay cận vệ là ‘thằng này’ hay ‘con kia’ kể cả lúc họ có lỡ làm điều gì sai.
Mẹ Mai là thế và đây là một trong những điều mà tôi sẽ luôn nhớ về mẹ, mỗi khi có một ai nhắc đến mẹ.
Một điều mà tôi vẫn thường tự cho là mình rất may mắn mới có được đó là những người mà tôi thương yêu nhất, kính phục nhất, gần gũi nhất đều là những người không chỉ biết chạy theo đồng tiền. Tôi vẫn còn nhớ lúc tôi quyết định lấy Duyên và đến xin phép mẹ, mẹ chỉ hỏi tôi đúng một câu. Đó là tôi có hứa sẽ thương yêu hai đứa con kế Maili và Yenli như con ruột của mình hay không?

kỳ duyên
Bà Đặng Tuyết Mai và Kỳ Duyên
Thật lòng lúc đó tôi chỉ có thể làm được từng ấy vì sự nghiệp chưa có, nhà cửa, xe cộ, tiền bạc, danh tiếng lại càng không. Thế vậy mà đã đủ đối với mẹ.
Trong suốt thời gian chung sống dưới một mái nhà, mẹ Mai chưa bao giờ thúc giục hay đòi hỏi là tôi phải làm ra tiền như người này hay phải có chức phận như người kia. Mẹ luôn trân trọng và ủng hộ việc làm của tôi, giúp đỡ người tỵ nạn trước đây hay tranh đấu cho một đất nước Việt Nam tự do, nhân bản hơn.
Còn nhớ cách đây chỉ vài tuần, mặc dù mẹ đang rất mệt mỏi nằm trên giường bệnh trong nhà thương nhưng lúc tôi vào thăm mẹ vẫn bảo là cho mẹ góp 200 đôla vào quỹ của VOICE để giúp những nạn nhân của lũ lụt ở miền Trung.
Tôi thương mẹ cũng vì thế. Sẽ nhớ mãi về mẹ cũng bởi thế.
Nhất là lúc tôi và con gái mẹ quyết định chia tay. Có lẽ mẹ là người buồn nhất, thất vọng nhất và khóc nhiều nhất, chứ không phải là hai đứa con của mẹ.
‘Một chuẩn mực‘
Bởi trên hơn hết, mẹ là người luôn đặt nặng hai chữ thủy chung, tình nghĩa lên hàng đầu. Không chỉ đối với tình yêu đôi lứa mà còn đối với tình yêu trong gia đình, với người thân. Những lúc tôi thấy mẹ vui nhất là lúc mẹ được tận tay chăm sóc, nấu nướng cho bạn bè, con cháu trong nhà cùng nhau ăn uống, hò hát, chung vui. Mẹ không thường nấu mỗi ngày. Nhưng đã nấu thì món nào ra món đó, nhất là món gà hấp rượu Pháp không thể nào ngon hơn của mẹ.
Mãi mãi đó sẽ là những kỷ niệm đáng nhớ giữa tôi và mẹ.
Mỗi khi tôi làm gỏi cuốn, tôi sẽ nhớ về mẹ. Vì đó là món mà mẹ thích tôi làm cho mẹ ăn.
Mỗi khi có một ai đó khuyên tôi nên lấy vợ mới, tôi sẽ nghĩ đến mẹ. Vì đó là điều mà mẹ vẫn thường mong, muốn tôi sớm tìm được hạnh phúc mới.
Mỗi khi tôi nghĩ đến cách xử sự, ăn nói như thế nào cho từ tốn, vừa phải đối với các thành phần khác nhau trong xã hội, tôi cũng sẽ nghĩ đến mẹ. Vì mẹ đã tạo ra một chuẩn mực mà tôi muốn học được và noi theo.
Nhưng có lẽ tôi sẽ nhớ đến mẹ nhiều nhất mỗi khi tự tay sờ vào chiếc bông tai trái mà mình đang đeo. Vì từ ngày tôi tháo nhẫn cưới ra thì mẹ là người đã bỏ công đi mua để xỏ cho tôi chiếc bông tai đầu tiên. Mẹ bảo từ đây về sau tôi cần phải tháo ra nữa. Vì tôi sẽ mãi là con của mẹ.
Đúng thật vậy đấy mẹ ạ. Con sẽ mãi đeo chiếc bông tai này. Bởi con là con của mẹ. Vì cho dù bất kỳ chuyện gì xảy ra thì chúng ta cũng vẫn có thể thương yêu, bảo bọc nhau như lời mẹ từng nói. Nó làm cho con nhớ lại lời trong phần điệp khúc của bài hát ‘Nature Boy':
The greatest thing
You will ever learn
Is just to love
And be loved,
In return
Điều kỳ diệu nhất
(Mà bạn sẽ học được
Đó là hãy thương yêu nhau
Để nhận lại được tình yêu thương).
Cảm ơn mẹ đã dạy cho tôi bài học kỳ diệu nhất. Để tôi và mọi người sẽ luôn nhớ về mẹ.

Chủ Nhật, 27 tháng 12, 2020

Thằng Ngốc - Đinh Công Bình

 

THẰNG NGỐC

Tác giả: Đinh Công Bình

Thật ra, nó có tên do cha mẹ đặt thật đẹp. Phạm Bảo Long, con rồng quý
của bố nó. Nhưng cho tới bây giờ, cái tên mà nó được người ta gọi
nhiều nhất lại không phải là Long. Thay vào đó, nó đã trải qua rất
nhiều tên khác nhau mà người ta đặt ra để gọi nó: Ngu, Ngốc, Mát, Tưng
Tửng, Khờ, v.v… Chẳng hiểu tại sao người ta sàng đi, sàng lại rồi
ngừng ở chữ Ngốc! Ngay cả anh chị của nó cũng gọi nó là Ngốc. Trong
một lần bốc đồng, thằng Lân, anh nó, đã láo lếu đổi chữ “Bảo” trong
tên đệm của nó thành chữ “Ngoc”, thế là nó trở thành Phạm (Ngoc) Long!
Vài năm trôi qua, tiếng Việt của thằng Lân khá hơn, nên đã “đội mũ”,
“đeo kiếm” để “Ngoc” chính thức trở thành “Ngốc”. Ông bà Phan, bố mẹ
nó, mặc dầu cố tránh nhưng vì quen tai, lâu lâu cũng gọi nó là Ngốc.
Mà này, không những nó không giận mà ngược lại, nó có vẻ vui khi thấy
người xung quanh có những trận cười khi gọi nó là Ngốc. Nói cho bằng
đúng, trong trí khôn chậm chạp của nó, nó chả biết giận. Cho tới hôm
nay, trí khôn trong thân hình gần 30 tuổi của nó tương đương với trí
khôn của đứa bé 8, 9 tuổi.
Những mẩu đàm thoại hằng ngày giữa nó với anh chị hoặc bố me đều là
những câu đơn sơ, vô tội vạ. Những câu tiếng Việt “ba rọi”, ngây thơ
của nó có lúc đã trở thành những câu nói thật tức cười. Ông bà Phan
còn nhớ thời kỳ Lân, Lan, và nó mới học tiếng Việt, chúng nó thích
ngồi xem những băng truyện cổ tích Việt Nam. Một hôm ba anh em đang
xem phim với bố, tới đoạn nghe một nhân vật trong phim dùng chữ “cụ
ông”, “cụ bà”, thằng Lân thắc mắc hỏi bố hai chữ đó có nghĩa là gì.
Ông Phan ôn tồn:
- “Cụ” là một lời lễ phép được dùng khi nói chuyện với một người già,
một “old person”.
Lập tức, thằng Lân nhìn bố rồi nói một cách khôi hài:
- Cụ Bố.
Vừa lúc đó thì bà Phan từ trong bếp bước vào phòng khách, chưa kịp nói
gì thì thằng Ngốc đã đứng lên chỉ vào mẹ rồi nói lớn:
- Cụ Mẹ!
Bà Phan tá hỏa. Trợn trừng đôi mắt giận dữ:
- Chúa ơi, đứa nào dậy thằng Ngốc nói tục!
Anh em thằng Ngốc chẳng hiều tại sao mẹ giận. Riêng ông Phan thì vừa
ôm bụng cười vừa giải thích. Bà Phan thở phào nhẹ nhõm sau khi biết
rằng đó chỉ là một câu nói vô tội vạ, rất “ngố”, của thằng Ngốc.
Rồi thằng Ngốc cũng được cắp sách đi học. Cũng may mà nước Mỹ có
chương trình học tập cho những đứa trẻ như nó. Nếu gia đình ông bà
Phan không tỵ nạn sang đây thì chắc nó chẳng bao giờ được biết đến ghế
nhà trường. Nó cũng mang về những phiếu điểm và phần thưởng cuối năm
nhưng bố mẹ nó chỉ xem cho qua rồi bỏ sang một bên. Cũng may mà nó
không đủ khôn để nhận ra sự thất vọng của bố mẹ khi so sánh phiếu điểm
của nó với của Lân và Lan, chị nó. Cũng may mà nó không nghe, hay ít
nhất, không hiểu những lời than van của ông bà Phan khi nói về nó. Đối
với ông bà, thì thằng Lân và con Lan rồi đây sẽ là niềm hãnh diện, sẽ
là ông này bà nọ, sẽ có nhà cao cửa rộng, sẽ là đìểm để ông bà tựa
nương lúc tuổi già, còn thằng Ngốc thì chắc mãi mãi sẽ chỉ là một gánh
nặng mà họ sẽ không bao giờ có hy vọng trút bỏ được!
Ngày tháng trôi qua, thằng Ngốc cứ thế ăn no chóng lớn. Trí óc nó chậm
phát triển nhưng thân thể thì càng ngày càng nảy nở. Từ năm 14 tuổi nó
đã cao hơn các anh chị nó cả cái đầu. Nó chẳng làm được những việc lớn
nhưng ngược lại, rửa chén, quyét nhà, rửa xe, nói chung là những việc
lặt vặt không cần tính toán thì nó làm giỏi hơn cả Lân và Lan. Thằng
Ngốc lại chẳng mấy khi bị bệnh. Một trong những niềm vui của nó là đi
nhặt ống loong cho nhà thờ. Có những ngày mưa, nó ướt như chuột lột,
thế mà nó chả ốm đau gì cả! Rồi khác với các anh chị và những đứa trẻ
cùng tuổi, nó chẳng bao giờ đòi hỏi bố mẹ phải mua cho nó thứ gì. Đôi
giầy ba ta và vài bộ quần áo mua trong Wal-Mart hoặc mua lại trong chợ
bán đồ cũ cũng đã quá đủ. Thằng Ngốc chẳng màng tới những chuyện đã
xảy ra hôm qua hay những bất trắc có thể đến ngày mai. Nó sống hoàn
toàn cho hiện tại. Đó hình như cũng là mối đau đớn của bố mẹ nó.
Năm 19 tuổi thằng Ngốc “tốt nghiệp” trung học. Nó cũng đội mũ, mặc áo
ra trường như các anh chị. Nó thấy bố mẹ, nhất là mẹ, rươm rướm nước
mắt khi nó ôm mảnh bằng tốt nghiệp đến. Nó đâu có đủ trí khôn để phân
tách xem đó là những giọt nước mắt vui hay buồn. Nó đâu biết rằng ngày
Lân và Lan ra trường bố mẹ nó vui bao nhiêu thì sau buổi ra trường của
nó, bố mẹ nó buồn bấy nhiêu. Có lẽ buồn nhất là vì bố mẹ nó không thể
khoe với bất cứ ai là nó sẽ theo ngành gì và đã được trường nào nhận
cho học. Mai đây, nó sẽ làm gì để sống? Ông bà sẽ phải nuôi, phải hầu
hạ nó đến bao giờ? Khi ông bà về già, sau khi ông bà chết, thì ai sẽ
nuôi nó?
Sau ngày “ra trường”, để nó lanh quanh ở nhà cũng thấy uổng, ông Phan
bảo nó xuống tàu theo ông đi đánh tôm ở vịnh Mễ Tây Cơ. Nó không lái
tàu được, không vá lưới được, nhưng ông nhận thấy công việc nhặt tôm
và khuân vác thì nó làm bằng mấy người khác. Thêm vào đó, nó chẳng
phàn nàn và cũng chẳng đòi hỏi “tiền phần” như những người làm công
khác. Ngày qua ngày, nó chỉ biết ăn, ngủ, rồi nhặt tôm. Cuối tuần sau
khi bán tôm xong, bố nó chở nó đi ăn McDonald’s rồi cho nó năm đồng.
Nó cầm tiền về khoe mẹ rồi bỏ vào con heo đất để Chúa Nhật lại “mổ”
heo mang lên bỏ vào thùng từ thiện trong nhà thờ - cái thói quen mà mẹ
đã tập cho nó từ bé.
Đi biển với bố được năm năm thì trận bão Katrina thổi vào thành phố
nơi gia đình nó cư ngụ. Sau những ngày chạy bão, gia đình nó trở về
trong cảnh nhà tan tàu nát! Chẳng biết làm gì khác để sống, bố nó cố
sửa lại con tàu để đi làm hầu có tiền trang trải chi phí nhà cửa. Các
anh chị của nó đã thành công, cả hai đều đã lập gia đình, công việc
ngon lành, nhà lớn, xe hiệu nhưng khi bố hỏi mượn tiền để sửa lại căn
nhà hư hại thì cô cậu thoái thác. Năn nỉ mãi, cô cậu gởi về cho bố mẹ
được vài trăm bạc rồi im luôn! Nhìn lại những năm tháng ông bà hy sinh
bòn nhặt từng đồng để gởi cho cô cậu trang trải tiền ăn, tiền học,
tiền tiêu, tiền xe, tiền chưng diện… Ông bà thở dài, tự an ủi, thôi..
nước mắt chảy xuôi….
Với số tiền vay mượn và ít tiền giúp đỡ của chính phủ liên bang cùng
với công sức của ông và thằng Ngốc, sau gần một năm sửa chữa, con tàu
cũng ọc ạch chạy ra biển. Thôi, cứ sửa tạm để đi làm rồi khi có tiền
sẽ tu bổ lại những chỗ còn tạm dùng được. Ông Phan tự an ủi thế.
Thả mẻ chã đầu tiên được vài tiếng, mặc dầu biết là nó không lái tàu
được nhưng ông Phan cũng nhờ thằng Ngốc đứng cầm tay lái để con tàu
khỏi quay rồi ông và chú làm công ra phía sau kéo chã. Sóng khá lớn,
con tàu vật vã trên ngọn sóng làm cho việc kéo chã thật khó khăn. Gần
mười phút sau thì bọc tôm khổng lồ mới được đưa lên lơ lửng trên sàn
tàu. Nhìn bọc bôm cá to bằng nửa chiếc xe hơi, ông Phan vui ra mặt.
Vạn sự khởi đầu nan nhưng mẻ lưới đầu tiên mà trúng như thế này thì
đúng là tổ đãi! Sau chuyến này chắc ông sẽ trả được một phần nợ, sắm
sửa thêm được những thứ cần thiết, thậm chí ông có thể xẻo ra vài trăm
đô tặng riêng vợ để bà Phan có thể mua được vài bộ quần áo thay thế
cho những bộ đã bị bão cuốn đi. Hình dung khuôn mặt rạng rỡ của vợ khi
cầm tiền đi shopping, ông quên cả sóng gió, quên cả mệt.
Bình thường nếu không có sóng gió, và khi bọc tôm đã được treo lủng
lẳng trên sàn tàu, ông Phan chỉ cần cởi sợi dây cột đuôi bọc tôm thì
khối tôm cá sẽ tuôn ra thành một đống trên sàn tàu. Khổ nỗi sóng lớn
quá. Bọc tôm cứ lắc qua bên này, quật sang bên kia. Ông Phan cầm sợi
dây thừng đã cột sẵn trên bọc tôm, cố giữ để nó đừng vùng vẫy theo
ngọn sóng. Đang vật lộn với bọc tôm thì… ẦM, cây cần cẩu dùng để cẩu
bọc tôm bị gẫy. Nó gẫy ở ngay đoạn ông chưa có tiền sửa!
- Lạy Chúa tô..i…
Tiếng la thất thanh chưa dứt thì bọc tôm cá ngàn cân quật ông Phan vào
thành tầu. Đầu ông vẹo về một bên còn phần thân thể từ bụng trở xuống
thì bị kẹt bên dưới túi tôm cá - tựa như con voi đè lên con nai gầy.
Con tàu vẫn tiếp tục vùng vẫy. Cố gắng hết sức mà sau gần năm phút chú
làm công vẫn không thể cứu ông Phan ra khỏi núi tôm cá. Ngoài thằng
Ngốc ra thì chẳng ai có thể giúp chú trong lúc này. Chú làm công chạy
vào phòng lái, vội vã cột lại dây để tay lái khỏi quay rồi lôi thằng
Ngốc ra phía sau cứu bố nó. Bình thường nó đã khỏe hơn người nhưng hôm
nay, trong lúc khẩn cấp này, hình như sức mạnh của thằng Ngốc được
tăng lên gấp đôi. Nó hết đẩy rồi lại kéo bọc tôm để chú làm công tìm
cách giải thoát bố nó. Khoảng gần năm phút sau hai chú cháu mới lôi
được ông Phan ra khỏi đống tôm cá và khênh ông trong phòng lái. Ông
Phan vẫn bất tỉnh. Trong bộ quần áo ướt tanh mùi tôm cá, thân hình gầy
gò đen đủi của ông thoi thóp thở! Chú làm công đã liên lạc với Coast
Guard và máy bay cấp cứu đang trực chỉ về phía con tàu khốn khổ. Một
giờ sau thì ông Phan được trực thăng mang thẳng vào bệnh viện. Chú làm
công lái con tàu và mang Ngốc về đất liền cho mẹ nó.
Kể từ ngày đó, Ông Phan bị liệt từ thắt lưng trở xuống. Hai cánh tay
ông còn cử động được nhưng chỉ cử động một cách rất yếu ớt. Ngay cả
việc dùng muỗng xúc cơm ông cũng phải nhờ đến bà Phan hoặc thằng Ngốc
giúp. Rồi ông bà không có bảo hiểm nên tiền bán chiếc tàu cũng chỉ đủ
trang trải ít chi phí trong vài tháng. Bà Phan bắt buộc phải trở lại
công việc cạy sò, lột tôm cho một hãng bào chế hải sản gần nhà nhưng
với số tiền thu nhập ít ỏi, cuộc sống gia đình ông bà vẫn thiếu trước
hụt sau. Vài trăm ngàn nợ bệnh viện chẳng biết bao giờ mới trả được?
Thông cảm với hoàn cảnh của ông bà Phan, bệnh viện đã cho ông bà cơ
hội trả góp mỗi tháng vài trăm đồng. Nhưng mặc dù vài trăm, với tình
trạng này, một ngày rất gần đây chắc ông bà Phan cũng đành phải chạy
nợ! Thằng Lân và con Lan có mang gia đình về thăm nhưng được khoảng
hai tuần thì cũng phải ai về nhà nấy.
Rồi thằng Ngốc lại có công việc mới. Sau vài tuần được mẹ chỉ dẫn, nó
đã giúp được mẹ đút cơm, thay tã, bế bố cho mẹ tắm rửa v.v... Những
lúc cần mua bình sữa, bó rau, cuộn giấy, mẹ nó viết vào tờ giấy, đưa
tiền rồi nhờ nó đạp xe ra tiệm tạp hóa ở đầu đường gần nhà mua cho bà.
Ông chủ tiệm tạp hóa biết nó từ bé và biết rõ hoàn cảnh hiện tại của
bố mẹ nó nên bao giờ cũng nhiệt tình giúp mỗi khi nó ra mua đồ. Bà
Phan thầm nghĩ, cũng may mà có thằng Ngốc, cũng may mà trời cho nó to
lớn có sức khỏe; bằng không, chẳng sao mà bà có thể lo cho ông Phan
như thế này được - nhất là những lúc phải bế ông từ chỗ này đến chỗ
khác. Ông bà Phan đã nhiều lúc tự hỏi không hiều vì nó quá khờ khạo,
quá Ngốc, hay vì nó thật tâm thương ông bà nên đã không nhận ra hoặc
không ghê tởm sự thối tha bẩn thỉu mỗi khi làm vệ sinh, thay tã cho bố
nó?
Ông Phan sống trong tình trạng này được ba năm thì sức khỏe yếu dần.
Mặc dầu vẫn được chăm sóc kỹ lưỡng, ông thường xuyên bị lở loét, xưng
phổi, cao áp huyết, và những bệnh liên quan đến hô hấp. Gia đình hai
đứa con lớn, vì nhiều vấn đề, ít khi về thăm ông bà. Những kỳ vọng mà
ông bà đã đặt vào Lân và Lan mười mấy năm trước chắc sẽ không bao giờ
thành sự thật! Sự chu đáo của bà Phan và của thằng Ngốc có làm cho ông
vui nhưng cũng không thể nào xóa đi được sự tuyệt vọng mỗi khi ông
nghĩ về bệnh tật của mình! Ông biết bà Phan và thằng Ngốc, qua con mắt
trìu mến ngây thơ của nó, vẫn muốn ông hiện hữu trên đời này. Mặc dầu
vất vả trăm bề nhưng vợ ông và thằng Ngốc không bao giờ than van khi
phải giúp đỡ hầu hạ ông . Những năm tháng nằm liệt trên giường bệnh,
ông đã hiểu rõ và nhận ra đâu là nghĩa, đâu là hiếu. Ông nhận ra rằng
thằng Ngốc không phải là gánh nặng mà ngược lại nó là người con duy
nhất đã, đang, và sẽ gánh những gắnh nặng cho ông bà.
Trong một đêm trằn trọc, nằm ôn lại những ngọt bùi cay đắng của cuộc
đời, ông bà Phan nhận ra rằng trong cuộc đời gần 30 năm, họ chưa thấy
thằng Ngốc đòi hỏi bất cứ điều gì. Chưa bao giờ nó đòi hỏi ông bà, hay
những người chung quanh, phải như thế này, phải như thế nọ. Trong con
người bao dung, trong ánh mắt thơ ngây, nụ cười nhân ái, hình như có
lúc nó đã gián tiếp nói với ông bà rằng “con không phải là đứa trẻ
thông minh, lanh lẹ, như bố mẹ mong muốn. Nhưng con là con của bố, là
con của mẹ. Con không chọn để được sinh ra làm một thằng “Ngốc”, ngay
cả cái tên “Ngốc” cũng do người ta gán cho con chứ không phải do con
chọn. Vậy con xin bố mẹ thương và chấp nhận con như con thương và chấp
nhận bố mẹ…..” Ông bà Phan nhìn nhau ứa nước mắt. Phải rồi, cả đời,
thằng Ngốc đã cho nhiều hơn nhận. Nó cho mà không bao giờ đòi hỏi một
điều kiện. Tình yêu mà nó dành cho mọi người là một tình yêu tuyệt
đối, chân thật, không vụ lợi. Trong tim của thằng Ngốc chất chứa tình
yêu của vị thánh hiền. Nó đã dạy cho ông bà bài học tình yêu. Qua sự
bao dung của nó, người chung quanh, nếu để ý, sẽ nhận ra rằng, con
người khôn hay ngốc, sang hay hèn, đều có những nét đẹp (hoặc xấu) của
riêng họ.
Cuối cùng cái ngày đó cũng phải tới! Mẹ nó nhờ nó ngồi trên chiếc ghế
bên cạnh giường rồi đưa tay vào nâng đầu bố dậy để ông dễ thở. Ông
Phan biết là ông sắp từ bỏ những gì thân yêu nhất. Trong hơi thở mong
manh, ông nhìn bà Phan và nhìn thằng Ngốc trăn trối:
- Cám ơn em… cám ơn con! Anh…có…một điều muốn..nói…với em. Từ nay… em…
và….các con… đừng gọi…Long là… thằng… Ngốc… nữa… Gọi nó… là… Ngọc. Nó
là… viên… Ngọc quý!
Trong tiếng nức nở của bà Phan và trên cánh tay êm ấm của thằng Ngọc,
ông trút hơi thở cuối cùng.
Gia đình Lân và Lan vẫn chưa về đến nơi!

Hoa Huỳnh chuyển

Kính Mời Đọc Thơ THU CẢM của ĐÔNG A HỒ NGUYỄN Và Các Thi Hửu HỌA

  THU CẢM Mùa Thu cứ trở lại nơi này Đổ lá vàng cho gió thổi bay Mây trắng lồng xương trơ nắng héo Cỏ xanh hứng giọt lạnh sương đầy Chân xa ...