Thứ Bảy, 17 tháng 5, 2014

Thơ lục bát - Trần Lâm Phát

Thơ lục bát

  1. Định-nghĩa:

Thơ lục bát là thể thơ thuần túy cuả người Việt-nam. Bài thơ bắt đầu bằng câu sáu chữ và chấm dứt bằng câu tám chữ. Thơ lục bát dùng để viết truyện.

Thí dụ:
Chiều chiều ra đứng ngõ sau
Trông về quê mẹ ruột đau chín chiều
(Ca dao)

  1. Cách gieo vần:

Chữ thứ sáu của câu sáu chữ phải vần với chữ thứ sáu của câu tám chữ và chữ thứ tám của câu tám phải vần với chữ thứ sáu của câu sáu tiếp theo và cứ thế cho đến cuối bài.

Thí dụ:
Đầu lòng hai ả tú nga
Thuý Kiều là chị em là Thuý Vân
Mai cốt cách tuyết tinh thần
Mỗi người một vẽ mười phân vẹn mười
(Truyện Kiều, Nguyễn Du)

  1. Luật bằng trắc:

Vần bằng (B) gồm những chữ có dấu  huyền hay không dấu.
Vần trắc (T) gồm những chữ có dấu  sắc, dấu hỏi, và dấu ngã.

Theo đúng luật thì câu lục và câu bát phải như sau:

BB TT BB
BB TT BB TB

Thí dụ:
Rồng vàng tắm nước ao tù
B        B      T     T      B  B 
Người khôn ở với người ngu bực mình
B         B       T T    B        B    T     B
(Ca dao)

Vì đúng luật rất là khó nên nhà thơ chỉ theo luật “ Nhất Tam Ngũ bất luận, Nhì Tứ Lục phân minh 一 三 五 不 論, 二 四 六 分 明” nghĩa là chữ thứ nhất, chữ thứ ba, chữ thứ năm không cần đúng luật và chữ thứ hai,  chữ thứ tư, chữ thứ sáu và  chữ thứ  tám phải theo đúng luật.

Thí dụ:
Nếu tôi tái thế làm người
        B         T            B
Nguyện làm thầy giáo trọn đời kiếp sau
               B            T             B            B
 (Trần-Lâm Phát)

Mặc dù chữ thứ sáu và chữ thứ tám đều là vần bằng nhưng nó bắt buộc phải khác thanh: nếu chữ thứ sáu (yêu vận) không dấu (phù bình thanh) thì chữ thứ tám (cước vận) phải dấu huyền (tầm bình thanh) hoặc ngược lại.

Thí dụ:
Trăm năm trong cõi người ta
Chữ tài  chữ mệnh khéo là ghét nhau
(Truyện Kiều, Nguyễn Du)

Bầu ơi thương lấy bí cùng
Tuy rằng khàc giống nhưng chung một giàn
(Ca dao)

Khi nào câu 6 chia làm 2 đoạn dài bằng nhau thì chữ thứ 2 có thể là vần trắc.
Thí dụ:
Dù mặt lạ, đã làm quen
        T         T          B
(Truyện Bích câu kỳ ngộ)

Virginia ngày 18 tháng 9 năm 2007
                                                Trần-Lâm Phát
(ảnh:vulieu.net)





Thứ Năm, 15 tháng 5, 2014

Thơ Đường Luật - Trần Lâm Phát


Thơ Đường luật

  1. Định-nghĩa:

Thơ Đường luật (唐 律) là thể thơ thuần tuý của  người Trung hoa, nó bắt đầu từ đời Đường (618-907) và có khi còn gọi là cận thể (近 體). Nếu bài thơ gồm có 4 câu  thì gọi là tứ tuyệt và nếu gồm có 8 câu thì gọi là bát cú.  Trong bài thơ nếu mỗi câu có 5 chữ  thì gọi là ngũ ngôn và nếu mỗi câu có 7 chữ thì gọi là thất ngôn.
Vì thế thơ Đường có thể phân ra làm 2 loại:
·         Tứ tuyệt gồm có ngũ ngôn hoặc thất ngôn tứ tuyệt
·         Bát cú gồm có ngũ ngôn hoặc thất ngôn bát cú

Thí dụ: thất ngôn tứ tuyệt

                        月   落   嗚   啼   霜   滿   天
                Nguyệt lạc    ô      đề    sương  mãn  thiên
江   風   魚   火   對   愁   眠
                Giang phong ngư  hoả    đối     sầu    miên
故   蘇   城   外   寒   山   寺
                Cô      tô    thành ngoại   hàn    sơn     tự
夜   半   鐘   聲   到   客   船
Dạ    bán  chung thanh   đáo   khách thuyền
         
                                                (張 級: 風 橋 夜 泊)
                                                                        (Trương Kế: Phong Kiều Dạ Bạc)

Bài viết này chú tâm đến thể thất ngôn bát cú.


  1. Cách gieo vần:

Thất ngôn bát cú là thể thơ Đường thông dụng nhất. Bài thơ phải có 5 vần  giống nhau (độc vận) và thông thường là vần bằng. Chữ cuối của câu một phải vần với chữ cuối của các câu chẵn (2, 4, 6, 8).

  1. Luật bằng trắc:

Vần bằng (B) gồm những chữ có dấu  huyền hay không dấu.
Vần trắc (T) gồm những chữ có dấu  sắc, dấu hỏi, dấu ngã và dấu nặng.

Muốn biết bài thơ thuộc thể loại nào, đọc giả phải nhìn vào chữ thứ nhì của câu một. Nếu chữ ấy là vần bằng thì bài thơ thuộc luật bằng và ngược lại chữ ấy là vần trắc thì bài thơ thuộc luật trắc.
Chữ thứ 7 câu 1 định loại vần cho bài thơ. Nếu là vần bằng thì bài thơ vần bằng; nếu  là vần trắc thì bài thơ vần trắc.


Luật bằng
x: không cần theo luật
Luật trắc
x: không cần theo luật

Chính luật
Thông luật
Chính luật
Thông luật
BBTTTBB
xBxTxBx
TTBBTTB
xTxBxTx
TTBBTTB
xTxBxTx
BBTTTBB
xBxTxBx
TTBBBTT
xTxBxTx
BBTTBBT
xBxTxBx
BBTTTBB
xBxTxBx
TTBBTTB
xTxBxTx
BBTTBBT
xBxTxBx
TTBBBTT
xTxBxTx
TTBBTTB
xTxBxTx
BBTTTBB
xBxTxBx
TTBBBTT
xTxBxTx
BBTTBBT
xBxTxBx
BBTTTBB
xBxTxBx
TTBBTTB
xTxBxTx


Bài thơ  Phong Kiều dạ bạc của Trương Kế thuộc luật trắc, vần bằng vì  trong câu một, chữ lạc là vần trắc và chữ thiên là vần bằng.

Bài thơ Qua đèo ngang thuộc luật trắc (chữ thứ 2 câu 1: “tới” vần T) và vần bằng (chữ thứ 7 câu 1 “tà” vần B ).

Vì đúng luật rất là khó nên nhà thơ chỉ theo thông luật “Nhất Tam Ngũ bất luận, Nhì Tứ Lục phân minh” nghĩa là chữ thứ nhất, chữ thứ ba, chữ thứ năm không cần đúng luật và chữ thứ hai, chữ thứ tư, chữ thứ sáu phải theo đúng luật.
                          
  1. Cách đối:

Có 2 cách đối: đối ý và đối chữ.
Đối ý là 2 ý tưởng chọi nhau.
Đối chữ là đối luật bằng trắc như vần bằng đối với vần trắc và phải cùng tự loại như danh từ đối với danh từ, tính từ đối với tính từ, trạng từ đối với trạng từ, động từ đối với động từ v.v.

Trong bài thơ bát cú Đường luật, câu 3 đối với câu 4 và câu 5 đối với câu 6.
Hãy quan sát bài Qua đèo ngang của bà Huyện Thanh Quan:

Bước tới đèo ngang bóng xế tà
Cỏ cây xanh lá đá chen hoa
Lom khom dưới núi tiều vài chú
Lác đác bên sông rợ mấy nhà
Nhớ nước đau lòng con quốc quốc
Thương nhà mõi miệng cái gia gia
Dừng chân đứng lại trời non nước
Một mảnh tình riêng ta với ta

Câu 3 và câu 4 đối nhau về luật bằng trắc và loại tự :
Lom khom (BB) vs Lác đác (TT)
dưới núi (TT) vs bên sông (BB)
tiều vài chú (BBT) vs rợ mấy nhà (TTB)

Câu 5 và câu 6 cũng tương tự

5.      Niêm:

Niêm là sự liên lạc về âm luật của 2 câu thơ.
Hai câu thơ trong thơ Đường niêm với nhau khi chữ thứ nhì của 2 câu cùng 1 luật bằng trắc: bằng niêm với bằng, trắc niêm với trắc.
Câu 1 niêm với câu 8
Câu 2 niêm với câu 3
Câu 4 niêm với câu 5
Câu 6 niêm với câu 7

Trong bài Qua đèo ngang :
Chữ thứ nhì trong câu 1 và câu 8 : tới (T) niêm với mảnh (T)
Chữ thứ nhì trong câu 2 và câu 3 : cây (B) niêm với khom (B)
Chữ thứ nhì trong câu 4 và câu 5 : đác (T) niêm với nước (T)
Chữ thứ nhì trong câu 6 và câu 7 : nhà (B) niêm với chân (B)
Nếu bài thơ không niêm với nhau thì gọi là thất niêm.

6.      Bố cục:

Bài thơ bát cú có 4 phần : đề, thực, luận, kết.
Đề gồm phá đề (câu 1) và thừa dề (câu 2) dùng để mở đầu và đi vào bài.
Thực còn gọi là trạng (câu 3, câu 4) dùng để giải thích đầu bài cho rõ ràng .
Luận (câu 5 và câu 6) dùng để bàn bạc cho rộng nghĩa đầu bài.
Kết (câu 7 và câu 8) dùng để tóm lại ý nghĩa toàn bài.

                                                Virgina, ngày 28 tháng 9 năm 2007

                                                Trần-Lâm Phát
(tác giã đeo kính )

                                               



Thuyên Huy

THEO DẤU BÊN ĐƯỜNG
Trích trong tập thơ “Phía bên trời quên mưa”

Rời Long Hoa
Đóm lửa tàn cuối ngõ
Chợ buổi sáng thưa người
Mùa thu về đâu đó
Vườn trúc lá vàng rơi

Qua Trà Vỏ
Cuối đường giăng bụi đỏ
Rừng thưa lá lâu rồi
Em về nghiêng dáng nhỏ
Hiu hắt một mình thôi

Bỏ Gò Dầu
Ở đó trời nắng muộn
Sông vẫn rẽ đôi dòng
Bên này hoa rụng trắng
Biết còn ai đó không

Ghé Trãng Bàng
Trơ vơ cầu gãy nhịp
Lây lất chuyến xe nghèo
Mất nhau từ khi biết
Đầu đời đã quạnh hiu

Thuyên Huy




CŨNG CÒN TÊN BỐN MÙA

Có một thành phố một con sông
Có pháo hồng mơ chén rượu nồng
Áo thơm vải mới chờ xuân đến
Mai ủ tình xuân bỏ gió đông

Có một cánh phượng một lối đi
Có câu từ giã lúc hạ về
Khẻ trộm nhìn quanh sân trường vắng
Cổng khép hồn tan theo tiếng ve

Có một con tàu một sân ga
Có  lá vàng rơi khóc tuổi già
Đâu đó mùa thu vừa chợt đến
Đưa một người đi xa rất xa

Có một con đò một khách xưa
Có gió heo may buổi trở mùa
Ngấp nghé đông qua khung cửa sổ
Hỏi khẻ lòng nhau lạnh lắm chưa..

Thuyên Huy


RẶNG TRÂM BẦU SẦU BÔNG SIM TÍM

Cuối vườn nhà ai đó
Rặng trâm bầu vừa rộ chín bên sông
Em theo chị về
Chị em mình một cái nón che chung
Chiều trời mưa không dứt
Chị nắm chặt tay em
Đường mưa trơn mưa trợt
Đèn xóm nghèo gió hắt gió hiu
Chị hát vu vơ hái bông sim tím
Cài vội lên đầu giả bộ làm duyên
Nhà mình nghèo
Nghèo luôn cả vách phên
Vài giọt mưa lẻ loi luồn vào kêu róc rách
Chị mắc võng ru em
Trăng nửa khuya chênh chếch
Hàng dừa nước ven bờ ảo nảo tiếng ễnh ương
Buổi sáng
Chị ngồi phơi tóc thấy mà thương
Thương cả cái áo bà ba phai màu sim tím
Mùa gặt cuối năm
Nhiều người từ xa đến
Pháo nổ đì đùng
Chị theo họ bỏ em đi
Chị về bên chồng đôi ngả chia ly
Ngọn đèn dầu giữa khuya
Không người che cứ tắt
Rặng trâm bầu buồn hiu buồn hắt
Chị đi rồi em sợ lắm trời mưa
Bông sim bên đường
Từ đó lưa thưa
Hai chị em mình đôi bờ cách trở
Em nhớ chị
Nhớ theo từng hồi chuông đổ
Không biết giờ này bên ấy chị vui không
Lại một lần
Trầm bầu rộ chín ven sông
Chị ở đó
Em ở đây mù xa vời vợi
Hai mươi mấy năm
Gói đời trong dong ruỗi
Chưa một lần em về lại xóm nghèo xưa
Đường dậm trường bông sim tím dần thưa
Xin nương theo chút gió về bên trời kể lể
Suốt đời này thương mãi chị của tôi

Thuyên Huy
(ảnh:Google)



Thứ Tư, 14 tháng 5, 2014

Vài hàng về thơ Đường Luật - Khôi Nguyên

   VÀI HÀNG VỀ THƠ ĐƯỜNG LUẬT

         Sau 1000 năm Bắc thuộc, nền văn hóa nước ta bị ảnh hưởng nền
văn hóa Trung Hoa một cách trầm trọng.Riêng về mặt Thi Phú,tới thời nhà Hán,
Trung Hoa cũng đã tiến rồi,nhưng cho đến thời nhà Đường mới là thời cực
thịnh và có Thơ Đường Luật ra đời.
         Thơ Đường Luật có những luật lệ ràng buộc,đòi hỏi thi sĩ phải tuân hành .
Nếu ai sai phạm hoặc không tuân thủ thì thơ của họ gọi là thơ tự do hay Cổ Phong.
         Thơ Đường Luật thông dụng là thơ Thất Ngôn Bát Cú luật Bằng vần Bằng ,
và thơ Thất Ngôn Bát Cú luật Trắc vần Bằng . Thể thơ này một bài gồm có 8 câu ,
5 vần , mỗi câu 7 chữ .Tám câu được phân chia và gọi như sau :
- Câu 1&2 gọi là Đề : Nhập đề.
- Câu 3&4  gọi là Thực ( Trạng): Tả đề : Nói rõ thêm đề.
            Hai câu này phải đối nhau.
-Câu 5&6 gọi là Luận : Bàn rộng thêm đề.
            Hai câu này phải đối nhau.
-Câu 7&8 gọi là Kết : Kết thúc đề.
            Khi xong bài, ghép đề và kết lại, xem bài thơ có bị lạc đề không?
            Như thế, một bài thơ Thất Ngôn Bát Cú có thể tách ra bốn bài thơ
Thất Ngôn Tứ Tuyệt bằng cách ghép:
- Đề và Thực
-Luận và Kết
-Thực và Luận
-Đề và Kết.
Nhiều đoạn tứ tuyệt ghép lại thành Thất Ngôn Trường Thiên.
Hai thể thơ thông dụng là: Luật Bằng vần Bằng và Luật Trắc vần Bằng.

Luật Bằng vần Bằng
BBTTTBV

TTBBTTV

TTBBBTT

BBTTTBV
BBTTBBT
TTBBTTV
TTBBBTT
BBTTTBV



Luật Trắc vần Bằng



TTBBTTV

BBTTTBV

BBTTBBT
TTBBTTV
TTBBBTT
BBTTTBV
BBTTBBT
TTBBTTV

Luật Bằng Trắc cho phép 1-3- 5 bất luận.
Nếu chữ thứ 5 mà T đổi qua  B thì được.
Còn vần B đổi ra T thì không nên.
                                          2-4-6 phân minh.
Luật Đối
 Một bài thơ Thất Ngôn Bát Cú phải đối nhau ở câu 3&4, 5&6.
Có 3 cách đối:
-Đối thanh: BT
-Đối ý:Thuận nghịch ý diễn tả
-Đối từ : Danh từ , tĩnh từ , động từ , trạng từ.

Sau đây là 2 bài thơ minh họa.
                                           -Luật Bằng Vần Bằng

           Anh Nói Khoác
Ta con ông Cống cháu ông Nghè ,
Nói có trên trời dưới đất nghe,
Sức mạnh Hạng Vương(1) cho một búng,
Cờ cao Đế Thích(2) chấp đôi xe,
Nhảy ùm xuống biển lôi tàu lại,
Chạy tốc lên non cõng cọp về,
Độ nọ vào chơi trong nội phủ
Ba ngàn Công Chúa phải lòng mê .
                  Vô danh


      -Luật Trắc Vần Bằng

                Quốc Kêu
Khắc khoải sầu đưa giọng lửng lơ
Ấy hồn Thục Đế(3) thác bao giờ .
Năm canh máu chảy đêm hè vắng,
Sáu khắc hồn tan bóng nguyệt mờ.
Có phải tiếc non mà đứng gọi
Hay là nhớ nước vẫn nằm mơ ?
Canh thâu ròng rã kêu ai đó ,
Giục khách giang hồ dạ ngẩn ngơ !
                   Vô danh


            Đối ở Thực và Luận là tinh hoa của bài thơ, nó giúp đo 
lường trình độ làm thơ Đường của tác giả. Bài thơ không có đối,
chỉ là bài thơ tự do hay Cổ Phong.


                                                      Khôi Nguyên 



(1) Sở Bá Vương Hạng Võ thời Hán Sở Tranh Hùng
      có sức mạnh cử đỉnh
(2) Bạn Đế Thiên , nhân vật cao cờ tướng thời bấy giờ.
(3) Vua nước Thục mất ngôi,buồn rầu chết thành chimQuốc.Thường hay kêu suốt đêm mùa hè như tiếng khóc.
             
                          


CẢM TẠ của Gia Đình chị Huỳnh thị Kim Ngân

CẢM TẠ
Gia đình chúng tôi chân thành cảm tạ:
-Đại Đức Thích Phổ Thuận trụ trì chùa Thiên Ân
- Ban Hộ Niệm chùa Thiên Ân
-Ban Hộ Niệm Liên Hoa
-Quý Hội Đoàn  ở Minnesota, Texas, California,  Việt Nam và Uc Đại Lợi
-Quý thông gia, quý thân bằng quyến thuộc, thân hữu xa gần đã gọi điện thoại, điện thư, thăm viếng chia buồn ,tụng kinh hộ niệm, đặt vòng hoa phúng điếu và tham dự lễ tiển đưa linh cửu về nơi an nghỉ cuối cùng của chồng, cha, ông, ông cố chúng tôi là:
CỤ  ÔNG  HUỲNH VĂN THIỆT
Nguyên Hội Trưởng Hội Phụ Huynh Học Sinh
Tây Ninh
Sinh ngày 13 tháng 1 năm 1913 tại Thái Hiệp Thạnh Tây Ninh
Từ trần ngày 5 tháng 5 năm 2014 (nhằm ngày 7 tháng 4 năm Giáp Ngọ)
 tại Brooklyn Park, Minnesota
Hưởng thọ  92 tuổi
Trong lúc tang gia bối rối có điều chi sơ suất, kính xin quý
vị niệm tình tha thứ
-Vợ:  Cụ bà Võ Thị Tý
-Trưởng nam: Huỳnh Kim Hoa,  vợ Nguyễn  Thị Nguyệt cùng các con Richard & Christina.
-Trưởng Nữ:  Huỳnh Th ị Kim Ngân, chồng Nguyễn Văn Cư (Jason) cùng các con Albert Vi ệt ( vợ Tường Vi cùng 3 con), Stephanie Nguyên (chồng Hồng Minh cùng  2 con)
-Thứ nữ: Huỳnh Thị Kim Huệ, chồng Huỳnh Phước Huệ cùng các con William, Richie, Ryan.
Thứ Nam: Huỳnh  Kim Tuấn , vợ Huỳnh Kim Anh  cùng  các con Michael Minh, Amanda Yến
Thứ Nữ: Huỳnh th ị Kim Sa , chồng Thomas Wayne
Thứ Nữ: Huỳnh thị Kim Xu ân
-Thứ nữ: Huỳnh Thị Kim Lệ, con Tammy Nguyễn
-Út nam: Huỳnh Kim Luật, vợ Nguyễn Thụy Huyền Trâm cùng các con Benjamin, Calvin
TANG GIA ĐỒNG BÁI TẠ





video về tang lễ cụ Huỳnh văn Thiệt-(Jason Cunguyen

Thứ Hai, 12 tháng 5, 2014

TIN BUỒN :CHSTN. Trần Ngọc Thanh tạ thế



Được tin :
Anh TRẦN NGỌC THANH , sinh năm 1946
là cựu HS.THTN,phu quân chị Châu thị Năng 
vừa tạ  thế lúc 6 giờ sáng ngày 11/5/2014 tại Saigon .
Lể an táng sẽ cử hành ngày 14/5/2014 tại Núi Bà,Tây Ninh.
Các bạn cựu học sinh Trung học Tây Ninh 1955-75 xin thành thật chia buồn cùng chị Châu thị Năng và gia đình.
Cầu nguyện cho hương hồn anh Thanh được phiêu diêu miền Cực Lạc

Kính mời đọc Thơ "Tặng Bạn Già" của PHAN THUOJNG HẢI và BÀI HỌA

  TẶNG BẠN GIÀ T ừ thu ở thanh xu â n đ ẹ p ch í trai Tr ả i qua th ờ i lo ạ n luy ệ n anh t à i Đ ờ i ng ườ i l ậ n đ ậ n h ằ ng ki ê n ...