Thứ Tư, 13 tháng 8, 2014

Vài cảm nghĩ khi đọc thơ Đức Huỳnh : Bài : Giấc mộng đêm xuân


    Tôi không đọc nhiều thơ của Đức Huỳnh vì thơ DH hình như chỉ phổ biến hạn chế ở một số trang blog nào đó mà tôi không biết.Tôi chỉ có một bài duy nhất của DH do một người bạn gởi tặng đọc chơi, bạn còn ghi chú "đọc xong nhớ cho biết ý kiến". Tôi đọc xong đã lâu,mà cứ hẹn lần hẹn lựa, nay mới trực nhớ,đem ra đọc lại để giới thiệu cùng bạn hữu thích văn thơ, đồng thời ghi lại vài cảm nhận của tôi sau khi lạm bàn về nội dung bài thơ.
                                      Giấc mộng đêm xuân ( Đức Huỳnh)
                          Đôi cánh trắng tiên nga ngày giáng thế
                          Giữa mùa xuân còn để lại dư hương
                          Nghìn năm đời vẫn se sắt vấn vương
                          Đêm dỗ giấc miên trường mơ người ngọc
                           Điệu nghê thường vũ y tay mời mọc
                           Thấm duyên trần có nhọc tấm thân ngà
                           Cửa động đào khép nép một lần qua
                            Trà Long Tỉnh  ấm Chu Sa thơm ngát 
                            Tiên ở lại, về trời đôi cánh hạc
                            Đêm hương nồng bát ngát giấc mơ xuân
                             Mộng trào dâng giữa đời thực bâng khuâng
                             Lòng mê đắm dáng hình hay ảo ảnh
    
                             Đêm nguyệt tận vạn vì sao lấp lánh 
                             Những tinh cầu từ mảnh vỡ mặt trời
                             Vẫn âm thầm xoay tít khắp muôn nơi
                              Duyên hay nợ trong cuộc đời, một bến
                              Đêm dệt mơ đợi chờ ngày sẽ đến
                              Mộng đêm xuân qua ánh mắt dịu hiền
                              E ấp thân ngà xếp lại cánh tiên
                             Nơi hạ giới ưu tư niềm hoan lạc
                                            (Thơ Đức Huỳnh)
       Qua nội dung bài thơ ta thấy Đức Huỳnh đã cảm hứng từ câu chuyện huyền thoại Khúc Nghê Thường, kể chuyện hai nàng tiên nữ xuống trần dạo chơi gặp hai chàng trai tên là Lưu Thần và Nguyễn Triệu tại động Đào Nguyên hết sức lạ kỳ; đúng ra là hai chàng trai nầy nhân ngày mùng 5 tháng 5 tết Đoan Ngọ, mang  giỏ tre đi hái thuốc trên núi, bị lạc vào động Thiên Thai, may mắn gặp hai nàng tiên đẹp tuyệt trần rồi kết duyên thành  chồng vợ. Được hơn nửa năm, hai chàng nhớ nhà quá nên xin trở lại trần gian. Hai nàng thấy hai chàng còn nặng nợ trần ai nên đành tiễn đưa hai chàng trở lại cõi trần. Khi về tới quê nhà thì bà con hàng xóm không còn ai nữa họ đã chết mất tự kiếp nào. Hai chàng bèn trở lại chốn cũ mong gặp lại tiên nữ nhưng chẳng may bị lạc lối không biết ngỏ nào ra , sau cùng cả hai đi lạc vào rừng sâu và chết mất xác không  ai biết. Câu chuyện mang tính cách thần thoại và người ta cũng không biết động Đào Nguyên  ở đâu? Trong truyện, động nầy một nửa ở trần gian một nữa ở cõi tiên , thật là huyền ảo.Vì tính chất huyền ảo thực thực hư hư mà câu chuyện trở nên hấp dẫn người đọc, do đó có nhiều văn nhân thi sĩ, nghệ sĩ, nhạc sĩ, đua nhau sáng tác nhiều bài thơ hay, nhiều ca khúc trữ tình bất hủ và nhiều điệu múa tuyệt vời.
      Ba yếu tố chánh tạo thành câu chuyện hấp dẫn là người trần gian , tiên nữ,vũ khúc Nghê Thường. Vũ khúc nầy là tên nhạc khúc đời Đường (618-896). Còn "Nghê Thường" thì có liên hệ tới vua Đường Huyền Tông Lý Long Cơ, nằm mơ thấy đi chơi trên cung trăng , nghe tiếng nhạc réo rắt; thấp thoáng dưới ánh trăng, các tiên nữ xuất hiện với trang phục sắc màu cầu vồng ( nghê thường) làm bằng lông chim (y vũ). Bảy nàng tiên cất tiếng hát nghe thật thanh tao, huyền diệu ưu mỹ, điệu bộ thì thanh thoát bay bỗng tuyệt vời. Khi tỉnh giấc Lý Long Cơ truyền cho đội nhạc diễn lại khúc ca vũ theo trí nhớ của ngài để truyền lại cho đời sau.
    Nhạc sĩ Văn Cao dựa vào huyền thoại Khúc Nghê Thường để sang tác nhạc phẩm nổi tiếng Thiên Thai trong đó nội dung bài hát có những câu :"Thiên Thai chốn đây hoa xuân chưa gặp bướm trần gian. Có một mùa đào dòng ngày tháng chưa tàn qua một lần. Thiên Thai chúng em xin dâng hai chàng trái đào thơm. Khúc Nghê Thường nầy đều cùng múa vui bầy tiên theo đàn". Khổ thơ nầy phải nói là thật hay, câu nào cũng hay , đăc biệt hay nhất là câu :"Thiên Thai chốn đây hoa xuân chưa gặp bướm trần gian" và câu :"Thiên Thai chúng em xin dâng hai chàng trái đào thơm". Thật chưa có  câu thơ nào lãng mạn và gợi tình một cách thiết tha nồng cháy như vậy. Bối cảnh về thời gian và không gian như không còn phân cách , thì chỉ có cõi tiên mà thôi. Bên cạnh sự nổi tiếng của tên gọi , thì vũ điệu cũng như âm nhạc của tình khúc nầy có thể nói là xa lạ với chúng ta . Hiện tại chưa ai nghe khúc Nghê Thường bản gốc như thế nào kể cả tác giả Văn Cao khi ông sang tác nhạc phẩm nổi tiếng Thiên Thai , vì khúc Nghê Thường đã thất truyền từ hơn 1000 năm trước.
 “Giấc mộng đêm xuân” là một bài thơ trữ tình thật lãng mạn nhưng không quá đà trượt dốc.. (Tới đây tôi xin mở dấu ngoặc để giải thích về trường hợp sáng tác bài thơ nầy. DH dựa vào câu chuyện thần thoại "Khúc nghê thường" để làm bài thơ theo ý riêng của tác giả, điều nầy không có gì lạ vì nhiều người đã làm từ lâu như Hải Vân đã dựa vào câu chuyện thần thoại "Chú cuội ngồi gốc cây đa" để làm một bài thơ có nội dung khác hẳn bản gốc nhưng nó mới lạ, ngộ nghĩnh mang tựa đề "Ba đồng tiền". Bài thơ DH làm cũng giống như trường hợp trên, nhưng có vài chỗ  nghĩa không rõ  nét nên tôi mạo muội đưa vào vài chi tiết cho liền lạc câu chuyện / NC)
Bài thơ 8 chữ gồm 5 khổ mỗi khổ 4 câu.Mở đầu tác giả giới thiệu một cách tổng quát niềm hạnh phúc bất chợt khi nàng tiên cỡi chim hạc trắng đáp xuống trần gian vui xuân cùng người trai trần thế.Ngay từ đầu DH đã xây dựng cốt truyện  có tính cách thần thoại, gây chú ý nơi người đọc.Tác giả không nói rõ cuộc găp gỡ và yêu đương giữa tiên, phàm như thế nào, nhưng giữa mùa xuân ấp áp thí ắt hẳn tình cảm nầy vừa nên thơ vừa lãng mạn biết chừng nào! Nay nhớ lại mà ngậm ngùi luyến tiếc, rồi đợi chờ, thao thức suốt đêm. Vết tích ái ân hình như còn đọng lại đâu đây khiến ngàn năm sau vẫn còn vương vấn. Tiên /phàm làm sao sống chung đến bạc đầu được. Yêu nhau, quấn quit nhau rồi xa nhau như một định mệnh khiến đêm về người trần gian cứ mơ hoài người ngọc, mơ mãi chuyện ái ân chưa tròn mà ứa lệ.
                          Đôi cánh trắng tiên nga ngày giáng thế
                          Giữa mùa xuân còn để lại dư hương
                          Nghìn năm đời vẫn se sắt vấn vương
                          Đêm dỗ giấc miên trường mơ người ngọc
Từ ngữ khéo chọn lọc, DH chắt chiu từng con chữ , tuy dùng chữ bình dị nhưng không thô kệch, bên cạnh đó cũng có những từ mới  mang âm sắc du dương đậm đà. Những nhóm từ:"cánh trắng","tiên nga","ngày giáng thế" mang nét đẹp và gợi hình. Từ "se sắt" dùng rất đắc địa,chỉ nổi đau quặng thắt trong lòng không biết tỏ cùng ai. "Giấc miên trường" là giấc ngủ say, kéo dài. "Mơ người ngọc" là mơ tiên nữ.Thật lãng mạn!!!
Hàn Mặc Tử cũng từng mơ bóng dáng người con gái dễ thương, bằng những vần thơ nhẹ nhàng tha thiết, lâng lâng, nhưng không sánh kịp tính chất lãng mạn so với DH trong bài thơ nầy.
                         Mơ khách đường xa khách đường xa
                         Áo ai trắng quá nhìn không ra
                       Ở đây sương khói mờ nhân ảnh
                       Ai biết tình ai có đậm đà. 
    Đến đây tác giả mới thuật lại chi tiết cuộc hội ngộ bất ngờ mà đoạn trên đã giới thiệu. Nàng tiên cùng với chàng trai hạ giới ca múa dưới trăng .Tiên nữ mặc áo lông chim,rực rỡ trong bộ y phục khác lạ (vũ y), múa khúc Nghê Thường, nàng đưa tay ra mời chàng cùng nhảy. Nàng say sưa ngây ngất hương  tình với người trần gian mà trên cõi tiên nàng chưa hề gặp. Trong một phút lãng mạn chàng thủ thỉ hỏi " Múa xong khúc nghê thường em có mệt không?" thật tình tứ !!! Tấm thân ngọc ngà ,đáng được chiêm ngưởng, đón nhận tình yêu ở lại cõi trần. Cửa động đào đã mở,nàng e thẹn bước vào. Bây giờ còn lại tiên với ta, chàng rót trà mời nàng uống mừng cho giây phút hội ngộ hiếm hoi nầy.Trà Long Tỉnh được đựng trong ấm Chu Sa quý hiếm. Trà là một đặc sản của thành phố Hàn Châu thuộc tỉnh Chiết Giang ,Trung quốc.Trà được trồng ở vùng núi Long Tỉnh (giếng rồng) gần Tây Hồ, nơi nầy thời tiết mát mẻ quanh năm,sáng sớm thường có sương bao phủ mặt hồ, đó chính là hơi nước từ hồ bốc lên.Trà có hương vị đặc biệt , rất thơm và ngọt dịu khi hớp một chút nước trà nóng; nghe nói nó còn trị được nhiều chứng bịnh nữa.
    Ấm Chu Sa cũng là loại ấm được chế tạo bằng một loại đất sét đặc biệt, nung khá lâu trong lò luyện. Ấm có những vân ngang vòng quanh thân ấm nhưng khía lõm, chạy dài từ dưới đáy lên tận miệng.Một chiếc ấm được dưỡng tốt là nó phải nổi bật lện  màu sắc ẩn bên trong, độ sáng bóng và màu của đất phải hội tụ  ở những chỗ đặc biệt trên thân ấm.
                           Điệu nghê thường vũ y tay mời mọc
                           Thấm duyên trần có nhọc tấm thân ngà
                            Cửa động đào khép nép một lần qua
                            Trà Long Tỉnh  ấm Chu Sa thơm ngát
     Câu "Thấm duyên trần có nhọc tấm thân ngà", nhóm từ ngữ "tấm thân ngà" viết đầy đủ là "tấm thân ngọc ngà" chỉ người con gái đẹp đáng quý, nhất là khi nàng nằm dưới ánh trăng hay dưới ánh đèn mờ ảo trong đêm lạc đạo.
     Câu "Cửa động đào khép nép một lần qua". Cửa động đào là cửa hang núi có cây đào, nghĩa bóng là nơi tiên hay con gái đẹp ở.Chữ "khép nép" dùng rất chỉnh và thích hợp nói lên tâm trạng e dè ngại ngùng của người con gái lần đầu bươc vào hang động, ngồi uống trà với chàng trai lạ ở trần gian dưới ánh trăng mờ ảo. Một khi bước qua khỏi cửa động đào thì coi như nàng chấp nhận mất mát để được yêu.
      Cuộc vui nào rồi cũng tàn, đêm đã khuya, sương lạnh rơi nhẹ trên cành liễu, tiên lã lơi nghiêng ngã, quên mất lối về.Trong khu vườn Eden mà Thượng đế đã dựng lên với nhiều hoa thơm trái ngọt. Khi nàng tiên Eva, gặp biểu tượng của một phần thân thể đàn ông (Adam) thì cũng từ đó xuất hiện  rắn, nọc độc, và tiếp theo là sự sa đoạ của tình dục đã mang lại cho tiên /trần lạc thú ái ân. Con hạc trắng không còn chờ đợi chủ nhân được nữa nên chớp đôi cánh bay vút lên trời cao, trở về cõi tiên thượng giới. Đêm lạc đạo đắm say tình ái, ngây ngất hương tình , đôi ta không còn nhận ra được thế giới hiện hữu, hình hài nầy là thân thể thực hay ảo giác mộng mơ?     
                            Tiên ở lại, về trời đôi cánh hạc
                            Đêm hương nồng bát ngát giấc mơ xuân
                             Mộng trào dâng giữa đời thực bâng khuâng
                             Lòng mê đắm dáng hình hay ảo ảnh
Trần gian đẹp và vui như thế cớ sao bác Tản Đà lại than chán nhỉ? hay là ông chưa gặp nàng tiên thực sự trên đời?
                                Đêm thu buồn lắm chị hằng ơi
                                Trần thế nay em đã chán rồi
                                Cung quế đã có ai ngồi đó chửa?
                                Cành đa xin chị nhắc lên chơi
     Tình cảm lâng  lâng thi vị chốn đào hoa hạ giới lại được nhạc sĩ Hoàng Nguyên cảm nhận một cách sâu sắc nên ông đã sáng tác bản tình ca đầy cảm xúc "Ai lên xứ hoa đào". Xứ "hoa anh đào" chính là cảnh đẹp Đà Lạt mộng mơ. Lúc dạo chơi ngoài vườn  tác giả Hoàng Nguyên bắt gặp những  con bướm đẹp màu sắc rực rỡ bay theo chân . Bướm đây là bướm thật mà cũng là  hình dáng xinh tươi dễ thương của những cô thiếu nữ đi dạo quanh vườn hay trong các buổi lễ hội. Tác giả dùng lối ẩn dụ thật khéo léo và điêu luyện gây cho thính giả sự cảm nhận sâu sắc khi thưởng thức nhạc phẩm nầy.
                     Ai lên xứ hoa đào đừng quên bước lần theo đường hoa
                     Hoa bay đến bên người ngại ngần rồi hoa theo chân ai,
                     Đường trần nhìn hoa bướm rồi  lòng trần như bướm hoa,
                     Lâng lâng trong sương khói rồi bàng hoàng theo khòi sương
                     Lạc dần vào quên lãng rồi đường hoa lặng bước trong lãng quên...
        Trong văn chương cổ điện Việt Nam khi đọc qua truyện Bích Câu Kỳ Ngộ ( 碧溝奇遇), tác giả khuyết danh sáng tác giữa thế kỷ 19, ta thấy mối tình giữa tiên (Giáng Kiều) và người trần thế (Tú Uyên) sao nó đậm đà và lãng mạn quá . Tính lãng mạn được diễn tả bằng những từ ngữ hết sức gợi tình .
          Đêm qua là cái đêm gì
          Chúa xuân hé cửa màn the động phòng
          Cầu ô đã bắc ngang sông
          Mảnh gương trắng bạ xế trông mày ngài
      Cảnh động phòng trong đêm tân hôn được diễn tả bằng những vần thơ rất thực và sống động, nhưng kín đáo không lố lăng nham nhở; thời bấy giờ ít có nhà thơ nào dám đề cập một cách công khai. Như vậy có thể nói tác giả Bích Câu Kỳ Ngộ đã đi trước thời đại một bước khá dài trong nghệ thuật sáng tác thơ ca.                                    
     Niềm hoan lạc thăng hoa , đêm nguyệt tận có muôn vì sao lấp lánh trải rộng  trên bầu trời một khoảng không gian vô định mà những tinh cầu kia phải chăng là những mảnh vở của mặt trời? Vũ trụ chuyển động không ngừng tạo thành sức sống, trên trần gian cũng luôn biến đổi đồng bộ với sự chuyển vận của các hành tinh hay nói khác đi là của thiên nhiên trời đất.Từ đó ta thấy rằng cuộc đời nầy không có gì là vĩnh cửu: được /mất , thành /bại, hạnh phúc/ đau khổ, sum hợp/chia ly...cho nên tình yêu đến với ta dẫu duyên hay nợ thì cũng xin đừng phụ nhau.
Nếu  một ngày kia  sự chia ly xảy ra thì cũng là điều tất yếu vì tiên đâu có thể sống thành chồng vợ suốt đời với người trần, ngay cả khi người trần thế với nhau mà chưa chắc đã sống  được trăm năm hạnh phúc. Cảnh biệt ly sao mà buồn thế. Thi sĩ Lý Bạch ( 李白/701-762) đời Đường cũng đã diễn tả tâm trạng nầy qua mấy vần thơ đầy cảm động. Lý Bạch là người có tài nhưng không gặp thời. Sau khi ông bị quan trên ruồng bỏ khiến ông phải từ giả kinh thành về miền thôn dã, sống những ngày trầm lặng. Thời gian nầy ông sáng tác nhiều bài thơ hay có đặc tính thực thực hư hư , chủ yếu là cảnh trong mộng làm người đọc có cảm tưởng như đang đi vào một thế giới thần thoại. Ông cũng gặp tiên ở thế giới cực lạc, rồi chia tay với tiên; khi tỉnh dậy ông buồn chán ngẩn ngơ vì đời thực không đẹp bằng mộng.
惟覺時之枕席
失向來之煙霞
世間行樂亦如此
古來萬事東流水
別君去兮何時還 ?
   (Lý Bạch)
Phiên âm:
              Duy giác thì chi chẩm tịch
              Thất hướng lai chi yên hà
              Thế gian hành lạc diệc như thử
               Cổ lai vạn sự đông lưu thuỷ
               Biệt quân khứ hề hà thị hoàn?
Dịch nghĩa:
               Chỉ còn lại gối chăn ở đó
               Khói ráng vừa tới chợt biến mất
               Thì những cuộc vui trên đời cũng giống vậy.
               Từ xưa tới nay mọi việc ở trên đời trôi qua như nước chảy về đông.
                Giã từ anh tôi đi không biết bao giờ trở lại?        
     Người đi rồi ta ở lại một mình buồn ảo não, chăn gối còn trơ ra đó chẳng buồn xếp,  nào  khác chi những đám mây chiều lững lờ bay ngang qua rồi biến mất một cách vô tình. Tiệc vui nào rồi cũng tàn, đời người cũng vậy có lúc rồi phải chia tay, chia tay giữa bạn bè hay chia tay  trần thế để về nơi  miền cực lạc như dòng sông chảy xuôi về hướng đông. Nay từ giả anh đi, không biết  còn có ngày gặp lại ? Sao mà não nùng thế? Tác giả ví dòng sông như dòng đời, sông thì chảy ra biển cả còn con người cuối cùng thì trở về với cát bụi.
      Trở lại bài " Giấc mộng đêm xuân" ở khổ 4 nầy, DH không nói rõ cuộc chia tay tiên /trần như thế nào nhưng ta có thể hiểu được là sau khi chim hạc bay về Trời báo cáo với Ngọc Hoàng Thượng Đế thì Ngọc Hoàng tức giận bèn sai thần bay xuống trần  gian bắt tiên nữ trở về tiên giới, sau đó kỹ luật tiên, mỗi năm chỉ được trở lại trần thế để gặp người yêu một lần.
      Tiên, trần miễn cưỡng chia tay trong đau khổ đầy nước mắt. Cảnh chia cách giống như truyện Ngưu Lang Chức Nữ : mỗi năm nhờ quạ đen bắt cầu cho hai người gặp nhau . Chuyện gây nhiều xúc động cho người đọc mỗi khi nhắc đến.
                           Đêm nguyệt tận vạn vì sao lấp lánh 
                            Những tinh cầu từ mảnh vỡ mặt trời
                            Vẫn âm thầm xoay tít khắp muôn nơi
                             Duyên hay nợ trong cuộc đời, một bến
Ở đây có vài từ ngữ tương đối mới như " Đêm nguyệt tận" chỉ đêm cuối tháng."Tinh cầu" ý nói ngôi sao trên trời. Từ ngữ "một bến" là một nét ẩn dụ, nghĩa đen là bến sông, bến đò, bến đậu.Trong bài , "bến" chỉ "bến đời"của người con gái (nàng tiên). So sánh bến đậu như cuộc đời. Tội nghiệp cho nàng tiên, trong niềm vui ngây ngất bất ngờ, nàng cũng có ước mơ đơn giản  là  mong sao cho hạnh phúc nầy được bền chặt  mãi bên người yêu trần thế, đừng để xảy ra sóng gió làm chia cách lứa đôi. Đời người con gái ví như mười hai bến nước trong nhờ đục chịu. Nói là mười hai bến nhưng thực ra chỉ có hai bến mà thôi đó là"bến đục" và "bến trong", bến đục chỉ nỗi bất hạnh, khổ đau còn bến trong chỉ hạnh phúc giàu sang. Những từ ngữ nầy làm cho bài thơ thêm sức truyền cảm và ý nhị.
      Nàng tiên trở lại chốn tiên. Ôi, chốn tiên sao buồn thế? Nơi nầy nhìn quanh chỉ thấy toàn là tiên thì làm sao vui được? Nàng nhớ trai trần thế , anh sao dễ thương quá, anh biết chiều chuộng,  yêu thương nàng mà từ lâu,ở cõi tiên, nàng không hề gặp được một người như vậy. Nàng mơ về động Thiên Thai nơi đó có chàng trai đang chờ đợi nàng. Nàng mong cho ngày tháng trôi mau để nàng trở lại chốn trần gian; nghĩ tới đó nàng cảm thấy e thẹn khi thấy đôi mắt dịu hiền của chàng trai hiện ra, nó mơ màng và dễ thương làm sao. Nàng nguyện sẽ giữ vẹn tấm thân ngọc ngà chờ ngày trao lại cho chàng trong ái ân  hoan lạc nơi hạ giới.
                             Đêm dệt mơ đợi chờ ngày sẽ đến
                             Mộng đêm xuân qua ánh mắt dịu hiền
                             E ấp thân ngà xếp lại cánh tiên
                             Nơi hạ giới ưu tư niềm hoan lạc
    Do cấu trúc thi ngữ không được diễn tả rõ nét nên đoạn kết nầy có thể hiểu theo hướng khác.Nhân vật nàng tiên được thay thế bằng chàng trai trần thế. Vì chính anh cũng nao nức rộn ràng chờ tin vui để gặp lại người yêu tiên nữ mà trước đây hai người đã từng sống những ngày hoan lạc hạnh phúc nơi động Thiên Thai. Câu "Mộng đêm xuân qua ánh mắt dịu hiền" cho ta biết chàng trai đang mơ có một đêm xuân như ngày mới gặp cũng tại chốn nầy để chàng ấp ủ tấm thân ngọc ngà  của nàng, nhìn ánh mắt dịu hiền đầy gợi cảm để ru em vào giấc ngủ thiên thu.
      Phần lớn bài thơ ngắt nhịp :3/5, nhưng khổ đầu thì:3/2/3; 3/5; 3/5; 3/2/3, khổ 4 thì : 3/5; 3/5; 3/5; 3/3/2.
      Nhờ có sự biến đổi trong nhịp ngắt câu nên bài thơ tránh được sự đơn điệu nhàm chán. Ngoài ra nó còn làm cho âm điệu bài thơ nghe êm tai , lúc vui lúc buồn được thể hiện một cách đầy đủ.Xét khổ đầu, đọc lên ta nghe âm điệu mùa xuân đang trở về rộn rã, lâng lâng, trong đó có cả tình yêu nữa. Về cách gieo vần thì DH triệt để sử dụng gieo vần ôm ở cuối câu. Ví dụ khổ 1 thì vần: hương, vương. Khổ 2 thì vần: ngà, qua... v.v. không có trường hợp ép vận khiến câu thơ đọc nghe loảng choảng.
Bài thơ có nhiều ưu điểm tuy nhiên trong  tôi vẫn còn đọng vài thắc mắc  như câu đầu khổ 4 "Đêm nguyệt tận vạn vì sao lấp lánh". Về nghĩa thì "đêm nguyệt tận" là đêm cuối tháng, mà đêm cuối tháng thì trời tối đen như mực thì  làm sao có "vạn vì sao" lấp lánh cho được? Người ta thường nói: trời tối như đêm 30 đó sao?
    Điểm 2: Câu "Nơi hạ giới ưu tư niềm hoan lạc". Ưu tư là lòng lo lắng về một vấn đề gì đó, còn hoan lạc là thích thú. Nếu hoan lạc thì sao còn có ưu tư, và ngược lại?      
      Điểm thứ ba là khổ 4:
                 Đêm nguyệt tận vạn vì sao lấp lánh 
                 Những tinh cầu từ mảnh vỡ mặt trời
                 Vẫn âm thầm xoay tít khắp muôn nơi
                 Duyên hay nợ trong cuộc đời, một bến
     Bốn câu nầy không nói rõ sự chia tay tiên /trần. Điều nầy gây lung túng cho người đọc. Tôi đoán được ý chia cách do sự chuyển động âm thầm của vũ trụ kéo theo sự thay đổi của đời người mà cụ thể ở đây  là sự chia ly, và căn cứ vào khổ cuối của bài thơ cho tôi kết luận như vậy.Tôi không rõ đây có phải là một thiếu sót của tác giả hay là một hình thức mới cho lối chuyển ý theo kiểu ẩn ngữ, ẩn dụ?
    Nội dung bài thơ " Giấc mộng đêm xuân" chứa đựng nỗi khát vọng về tình yêu . Tuổi trẻ cần tình yêu như một nhu cầu tự nhiên bất biến dầu người con gái là tiên nữ hay người phàm, đâu có khác biệt gì nhau.Trong nghịch cảnh tiên vẫn tranh đấu chờ đợi để có ngày gặp lại người yêu dẫu gặp nhau trong giây lát.Thật đáng trân trọng cái tình cảm hiếm có nầy cùa nàng tiên!Thân phận nàng tiên cũng giống thân phận người trần, khi gặp trắc trở thì tranh đấu đợi chờ. Con người đợi chờ trong khổ đau nhưng vẫn thấy hy vọng, khổ đau càng nhiều thì hy vọng càng cao vì khi khổ đau chồng chất tột đỉnh thì nó sẽ hội tụ tại một điểm mà điểm đó chính là niềm vui và hạnh phúc, phải chăng vì tin tưởng như vậy mà người ta còn niềm tin để sống như nàng tiên trong thơ DH? Bài thơ khép lại với bao nỗi bâng khuâng trầm lắng trong lòng mỗi người.
        Thân ái,  Nguyễn Cang

Thứ Ba, 12 tháng 8, 2014

Tình thừa - Thơ Phượng ngày xưa

TÌNH THỪA 
 thơ Phượng ngày xưa
          ***
Đêm dài thao thức triền miên
Gió lùa khe cửa ngã nghiêng khối sầu
Tình xa vạn dặm về đâu?
Chông chênh vực thẳm bên lầu ái ân!
Có ai đồng cảnh tương lân?
Giúp ta thoát khỏi trầm luân đọa đày!
Trăm năm còn lại bao ngày?
Để hờn để giận để hoài ngóng trông!
Thôi thì chôn NHỚ vào lòng
Đem THƯƠNG đốt lấy lữa hồng sưởi TIM
Khói bay lan tỏa nổi niềm
Đến người lữ thứ, về tìm  lối xưa
Cùng nhau góp lại TÌNH THỪA
Chắt chiu năm tháng, cho vừa đắm say…
                             Saigon 5/8/2014
Tiếp họa :
                 Người phương xa đâu có hay,
                  Vì ai lận đận vì ai tủi hờn.
                        Đêm dài trằn trọc từng cơn,
                  Bao năm thương cảm chập chờn giấc mơ.
                        Đem thương đổi lấy hững hờ,
                  Qua bao năm tháng vẫn trơ lửa lòng.
                        Tình thừa nào khác tình không,
                  Con tim chai đá tơ lòng nát tan.
                        Lệ rơi đã cạn đôi hàng,
                  Tình thừa xót phận bẽ bàng đời ai.
                        Đêm dài trằn trọc thêm dài,
                  Mong cho mau sáng ngày mai nắng về.
                        Bình minh xóa bóng u mê,
                  Cho em tỉnh giấc trở về tình đời vui.
                        Tình thương phủi sạch ngậm ngùi,
                  Thứ tha dứt thoát mau nguôi giận hờn.
                                                                 HỒ NGUYỄN
                       

Thứ Hai, 11 tháng 8, 2014

Đại dịch Ebola,những bữa tiệc tàn ác và sự trả thù của tự nhiên

Những tin mới làm nhiều người quan tâm đến sự 

nghiệp bảo vệ môi trường sống phải rùng mình. Sau đại
dịch HIV, chúng ta đã chứng kiến dịch SARS và bây giờ là
đại dịch virus Ebola.

Tất cả đều có nguồn gốc từ động vật hoang dã và sự
lây lan của nó cũng khởi đầu từ việc săn bắt và sử dụng
động vật hoang dã làm thực phẩm. Tính đến thời điểm này,
tức là chỉ 4 tháng trôi qua kể từ khi dịch Ebola được phát
hiện, virus này đã lan tới 4 nước Tây Phi, bao gồm:
<strong>Guinea, Liberia, Sierra và Nigeria, với
số người nhiễm bệnh lên đến hơn 1900 người và số người
tử vong là hơn 900 người.

Trước sự bùng phát dữ dội này,Ebola được
ví như một cơn cháy rừng và các nước châu Âu, châu
Á đang đặt cảnh giác cao độ bởi Ebola
có thể tràn sang các châu lục khác bất cứ lúc nào.
Đây là một trong những chủng virus nguy hiểm nhất thế giới,
Tổ chức Y tế thế giới cảnh báo tỉ lệ tử vong do Ebola có
thể lên đến 90%.

Ebola có thể lây từ động vật sang người và
từ người sang người. Động vật được xác định là vật
chủ mang virus là dơi, cụ thể ở đây là dơi quạ ăn quả.
Từ dơi, vượn, khỉ hay lợn sẽ bị nhiễm virus Ebola
và từ đó mang virus tới con người. Vậy nên, chúng ta
có thể xác định trước một cách để phòng tránh Ebola, đó
là tránh ăn thịt động vật hoang dã cũng như các loại thịt
sống. Chúng ta nên nhớ, bệnh nhân đầu tiên mắc Ebola
vào đã bị bệnh sau khi ăn thịt khỉ và linh dương.

có hay không có một sự trả thù của tự nhiên đối với
loài người khi hàng loạt đại dịch xuất phát từ việc sử
dụng động vật hoang dã làm thực phẩm? Điều ấy khoa học
sẽ có kết luận. Tuy nhiên đến nay, đã thấy rõ, việc tiêu
diệt các quần thể động vật hoang dã đã đem lại cho loài
người những hiểm họa lớn lao.

Ngay ở Việt Nam, cùng với nạn tàn phá rừng,
chúng ta cũng đang chứng kiến sự tuyệt chủng hàng ngày của
nhiều loài thú hoang dã. Ngay từ năm 2012, Quỹ Quốc tế Bảo
vệ Thiên nhiên (WWF) vừa công bố báo cáo đánh
giá hiện trạng của các quốc gia về tuân thủ và thực thi
các cam kết CITES (Công ước về buôn bán quốc
tế những loài động, thực vật hoang dã nguy cấp). Trong đó,
Việt Nam là một trong những quốc gia thực thi đáng lo ngại
nhất, với thẻ màu đỏ.

Những bữa ăn tàn ác

Tất cả các khách du lịch nhiều tiền, những quan khách đến
công tác tại thị xãNghĩa Lộđều biết đến nhà hàng của ông S. Một nhà hàng không cần biển, không cần đăng ký kinh doanh nhưng nổi tiếng khắp vùng namTây
Bắc suốt hàng chục năm qua. Khách đến đây có thể
được chiêu đãi gần như trọn bộ sưu tập thú hoang dã còn
sống ở Tây Bắc như các giống cầy cáo, các loại hoẵng,
mang, nai, hươu hoang dã, thậm chí cả các loại quý hiếm như
mèo rừng, beo báo đều có thể có. Rắn thì nhiều vô kể, từ
hổ mang chúa đến các loại rắn nước thông thường... Chúng
tôi đã được mời ăn một bữa tại đây với một con cầy
nặng 4 kg và được tặng một con hoẵng 13 kg đông lạnh đàng
hoàng, dĩ nhiên là đông lạnh nguyên con, trừ bộ lòng đã bỏ
đi...
Bước vào một quán nhậu bên đường Nguyễn Tri
Phương Quận 10, Tp.HCM mỗi đêm ở đây
đều tụ tập rất nhiều khách, cả nam lẫn nữ, già lẫn
trẻ. Một vị khách gắp miếng thịt cầy hương cho người
bạn của mình rồi nói: Anh ăn đi, nghe nói thịt cầy hương có
thể bồi bổ tráng dương, tăng cường sinh lực cho phái mạnh.

Mới đây, cư dân mạng và dư luận rất bức xúc trước
loạt ảnh của một nhóm thanh niên giết voọc chà vá được
tung lên mạng. Những tấm ảnh ghi lại cảnh nhóm thanh niên này
đang làm thịt, hành hạ hai con voọc chà vá một cách rất dã
man. Vụ việc này gióng lên hồi chuông báo động về tình
trạng săn bẫy và giết thịt các loài động vật quý hiếm
tại Việt Nam. Theo Sách đỏ Việt Nam, mỗi năm voọc chà, voọc
đen, voọc mũi hếch... chỉ đẻ một con. Đây đang là loài thú
rừng bị con người săn lùng, giết hại bạo tàn nhất.

Một thực tế đáng buồn là tại nhiều tỉnh miền Trung,
tình trạng bẫy voọc diễn ra vô cùng phổ biến. Trung bình
mỗi người sẽ làm khoảng 300 - 500 cái bẫy. Mà khi bẫy sẽ
hết cả đàn. Đội thợ săn được trả lương rất cao để
làm việc này. Ngay sau khi bắt voọc về, nhiều người không
ngại giết sống con voọc bằng cách bửa sọ, lột da và moi
cả trái tim còn đang thoi thóp để ngâm rượu.

Và mới nhất, chiều 3-8, nhận tin báo của quần chúng nhân
dân tại nhà ôngNguyễn Văn Đường (48 tuổi,
ngụ xã Tân Quới, huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Thá đang nhốt 1 con chim lạ.

Lực lượng Cảnh sát môi trường kết hợp với Công an xã Tân
Quới đến tìm hiểu và tạm giữ con chim lạ, có trọng lượng
gần 4 kg, chiều dài sải cánh 1,2m. Theo các ngành chức năng,
đây là loại chim quý hiếm nằm trong danh sách đỏ có tên là
Giang Sen, loài vật quý xếp hàng thứ 2 sau Sếu đầu đỏ. Chỉ
trước đó 3 ngày, 7 giờ 30 phút sáng 29-7, từ nguồn tin của
nhân dân, nghi ngờ trên xe có chở động vật hoang dã trái
phép, lực lượng kiểm lâm Thanh Hóa đã kiểm tra xe khách BKS
81B- 00.225. Qua kiểm tra, phát hiện trong khoang dưới gầm xe có
25 cá thể tê tê (tổng trọng lượng 20,5 kg); 25 cá thể rùa
(tổng trọng lượng nặng 25 kg). Đây là các loại động vật
hoang dã, nghiêm cấm mua bán, vận chuyển trái phép.

Việt Namđược xem là quốc gia có sự đa dạng
về sinh học với khoảng 10% tổng số loài chim và thú hoang dã
trên thế giới, song nước ta lại được xếp vào nhóm 15 quốc
gia hàng đầu thế giới về suy giảm số loài thú. Tại Việt
Nam từ năm 2000 đến tháng 6-2013, Cục Kiểm lâm ghi nhận gần
18.500 vụ vi phạm. Tuy nhiên, theo ước tính, con số này mới
chỉ chiếm một phần nhỏ số lượng trên thực tế. Bình quân
mỗi năm có khoảng 3.700 - 4.500 tấn động vật hoang dã bị
buôn bán bất hợp pháp, chủ yếu là các loài linh trưởng,
gấu, tê tê, rùa... và các thành phẩm, dẫn xuất của nó. Và
TP.HCM là 1 trong những "điểm nóng" của nạn
buôn bán, tiêu thụ động vật hoang dã trái phép.

Theo kết quả khảo sát vừa được công bố mới đây của
Trung tâm Giáo dục Thiên nhiên , không chỉ
dân thành phố mà 30% số người được khảo sát tại nông
thôn cũng đã từng sử dụng mật gấu với mục đích tăng
cường sức khỏe, chữa trị vết thương. Ở Việt
Nam, hổ cũng là loài đang có nguy cơ tuyệt chủng. Chúng
bị săn bắt để lấy da, xương, hay các bộ phận khác. Tiết
hổ thường được cánh đàn ông pha lẫn với rượu và uống
như một món đồ bồi bổ dương khí. Những chiếc nanh hổ
cũng bị nhổ ra đem bán cho những đại gia thích sưu tập với
giá cả chục triệu đồng. Còn thịt hổ được chế biến
thành nhiều món nhậu hoặc nấu cao.

Những lời đồn thổi về tính năng"trị bách
bệnh" của cao hổ cốt khiến nhiều người phải
"săn" cho kỳ được vài lạng cao hổ cốt để "pha
chế" trong bàn tiệc, chứng tỏ đẳng cấp với thiên
hạ. Việc mua, bán, tiếp thị loại cao này cũng khá rầm rộ
trên mạng cũng như tại các nhà hàng, quán nhậu. Giá cả thì
cũng thật phong phú, từ 20-30 triệu đồng/lạng cho đến giá
siêu rẻ" chỉ chừng vài ba triệu đồng. Chính vì
nguồn cầu ngày một gia tăng của giới thượng
lưu đã kéo theo nguồn cung tăng, khiến nạn săn bắt ĐVHD ngày
càng hoành hành. 
(1 con vọc bị hành hạ trước khi bị giết)

Quá khó để bảo tồn động vật hoang dã ?

Có quá nhiều yếu tố khách quan và chủ quan khiến bảo tồn
ĐVHD quý hiếm tại Việt Nam gặp bất cập. Thứ
nhất, hiện hầu hết quần thể ĐVHD VN có số lượng ít. Hơn
nữa, đặc thù rừng Việt Nam lại là các mảng
rừng đều bị chia cắt nhỏ, khu bảo tồn lớn nhất là Yokdon
cũng chỉ hơn 100.000ha, Cát Tiên là 70.000ha... Sự chia cắt sinh
cảnh lớn nên động vật không có hành lang để giao lưu với
nhau. Một yếu tố quan trọng nữa là các khu bảo tồn nước ta
đang bị tác động lớn bởi con người. Áp lực hàng ngày vào
rừng rất lớn trong khi lực lượng chức năng vừa yếu, vừa
thiếu lại không có địa vị pháp lý, thậm chí nhiều nơi còn
không được sự ủng hộ của các cấp chính quyền và các
ngành.

Hiện nay, 2 quy định pháp luật gây lo ngại nhất đối với
các nhà khoa học và các nhà bảo tồn là Nghị định 32/2006 do
Chính phủ ban hành về quản lý thực vật rừng, động vật
rừng nguy cấp quý hiếm và Thông tư 90/2008 do Bộ NN-PTNT ban
hành về việc hướng dẫn xử lý tang vật là động vật rừng
sau khi tịch thu. Căn cứ trên những văn bản này, nhiều loài
ĐVHD có giá trị kinh tế cao bán đấu giá sẽ tăng thêm kinh
phí cho ngân sách. Tuy nhiên, nếu muốn tăng ngân sách nên tăng
khung hình phạt và xử phạt đối tượng vi phạm nghiêm minh,
chứ không chỉ bán đấu giá. Phải tách bạch rõ ràng hai chức
năng bảo vệ ĐVHD và tăng nguồn thu cho ngân sách để bảo
đảm quá trình thực thi pháp luật được minh bạch, nghiêm
khắc.

Điều 190, Bộ Luật Hình sự đã quy định về tội vi phạm
các quy định về bảo vệ động vật hoang dã quý hiếm, ngoài
các chế tài phạt tiền, người vi phạm có thể bị tù tới 7
năm. Nhưng cho đến nay, mặc dù động vật hoang dã bị giết
hại, buôn bán hàng ngày, nhưng mới chỉ có vài phiên tòa xử
các vụ vi phạm các quy định bảo vệ động vật hoang dã.
Chế tài không nghiêm chính là nguyên nhân chủ yếu để động
vật hoang dã đang vắng dần đi trong các cánh rừng hiếm hoi
trên đất nước. 
Điều lưu ý cuối cùng dành cho các đại gia và những người
ham thưởng thức động vật hoang dã là hầu hết các thịt và
động vật hoang dã từ nơi săn bắt được về đến thành
phố đều đã thiu thối và các nhà hàng phải sử dụng các
chất tẩy rửa hóa học để làm sạch lẫn làm tươi. Ăn
những của thiu thối này, khỏe chưa thấy đâu, bệnh lại
chắc chắn mắc.

Chủ Nhật, 10 tháng 8, 2014

Tưởng như là Hạnh phúc - Thơ Thuyên Huy

Để tặng TQS, người vẫn còn lăn lóc trên đường đời nghiệt ngã, sau năm bỏ trường đi đầu mùa Hạ một chín sáu chín.


Thương anh từ thuở còn đi học
Thuở tóc cài hoa trông rất quê
Cổng nhà ai đó rung hoa giấy
Lýnh quýnh đôi chân vụng bước về

Anh bỏ trường đi mùa Phượng nở
Tôi dấu buồn trong giấy học trò
Cổng hoa từ đó rưng màu máu
Giết chết hồn tôi anh biết chưa

Nơi anh ở đó trời có nắng
Hay chỉ là mưa ngập cả lòng
Đớn đau tôi làm chim lẻ bạn
Mang mối tình câm anh thấy không

Mưa lạnh một chiều quân giặc đến
Tôi bỏ làng xưa của nửa đời
Bỏ hoa Giấy rụng hoang thềm vắng
Bỏ tuổi học trò thương mãi thôi

Tin anh phương đó vui duyên mới
Tan nát hồn tôi bỗng rụng rời
Chờ anh năm dài tôi vẫn nghĩ
Thôi hết thật rồi anh bỏ tôi



Chuông vọng vỡ tan hồn con gái
Tóc quy y biệt tóc cài hoa
Trả lại ai nửa đời xuân mộng
Để mãi không còn nhau xót xa.


Thuyên Huy


Ý nghĩa ngày lễ Vu Lan - ST : Hồ Nguyễn

                 
 Ý NGHĨA NGÀY LỄ VU LAN (RẰM THÁNG 7)
         Rằm Tháng Bảy (7) Âm lịch hàng năm là ngày xá tội vong nhân, dân gian gọi một cách nôm na là ngày cúng cô hồn. Nhưng đây cũng còn là ngày báo hiếu mà giới tăng ni Phật tử gọi là ngày Lễ Vu Lan. Vậy lễ này và lễ cúng cô hồn có phải là một hay không? Và từ đâu có xuất xứ của hai tiếng “Vu Lan”?
        Ngày rằm tháng 7 còn gọi là ngày “Xá Tội Vong Nhân” để cúng các chúng sinh không nhà, không cửa. Các ngôi chùa vào ngày này sẽ mở khóa lễ phá ngục cho chúng sinh và tổ chức lễ Vu Lan (ngày con báo hiếu cha mẹ). Sau đây là truyền thuyết ngày rằm tháng 7.
        Ngày xưa, La Bộc là con ông Phổ Tướng và bà Thanh Đề. La Bộc phải đi buôn ở tỉnh Kiên Liên để phụ cho gia đình đang túng thiếu. Sau khi đã giàu có, La Bộc cho người về quê biếu tiền mẹ già.  Bà mẹ già lại ăn hết số tiền đó, lại sai người giết chó làm nhân bánh biếu sư. Khi La Bộc trở về thì bà mẹ nói dối rằng số tiền mà La Bộc gởi bà đã gửi tiền làm quà tặng cho các chùa. Sau đó, chẳng bao lâu thì bà mẹ của La Bộc chết.
        La Bộc đi qua nước Ki Đô ở nơi Phật ở. La Bộc xin ở lại tu luyện. Phật thương tình ưng thuận và sai thầy Kha Na cắt tóc cho ông, đặt tên La Bộc là Mục Liên và tu ở chùa Lã Bí trong rừng Quýt Sơn.
        Nếu muốn đến được rừng Quýt Sơn, người ta phải đi qua một ngôi chùa tên là Thiên Giai, là nơi có những âm hồn nghe kinh. Mục Liên chỉ nhận ra người cha mà không thấy mẹ mình. Mục Liên khóc, Phật hiện lên bảo cho biết là bà Thanh Đề khi còn sống làm nhiều điều gian ác nên bị đày xuống ngục A Tỳ rồi. Nghe vậy, Mục Liên liền lặn lội xuống ngục tìm mẹ. Khi tới ngục Mục Liên thấy mẹ mình đang bị nhiều cực hình.
       Mục Liên thấy mẹ cực khổ như vậy rất đổi đau lòng, về nói lại cho Đức Phật biết. Phật dạy phải nhờ tới uy lực của mười phương Chúng Tăng, để những bà mẹ đang đau khổ đều được giải thoát. Ngày rằm tháng 7 là ngày tự tứ của mười phương Tăng. Mục Liên làm đúng lời phật và giải thoát được mẹ khỏi cực hình.
         Ngày rằm tháng 7 bên Trung Quốc còn được gọi là tết Trung Nguyên, có tục lệ cúng tổ tiên. Theo dân gian thì trong ngày này ở âm phủ khảo chiếu sổ sách để đại xá cho các linh hồn ma quỷ cô đơn ngoài đồng nội.
         Do đó, dựa vào tích ấy ngày rằm tháng 7 các chùa đều làm lễ cho các tội nhân.  Noi gương hiếu thuận của Mục Liên ngày rằm tháng 7 trở thành ngày tết Vu Lan, con báo ân cha mẹ.
         Một truyền thuyết khác có kể rằng: Lễ Vu Lan bắt nguồn từ sự tích về lòng hiếu thảo của Ông Ma Ha Một Ðặc Già La, thường gọi là Ðại Mục Kiền Liên, gọi tắt là Mục Liên. Vốn là một tu sĩ khác đạo, về sau Mục Liên đã quy y và trở thành một đệ tử lớn của Phật, đạt được sáu phép thần thông rồi được liệt vào hạng thần thông đệ nhất trong hàng đệ tử của Phật. Sau khi đã chứng quả A La Hán, Mục Liên ngậm ngùi nhớ đến mẫu thân, bèn dùng huệ nhãn nhìn xuống các cõi khổ mà tìm thì thấy mẹ đã đọa vào kiếp ngạ quỷ (quỷ đói) nơi địa ngục A Tì. Thân hình của bà tiều tụy, da bọc xương, bụng ỏng đầu to, cổ như cọng cỏ. Mẹ Mục Liên đói không được ăn, khát không được uống. Quá thương cảm xót xa, Mục Liên vận dụng phép thần thông, tức tốc đến chỗ mẹ. Tay bưng bát cơm dâng mẹ mà nước mắt lưng tròng. Mẹ Mục Liên vì đói khát lâu ngày nên giật vội bát cơm mà ăn. Tay trái bưng bát, tay phải bốc cơm nhưng chưa vào đến miệng thì cơm đã hóa thành lửa. Mục Liên đau đớn vô cùng, khóc than thảm thiết rồi trở về bạch chuyện với Ðức Phật để xin được chỉ dạy cách cứu mẹ.
         Phật cho Mục Liên biết vì nghiệp chướng của các kiếp trước mà mẹ ông mới phải sanh vào nơi ác đạo làm loài ngạ quỷ. Một mình Mục Liên thì vô phương cứu được mẹ dù ông có thần thông đến đâu và dù lòng hiếu thảo của ông có thấu đến đất trời, động đến thần thánh. Phải nhờ đến uy đức của chúng tăng khắp các nẻo đồng tâm hiệp ý cầu xin cứu rỗi cho mới được. Bởi vậy, Phật dạy Mục Liên phải thành kính đi rước chư tăng khắp mười phương về, đặc biệt là các vị đã chứng được bốn quả thánh hoặc đã đạt được sáu phép thần thông.
        "Này Mục Kiền Liên, mẹ của ông do lòng tham lam độc ác đã tạo ra tội lỗi nặng nề trong nhiều kiếp, nay sinh trong ác đạo làm loài ngạ quỉ, nên không thể một mình ông cứu độ được. Dẫu lòng hiếu thảo của ông vô cùng lớn lao cũng không sao chuyển được hoàn cảnh, chẳng khác gì chiếc thuyền con, không thể chở được tảng đá lớn. Vậy ông phải nhờ oai thần của chúng tăng trong mười phương, "thập phương chúng hội" đức lớn như biển, mới cứu độ mẹ ông được giải thoát. Ta sẽ chỉ cho ông phương pháp cứu độ mẹ ông.
Đức Phật dạy:
         "Này Mục Kiền Liên, ngày rằm tháng bảy là ngày tự tứ của chư tăng khắp nơi, sau ba tháng an cư kiết hạ, các chư tăng tiến bộ rất nhiều trên đường tu học. Nhân ngày ấy, ông hãy làm lễ Vu Lan Bồn để báo hiếu cho mẹ ông.
        "Ông hãy sắm sửa đủ các món ăn chay, năm thứ trái cây, cùng hương dầu đèn nến, giường chõng chiếu chăn, mùng mền quần áo, thau rửa mặt, khăn lau tay... Tóm lại, là đủ bốn món cúng dường quí báu trên đời. Rồi ông phải thân hành đi rước các vị đại đức trong mười phương, hoặc những vị thiền định trong núi rừng chứng được bốn quả thánh, hoặc các vị bồ tát thị hiện làm thầy tỳ kheo... Ông phải thành tâm kính lễ trai tăng cúng dường và thỉnh cầu chư tăng chú nguyện cho vong linh mẹ ông được thoát khổ. Nhờ công đức chí thành chú nguyện, vong linh mẹ ông sẽ được siêu thoát. Cũng như tảng đá dù nặng trăm cân, nhưng có nhiều người khiêng thì dời đi đâu cũng được".


          Nhờ công đức cầu nguyện của các vị này, vong linh mẹ Mục Liên mới thoát khỏi khổ đạo. Phật lại dạy Mục Liên sắm đủ các món để dâng cúng các vị ấy, nào là thức thức thời trân, hương dâu đèn nến, giường chõng chiếu gối, chăn màn quần áo, thau rửa mặt, khăn lau tay cùng các món nhật dụng khác. Ðúng vào ngày rằm tháng 7 thì lập trai đàn để cầu nguyện, thiết trai diên để mời chư tăng thọ thực. Trước khi thọ thực, các vị này sẽ tuân theo lời dạy của Ðức Phật mà chú tâm cầu nguyện cho cha mẹ và ông bà bảy đời của thí chủ được siêu thoát. Mục Liên làm đúng như lời Phật dạy. Quả nhiên vong mẫu của ông được thoát khỏi kiếp ngạ quỷ mà sanh về cảnh giới lành. Cách thức cúng dường để cầu siêu đó gọi là Vu Lan bồn pháp, lễ cúng đó gọi là Vu Lan bồn hội, còn bộ kinh ghi chép sự tích trên đây thì gọi là Vu Lan bồn kinh.
          Ngày rằm tháng 7 do đó được gọi là ngày lễ Vu Lan. Vậy lễ này có phải cũng là lễ cúng cô hồn hay không? Không! Ðây là hai lễ cúng khác nhau được cử hành trong cùng một ngày. Sự tích lễ cúng cô hồn đại khái như sau: Cứ theo “Phật Thuyết Cứu Bạt Diệm Khẩu Ngạ Quỷ Ðà La Ni Kinh” mà suy thì việc cúng cô hồn có liên quan đến câu chuyện giữa ông A Nan Ðà, thường gọi tắt là A Nan, với một con quỷ miệng lửa (diệm khẩu) cũng gọi là quỷ mặt cháy (diệm nhiên). Có một buổi tối, A Nan đang ngồi trong tịnh thất thì thấy một con ngạ quỷ thân thể khô gầy, cổ nhỏ mà dài, miệng nhả ra lửa bước vào. Quỷ cho biết rằng ba ngày sau A Nan sẽ chết và sẽ luân hồi vào cõi ngạ quỷ miệng lửa mặt cháy như nó. A Nan sợ quá, bèn nhờ quỷ bày cho phương cách tránh khỏi khổ đồ.
         Quỷ đói nói: ”Ngày mai ông phải thí cho bọn ngạ quỷ chúng tôi mỗi đứa một hộc thức ăn, lại vì tôi mà cúng dường Tam Bảo thì ông sẽ được tăng thọ mà tôi đây cũng sẽ được sanh về cõi trên”. A Nan đem chuyện bạch với Ðức Phật. Phật bèn đặt cho bài chú gọi là “Cứu Bạt Diệm Khẩu Ngạ Quỷ Ðà La Ni”, đem tụng trong lễ cúng để được thêm phước. Phật tử Trung Hoa gọi lễ cúng này là Phóng diệm khẩu, tức là cúng để bố thí và cầu nguyện cho loài quỷ đói miệng lửa, nhưng dân gian thì hiểu rộng ra và trại đi thành cúng cô hồn, tức là cúng thí cho những vong hồn vật vờ không nơi nương tựa vì không có ai là thân nhân trên trần gian cúng bái. Vì tục cúng cô hồn bắt nguồn từ sự tích này, cho nên ngày nay người ta vẫn còn nói cúng cô hồn là Phóng diệm khẩu. Có khi còn nói tắt thành Diệm khẩu nữa. Diệm khẩu, từ cái nghĩa gốc là (quỷ) miệng lửa, nay lại có nghĩa là cúng cô hồn. Ðiều này góp phần xác nhận nguồn gốc của lễ cúng cô hồn mà chúng tôi đã trình bày trên đây. Phóng diệm khẩu mà nghĩa gốc là “thả quỷ miệng lửa”, về sau lại được hiểu rộng thêm một lần nữa thành “tha tội cho tất cả những người chết”. Vì vậy, ngày nay mới có câu: “Tháng bảy ngày rằm xá tội vong nhân”.
          Vậy lễ Vu Lan và lễ cúng cô hồn là hai lễ cúng khác nhau. Một đằng thì liên quan đến chuyện ông Mục Liên, một đằng lại liên quan đến chuyện ông A Nan. Một đằng là để cầu siêu cho cha mẹ và ông bà bảy đời, một đằng là để bố thí cho những vong hồn không ai thờ cúng. Một đằng là báo hiếu, một đằng là làm phước. Sự khác nhau giữa hai bên là hiển nhiên, nhưng nhiều người vẫn cứ lẫn lộn. Chẳng hạn trước đây, ông Thái văn Kiểm cho rằng lễ Vu Lan và lễ (xá tội) vong nhân (fête des Trépassés) là một. Còn lễ cúng cô hồn (fête des âmes errantes) và lễ xá tội vong nhân (Pardon des Trépassés) chính là một thì ông lại xem là hai (Xem: Les fêtes traditionnelles Vietnamiennes, B.S.E.I., t. XXXVI, no1, 1961, pp. 64-65). Mới đây, hai tác giả Thích Minh Châu và Minh Chi cho rằng lễ Vu Lan là để cầu nguyện cho vong hồn những người đã chết (Chúng tôi nhấn mạnh – HT) không còn phải đọa cảnh khổ nữa (Từ điển Phật học Việt Nam, Hà Nội, 1991, tr. 795, mục Vu Lan bồn). Nhưng đây không phải là “những người đã chết”nói chung, vì như đã biết, đó chỉ là cha mẹ cùng với ông bà bảy đời mà thôi.
         Trở lên là nói về sự khác nhau giữa lễ cúng cô hồn với lễ báo hiếu, thường gọi là lễ Vu Lan. Vu Lan là dạng tắt của Vu Lan bồn. Nhưng Vu Lan bồn là gì? Sau đây là lời giảng của Thích Minh Châu và Minh Chi: “Bồn là cái chậu đựng thức ăn. Cái chậu đựng thức ăn đem cúng dường chư tăng vào ngày rằm tháng 7 để cầu nguyện cho vong hồn những người đã chết không còn phải đọa cảnh khổ nữa. Vu Lan dịch âm từ chữ Sanscrit Ullabana, là cứu nạn treo ngược. Những người làm nhiều điều ác đức, sau khi chết, phải thác sinh xuống những cõi sống rất khổ gọi là địa ngục. Ở đây có một khổ hình cho họ là bị treo ngược (Sđd, tr. 795). Chúng tôi sẽ dựa vào lời giảng này mà tìm hiểu về xuất xứ của mấy tiếng “Vu Lan” và “Vu Lan bồn”. Lời giảng này có bốn điểm sai mà điểm sai thứ nhất thì chúng tôi vừa mới chỉ ra ở những dòng cuối của đoạn trên.
          Sau đây là điểm sai thứ hai: Nói bồn là cái chậu đựng thức ăn thì không đúng vì bồn chỉ là một yếu tố phiên âm (sẽ phân tích rõ ở phần sau) mà thôi. Nói rằng đó là “cái chậu đựng thức ăn đem cúng dường chư tăng vào ngày rằm tháng 7” thì lại sai theo một kiểu khác nữa. Chậu là “đồ dùng thường làm bằng sành sứ hoặc kim loại, miệng rộng, lòng nông, dùng để đựng nước rửa ráy, tắm giặt hoặc để trồng cây v.v…” (Từ điển tiếng Việt 1992). Vậy đựng thức ăn trong loại đồ dùng đó mà dâng lên cho chư tăng thọ thực là một hành động hoàn toàn thất nghi và thất lễ. Thật ra, Phật đã dạy Mục Liên như sau:
                   “Phải toan sắm sửa chớ chầ,y
Ðồ ăn trăm món trái cây năm màu.
Lại phải sắm giường nằm nệm lót,
Cùng thau, bồn, đèn đuốc, nhang dầu.
Món ăn tinh sạch báu mầu,
Ðựng trong bình bát vọng cầu kính dâng”.
                           (Diễn ca kinh Vu Lan bồn)
          Thau, bồn (chậu) chỉ là những thứ phải dâng cho chư tăng trong dịp Vu Lan để dùng trong việc rửa ráy, tắm giặt … mà thôi. Còn thức ăn thì phải “tinh sạch báu mầu, đựng trong bình bát” đàng hoàng lịch sự, chứ có đâu lại đựng trong chậu.
         Thật ra, trước Thích Minh Châu và Minh Chi, cũng có những học giả đã giảng như trên, chẳng hạn Ðoàn Trung Còn trong bộ từ điển lớn về Phật học hoặc Toan Ánh trong bộ sách dày về nếp cũ. Ðây là một cách giảng lệ thuộc vào cái sai của sách vở Trung Hoa. Từ Nguyên chẳng hạn, đã giảng về mấy tiếng Vu Lan bồn như sau: “Nói lấy chậu đựng trăm thức để cúng dường chư Phật” (Vị dĩ bồn trữ bách vị cung dưỡng chư Phật).
Ðiểm sai thứ ba là đã theo cái sai của những người đi trước mà giảng Vu Lan thành” cứu nạn treo ngược”, vì thấy từ điển Trung Hoa giảng Vu Lan bồn là “cứu đảo huyền”. Thật ra, khi Từ Nguyên chẳng hạn, giảng Vu Lan bồn thành “cứu đảo huyền” là đã mượn hai tiếng “đảo huyền ” trong sách Mạnh Tử. Trong sách này, có cú đoạn “Dân chi duyệt chi do Giải đảo huyền dã” nghĩa là “như giải thoát khỏi sự khốn khổ tột cùng vậy “. Chính Từ Nguyên cũng đã giảng” đảo huyền “là sự khốn khổ tột cùng” (khốn khổ chi thậm). Vậy “cứu đảo huyền” không phải là “cứu nạn treo ngược” mà lại là “giải thoát khỏi sự khốn khổ tột cùng”. Hai tiếng “đảo huyền” ở đây không còn được hiểu theo nghĩa đen nữa. Nghĩa của chúng ở đây cũng giống như nghĩa của chúng trong thành ngữ “đảo huyền chi tế” là tình cảnh khốn khó, chứ không phải là “cảnh bị treo ngược”.
          Ðiểm sai thứ tư là ở chỗ nói rằng danh từ Sanscrit “Ullabana” có nghĩa là “cứu nạn treo ngược”. Trước nhất, cần nói rằng từ Sanscrit này đã bị viết sai. Vậy không biết ở đây hai tác giả muốn nói đến danh từ Sanscrit nào, nhưng cứ theo dạng sai chính tả đã thấy thì có thể luận ra rằng đó là một trong hai từ sau đây: Ullambana hoặc Ullambhana. Ở đây, xin phân tích từ thứ nhất: Ullambana gồm có ba hình vị: ud (trở thành ul do quy tắc biến âm samdhi khi d đứng trước l) là một tiền tố, thường gọi là tiền động từ (préverbe) chỉ sự vận động từ dưới lên, lamb là căn tố động từ có nghĩa là treo và ana là hậu tố chỉ hành động. Vậy Ullambana có nghĩa là sự treo lên. Nhưng tất cả chỉ có như thế mà thôi! Từ Sanscrit này không hề diễn đạt cái ý treo ngược hoặc treo xuôi gì cả. Nó lại càng không thể có nghĩa là “cứu nạn treo ngược” được.
          Trở lại ý trên, chúng tôi đã nêu ra những điểm sai trong lời giảng của Thích Minh Châu và Minh Chi về hai tiếng “Vu Lan”. Vậy đâu là xuất xứ và ý nghĩa đích thực của hai tiếng này? Trước nhất, Vu Lan là dạng nói tắt của “Vu Lan bồn”. Ðây là ba tiếng đã được dùng để phiên âm danh từ Sanscrit Ullambhana. Từ này thoạt đầu đã được phiên âm bằng bốn tiếng Hán đọc theo âm Hán Việt là Ôlambàna. Dạng phiên âm cổ xưa này đã được Từ Hải khẳng định. Về sau, Ôlambàna được thay thế bằng dạng phiên âm mới là “Vu Lan bồn”, trong đó Vu thay thế cho Ô, lan cho lam và bồn cho bà + n (a). Vì “Vu Lan bồn” chỉ là ba tiếng dùng để phiên âm, cho nên từng tiếng một (Vu, Lan, bồn) hoàn toàn không có nghĩa gì trong Hán ngữ cả. Do đó, tách bồn ra mà giảng thành “cái chậu đựng thức ăn” như hai tác giả Thích Minh Châu và Minh Chi đã làm là hoàn toàn không đúng.


           Ullambhana có nghĩa là sự giải thoát. Danh từ Sanscrit này có ba hình vị: Tiền tố ud (trở thành ul vì lý do đã nói), căn tố động từ lambh và hậu tố ana. Xin nói rõ về từng hình vị: Không giống như trong Ullambana, ở đó nó chỉ sự vận động từ dưới lên. Trong Ullambhana, tiền tố ud chỉ ý phủ định hoặc đối lập, thí dụ: chad (che, bọc, phủ), dv (đối với), uc-chad (cởi quần áo), khan (chôn), đv ut-khan (moi lên), gam (đi), đv ud-gam (đi ra), nah (trói, buộc), đv un-nah (cởi trói) v.v… Trong những thí dụ trên, ud trở thành uc, ut, un do quy tắc biến âm samdhi. Còn các căn tố động từ thì được ghi bằng chữ in hoa theo truyền thống khi chúng được tách riêng. Căn tố động từ lambh là hình thái luân phiên với labh, có nghĩa là lấy, chiếm lấy, nắm bắt … Vậy Ul-lambh có nghĩa là giải thoát. Hậu tố ana chỉ hành động có liên quan đến ý nghĩa mà tiền tố và căn tố động từ diễn đạt. Vậy Ullambhana có nghĩa là sự giải thoát. Ullambhana được phiên âm sang Hán ngữ bằng ba tiếng dọc theo âm Hán Việt là “Vu Lan bồn”. Vu Lan bồn được nói tắt thành Vu Lan. Vậy Vu Lan là sự giải thoát. Xuất xứ của nó là danh từ Sanscrit Ullambhana. Ðây là từ thứ hai trong hai từ mà chúng tôi đã suy đoán ở trên. Trong cấu tạo của từ này, tuyệt nhiên cũng không có một thành tố nào mà về ngữ nghĩa lại có liên quan đến hiện tượng “treo ngược” cả.
          Theo thong lệ, kể từ ngày Rằm tháng 7 cho đến cuối tháng, các Phật tử hay người thờ cúng ông bà, ngày nào cũng đến đọc kinh Vu Lan tại bàn thờ gia đình hay tại chùa, đồng thời ăn chay niệm Phật, làm phúc bố thí, để tưởng nhớ, chú nguyện, và hồi hướng công đức cho cha mẹ ông bà và tất cả những người quá cố khác, kể cả những vong linh mồ côi vất vưởng đó đây (gọi là cô hồn). Trong nửa tháng này, bàn thờ Phật trong nhà lúc nào cũng trưng bày nhang đèn, bông hoa và ngũ quả (5 loại trái cây). Theo phong tục, gia chủ tùy nghi chọn riêng một ngày nào đó trong nửa tháng này để làm lễ cúng cô hồn ở phía trước nhà. Cúng xong, họ thường tung gạo, muối, trái cây, bánh kẹo, tiền bạc... - vừa được dùng làm lễ vật để cúng - ra bốn phương với ý nghĩa để các cô hồn hưởng dụng.


           Tôn giáo Cao Đài cũng thiết Đại lễ cúng Đàn tại Tòa Thánh Tây Ninh, các Thánh Thất và Điện Thờ Phật Mẫu các nơi trong nước và hải ngoại để kỷ niệm ngày lễ lớn trên gọi là Lễ Trung Ngươn Rằm Tháng Bảy vào đúng ngày Rằm. Nhưng trước ngày lễ lớn đó, vào ngày 14-7 ÂL, sau khi cúng thời xong, đọc kinh Di Lạc, Kinh Cứu Khổ và tụng Kinh Sám Hối rất trang trọng.                                               .           
___________

Tài liệu sưu tầm từ An Chi (Huệ Thiên) & PGVN.net

Hồ Xưa bổ túc thêm, trình bày kỷ thuật và chuyển

Thứ Bảy, 9 tháng 8, 2014

Mừng Lễ MẸ - Thơ Hồ Nguyễn

          
  MỪNG LỄ MẸ
Tháng bảy VU LAN đến mọi nhà,
Tưng bừng lễ mẹ khắp gần xa.
Bông hồng hiếu thảo vui còn mẹ,
Hoa trắng dâng hồn mẹ thiết tha.
Nghĩa cả ghi tâm lưu mãn kiếp,
Ơn sâu khắc dạ đậm chan hòa.
          VU LAN cảm nghĩ ơn trời biển,
          Mẹ mãi bên ta rực sáng lòa.
                    (Tháng 7 Giáp Ngọ - 2014) HỒ NGUYỄN
 Nhân mùa Vu Lan báo hiếu, kính chúc mọi nhà an vui hạnh phúc. 
Cầu nguyện Cửu Huyền Thất Tổ siêu thăng tịnh độ

KÍNH MỜI XEM và HỌA (NẾU THÍCH) THƠ TRĂNG THU của HỒ NGUYỄN

TRĂNG THU Mây buồn kéo đám bám che trăng, Cuội ngóng chờ trông bóng chị Hằng. Chim mất tổ sầu kêu thảm thiết, Lá buông cành chiếc rớt tung ...