Thứ Tư, 29 tháng 11, 2017
Facebook dùng trí tuệ nhân tạo chống nạn tự tử
Facebook ngày 27/11/2017 loan báo triển khai một hệ thống trí tuệ nhân tạo nhằm nhận diện nhanh chóng và kịp thời ngăn cản các thành viên có ý định tự tử.
Công nghệ này tự động tìm kiếm các dấu hiệu từ các bài viết và video phát trực tiếp trên Facebook Live, để nhanh chóng báo động cho các nhân viên của mạng xã hội và các tổ chức chuyên môn hỗ trợ. Trí thông minh nhân tạo sẽ xem xét kỹ các bài viết của những thành viên, và cả các câu trả lời của bạn bè họ.
Facebook đã đưa vào các công cụ giúp người sử dụng có thể báo hiệu nếu một người bạn có dấu hiệu muốn tự tử. Nhưng trí tuệ nhân tạo giúp báo động nhanh hơn, thậm chí còn phát hiện những dấu hiệu mà cư dân mạng không nhận ra.
Mark Zuckerberg, ông chủ Facebook tuyên bố : « Nhiều sự kiện bi thảm đã diễn ra, trong đó có các vụ tự tử, một số được phát trực tiếp, lẽ ra có thể tránh được nếu có ai đó nhận ra vào báo động sớm. Trí tuệ nhân tạo sẽ giúp sức một cách đắc lực ».
Sau khi thử nghiệm tại Hoa Kỳ, Facebook sẽ triển khai hệ thống này sang các nước khác, trừ Liên hiệp Châu Âu vì vấp phải các quy định bảo vệ dữ liệu cá nhân chặt chẽ của châu lục này.
http://vi.rfi.fr/quoc-te/20171128-facebook-tu-tu-tri-thong-minh-nhan-tao.
(Posted by Thuy My-rfi)
Huế Nói Trại - Không Đề Tên Tác Giả
Nói trại là nói sai giọng, không đúng âm theo giọng viết, nói trại đôi
khi cũng dùng trong trường hợp “nói khác đi, nói cách khác” . Cách nói bị biến
âm này rất phổ thông ở Huế, nhất là dân cư vùng biển . Nói trại làm cho âm
thanh nặng hơn, khó hiểu hơn .
Con tâu tắng ăn ngoài bụi te tức là con trâu trắng ăn ngoài bụi tre .
Tời tong tẻo,nước tong veo: Trời trong trẻo, nước trong veo .
Hầu hết những từ bắt đầu bằng “nh” đều được người Huế nói trại thành “gi”: già (nhà) .
Giớ già giớ vợ ở già: Nhớ nhà nhớ (luôn) vợ ở nhà!
Những từ bắt đầu bằng “s” thì nói trại ra thành “th”:
Ăn thung mặc thướng:Ăn sung mặc sướng hoặcThầy gòn là Sài gòn, hoặc nữa: Noái năng thòng phẳng: nói cho sòng phẳng, rõ ràng .
Lối phát âm của người Huế không xác định được âm cuối là “n” hay “ng”:
Con thằng lằng chép miệng thở thang !: Con thằn lằn chép miệng thở than!
Những chữ có âm “o” thường nói trại ra “oa”: Xa voài voại, noái khôn tới, với khôn được, ngó khôn chộ: Xa vòi vọi, nói không tới, với không được, nhìn không thấy!
Hoặc nữa: Đi coai boái, thầy boái noái đi coai cái voài voai
Đi coi bói, thầy bói nói đi coi cái vòi voi !
Những chữ có âm “ô”, người Huế thường nói trại thành âm “u”:
Thúi trong thúi ra: Thối từ trong ra ngoài. Túi lửa tắt đèn: Tối lửa tắt đèn.
Vô rú mà đốn săng: Vào rừng mà đẵn gỗ . Săng cũng đã góp mặt trong mấy câu hò giã gạo với lối đối đáp rất “văn hóa” của Huế:
Bên nữ:
Lẻ củi săng chẻ ra văng vỏ
Bỏ vô lửa đỏ than lại thành than
Trai nam nhân chàng mà đối đặng
Thiếp xin kết nghĩa tào khang trọn đời
Nghĩa: Cây củi gỗ chẻ ra văng (Văn) vỏ (Võ), thảy vô lửa thì thành (Thành) than (Thang) . Cái kẹt là ý lại thâm hậu, cao xa hơn nhiều: Các danh từ :Văn, Võ Thành, Thang là những vị vua thời Tam Đại, Tây Châu bên Tàu .
Bên Nam:
Trâu ăn giữa vạc ló lỗ
Đã ngụy chưa tề !
Nam nhân chàng đã đối đặng
Thiếp đã chịu theo chàng hay chưa ?
Nghĩa: Con trâu (Trâu) ăn giữa vạt lúa trổ (Lỗ), sao kỳ quá vậy ? Ý ư, cũng điển tích như ai: Trâu, Lỗ, Ngụy Tề là bốn nước thời Xuân thu Chiến Quốc cũng ở bên Tàu luôn . Còn hai người có “tào khang” với nhau được hay không là chuyện . . .
của họ
En trên rầm thượng bổ xuống, nằm ngay đơ cán cuốc, phải địu đi nhà thương !:Anh ấy té trên rầm thượng té xuống, nằm cứng như cán cuốc, phải bồng, cõng đi nhà thương ! ( Bệnh viện ).
Rầm thượng là gác lửng, hay kho chứa bên dưới mái nhà ? Ở Huế, rầm thượng không phải là chỗ ngủ nghỉ mà là nơi chứa những đồ gia dụng đáng giá nhưng phải cỡ nhỏ, vì không có lối lên . Muốn lên rầm thượng, phải bắc thang; thân phụ tôi đã dùng rầm thượng để cất giữ những đồ cổ vừa phải, không qúy lắm .Còn nếu qúy nữa thì bỏ vào rương xe, một thứ tủ thấp đóng bằng gỗ thật dày, có nắp đậy, có luôn 4 bánh xe để đẩy vì khiêng không nổi, nặng quá mà ! Mặt bằng của rương xe là cái đi-văng, tối tối cứ trải chiếu nằm ngủ trên đó là khỏi lo trộm đạo
Nước mắt chặm hoài không khô, răng khổ ri nì trời !: Nước mắt lau, thấm hoài không khô, sao khổ vậy nè trời ! Chữ chặm cũng đã lãng đãng trong mấy câu hò giã gạo, mà vì não nùng ai oán quá, nghe hò xong e phải . . bỏ chày luôn:
Hai hàng nước mắt như mưa
Cái khăn lau không ráo
Cái áo chặm không khô
Công anh đổ xuống ao hồ
Quì thưa bẩm dạ thuở mô đến chừ !
Mặt mày chạu bạu, ai chịu cho thấu !: Mặt mày một . . đống, ai chịu cho nổi ! Chữ thấu cũng có nghĩa là tới: Kêu trời không thấu: Kêu không tới trời; Vô thấu trong Thầy gòn: Vô tuốt trong Sài gòn . Mả cha cái thằng vô hậu: Tiên sư cái thằng đoảng
Ăn trầu cơi thiếc: Ăn trầu (để) trong hộp, quả bằng thiếc . Cái cơi thiếc cũng đã đi vào tục ngữ Huế: Uống nước chè tàu, ăn trầu cơi thiếc.
“Mả cha mi” là tiếng chửi, lời nhiếc mắng rất thông dụng ở Huế, đồng nghĩa với “mồ cha mày” . Lối chửi này ít thông dụng ở những địa phương khác .
Đi xe hay đi chưn xuống rứa ?: Đi xe hay đi bộ xuống đây vậy ?
Túi thùi thui, có chộ chi mô !: Tối quá, không thấy gì hết!
Rạt gáo rồi mà còn làm le làm gió !:Cạn túi rồi mà còn làm chảnh, làm sang !
Ăn đoại cơm hến, uống đoại nước chè: Ăn tô cơm hến, uống bát nước chè (xanh) .
Tục ngữ Huế: Ăn lưng đoại, làm đoại lưng (làm muốn gãy lưng !) .
Cơm hến, chẳng có chi cầu kỳ, nhưng nhiều mùi vị với lưng bát cơm nguội, rau sống, thân chuối non, rau mùi xắt nhuyễn, nước luộc hến chan vô, cho chút xíu ruốc, bỏ chút ít hến xào, thêm vài trái ớt, đúng với cái ít ỏi của Huế .
Bữa ni đi kéo ghế: Hôm nay đi ăn nhà hàng . Người Huế, nhất là ở thôn quê, thường dọn cơm trên phản, trên tấm ngựa . Không dọn trên bàn nên khỏi có cái vụ kéo cái ghế mà ngồi vào bàn . Vì thế, mỗi khi được dịp đi ăn ở quán, ở nhà hàng thì gọi là đi kéo ghế .
Huế làm đày làm láo, Huế nói chữ
Vâng, người Huế, nhất là mấy o, mấy mệ thì ưa ăn nói văn hoa chữ nghĩa, ưa đa sự đa lự, ưa . . . làm đày làm láo, tức ưa xảnh xẹ, ưa nói lý nói sự, nói dông nói dài . Thêm vào đó, phải nói cho hay, khi trầm khi bổng, lúc nhặt lúc khoan thì “tụng” mới phê !
Cái phong cách noái lặp đi lặp lại của người Huế vừa như là một cách nhấn mạnh, vừa có vẻ dạy đời lại vừa mang nhiều ý nghĩa khác, xa xôi hơn, thâm thúy hơn nữa.
Để mô tả cái sự lanh chanh lắm, xí xọn quá, lu bu lắm . Người Huế ít khi dùng chữ lắm hay chữ quá mà dùng điệp ngữ:Cái con nớ, lanh cha lanh chanh ! Mấy mụ o giọn (nhọn) mồm tức mấy bà chị chồng mỏng mép của Huế vẫn đôi khi chê em dâu: Răng mà hắn vô phép vô tắc rứa hè !: Sao mà nó vô phép quá vậy!
Về màu sắc, người Huế thường có lối nói điệp ngữ để nhấn mạnh:
xanh lè lè, đỏ lòm lòm, đen thùi thui, vàng khè khè, tím giắt giắt (tím ngắt) .
Bởi, cà rịch cà tang rứa mà đoài làm giôn !: Vậy đó, tà tà, lè phè vậy mà đòi làm rể !
Còn nữa, để than trách ông trời sao mưa lâu quá, mấy o ngồi chỏ hỏ trong nhà dòm ra, chép miệng than dài than ngắn: Mưa chi mưa mưa thúi đất thúi đai !.
Một bà mẹ tụng cô con gái, một bà chị cả mô-ran cô em thứ mà nghe cứ như là đang đọc một bài đồng giao với vần điệu, trầm bổng cũng là một trong những sinh hoạt dưới mái gia đình:Mi phải suy đi nghĩ lại cho kỹ ! Mi coi, là con gái con lứa, đừng có đụng chăng hay chớ, cũng đừng lật đa lật đật, cũng đừng có mặt sa mày sỉa . Bọ mạ thì quần ống cao ống thấp, tất ba tất bật để nuôi mình . Tau thấy mi rứa, tau cũng rầu thúi ruột thúi gan !
Cái thông điệp cho thằng em trai thì: Năm tể năm năm tê, mi còn lẩm đa lẩm đẩm, mũi rãi thò lò, chừ mi nậy rồi, phải biết ăn biết noái, biết goái biết mở, vô khuôn vô phép . Chớ mai tê mốt nọ mi nên vai nên vế, nên vợ nên chồng, làm răng mi bông lông ba la hoài như cái đồ trôi sông lạc chợ cho được ?!
Mấy ôn, khi giáo huấn con cháu, vẫn thường trích dẫn ca dao, tục ngữ để đệm thêm cho ý tưởng của mình: Đó, mi thấy đó . Ai ơi chớ phụ đèn chai, thắp trong Cần Chánh rạng ngoài Ngọ Môn . Mi đoảng, mi vô hậu, được bèo quên rá, được cá quên nơm; thì mi lấy ai mà bầu bạn, lấy mô mà tri kỷ !
Xa Huế đã lâu lắm rồi, từ ngày vừa biết tập tành đi nghễ mấy o Đồng Khánh, vừa ngấp nga ngấp nghé muốn vào (nhưng sợ bị chưởi) nhấm nháp thử ly cà phê đen sánh của cà phê Phấn, nơi mà các anh hùng trong thiên hạ vẫn tấp nập ra vào; và cũng vừa biết để dành tiền để mua những tiểu thuyết của Tự Lực Văn Đoàn tại nhà sách Ưng Hạ .
Phong cách Huế không ít thì nhiều cũng đã phôi pha, thổ ngữ Huế cũng không mấy khi có dịp để dùng lại cho đỡ giớ, cho khỏi quên; thành ra cũng xao lãng đi nhiều .
Trong cái xao lãng bỗng có ý nghĩ muốn tìm lại, noái lại tiếng noái của thời cũ rích cũ rang nhưng đằm thắm đó . Cho nên chỉ xin được ghi lại đây những gì còn nhớ mài mại, để gọi là khơi lại chút âm thanh của những ngày xưa cũ
Con tâu tắng ăn ngoài bụi te tức là con trâu trắng ăn ngoài bụi tre .
Tời tong tẻo,nước tong veo: Trời trong trẻo, nước trong veo .
Hầu hết những từ bắt đầu bằng “nh” đều được người Huế nói trại thành “gi”: già (nhà) .
Giớ già giớ vợ ở già: Nhớ nhà nhớ (luôn) vợ ở nhà!
Những từ bắt đầu bằng “s” thì nói trại ra thành “th”:
Ăn thung mặc thướng:Ăn sung mặc sướng hoặcThầy gòn là Sài gòn, hoặc nữa: Noái năng thòng phẳng: nói cho sòng phẳng, rõ ràng .
Lối phát âm của người Huế không xác định được âm cuối là “n” hay “ng”:
Con thằng lằng chép miệng thở thang !: Con thằn lằn chép miệng thở than!
Những chữ có âm “o” thường nói trại ra “oa”: Xa voài voại, noái khôn tới, với khôn được, ngó khôn chộ: Xa vòi vọi, nói không tới, với không được, nhìn không thấy!
Hoặc nữa: Đi coai boái, thầy boái noái đi coai cái voài voai
Đi coi bói, thầy bói nói đi coi cái vòi voi !
Những chữ có âm “ô”, người Huế thường nói trại thành âm “u”:
Thúi trong thúi ra: Thối từ trong ra ngoài. Túi lửa tắt đèn: Tối lửa tắt đèn.
Vô rú mà đốn săng: Vào rừng mà đẵn gỗ . Săng cũng đã góp mặt trong mấy câu hò giã gạo với lối đối đáp rất “văn hóa” của Huế:
Bên nữ:
Lẻ củi săng chẻ ra văng vỏ
Bỏ vô lửa đỏ than lại thành than
Trai nam nhân chàng mà đối đặng
Thiếp xin kết nghĩa tào khang trọn đời
Nghĩa: Cây củi gỗ chẻ ra văng (Văn) vỏ (Võ), thảy vô lửa thì thành (Thành) than (Thang) . Cái kẹt là ý lại thâm hậu, cao xa hơn nhiều: Các danh từ :Văn, Võ Thành, Thang là những vị vua thời Tam Đại, Tây Châu bên Tàu .
Bên Nam:
Trâu ăn giữa vạc ló lỗ
Đã ngụy chưa tề !
Nam nhân chàng đã đối đặng
Thiếp đã chịu theo chàng hay chưa ?
Nghĩa: Con trâu (Trâu) ăn giữa vạt lúa trổ (Lỗ), sao kỳ quá vậy ? Ý ư, cũng điển tích như ai: Trâu, Lỗ, Ngụy Tề là bốn nước thời Xuân thu Chiến Quốc cũng ở bên Tàu luôn . Còn hai người có “tào khang” với nhau được hay không là chuyện . . .
của họ
En trên rầm thượng bổ xuống, nằm ngay đơ cán cuốc, phải địu đi nhà thương !:Anh ấy té trên rầm thượng té xuống, nằm cứng như cán cuốc, phải bồng, cõng đi nhà thương ! ( Bệnh viện ).
Rầm thượng là gác lửng, hay kho chứa bên dưới mái nhà ? Ở Huế, rầm thượng không phải là chỗ ngủ nghỉ mà là nơi chứa những đồ gia dụng đáng giá nhưng phải cỡ nhỏ, vì không có lối lên . Muốn lên rầm thượng, phải bắc thang; thân phụ tôi đã dùng rầm thượng để cất giữ những đồ cổ vừa phải, không qúy lắm .Còn nếu qúy nữa thì bỏ vào rương xe, một thứ tủ thấp đóng bằng gỗ thật dày, có nắp đậy, có luôn 4 bánh xe để đẩy vì khiêng không nổi, nặng quá mà ! Mặt bằng của rương xe là cái đi-văng, tối tối cứ trải chiếu nằm ngủ trên đó là khỏi lo trộm đạo
Nước mắt chặm hoài không khô, răng khổ ri nì trời !: Nước mắt lau, thấm hoài không khô, sao khổ vậy nè trời ! Chữ chặm cũng đã lãng đãng trong mấy câu hò giã gạo, mà vì não nùng ai oán quá, nghe hò xong e phải . . bỏ chày luôn:
Hai hàng nước mắt như mưa
Cái khăn lau không ráo
Cái áo chặm không khô
Công anh đổ xuống ao hồ
Quì thưa bẩm dạ thuở mô đến chừ !
Mặt mày chạu bạu, ai chịu cho thấu !: Mặt mày một . . đống, ai chịu cho nổi ! Chữ thấu cũng có nghĩa là tới: Kêu trời không thấu: Kêu không tới trời; Vô thấu trong Thầy gòn: Vô tuốt trong Sài gòn . Mả cha cái thằng vô hậu: Tiên sư cái thằng đoảng
Ăn trầu cơi thiếc: Ăn trầu (để) trong hộp, quả bằng thiếc . Cái cơi thiếc cũng đã đi vào tục ngữ Huế: Uống nước chè tàu, ăn trầu cơi thiếc.
“Mả cha mi” là tiếng chửi, lời nhiếc mắng rất thông dụng ở Huế, đồng nghĩa với “mồ cha mày” . Lối chửi này ít thông dụng ở những địa phương khác .
Đi xe hay đi chưn xuống rứa ?: Đi xe hay đi bộ xuống đây vậy ?
Túi thùi thui, có chộ chi mô !: Tối quá, không thấy gì hết!
Rạt gáo rồi mà còn làm le làm gió !:Cạn túi rồi mà còn làm chảnh, làm sang !
Ăn đoại cơm hến, uống đoại nước chè: Ăn tô cơm hến, uống bát nước chè (xanh) .
Tục ngữ Huế: Ăn lưng đoại, làm đoại lưng (làm muốn gãy lưng !) .
Cơm hến, chẳng có chi cầu kỳ, nhưng nhiều mùi vị với lưng bát cơm nguội, rau sống, thân chuối non, rau mùi xắt nhuyễn, nước luộc hến chan vô, cho chút xíu ruốc, bỏ chút ít hến xào, thêm vài trái ớt, đúng với cái ít ỏi của Huế .
Bữa ni đi kéo ghế: Hôm nay đi ăn nhà hàng . Người Huế, nhất là ở thôn quê, thường dọn cơm trên phản, trên tấm ngựa . Không dọn trên bàn nên khỏi có cái vụ kéo cái ghế mà ngồi vào bàn . Vì thế, mỗi khi được dịp đi ăn ở quán, ở nhà hàng thì gọi là đi kéo ghế .
Huế làm đày làm láo, Huế nói chữ
Vâng, người Huế, nhất là mấy o, mấy mệ thì ưa ăn nói văn hoa chữ nghĩa, ưa đa sự đa lự, ưa . . . làm đày làm láo, tức ưa xảnh xẹ, ưa nói lý nói sự, nói dông nói dài . Thêm vào đó, phải nói cho hay, khi trầm khi bổng, lúc nhặt lúc khoan thì “tụng” mới phê !
Cái phong cách noái lặp đi lặp lại của người Huế vừa như là một cách nhấn mạnh, vừa có vẻ dạy đời lại vừa mang nhiều ý nghĩa khác, xa xôi hơn, thâm thúy hơn nữa.
Để mô tả cái sự lanh chanh lắm, xí xọn quá, lu bu lắm . Người Huế ít khi dùng chữ lắm hay chữ quá mà dùng điệp ngữ:Cái con nớ, lanh cha lanh chanh ! Mấy mụ o giọn (nhọn) mồm tức mấy bà chị chồng mỏng mép của Huế vẫn đôi khi chê em dâu: Răng mà hắn vô phép vô tắc rứa hè !: Sao mà nó vô phép quá vậy!
Về màu sắc, người Huế thường có lối nói điệp ngữ để nhấn mạnh:
xanh lè lè, đỏ lòm lòm, đen thùi thui, vàng khè khè, tím giắt giắt (tím ngắt) .
Bởi, cà rịch cà tang rứa mà đoài làm giôn !: Vậy đó, tà tà, lè phè vậy mà đòi làm rể !
Còn nữa, để than trách ông trời sao mưa lâu quá, mấy o ngồi chỏ hỏ trong nhà dòm ra, chép miệng than dài than ngắn: Mưa chi mưa mưa thúi đất thúi đai !.
Một bà mẹ tụng cô con gái, một bà chị cả mô-ran cô em thứ mà nghe cứ như là đang đọc một bài đồng giao với vần điệu, trầm bổng cũng là một trong những sinh hoạt dưới mái gia đình:Mi phải suy đi nghĩ lại cho kỹ ! Mi coi, là con gái con lứa, đừng có đụng chăng hay chớ, cũng đừng lật đa lật đật, cũng đừng có mặt sa mày sỉa . Bọ mạ thì quần ống cao ống thấp, tất ba tất bật để nuôi mình . Tau thấy mi rứa, tau cũng rầu thúi ruột thúi gan !
Cái thông điệp cho thằng em trai thì: Năm tể năm năm tê, mi còn lẩm đa lẩm đẩm, mũi rãi thò lò, chừ mi nậy rồi, phải biết ăn biết noái, biết goái biết mở, vô khuôn vô phép . Chớ mai tê mốt nọ mi nên vai nên vế, nên vợ nên chồng, làm răng mi bông lông ba la hoài như cái đồ trôi sông lạc chợ cho được ?!
Mấy ôn, khi giáo huấn con cháu, vẫn thường trích dẫn ca dao, tục ngữ để đệm thêm cho ý tưởng của mình: Đó, mi thấy đó . Ai ơi chớ phụ đèn chai, thắp trong Cần Chánh rạng ngoài Ngọ Môn . Mi đoảng, mi vô hậu, được bèo quên rá, được cá quên nơm; thì mi lấy ai mà bầu bạn, lấy mô mà tri kỷ !
Xa Huế đã lâu lắm rồi, từ ngày vừa biết tập tành đi nghễ mấy o Đồng Khánh, vừa ngấp nga ngấp nghé muốn vào (nhưng sợ bị chưởi) nhấm nháp thử ly cà phê đen sánh của cà phê Phấn, nơi mà các anh hùng trong thiên hạ vẫn tấp nập ra vào; và cũng vừa biết để dành tiền để mua những tiểu thuyết của Tự Lực Văn Đoàn tại nhà sách Ưng Hạ .
Phong cách Huế không ít thì nhiều cũng đã phôi pha, thổ ngữ Huế cũng không mấy khi có dịp để dùng lại cho đỡ giớ, cho khỏi quên; thành ra cũng xao lãng đi nhiều .
Trong cái xao lãng bỗng có ý nghĩ muốn tìm lại, noái lại tiếng noái của thời cũ rích cũ rang nhưng đằm thắm đó . Cho nên chỉ xin được ghi lại đây những gì còn nhớ mài mại, để gọi là khơi lại chút âm thanh của những ngày xưa cũ
Không đề tên tác giả
Họa Thơ Trịnh Hoài Đức : ĐIỀN GIA THU VŨ (Hồ Nguyễn)
ĐIỀN GIA THU VŨ
Hòa đạo ly
ly thảo thụ thu,
Điền gia tam ngũ khúc giang lưu.
Nhĩ sinh thử hắc thanh thiên tế,
Vũ túc đài hoàng hoạt vị thu.
Phá khối hàn thôi huề bạn nhạn,
Triêm nê tịnh tẩy lũng đầu ngưu.
Huề hồ nghĩ khánh phong niên trạch,
Toa lạp nông phu phóng tửu chu.
Điền gia tam ngũ khúc giang lưu.
Nhĩ sinh thử hắc thanh thiên tế,
Vũ túc đài hoàng hoạt vị thu.
Phá khối hàn thôi huề bạn nhạn,
Triêm nê tịnh tẩy lũng đầu ngưu.
Huề hồ nghĩ khánh phong niên trạch,
Toa lạp nông phu phóng tửu chu.
TRỊNH HOÀI ĐỨC
Hiu hắt cỏ cây
gợn lúa đòng,
Dăm ngôi nhà mộc dọc bên
sông.
Lúa đen mưa nhẹ nhô
đơm nhánh,
Rong ướt mưa
tuông lúa chín đồng.
Nhạn núp
vỡ đê nhanh vổ cánh,
Trâu nằm ghềnh ướt ngập vô
đồng.
Mùa xum xê lúa
mang bầu rượu,
Che nón rượu ghe mấy lão nông.
HỒ NGUYỄN (16-10-17)
Thứ Ba, 28 tháng 11, 2017
Cuộc đời thăng trầm của người phụ nữ quyền lực nhất Liên Xô ( Từ Nghiên Cứu Lịch Sử)
Bà
Yekaterina Furtseva không chỉ xinh đẹp, mà còn là người phụ nữ duy nhất
được giữ những chức vụ cao nhất ở Liên Xô trước đây. Có lẽ vì vậy,
những câu chuyện về sắc đẹp, tình yêu, con đường công danh của bà đã và
vẫn luôn được quan tâm.
Con đường đến với đỉnh cao quyền lựcDười thời Xôviết, nhiều phụ nữ đã được giữ những chức vụ cao, nhưng phần lớn không có thực quyền. Yekaterina Furtseva là một ngoại lệ, bà từng giữ những chức vụ quan trọng trong các cơ quan lãnh đạo cao nhất của Liên Xô: Bí thư thứ nhất Thành ủy Moskva (1954-1957), Ủy viên dự khuyết Bộ Chính trị (1956-1957), Ủy viên Bộ Chính trị (1957-1961), Bí thư Trung ương Đảng (1956 – 1960), Phó Chủ tịch Xô viết Tối cao (1950-1962) và Bộ trưởng Bộ Văn hóa (1960-1974).
Vậy vì sao lại chính là bà? Con đường nào đã đưa người thợ dệt đến với đỉnh cao quyền lực? Do ngẫu nhiên hay do cảm tình của các nhà lãnh đạo dành cho người phụ nữ xinh đẹp?…
| Bà Yekaterina Furtseva, tháng 6-1970. |
Tuy nhiên, đến nay có thể thấy rõ, bà Y. Furtseva không có quan hệ tình cảm với Tổng bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô. Ông N. Khrushchev coi trọng cuộc sống gia đình và quan tâm tới sự tiến bộ của phụ nữ, trong đó có việc đề bạt họ. Nhưng, ông cũng không khoan dung với bất cứ hành vi sai phạm nào và yêu cầu của ông đối với phụ nữ cũng như với nam giới. Vào thời kỳ ấy, tình yêu công sở không quyết định sự thăng tiến của phụ nữ. Lúc đó, những người phụ nữ được lựa chọn vào bộ máy lãnh đạo của đảng, dường như, không chỉ vì họ hấp dẫn và đáng yêu.
Y. Furtseva sinh ngày 24-11-1910 tại thành phố Vyshny Volochok, tỉnh Tver của Nga. Năm 1928, bà xin vào làm việc tại một nhà máy dệt, trở thành Bí thư tỉnh đoàn Kursk vào năm 1930, tốt nghiệp Viện Công nghệ Hóa tinh vi Moskva mang tên M.V. Lomonosov vào năm 1941 và tham gia phòng thủ Moskva năm 1942. Sau đó, bà được chuyển về công tác tại Quận ủy Frunze, Moskva.
| Bà Y. Furtseva tại một cuộc triển lãm ảnh, năm 1972. |
Những cuộc tình, hành vi suồng sã của lãnh đạo trong các cơ quan đảng thường bị xử lý nghiêm khắc, nếu bị phát hiện. Con đường công danh của Bí thư thứ nhất Thành ủy Moskva Ivan Rumyantsev, người tiền nhiệm của bà bị phá hỏng không phải vì năng lực hạn chế hay đấu đá nội bộ, mà vì chuyện tình ngoài luồng. Cuộc gặp thân mật của ông với người tình bị phát hiện mặc dù ông luôn cẩn trọng. I. Rumyantsev bị cách chức, bị đưa xuống làm Phó giám đốc Nhà máy Hàng không số 43.
“Chân tôi có đẹp không?”
Bà Y. Furtseva đã phải tự khai mở con đường công danh của mình trong bộ máy lãnh đạo chủ yếu là nam giới . Bà phải học và làm quen với việc chỉ huy cánh mày râu, không rụt rè trong một tập thể toàn nam giới, không ngượng ngùng với những câu tiếu lâm hiện đại và cũng phải biết uống rượu kha khá…
Tuy nhiên, bà cũng hiểu rằng, người phụ nữ có nhiều cách gây ảnh hưởng với tập thể nam giới. Y. Furtseva là một phụ nữ duyên dáng, thân thiện, xử sự tự nhiên, kiên quyết, không độc đoán, nhưng tự tin. Bà luôn chú ý đến vẻ bề ngoài của mình, chăm tập thể dục, học chơi tennis, uống cà phê không đường, đến phòng tắm hơi thường xuyên…
“Là người đứng đắn, bà Y. Furtseva ăn mặc trang nhã, chải tóc rất đẹp. Chiếc váy giản dị, mái tóc vàng óng luôn được uốn làn sóng và búi cao sau gáy càng giúp tôn lên vóc dáng cân đối của bà, – Nami Mikoyan, vợ của một trong những cấp phó của bà nhớ lại. – Cạnh văn phòng của Y. Furtseva còn có một căn phòng nhỏ, ở đó đặt một tủ đựng quần áo và những thứ cần thiết cho các sự kiện được tổ chức vào buổi tối”.
| Bà Y. Furtseva (giữa) và các diễn viên người Ý tại liên hoan phim quốc tế Moskva, năm 1961. |
Khi còn trẻ, Y. Furtseva luôn kích thích trí tưởng tượng của cánh đàn ông và để lại ấn tượng khó quên trong mắt họ, các trợ lý nam giới thường thực hiện chỉ thị của bà với sự nhiệt tình cao nhất. “Y. Furtseva có điểm yếu là không thích đàn ông chỉ xem bà là một quan chức, – nhà viết kịch Viktor Rozov kể lại – Bằng linh cảm của người phụ nữ, bà biết rõ, với ai thì bà là lãnh đạo, với người nào thì bà là một phụ nữ. Cá nhân tôi, tôi thích nét tính cách này của bà ấy”.
Còn theo lời kể của nhà văn Andrey Yakhontov, một lần, bà Y. Furtseva mời nghệ sĩ solo của Nhà hát Bolshoi Zurab Andzhaparidze tới văn phòng và hỏi thẳng: “Anh đang yêu Galina phải không? Nên chấm dứt đi. Chồng cô ấy là một người dữ tợn, có trời mới biết anh ấy sẽ làm gì, chúng tôi muốn bảo vệ anh ấy. Nếu anh thấy cần phải có một mối tình công sở, nên tìm người khác thay cho Galina”. Khi Z. Andzhaparidze tỏ thái độ không nghe lời và thách thức, bà Y. Furtseva đã cho anh ta một cái tát. Bà muốn chứng minh rằng, mình có thể làm được những việc mà người đàn ông vẫn làm. Tuy nhiên, bà cũng khéo léo thể hiện sự mạnh mẽ nhưng vẫn giữ được nét nữ tính.
Bà Y. Furtseva luôn muốn khẳng định ưu thế tự nhiên của người phụ nữ. “Y. Furtseva không chỉ là một bộ trưởng – nhà nghiên cứu nghệ thuật Anatoly Smelyansky viết – Trước hết, bà ấy là một phụ nữ, bà cũng tự cho mình được làm những việc khác thường như có thể chếnh choáng hơi men một chút, rụt rè nhấc váy lên trên đầu gối và hỏi: Chân tôi có đẹp không?”.
Không chịu được đòn kép
Ngày 4-5-1960, bà Y. Furtseva được bổ nhiệm làm Bộ trưởng Bộ Văn hóa, sau khi thôi giữ chức Bí thư Trung ương Đảng. Còn tại Đại hội Đảng lần thứ XXII, bà đã không còn được bầu vào Bộ chính trị. Sau đó, đường liên lạc điện thoại công ở nhà riêng của bà bị cắt, bà được yêu cầu trả lại ngôi biệt thự để bố trí cho một ủy viên Bộ chính trị mới… Đây có lẽ là đòn khủng khiếp đối với bà. Khi đó, có thông tin cho rằng, bà đã cố tự tử. Người bạn gái đến thăm và phát hiện bà bị chảy máu trong phòng tắm và bà được cứu sống…
| Bà Y. Furtseva (giữa) và các diễn viên người Ý tại liên hoan phim quốc tế Moskva, năm 1961. |
Là người có ý chí sắt đá, nhưng bà cũng rất dễ bị tổn thương. Bà lớn lên không có cha, còn những người đàn ông mà bà yêu thương lại bỏ bà giữa chừng. Người chồng đầu tiên của bà là phi công Peter Bitkov. Họ cưới nhau vào năm 1935 và đã có với nhau cô con gái Svetlana vào năm 1942 sau nhiều năm mong đợi. Peter Bitkov đã bỏ bà để chạy theo một phụ nữ khác.
Bà đã lại yêu Nikolai Firyubin, một cán bộ làm công tác đảng có tiếng. Mối tình này được nhiều người ở Moskva biết đến, lễ cưới của họ được tổ chức vào năm 1956. Tuy nhiên, vào năm 1974, N. Firyubin lại bỏ rơi bà.
Theo lời người bạn gái Lyudmila Zykina, Y. Furtseva thường nói, không ai hiểu bà và rằng, bà rất cô đơn, chẳng ai cần bà. Khi N. Firyubin được tâng bốc vì là chồng của Ủy viên Bộ chính trị, Bí thư Trung ương Đảng và Bộ trưởng Bộ Văn hóa, quan hệ của vợ chồng họ rất tốt đẹp. Cùng với thời gian, tình cảm vợ chồng bà dần thay đổi khi N. Firyubin trở thành Thứ trưởng Bộ Ngoại giao, còn sự nghiệp của bà đi xuống.
Đến tận bây giờ, những gì đã xảy ra với bà vào chiều ngày 24-10-1974 vẫn chưa thật rõ ràng. Theo các bạn của bà, vào ngày hôm đó, bà biết tin mình sẽ nghỉ hưu và chồng bà có người phụ nữ khác. Bà đã không chịu được đòn kép ấy. Khi đó, khắp Moskva lan truyền tin đồn, bà lại tự tử. Tuy nhiên, theo thông báo chính thức, bà Y. Furtseva đã qua đời do bị suy tim cấp.
Hoàng Tuất (theo Komsomol. Pravda)
Nhớ Lại Món Ngon Sài Gòn Ngày Trước -
Nguyễn Ngọc Chính

Có nhà văn nào đó cho rằng khi viết về ẩm thực bụng phải đói mới “lột tả” hết cái ngon của món ăn.
Tôi
rất tâm đắc với ý kiến này. Hồi còn trong trại cải tạo, cái bụng
lép kẹp lúc nào cũng sôi ùng ục, tôi và vài người bạn có “tâm hồn ăn
uống” vẫn thường kể cho nhau nghe những món khoái khẩu của mình. Ăn
“hàm thụ” sao mà ngon thế. Phải nói ngon gấp nghìn lần ăn… thực thụ!
Thời
cải tạo qua đi nhưng thời điêu linh lại kéo tới. Vào thời đó, cái để
đút vào mồm chỉ toàn khoai mì chạy chỉ với bo bo, còn được mệnh danh
là… cao lương. Ngồi nhấm nháp cao lương mà cứ tức anh ách. Ai đó đã khéo
chơi chữ mà đặt tên, mỉa mai không khác gì cái món “mầm đá” của ông
vua ngày xưa!
Nhưng rồi cũng qua đi cái thời ăn để mà sống, người ta bỗng nhớ đến thời… sống để mà ăn ở Sài Gòn hoa lệ ngày nào.
Theo
tôi, một trong những món ngon đó phải kể đến phở. Mặc dù phở có xuất
xứ từ miền Bắc nhưng phở Sài Gòn thường ăn kèm với giá, ngò gai, húng
quế vẫn ngon hơn phở Hà Nội thiếu hẳn các loại rau thơm mà lại không có
giá. Vào đến Sài Gòn ngày xưa có con đường tên Turc (Thổ Nhĩ Kỳ), một
đầu là đường Tự Do (Catinat), đầu kia là đường Hai Bà Trưng (Paul
Blanchy). Tiệm Phở Bắc được bán trong khuôn viên nhà thờ Hồi Giáo này,
nên có tên là Phở Turc.
Sài
Gòn 1954, lúc người Bắc mới vào Nam, những tiệm Phở Bắc hãy còn đếm
được trên đầu ngón tay. Ðó là mấy tiệm Phở Thịnh đường Gia Long, Phở
Turc đường Turc, Phở Minh đường Pasteur và Phở 79 ở đường Frère Louis
(sau này đổi tên thành đường Võ Tánh và đến 1975 lại đổi thành Nguyễn
Trãi thuộc quận 1).
Ngay
bên hông rạp Casino có một hẻm nhỏ, đi vào hẻm đó là một dẫy nhà, đa
số là nhà dân Bắc Kỳ di cư sớm, từ những năm 1920. Tiệm Phở Minh nằm ở
dãy nhà đó.
Phở
Minh có cả phở bò lẫn phở gà nhưng đặc biệt hơn cả còn có bài thơ do
thi sĩ Trần Rắc đề tặng. Bài thơ được cắt chữ, đóng khung kính, treo
trên tường. Bài thơ Ðường Luật có 4 câu đầu như sau:
Nổi tiếng gần xa khắp thị thành,
Trần Minh Phở Bắc đã lừng danh
Chủ đề: tái, chín, nạm, gầu, sụn,
Gia vị: hành, tiêu, ớt, mắm, chanh.
Thi
sĩ Trần Rắc chính là ông chủ tiệm giày Trần Rắc đường Lê Thánh Tôn,
gần Khám Lớn Catinat năm xưa. Tiệm giầy Trần Rắc, và cả mấy tiệm giầy ở
đường này, đều có cửa sau đi vào hẻm “ẩm thực” Casino.
Việt
Nam ta đúng là… ra ngõ gặp nhà thơ. Ðến như ông chủ tiệm giày cũng có
thể làm thơ về phở chứ chưa dám nói đến Tản Ðà là người viết nhiều về
nghệ thuật ăn uống!
Trên
đường Mạc Ðĩnh Chi (Massiges), gần bên hông Tòa Ðại Sứ Mỹ, còn có phở
Cao Vân, dù tiệm phở này không nằm trên đường Trần Cao Vân (Larclause)
cách đó không xa. Theo tôi, phở Cao Vân (25 Mạc Ðĩnh Chi)
chỉ thuộc loại “thường thường bậc trung” nhưng được nhắc tới cùng với
phở Minh vì Cao Vân cũng có một bài thơ ca tụng phở của thi sĩ Tú Mỡ
được viết bằng sơn ngay trên tường.
Trong các món ăn Quân Tử Vị
Phở là quà đáng quý trên đời
Chủ
của phở Cao Vân ngày nay là một ông cụ Bắc Kỳ hom hem theo năm tháng.
Ông không còn đứng ra nấu phở nhưng chiều chiều thường ngồi nhậu lai
rai với các “chiến hữu” để hưởng nhàn!
…Trên
đường Pasteur có Phở Hòa, khá nổi tiếng. Ban đầu, lúc khai trương năm
1960, tiệm phở này mang tên Hòa Lộc. Có lẽ sau này khách ăn cứ gọi tắt
là Hòa nên Hòa Lộc biến thành Hòa theo kiểu gọi tên một chữ cho dễ nhớ
thường thấy ở các tiệm phở (?). Phở Hòa chỉ chuyên loại phở bò, nếu vào
đây mà tìm tô phở gà thì không có. Khách phải chịu khó ra đường Hiền
Vương (bây giờ đổi tên là Võ Thị Sáu), đến tiệm Hương Bình, “chuyên
trị” phở gà.

Nói
đến phở Sài Gòn tại khu vực trung tâm, phải nói đến tiệm Phở 79, ngay
tại số nhà 79 trên đường Võ Tánh. Khoảng năm 1952, tiệm Phở 79 mở cửa,
khi đó nền nhà của tiệm còn thấp hơn mặt đường. Chỉ vài năm sau tiệm
phát đạt, chủ nhân mua hai nhà bên cạnh, mở lớn thành tiệm Phở 79 khang
trang và có thể nói là một trong những tiệm phở sạch nhất Sài Gòn thời
đó.
Trường
Sinh ngữ Quân đội có chi nhánh ở đường Nguyễn Văn Tráng rất gần với
Phở 79 tại khu vực Ngã Sáu Sài Gòn. Ðám giảng viên chúng tôi thường
xuyên ăn sáng, ăn trưa và cả ăn tối mỗi khi “ứng chiến” tại trường.
Phở
tại đây được đánh giá là… “ăn được.” Nếu ai “ăn không được” thì chịu
khó đi thêm vài bước ra Ngã Sáu, nơi đây có đủ các món ăn chơi thuộc
loại bình dân, từ phở, hủ tíu cho đến mì và có cả xe… bánh mì mua về
trường nằm gặm trong những đêm ứng chiến!
Gần
ngã tư Phú Nhuận có phở Quyền trên đường Võ Tánh (thuộc quận Phú
Nhuận), cách cổng phụ của Tổng Tham Mưu chừng 100 mét. Tôi thường ghé ăn
nơi đây mỗi khi về trụ sở chính của trường sinh ngữ trong Tổng Tham
Mưu. Nước phở ở đây rất đậm đà, vị ngọt là của xương ống chứ không phải
vì bột ngọt. Phở Quyền còn có cả món “tái sách tương gừng” được xếp vào
loại… trứ danh.
Con
cháu của một số gánh phở nổi tiếng Hà Nội đã vào Nam lập nghiệp năm
1954, trong cơ hội lịch sử này có phở Tàu Bay. Vốn là quán phở do ông
nội mở vào 1950 ở Hà Nội, khi di cư vào Nam, ông chủ quán được người bạn
thân tặng cho chiếc mũ bay. Ông thường xuyên đội nó, khách thấy lạ,
gọi ông “Tàu Bay” rồi chết tên thành tên quán.
Phở
Tàu Bay ở đường Lý Thái Tổ ngày nay vẫn bán và khách quen ngày nào vẫn
chịu khó mò đến đây để tìm lại hương vị đặc thù. Phải nói Phở Tàu Bay
rất… hiếu khách. Gọi thêm nước béo, nhà phở đem ra cả tô chứ không bằng
chén nhỏ như những tiệm khác. Tô đặc biệt của Tàu Bay lại là tô “Xe
Lửa,” bánh và thịt trên mức hậu hĩnh.
…Kể
từ khi người Bắc di cư vào Nam, tiệm phở đánh bạt các tiệm hủ tíu, vốn
là món “đặc sản” của miền Nam. Các tiệm hủ tíu nổi tiếng Sài Gòn phải
kể đến hủ tíu Thanh Xuân đường Tôn Thất Thiệp (gần chùa Chà Và), hủ tíu
Phạm Thị Trước ở đường Lê Lợi (khúc gần Pasteur), hủ tíu Gà Cá ở đường
Hàm Nghi gần khu Ngân hàng Quốc gia và hủ tíu Thanh Thế trên đường
Nguyễn Trung Trực…
Có
người đến hủ tíu Phạm Thị Trước gọi thêm bánh pâté chaud ăn kèm, cũng
giống như hủ tíu Gà Cá. Tuy nhiên, mỗi tiệm hủ tíu đều có hương vị
riêng khiến một khi khách đã “kết” thì khó đi ăn nơi khác. Hủ tíu Sài
Gòn sáng nào cũng đông người đến thưởng thức, không cần đợi đến những
ngày cuối tuần.
Thường
thì hủ tíu có bánh mềm, chỉ riêng hủ tíu Thanh Xuân hay Mỹ Tho thì thêm
bánh dai, nấu khô hay nước, tùy theo ý thích của khách. Chỉ nhìn dĩa
rau dọn lên trước thì cũng thấy bắt mắt: giá, hẹ, rau cần tàu, tần ô và
vài cọng xà lách. Thêm vào đó, mùi nước lèo xông lên như đập vào khứu
giác thực khách làm cho bụng cứ gào thét…

Người
bồi bàn bưng mâm ra để tô hủ tíu trên bàn, mùi nước lèo xông lên mũi,
nếm thử “nghe” được mùi thơm của nước lèo, thêm chút gia vị vào và cầm
đũa ngay. Hủ tíu Thanh Xuân thì phải có rau tần ô, rau cần tàu, giá
sống. Hủ tíu Phạm Thị Trước hay Thanh Thế cũng thế, nhưng không có rau
tần ô. Riêng hủ tíu Gà Cá thì chỉ có giá sống.
Tuy
nhiên, các thứ hủ tíu nếu thiếu vài miếng tóp mỡ và cải bắc thảo thì
hình như thiếu mất cái gì đó. Nước lèo vừa ngọt của xương, vừa béo của
chất tủy từ ống xương, thoang thoảng chút mùi của con mực, tôm khô, hào
khô và củ cải. Những thứ ấy quyện vào nhau thành một thứ nước lèo hấp
dẫn. Hủ tíu bình dân thì có những xe hủ tíu bán dạo. Từ mờ sáng cho đến
khi màn đêm buông xuống, nghe tiếng rao… lòng thấy nao nao!
***
Ðối
với tôi, một món cũng thuộc loại “khoái khẩu” ở Sài Gòn là… bánh mì
thịt nguội, trong đó có cả jambon, xúc xích, patê ăn kèm với sốt
mayonaise và đồ chua! Bánh mì thịt nguội ăn sẽ ngon hơn nếu bạn có thì
giờ ngồi nhẩn nha tại tiệm: các loại thịt bày trên đĩa trắng tinh kèm
thêm một cục sốt bên cạnh dao, nĩa sạch bóng. Bẻ một miếng bánh mì còn
nóng, trét sốt lên trên rồi một lớp patê, sau đó cắt một miếng jambon…
đưa vào miệng. Tuyệt cú mèo!

Một
trong những tiệm bán bánh mì thịt nguội có tiếng ở Sài Gòn từ năm1954
và còn tồn tại đến ngày nay là Hòa Mã. Tiệm Hòa Mã nằm trên đường Cao
Thắng, gần khu vực Bàn Cờ, nơi có những địa điểm nổi tiếng như Kỳ Viên
Tự, Tam Tông Miếu, Trường Aurore, Cư Xá Ðô Thành, Nhà Bảo Sanh Ðức
Chính…
Ngày
nay, Hòa Mã không khác xưa là mấy. Hòa Mã cũ kỹ, bảng hiệu phai màu
theo năm tháng vì đã tồn tại hơn 50 năm kể từ ngày mở cửa. Nhiều người
nói chủ nhân Hòa Mã là người đầu tiên bán những ổ bánh mì thịt kiểu Sài
Gòn… Tiệm Hòa Mã gọi ổ bánh mì thịt của mình là cát-cút, dùng theo
tiếng Pháp cassecroute, bữa ăn lót dạ, bữa ăn nhẹ. Những năm 60, giá
bán một ổ bánh mì Hòa Mã là 3 đến 5 đồng, ổ lớn có bơ tươi thì 7 đến 10
đồng.
…Xe
bánh mì Tám Lự gần chợ Bàn Cờ chỉ bán từ sẩm tối đến đêm khuya. Một ổ
bánh mì Tám Lự dài cỡ 4 tấc, hai gang tay, tối ăn vào no đến sáng. Bánh
mì ngon, ngoài pâté chả lụa, pâté foie, bơ Bretel còn thêm dưa leo,
ngò, hành lá, nước tương, muối tiêu, ớt xắt. Ngày xưa khách chỉ cần nói:
“Cho một tàu lặn hay một tiềm thủy đĩnh đi, anh Tám!” là khách sẽ có
ngay một ổ bánh mì nóng giòn, thơm phức.

Nếu
muốn sang hơn thì lên bánh mì Pâté Tòa Ðô chính trên đường Nguyễn Huệ
hoặc tiệm bánh Hương Lan trên đường Tự Do hay ngồi Thanh Bạch đường Lê
Lợi (gần bệnh viện Sài Gòn). Chỉ cần gọi đĩa bánh mì thịt nguội kèm
theo một ly cà phê sữa đá là đủ no cho đến trưa. Thanh Bạch vẫn là nơi
lý tưởng để vừa ăn sáng vừa ngắm cảnh người Sài Gòn sửa soạn cho một
ngày mới.
…Sài
Gòn xưa có hai tiệm Thanh Bạch, một ở đường Lê Lợi, bên rạp xi-nê Vĩnh
Lợi. Tiệm Thanh Bạch thứ hai ở đường Phạm Ngũ Lão, trong dẫy phố trệt
dưới tòa soạn nhật báo Sài Gòn Mới năm xưa. Ngoài bánh mì ốp-la,
ôm-lết, thịt nguội, Thanh Bạch có bánh mì bò kho, hủ tíu và đặc biệt là
món suông. Bún suông dùng xương heo để nấu nước lèo, và đặc biệt ở đây
là dùng tôm tươi lột vỏ, bỏ đầu, bằm nhuyễn sau đó vo lại thành sợi
dài (như sợi bún). Nước lèo ở đây rất trong, ăn kèm với rau sống…

Nhà
hàng Tài Nam trên đường Ohier (Tôn Thất Thiệp) nổi tiếng với món đuông
chà là chiên bơ rất ngon nhưng cũng rất mắc tiền. Theo nhà văn Sơn Nam,
vua chúa cũng còn thèm “con đuông chà là,” tên chữ là “hồ đa tử.” Hồ
đa là cây dừa rừng, tức cây chà là hoang thường mọc miền nước mặn Nam
bộ, giống như cây cau kiểng. Cây dừa rừng có “củ hũ,” tức đọt non, đến
mùa sau Tết thường xuất hiện con đuông, giống như con nhộng. Ðuông ăn
đọt dừa non nên to, mập và thường được bắt trước khi nở thành bướm.
Sơn
Nam viết: “Ðem đuông nướng trên vỉ sắt, cho héo, rồi ăn, chấm với nước
mắm nhĩ nguyên chất. Con đuông béo ngậy vì tăng trưởng, ăn ròng củ hũ
cây chà là.”
…
Vùng Thanh Ða (Bình Thạnh) nổi tiếng khắp Sài Gòn với món cháo vịt, gỏi
vịt. Vào buổi tối người Sài Gòn hay ra bán đảo Thanh Ða trước là để đón
những luồng gió mát từ sông Sài Gòn thổi vào và khi về, ghé mấy quán
cháo vịt, gọi thêm đĩa gỏi vịt ăn kèm. Nếu là “bợm nhậu” thì gọi thêm
chai bia Con cọp BGI để… đưa cay. Nếu ngại ra Thanh Ða thì trên đường
Hồng Thập Tự cũng có khu bán cháo vịt thuộc loại… “ăn được.” Thịt vịt
tại đây khá mềm, nhai kỹ thấy ngọt và đặc biệt không thấy mùi hôi vốn
có của thịt vịt. Có thể họ tuyển loại vịt chạy đồng nên không hôi (?).
Ðinh
Công Tráng là một con đường nhỏ gần nhà thờ Tân Ðịnh nhưng cũng đi vào
lịch sử ăn uống của Sài Gòn với món bánh xèo. Bí quyết của bánh xèo
nằm ở kỹ thuật pha bột, sao cho khi chiên lên, bánh giòn tan khiến
người ăn có thể cảm được cái thú nghe miếng bánh đang được nhai dưới hai
hàm răng. Lớp bột gạo pha chút nghệ khi đổ vào chảo dầu tạo nên một
tiếng “xèo” khiến ta hiểu được tại sao lại gọi là… bánh xèo!

Ngày
nay, đường Ðinh Công Tráng trở thành “đường bánh xèo” nhưng người sành
ăn thì chọn quán bên tay trái, nếu đi từ đường Hai Bà Trưng vào. Quán
không tên nhưng người ăn vẫn nhớ vì nó đã đi vào “bộ nhớ” của người Sài
Gòn từ bao năm nay. Những quán đối diện bên kia đường trông có vẻ lịch
sự hơn, sạch sẽ hơn nhưng vẫn chịu cảnh vắng khách vì là kẻ… hậu sinh.
Khu
Ða Kao có tiệm bánh cuốn Tây Hồ (127 Ðinh Tiên Hoàng), gần chợ Ða Kao,
quận 1, nổi tiếng. Tại đây, mỗi bàn có để sẵn một thẩu nước mắm và một
chồng chén nhỏ để khách tùy nghi sử dụng, thêm nhiều hay ít ớt bằm theo
sở thích riêng của từng người. Tuy nhiên, có khách lại thích chan luôn
nước mắm vào đĩa để bánh cuốn thấm nước mắm, đậm đà hơn.
Chả
quế và giò lụa được cắt thành miếng lớn, để riêng trong một đĩa nhỏ.
Khách có thể chỉ ăn bánh cuốn nhân thịt mà không đụng tới đĩa giò chả,
như vậy người phục vụ nhìn vào đĩa chả còn nguyên mà không tính tiền.
Nếu cần, có thể gọi thêm đĩa bánh tôm hoặc bánh cuốn không nhân.

Sài
Gòn cũng có bánh cuốn Thanh Trì kiểu Bắc, mỏng như tờ giấy, ăn với
“ruốc” (chà bông) và nước mắm phải kèm với vài giọt cà cuống mới là
“sành điệu”! Còn bánh ướt là kiểu bánh cuốn bình dân ở Sài Gòn, cũng ăn
kèm với bánh tôm chiên, giò, chả và rau, giá. Những xe bánh ướt được
đẩy đi khắp Sài Gòn, có cả nồi hấp nên lúc nào bánh cũng nóng và người
bán bao giờ cũng chan nước mắm vào đĩa thay vì chấm kiểu “thanh cảnh”
như bánh cuốn Thanh Trì.
Lại
nói thêm, đường Albert (vào thời Ðệ Nhất Cộng Hòa đổi tên thành Ðinh
Tiên Hoàng) khá dài nên dọc theo con đường này có nhiều địa chỉ ẩm thực
nổi tiếng. Tiệm ăn Chez Albert (lấy tên theo con đường), Cà phê Hân,
Mì Cây Nhãn (tên đặt theo cây nhãn hồi đó còn trồng trước sân), Thạch
chè Hiển Khánh (nơi sưu tầm rất nhiều thơ ca tụng thạch chè)… Tôi chắc
chắn còn bỏ quên khá nhiều điểm ăn uống khác nữa trên con đường này.
Ở
góc đường Tôn Thất Ðạm và Hàm Nghi, trước kia vào thập niên 30 có một
quán cháo cá nổi tiếng một thời. Buổi chiều cho đến gần khuya, khách
đến ăn rất đông, nhất là khi cải lương, hát bội, hát bóng vãn hát. Theo
Vương Hồng Sển trong Sài Gòn Tạp Pín Lù, quán cháo cá này của người
Tàu, gốc Quảng Ðông, “cha truyền con nối suốt bốn năm thế hệ, trót trăm
năm chớ không phải chơi…”
Cháo
tại đây nấu bằng gạo tấm hầm với cá, xương heo và thịt tôm hùm để
thành một thứ hồ sền sệt khiến “người đau mới mạnh dùng không sợ trúng
thực, người mệt mỏi ăn vào cảm thấy nhẹ bụng, mau tiêu. Tô cháo cá Chợ
Cũ quả là một ‘tô thuốc tráng thần’…”
Cháo
nóng hổi bốc hơi nghi ngút. Vừa thổi vừa húp xì xụp mới thấy được cái
thú vị của món cháo cá Chợ Cũ. Thịt cá giòn, thơm, lẫn lộn hương vị của
hành, tiêu, gừng và có thể ăn với “dầu chá quẩy.” Thú thật, tôi là
người thích thịt hơn cá nhưng thỉnh thoảng được thưởng thức món cháo cá
vẫn thấy ngon đến toát mồ hôi!
Có
một tiệm cháo giò heo khá nổi tiếng trong ngõ đường Phan Ðình Phùng
(ngày nay là Nguyễn Ðình Chiểu). Tiệm không có tên, chuyên bán cháo từ 6
giờ tối tới một, hai giờ sáng. Khách của tiệm này đa số là khách chơi
đêm, khách đi nhảy, khuya về đói bụng đến ăn tô cháo nóng.
Tôi
lại nhớ đến món phá lấu ở góc đường Lê Lợi-Pasteur, nơi đây còn có xe
bò bía và nước mía Viễn Ðông. Bán phá lấu là một chú Tàu và “cửa hàng”
của chú chỉ vỏn vẹn một cái khay tròn, trên đó bày đầy đủ nội tạng heo:
lòng, dồi, gan, bao tử, ruột non, ruột già, tim, phèo, phổi… Trông thật
hấp dẫn, ngửi thơm phức và ăn vào thì giòn tan. Phá lấu nói chung có vị
hơi ngòn ngọt, gan thì bùi bùi, lòng thì hơi dai dai nhưng khi nhai kỹ
mới thấy ngon… thấu trời xanh!

Nghệ
thuật làm phá lấu chắc chỉ mấy chú ba mới đáng hàng sư phụ. Phá lấu
làm tại nhà cũng ướp húng lìu, ngũ vị hương nhưng không thể nào so sánh
với phá lấu góc nước mía Viễn Ðông. Từng miếng phá lấu được ghim sẵn
bằng tăm, chấm với tương đỏ trộn tương đen. Khách ăn xong chú Ba chỉ
nhìn tăm mà tính tiền nhưng tuyệt không bao giờ sai. Quá bộ vài bước là
xe nước mía tươi mát đang chờ… để kết thúc một chuyến ăn hàng bên lề
đường.
Gần
nước mía Viễn Ðông có xe thịt bò khô của ông Năm (theo tên gọi của
khách quen) và sau 1975 ông dời về đường Tự Ðức (nay đã đổi tên là
đường Nguyễn Văn Thủ) thuộc khu Ða Kao.
Dân
chơi Sài Gòn thường xếp hạng: “Ăn quận 5, nằm quận 3, xa hoa quận 1”
nên viết về món ngon Sài Gòn mà bỏ qua khu vực Chợ Lớn là cả một thiếu
sót lớn. Dọc đường Trần Hưng Ðạo nối với đường Marins (Ðồng Khánh) thuộc
địa phận quận 5 có những nhà hàng, tửu lầu nổi tiếng một thời như
Arc-en-Ciel, Ðồng Khánh, Á Ðông, Bát Ðạt.

Theo
tôi, Chợ Lớn nổi tiếng hơn cả là đường Lacaze mà người Việt hay gọi
trại là La Cai, tức đường Nguyễn Tri Phương sau này. Khu La Cai có mì
vịt tiềm hầm thuốc bắc, một trong những món “tủ” của người Hoa. Bên
cạnh đó còn có những tiệm hủ tíu mang tên Mỹ Tiên, Cả Cần và tiệm bánh
bao Bà Năm Sa Ðéc.
Ðêm
đến có các quán sò huyết dọc theo lề đường. Khách bình dân ngồi ăn
nhậu thoải mái giữa dòng xe cộ ồn ào bên ánh đèn nê-ông từ các nhà
hàng, vũ trường sang trọng của Chợ Lớn “by night”!
…Thôi
thì đời người có lúc hưng lúc tàn, cũng như vận nước có khi thịnh khi
suy. Viết lại món ngon Sài Gòn chỉ để thỏa mãn kiểu “ăn hàm thụ”như đã
nói ở trên. Giờ có cho ăn thực thụ chắc cũng chẳng thấy ngon như thời
còn trai trẻ.
Tất cả chỉ còn là… hoài niệm!
Nguyễn Ngọc Chính
(Trích “Hồi ức một đời người”)
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)
TRÀ NGUỘI -Thơ kiều Mộng Hà và Thơ Họa
TRÀ NGUỘI Chớp mắt còn chi!!! Tiệc đã tàn Cố quên vết xước của thời gian Người đi trà nguội tình sương khói Bướm vắng hoa tàn mộng dở dang N...
-
Mít không chỉ có mùi vị ngon ngọt nó còn mang tới rất nhiều lợi ích sức khỏe. Tuy vậy, mít không “lành” với tất cả mọi người. Có nhiều ...
-
CON MỂN VÀ ĐIỀM BÁO KHÔNG MAY MẮN Con thú rừng có tên “ Mển ” hay“ Mang” , còn gọi là hoẵng , kỉ , là mộ...
-
Trong văn h ọc, ai cũng có đọc bài thơ nổi tiếng về câu chuyện của Nguyễn Trãi và cô hàng chiếu như sau: “Ả ở đâu ta bán chi ế u gon, ...






