Con người ta hình như đến một tuổi nào đó sẽ ngộ ra rằng cuộc đời thật ra chẳng có gì quan trọng. Cuối cùng rồi như nhau cả. Bạn có thể có một cuộc đời sung sướng, hạnh phúc hay bạn đã phải lầm than, nghèo túng, khổ đau. Cuối con đường có khác gì nhau đâu. Lúc xuôi tay, quân vương hay kẻ cơ hàn đều là sự giã biệt. Có thể có kẻ sẽ có tiền hô hậu ủng, kèn trống vang trời. Có người bó trong chiếc chiếc chiếu rách đi giữa mưa rơi. Nhưng cả hai đều chẳng còn biết gì, tất cả đều đang làm cho người sống.
Đến một tuổi nào đó, người ra sẽ nghiệm thấy rằng cuộc đời chỉ là con số không to tướng. Sinh ra, lớn lên, già đi rồi mất hút. Mọi thứ danh vọng chỉ là trò hư ảo. Mọi thứ của cải làm ra cũng chỉ là thứ phù phiếm có rồi mất. Mọi thứ hoan lạc hay khổ ải cũng chỉ là gia vị của cuộc đời. Sinh ra thì phải sống, phải chiến đấu để tồn tại, phải khát vọng để vươn lên. Thế rồi, khi tuổi già đã tới, những bi kịch của tàn phai tác động đến mỗi người, sẽ thấy hoá ra mình đã bỏ cả tuổi thanh xuân để chạy theo toàn những thứ ảo vọng. Tranh dành nhau cái danh, lấn lướt nhau đoạt lợi. Được danh lợi rồi lại tham vọng nhiều hơn, lớn hơn. Cuối cùng cũng chỉ là một cuộc chơi, để rồi trắng tay lúc trở về cát bụi.
Đến một thời điểm nào đó của cuộc sống, nhìn lại đọn đường ta đã đi, ta phát hiện ta chỉ để lại lắm điều lầm lỗi. Lầm lỗi với cha mẹ, với những người thân yêu. Lầm lỗi với bạn bè, với xã hội. Lầm lỗi với những người ta đã gặp, những người đã đi qua đời ta. Tất cả đều do cái tôi quá lớn của mỗi người. Không biết quên mình mà chỉ sống cho mình. Do vậy, những suy nghĩ và hành động ích kỷ cứ mãi quẩn quanh để đưa đến lỗi lầm tiếp nối nhau.
Sống đến tuổi nào đó, người ta mới hiểu được rằng tự thắng được mình mới là điều quan trọng. Tuổi trẻ háo thắng chỉ chăm chăm thắng người, hơn người. Cảm thấy tự mãn và sung sướng trong thắng lợi. Có biết đâu rằng cái thắng lợi mình có là cái thất bại và đớn đau cho người khác. Đâu có biết rằng chính cái thắng lợi ấy là chiếc bẫy tiếp theo của cuộc đời mình. Trong mọi hoàn cảnh, tự thắng chính mình là điều khó nhất. Làm được điều đó là ta đã có thể tự hào.
Đến một tuổi nào đó, người ta mới hiểu được rằng lắng nghe mới là điều cần thiết. Biết lắng nghe là biết thu thập cả thế giới cho riêng mình. Biết lắng nghe thì mới phân biệt được phải trái phân minh. Biết lắng nghe thì mới có chia sẻ. Muốn lắng nghe thì phải học im lặng. Con người ta chỉ mất vài năm để học nói, nhưng mất cả đời để học im lặng. Im lặng để lắng nghe. Không chỉ lắng nghe ngôn ngữ của con người, ta phải tập lắng nghe tiếng của thiên nhiên, tiếng của cỏ cây, giun dế, của gió, của nắng, của mưa bão. Tiếng sóng vỗ, tiếng chim kêu đều mang lại cho ta những cảm xúc của cuộc đời. Thiếu chúng nó, cuộc đời chỉ là khoảng trống vô vị.
Tới một tuổi nào đó, con người nên đến với thế nhân bằng những nụ cười. Hãy cười với nhau bằng tâm hồn mở tất cả các cửa, với tấm lòng thân thiện. Hãy chào nhau dù chỉ gặp một lần vì biết đâu ngày mai không còn cơ hội để gặp, không còn dịp để gởi nhau nụ cười. Sinh tử là ranh giới mỏng manh. Đời vốn vô thường. Già sẽ đưa đến tật bệnh, bệnh làm cho người ta héo úa, đau đớn khó chịu. Nếu lạc quan và trang bị nụ cười với mọi người, nỗi đau sẽ giảm đi, héo úa sẽ bớt đi, nụ cười chính là son phấn trang điểm cho tuổi già.
Đến một tuổi nào đó, con người sẽ hiểu được rằng điều cơ bản của con người là sự cô đơn. Con người sinh ra một mình và mất đi cũng chỉ một mình. Không ai sống thay ta và cũng chẳng ai chết thay ta. Gia đình, chồng vợ, con cái, bạn bè đều là người thân đấy, nhưng mỗi người có một cuộc sống, mỗi người có mỗi số phận và định mệnh riêng. Do vậy, mỗi người phải tự quyết định đời mình, không chờ đợi một ai có thể thay mình. Trong hành trình sống, con người là một thực thể cô độc, không ai hoán đổi được. Tới tuổi già chính là lúc gặm nhấm nỗi cô đơn nhiều nhất.
Tới một lúc nào đó, người ta hiểu được là sống là để làm cho đủ bốn bổn phận đối với cuộc đời. Bổn phận với quá khứ là trả hiếu với mẹ cha. Bổn phận với tương lai là nuôi dạy con cái. Bổn phận với cuộc sống là giúp đỡ kẻ hoạn nạn, yêu thương mọi người và cuối cùng là bổn phận lấp đầy đời mình bằng tiêu pha, sinh hoạt hàng ngày. Con người làm ra tiền dù ít hay nhiều cũng chỉ quẩn quanh từng đó bổn phận. Có kẻ làm không đủ thì là thiếu trách nhiệm. Thế cho nên làm người là làm tròn bổn phận. Tới tuổi già, làm xong bổn phận ta có thể ung dung để hưởng những ngày còn lại trong sự thanh thản.
Đến một lúc nào đó người ta sẽ có những nuối tiếc. Tiếc vì chưa làm được những điều muốn làm, chưa đến được những nơi muốn đến. Quỹ thời gian không còn, chuyến tàu sầm sập đến hoàng hôn. Chợt giật mình thời gian quá ngắn. Bởi thế nên muốn làm gì thì làm ngay, muốn đi đâu thì đừng lần lửa. Có ước muốn thì hãy thực hiện, kể cả việc trả thù một ai đó. Nhưng mà nếu tha thứ được thì nên tha thứ, nếu quên được thì nên quên.
Sống tập quên cái cần quên cũng là một thứ thuốc chữa tâm hồn. Nhớ nhiều chỉ vác nặng. Sống mà mang nặng quá chỉ khổ thân.
Vanvn- Nếu như Trạng nguyên Phạm Duy Quyết là người có nhiều tên gọi nhất trong lịch sử khoa bảng, thì Nguyễn Kỳ lại là Trạng nguyên duy nhất về chùa vinh quy bái tổ.
Giai thoại thú vị về hai vị Trạng nguyên triều Mạc
Hai vị Trạng nguyên sở hữu những cái nhất này đều là những nhà khoa bảng triều nhà Mạc. Họ không chỉ được trời phú tài năng thiên bẩm, mà sức học của họ còn là bài học đáng suy ngẫm để hậu thế noi theo.
Khu mộ tổ dòng họ Phạm – dòng họ Trạng nguyên Phạm Duy Quyết. Ảnh: ITN
Triều Mạc “sùng nho” giữa chiến loạn
Nhà Mạc được thành lập vào năm Đinh Hợi (1527) khi Mạc Đăng Dung chính thức đoạt ngôi nhà Lê. Chỉ vài năm sau, từ năm Quý Tỵ (1533), lực lượng trung thành với họ Lê lập nên chính quyền riêng ở vùng phía Nam, tức triều Lê trung hưng, tiến hành nhiều chiến dịch nhằm khôi phục quyền lực. Sự đối đầu giữa hai thế lực này kéo dài, tạo nên cục diện nội chiến Nam – Bắc triều suốt nhiều thập niên.
Ngay từ buổi đầu nắm quyền, để củng cố lòng dân, thu hút hiền tài và tăng cường sức mạnh cho triều đại, nhà Mạc vẫn xem nho giáo là nền tảng trị quốc, duy trì mô hình giáo dục và khoa cử theo khuôn mẫu triều Lê. Sử liệu thời Nguyễn, đặc biệt trong “Hoàng Việt Giáp Tý niên biểu” của Nguyễn Bá Trác, vẫn nhắc đến nhà Mạc bằng cụm từ mang nhiều dư âm “Mạc thị sùng nho”, tức họ Mạc tôn sùng đạo nho.
Tinh thần trọng học ấy thể hiện rõ qua việc triều Mạc tiếp tục thờ phụng các bậc tiên hiền ở Văn Miếu và cho lập các văn chỉ tại nhiều địa phương. Riêng ở Thăng Long, triều đình nhiều lần tu sửa Văn Miếu – Quốc Tử Giám, đồng thời xây thêm các công trình như nhà Thái học, nhà Minh Luân, hành lang và hệ thống Xá sinh (Thượng xá sinh, Trung xá sinh…) làm nơi ăn ở cho học trò. Các vua nhà Mạc còn thường đến Văn Miếu tế lễ, khích lệ nho sinh chăm học và đề cao đạo học trong đời sống xã hội.
Nhà Mạc tổ chức kỳ thi đầu tiên vào năm Kỷ Sửu (1529). Việc mở trường thi không chỉ nhằm chọn người tài, mà còn hướng đến xây dựng đội ngũ trí thức trung thành, có khả năng phò tá cho triều đại. Chỉ trong 65 năm tồn tại với tư cách một vương triều (1527 – 1592), đóng đô tại Thăng Long, nhà Mạc đã tổ chức 22 khoa thi Hội, lấy đỗ 485 Tiến sĩ – một con số cho thấy sự coi trọng giáo dục và khoa cử.
Theo lệ từ thời Lê, nhà Mạc cũng dựng bia Tiến sĩ để ghi danh người đỗ đạt. Tuy việc dựng bia không diễn ra liên tục, nhưng vẫn là minh chứng quan trọng cho chính sách khuyến học, khuyến tài của triều đại. Tấm bia Tiến sĩ đầu tiên dưới thời Mạc dựng năm Kỷ Sửu (1529), ngay sau khoa thi khai mở, đã khẳng định rõ chủ trương đề cao người hiền và trọng việc học.
Sống vào thời Lê mạt, Phạm Đình Hổ đã đưa ra nhiều nhận xét đáng chú ý về nền khoa cử dưới triều Mạc. Ông cho rằng giới tao nhân, văn sĩ thời ấy tuy có phần chạy theo lối học phù phiếm, không còn tinh tấn như thời Tiền Lê (Lê sơ), nhưng nhìn chung “thói học chưa đến nỗi hủ lậu”, nên trình độ học vấn, văn chương, khả năng trị chính và công nghiệp của người đương thời “cũng không kém cổ nhân mấy”.
Đáng chú ý là nhận xét của ông về chất lượng đề thi thời Mạc, thường gồm khoảng 200 chữ, đặt ra những vấn đề rộng, mang tính bao quát. Người dự thi phải nắm vững kiến thức cổ kim, thông suốt kinh sử mới có thể làm bài. Chính kiểu ra đề ấy giúp tuyển lựa được nhiều nhân tài thực học, điều mà “những đời gần đây” – tức khoa cử thời Lê trung hưng khó có thể sánh kịp. Ông còn khẳng định rằng từ đời Diên Thành trở về trước, truyền thống nghiêm cẩn và hiệu quả này trong khoa cử triều Mạc vẫn còn được giữ vững.
Giới sĩ phu đỗ đạt thời Mạc vì thế nổi bật với những tên tuổi rực sáng như: Nguyễn Bỉnh Khiêm, Giáp Hải, Phạm Trấn, Nguyễn Tuấn Ngạn… Họ không chỉ là biểu tượng của một thời kỳ khoa cử thịnh đạt, mà còn là những gương mặt tiêu biểu trong lịch sử khoa bảng.
Tấm bia Tiến sĩ đầu tiên của nhà Mạc được dựng năm Kỷ Sửu (1529). Ảnh: T. Hòa
Vinh quy bái tổ tại chùa
Một trong những Trạng nổi bật của thời nhà Mạc là Nguyễn Kỳ sinh năm 1518, người làng Bình Dân, huyện Đông Yên, phủ Khoái Châu, trấn Sơn Nam Hạ (nay là xã Triệu Việt Vương, tỉnh Hưng Yên). Ông là nhà khoa bảng đỗ đạt cao nhất của huyện Đông Yên xưa, và để lại nhiều giai thoại thú vị.
Nguyễn Kỳ húy lúc nhỏ là Nguyễn Thời Lượng gắn với giai thoại “thần đồng chùa” bởi ngay từ khi mới ba, bốn tuổi, ông đã có thể đọc thuộc nhiều bộ kinh Phật. Tương truyền cha mẹ ông là những người hiền lành, sống cảnh nghèo khó và mãi đến tuổi tứ tuần vẫn chưa có con. Một hôm, gặp người am hiểu tướng số trong vùng, họ được phán rằng: “Ông bà sẽ sinh quý tử, nhưng số phải nương cửa Phật”.
Tin vào lời ấy, hai vợ chồng ngày ngày lên chùa dâng hoa, thắp hương lễ Phật. Hai năm sau, họ sinh được Nguyễn Thời Lượng. Khi tròn ba tuổi, cậu bé được gửi vào chùa làm con nuôi của nhà sư. Chỉ nghe tiếng tụng niệm mỗi ngày, cậu bé Lượng đã học thuộc kinh Phật một cách tự nhiên. Đến năm bốn tuổi, khả năng nhớ và đọc kinh trôi chảy của cậu khiến các nhà sư lẫn khách hành hương kinh ngạc, và từ đó danh xưng “thần đồng chùa” lan truyền khắp vùng.
Thời gian ở chùa, buổi sáng cậu được cho đi học chữ, buổi chiều trở về làm các công việc vặt trong chùa. Ban đêm, vì không có tiền mua dầu thắp đèn nên cậu bé cắp sách vào Tam bảo ngồi dưới chân tượng, học bài nhờ ánh sáng cây nến. Khi nến tắt hết mới đi ngủ. Sư thầy thấy vậy bèn thửa những cây nến dài hơn để cho cậu học.
Khoa Tân Sửu, niên hiệu Quảng Hoà thứ nhất (1541) triều Mạc mở khoa thi, Nguyễn Thời Lượng tham gia ứng thí. Đến kỳ thi Đình, sư thầy nằm mơ thấy có người tên là Nguyễn Kỳ đỗ Trạng nguyên, bèn đổi tên Nguyễn Thời Lượng thành Nguyễn Kỳ. Quả nhiên khoa thi Đình năm ấy, ông đỗ Trạng nguyên khi mới 21 tuổi.
Ngày vinh quy bái tổ, tân Trạng nguyên Nguyễn Kỳ đã xin dân làng rước mình từ chùa – nơi ông được nuôi dưỡng thuở nhỏ để trước hết tạ Phật và tri ân sư thầy đã dày công dạy dỗ. Chính hành động này đã khiến Nguyễn Kỳ trở thành vị đại khoa duy nhất trong lịch sử khoa bảng tổ chức vinh quy bái tổ tại chùa.
Chỉ sau nghi lễ ấy, ông mới trở về bái kiến tổ tiên và cha mẹ. Câu chuyện cảm động về lòng biết ơn của ông nhanh chóng lan truyền vào cung. Nghe tin, vua Mạc Phúc Hải khen Nguyễn Kỳ là người “tận trung, tận hiếu”, biết trọng đạo nghĩa trước sau. Nhà vua vì thế đã bổ nhiệm ông vào Viện Hàn lâm, sau ông làm quan đến chức Hàn lâm thị thư.
Bộ bút, nghiên, mực giấy bằng đá xanh lớn nhất Việt Nam tại Khu tưởng niệm Vương triều Mạc (Hải Phòng). Ảnh: ITN
Trạng nguyên có nhiều tên gọi
Trạng nguyên Phạm Duy Quyết sinh năm 1521, người xã Xác Khê, huyện Chí Linh, phủ Nam Sách, xứ Hải Dương (nay là xã An Phú, tỉnh Hải Phòng). Ông là Trạng nguyên sở hữu nhiều tên gọi khác nhau nhất trong lịch sử khoa bảng. Ngoài tên Phạm Duy Quyết, ông còn các tên khác là: Phạm Đăng Quyết, Phạm Duy Áng, Phạm Duy Ưởng, Phạm Duy Trĩ.
Theo sách “Các nhà khoa bảng Việt Nam 1075 – 1919”, cậu bé Phạm Duy Quyết mồ côi cha từ thuở nhỏ, gia cảnh nghèo khó nhưng được người mẹ tần tảo dốc sức nuôi nấng. Ngày con trai đến lớp học khai tâm, bà còn giết bò làm lễ tạ thần Phật, gia tiên và biếu thầy dạy học để bày tỏ kỳ vọng.
Thuở nhỏ, ông được đặt tên là Ưởng, đến khi đi học được thầy đổi tên thành Phạm Duy Quyết, chọn chữ “Quyết” có bộ ngọc với ngụ ý đứa trẻ sau này sẽ quý như ngọc. Từ bé, Quyết đã tỏ ra thông minh khác thường, học một biết mười, trí nhớ bền bỉ, lại có duyên ăn nói nên nhanh chóng vượt chúng bạn và nổi tiếng khắp vùng.
Những giai thoại thuở chăn trâu còn cho thấy sự lanh lợi, sắc sảo và tư duy lý lẽ mạch lạc của ông. Câu chuyện cậu bé cưỡi bò đối đáp với trọc phú trong làng về tấm bia “hạ mã” khiến đối phương cứng họng là một trong những minh chứng sống động.
Chuyện kể rằng, có lần cậu bé Quyết chăn bò về, phải qua một cánh đồng có lăng mộ thân nhân của lão trọc phú. Ông ta hống hách cho dựng tấm biển “hạ mã” đặt ở hai đầu đường, có ý người cưỡi ngựa qua đây phải xuống dắt bộ qua khu mộ mới được đi tiếp. Thấy cậu bé đứng thẳng trên lưng bò đi qua, trọc phú sai gia nhân bắt giữ, quát hỏi: “Mày có biết phạm tội gì không? Mày không nhìn thấy tấm bia hạ mã này à?”. Cậu bé giả vờ: “Hạ mã là thế nào?”.
Lão trọc phú nói: “Là xuống ngựa, dắt ngựa qua đây để tỏ lòng kính trọng với cụ tổ nhà ta”. Quyết cười sằng sặc: “Thế thì ông sai rồi. Tôi là mục đồng. Từ thượng cổ đến giờ, mục đồng nào mà không cưỡi trâu, cưỡi bò? Không cưỡi mới ngu. Mà ông đề bia xuống ngựa chứ có cấm cưỡi bò đâu. Thôi, tôi về đây kẻo mẹ tôi chờ”. Vừa nói cậu vừa nhảy phắt lên lưng bò. Con bò cong đuôi chạy đi. Lão nhà giàu uất tận cổ vì đuối lý, lại còn bị nói cạnh khóe là ngu.
Không chỉ thông minh, Quyết còn ham học đến mức quên cả việc chăn bò. Có lần nghe trộm bài giảng tại một lớp học gần đường, cậu đứng lặng ngoài ngõ để nghe chuyện về tấm gương hiếu hạnh của Lục Tích. Vì mải mê, bò ăn gần hết vạt khoai của hàng xóm; người mẹ nghèo phải đem chục trứng gà sang xin tha lỗi. Câu chuyện cho thấy cái tâm trong sáng và sự nuôi dưỡng đức hiếu học trong hoàn cảnh cơ hàn.
Lớn lên, Phạm Duy Quyết nổi tiếng đối đáp sắc sảo. Một vị khách của thầy giáo từng thử tài ông bằng câu đối có ý răn dạy chí khí trượng phu. Quyết ứng khẩu đối lại bằng một câu hàm súc, gợi khí tượng bậc đế vương, khiến người khách phải khẳng định: “Đấy là tư tưởng của bậc đại khoa danh”.
Thế nhưng đường khoa cử của ông lại vô cùng lận đận. Dù học giỏi, ông thi mãi vẫn không đỗ, đến ngoài ba mươi tuổi vẫn còn lều chõng long đong. Mãi đến khoa Nhâm Tuất, niên hiệu Quang Bảo 9 (1562) đời Mạc Phúc Nguyên, khi đã 42 tuổi, Phạm Duy Quyết mới đỗ Trạng nguyên.
Trong khoa thi này, ông và người thầy tên là Nguyễn Khắc Kính cùng ứng thí. Vì kính trọng thầy, Duy Quyết có ý định giảm bút lực của mình đi một chút để sao cho bài thi của thầy hơn bài thi của mình. Ông cho rằng đạo thầy trò là thầy phải ở trên trò. Nhưng Nguyễn Khắc Kính đoán được ý nghĩ ấy của học trò bèn nghiêm khắc nói:
“Thầy biết anh thực bụng muốn nhường ngôi thứ cao hơn cho thầy trong khoa thi này, nhưng thầy thấy làm như thế là sai. Anh phải phấn đấu hết sức mình để đạt danh vị cao nhất. Niềm vinh của anh chính là niềm vinh của thầy. Học trò mà vượt hơn thầy, đó chính là điều tốt đẹp trên đời”.
Nghe lời khuyên răn của thầy, Phạm Duy Quyết mới thật yên tâm trổ hết tài nghệ và kiến thức vào các quyển thi. Khoa thi năm ấy, ông đỗ Trạng nguyên, dưới ông một bậc chính là thầy học Nguyễn Khắc Kính, đỗ Bảng nhãn.
Theo sử liệu, Trạng nguyên Phạm Duy Quyết làm quan thanh liêm, giản dị, giữ các chức vụ quan trọng như Đông Các đại học sĩ, Tả thị lang, rồi Thượng thư bộ Lại. Sau này, ông được phong tước Xác Khê hầu. Gắn bó với quê nhà, ông từng tâu xin triều đình cho đắp con đường từ Xác Khê qua Thanh Lâm đến bến Hoàng Kênh, giúp dân đi lại an toàn. Con đường ấy về sau được gọi là “Dặm Tiều”, trở thành địa danh lưu truyền trong câu nói dân gian: “Thứ nhất thì dặm bà Hoa, thứ nhì dặm Liệt, thứ ba dặm Tiều”.
TRƯƠNG TỊCH 張藉 (767-830), Thi nhân đời Đường, tự là Văn Xương, lại
có biệt hiệu là THI TRƯỜNG 詩腸 (đầy ruột toàn là thơ). Ông người đất Ngô
Quận (Tô Châu, tỉnh Giang Tô, sau thiên cư về Ô Giang của Hòa Châu
(thuộc Hòa Quận tỉnh An Huy hiện nay).
Theo "Vân Tiên Tản Lục" ghi chép, sở dĩ ông có biệt hiệu Thi Trường
là vì: Ông rất mê thơ Đỗ Phủ (ông nhỏ hơn Đỗ Phủ 55 tuổi). ông đem thi
tập của Đỗ Phủ đốt thành tro rồi hòa với mật ong, mỗi buổi sáng đều uống
ba muổng. Bạn bè biết được cười nhạo, thì ông đáp rằng : Sau khi uống
tro của thơ Đỗ Phủ vào ruột thì tôi sẽ viết ra được những câu thơ hay
như là thơ của Đỗ Phủ vậy. Bạn bè nghe xong đều cười cho sự ngớ ngẩn của
ông. Nhưng nói cũng lạ, thơ ông làm ra có nhiều bài rất nổi tiếng và
còn truyền tụng mãi cho đến hiện nay, như : Tiết Phụ Ngâm 節婦吟, Chinh Phụ Oán 征婦怨, Lương Châu Từ 凉州词, Thành Đô Khúc 成都曲...
Năm Trinh Nguyên thứ 14 (798), đời Đường Đức Tông, Trương Tịch bắc
du, được Mạnh Giao giới thiệu quen với Hàn Dũ ở Biện Châu (Phủ Khai
Phong Hà nam). Năm sau ông đậu Tiến Sĩ, từng giữ chức Thái Thường Tự
Thái Chúc, vì bị bệnh viễn thị nên viết câu thơ "Thảo sắc diêu khan cận
khước vô 草色遥看近却無". Có nghĩa : Xa nhìn sắc cỏ gần không thấy. Mạnh Giao
gọi ông ta là "Cùng Hạt Trương Thái Chúc 窮瞎張太祝". Có nghĩa : Lão Trương
Thái Chúc nghèo mù.
Năm Nguyên Hòa thứ 11
(816), chuyển qua Trợ Giáo cho Quốc Tử Giám, rồi nhậm chức Bí Thư Lang.
Năm Trường Khánh nguyên niên (821), ông lại được Hàn Dũ tiến cử vào làm
Bác Sĩ của Quốc Tử Giam, nhiều lần giữ chức Thủy Bộ Viên Ngoại Lang,
cuối cùng là chức Quốc Tử Tư Nghiệp. Nên Trương Tịch còn được gọi là Trương Thủy Bộ. Phiên
Trấn Lý Sư Đạo ngưỡng mộ học thức của Trương Tịch, nên muốn mời ông về
Phủ Tư Đồ, ông từ chối khéo bằng bài Tiết Phụ Ngâm 節婦吟 nổi tiếng cổ kim
như sau :
節婦吟 TIẾT PHỤ NGÂM
君知妾有夫, Quân tri thiếp hữu phu,
贈妾雙明珠。 Tặng thiếp song minh châu.
感君纏綿意, Cảm quân triền miên ý,
繫在紅羅襦。 Hệ tại hồng la nhu
妾家高樓連苑起, Thiếp gia cao lầu liên uyển khởi,
良人執戟明光裡。 Lương nhân chấp kích minh quang lý.
知君用心如日月, Tri quân dụng tâm như nhật nguyệt,
事夫誓擬同生死。 Sự phu thệ nghĩ đồng sinh tử.
還君明珠雙淚垂, Hoàn quân minh châu song lệ thùy,
恨不相逢未嫁時! Hận bất tương phùng vị giá thì.
Bài thơ có nghĩa : Chàng biết là thiếpđã có chồng rồi, nhưng còn tặng cho thiếp một đôi ngọc minh châu. Cảm vì tình ý quyến luyến của chàng, nên thiếp đã đeo nó vào trong giải yếm màu đỏ. Nhà thiếp ở cạnh lầu cao sát với vườn thượng uyển, nên chồng thiếp là người cầm kích gác trong đền Minh Quang của vua. Vẫn biết là dụng ý của chàng trong sáng như nhựt nguyệt, nhưng đạo thờ chồng thiếp cũng nguyền cùng chung sống chết (với chồng). Nên... Thiếp đành gạt nước mắt mà trả lại đôi minh châu cho chàng, chỉ hận là ta không gặp gỡ nhau khi thiếp còn chưa xuất giá !
Bài thơ trên đã được cụ Ngô Tất Tố diễn Nôm rất hay là :
Chàng hay em có chồng rồi,
Yêu em chàng tặng một đôi ngọc lành.
Vấn vương những mối cảm tình,
Em đeo trong áo lót mình màu sen.
Nhà em vườn ngự kề bên,
Chồng em cầm kích trong đền Minh Quang.
Như gương, vâng biết lòng chàng,
Thờ chồng, quyết chẳng phụ phàng thề xưa.
Trả ngọc chàng, lệ như mưa,
Hận không gặp gỡ khi chưa có chồng.
Đọc sự tích nầy của Trương Tịch làm cho ta nhớ lại sự tích của cụ
Đào Duy Từ một nhà chính trị quân sự lỗi lạc, một danh nhân văn hóa kiệt
xuất, bậc khai quốc công thần số một của chín đời Chúa Nguyễn và 13 đời
vua của triều đình nhà Nguyễn. Đào Duy Từ vốn người Bắc hà nhưng không
được trọng dụng, mới lưu lạc vào Nam giúp Chúa Nguyễn.
Chúa Trịnh tiếc tài của Đào Duy Từ, mới tính kế làm sao để lôi kéo ông
bỏ Chúa Nguyễn về với triều đình vua Lê và Chúa Trịnh. Chúa bèn lập mưu,
sai người mang nhiều vàng bạc bí mật vào Nam biếu Đào Duy Từ, kèm theo
một bức thư riêng với bốn câu thơ :
Trèo lên cây bưởi hái hoa,
Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân.
Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc,
Em có chồng rồi anh tiếc lắm thay!”.
ảnh cụ Đào Duy Từ
Lời thơ ngụ ý anh là (Chúa Trịnh) và em (Đào Duy Từ) thuở nhỏ, trèo
cây hái hoa bưởi, bước xuống vườn cà hái nụ hoa tầm xuân. Ý thơ
là lời nhắn nghĩa tình, nhắc Đào Duy Từ rằng tổ tiên, quê quán vốn ở
Đàng Ngoài. Nếu trở về sẽ được triều đình trọng dụng. Nhưng Đào Duy Từ
đã trả lại quà tặng và viết bài thơ phúc đáp Chúa Trịnh như sau:
Ba đồng một mớ trầu cay,
Sao anh chẳng hỏi những ngày còn không?
Bây giờ em đã có chồng,
Như chim vào lồng như cá cắn câu.
Cá cắn câu biết đâu mà gỡ,
Chim vào lồng biết thuở nào ra?”
Chúa Trịnh đọc thơ biết khó lòng lôi kéo được họ Đào, nhưng thấy
bài thơ chưa có câu kết, ý còn bỏ ngỏ, nên vẫn nuôi hy vọng, bèn cho
người đem lễ vật nhiều hơn, và mang theo lá thư của Chúa Trịnh vào gặp
Đào Duy Từ lần nữa. Lần này, Đào Duy Từ mới viết nốt hai câu kết gửi ra,
để trả lời dứt khoát việc mời mọc của chúa Trịnh :
Có lòng xin tạ ơn lòng,
Đừng đi lại nữa mà chồng em ghen!
Trương Tịch còn nổi tiếng với bài thơ "Cận Thí Thượng Trương Thủy
Bộ 近試上張水部". Có nghĩa : Gần thi gởi lên cho Trương Thủy Bộ (để xem xét
đánh giá dùm coi có đậu được hay không ?) của sĩ tử Chu Khánh Dư 朱慶餘.
Bài thơ như sau :
洞房昨夜停紅燭, Động phòng tạc dạ đình hồng chúc,
待曉堂前拜舅姑。 Đãi hiểu đường tiền bái cựu cô.
妝罷低聲問夫婿, Trang bãi đê thanh vấn phu tế,
畫眉深淺入時無。 Họa my thâm thiển nhập thời vô ?
Có nghĩa :
Động phòng hoa chúc đêm qua,
Sáng ngày ra mắt mẹ cha khách phòng.
Diện xong nàng khẻ hỏi chồng,
Mày ngài đậm nhạt hợp không hỡi chàng ?
ĐCĐ diễn Nôm
Chu Khánh Dư tự ví mình như là cô dâu mới về nhà chồng, nên sáng
đêm tân hôn, khi trang điểm xong, trước khi lên phòng khách ra mắt cha
mẹ chồng, thì kề tai hỏi nhỏ chồng rằng : " Đôi mày của thiếp kẻ như thế
nầy đậm nhạt có hợp thời không ?". Ý nói là có hợp với nhãn quang của
cha mẹ chồng không ?. Chu xem Trương Tịch người Trợ Giáo cho Quốc Tử
Giám như là chàng rể mới nên mới hỏi xem văn chương của mình có hợp với ý
của cha mẹ chồng là quan chủ khảo hay không ? Qủa là khéo ví von một
cách gợi tình lãng mạn mà lại rất nên thơ !. Trương Tịch cũng đã đáp lại
bằng một bài thơ tứ tuyệt "Thù Chu Khánh Dư 酬朱慶餘" (Đáp Chu Khánh Dư). Bài thơ như sau :
越女新妝出镜心, Việt nữ tân trang xuất kính tâm,
自知明艷更沉吟。 Tự tri minh diễm cánh trầm ngâm.
齊紈未足時人貴, Tề hoàn vị túc thời nhân qúy,
一曲菱歌敵萬金。 Nhất khúc lăng ca địch vạn câm (kim).
Có nghĩa :
Nàng con gái nước Việt (ý chỉ gái đẹp) vừa mới trang điểm xong như
đi ra từ trong lòng gương (ý chỉ đẹp rực rỡ). Tự biết mình rất diễm kiều
trong sáng, nên lại càng trầm ngâm hơn (không biết mình có tự tin qúa
hay không!). Nhưng hãy yên tâm đi nàng ơi, dù cho lụa nõn qúy giá của
nước Tề cũng không qúy bằng con người thật trước mắt, chỉ cần một khúc
hát hái ấu, hái sen thanh thoát là đã đáng giá ngàn vàng rồi !
Ý của Trương Tịch muốn khuyên sĩ tử Chu Khánh Dư là "Mình đã đẹp sẵn như Tây Thi gái nước Việt rồi, mà còn vừa mới trang điểm xong nữa, lo gì không đẹp mà phải "trầm ngâm"?. Ý nói Chu đã có tài rồi mà còn có chuẩn bị nữa, thì lo gì mà thi không đậu, cũng như nàng gái Việt duyên dáng đã qúy hơn gấm vóc lụa là rồi thì chỉ cần cất cao giọng lên hát một
khúc hái sen hái ấu nữa là sẽ đáng giá ngàn vàng ngay ! Ý Trương Tịch
muốn khuyên Chu Khánh Dư là cứ tự tin mà đi thi đi, tên sẽ được ghi bảng vàng mà thôi ! Và quả thật như lời khuyên của Trương, Chu đã thi đậu Tiến Sĩ năm Bảo Lịch thứ 2 (826) và làm quan đến chức Bí Thư Tỉnh Hiệu Thư Lang.
Diễn Nôm :
Gái Việt điểm trang đẹp tợ gương,
Biết mình xinh xắn vẫn khiêm nhường.
Lụa là Tề quốc thua người qúy,
Một khúc ngàn vàng mãi vấn vương !
ĐCĐ diễn Nôm
Thế đấy, nhờ sùng bái và mỗi buổi sáng nuốt thơ Đỗ Phủ vào ruột mà
TRƯƠNG TỊCH cũng làm thơ hay và nổi tiếng như Đỗ Phủ trong buổi Thịnh
Đường. Đỗ Phủ là Thi Thánh, còn Trương Tịch là Thi Trường, là thơ từ
trong ruột tuôn ra vì đầy một ruột toàn là... thơ của Đỗ Phủ. Thế mới
hay, có chí thì nên, nhờ ái mộ Đỗ Phủ mà Trương Tịch cố gắng dùi mài nắn
nót làm thơ, kết cuộc ông cũng trở thành một thi sĩ lớn trên thi đàn
của đời Đường nhờ vào sự phấn đấu của chính mình. Nuốt thơ Đỗ Phủ chỉ là
cái cớ, cái động lực thôi thúc ông cố gắng tiến lên mà thôi.
Dù thế nào đi nữa thì Trương Tịch vẫn để lại một tấm gương tốt cho
hậu sinh noi theo và nhất là để lại những bài thơ bất hủ như Tiết Phụ Ngâm, Chinh Phụ Oán, Thành Đô Khúc ... những giai thoại văn chương lý thú giữa ông và những bạn thơ chung quanh thời đại hoàng kim của thi ca : ĐƯỜNG THI !
Ghi chú: Bạn tôi, anh Trần Tuấn Mẫn, Tạp chí Văn hóa Phật giáo cho biết anh đã thôi việc ở Tòa soạn kể từ ngày 1.7.2020 vì tuổi đã cao. Tôi gởi anh bài này như một kỷ niệm riêng. Bài đã in trên Tạp chí VHPG số 347 ngày 1.7.2020. Xin chia sẻ cùng các bạn. ĐHN
Càng có tuổi, hình như tôi càng nhận ra có cái gì đó ở ngoài ý chí mình, can thiệp vào mình tùy hứng khiến mình đôi lúc không khỏi chưng hửng, ngỡ ngàng, thầm nghĩ “duyên” chăng? Nhưng duyên là gì không biết. “Nghiệp” chăng? Nhưng nghiệp là gì cũng không biết. Thôi thì, cứ để nó trôi chảy, tự nhiên, bởi nó có vẻ chẳng cần đến ta, chẳng phải là ta, chẳng phải của ta…
Vào tuổi tám mươi, tôi nghĩ đã đến lúc “về thu xếp lại”, đã đến lúc “nhìn lại mình…” như người bạn nhạc sĩ họ Trịnh kia đã nói. Về thu xếp lại, bởi “chút nắng vàng giờ đây cũng vội”, vì rất nhanh thôi, các tế bào thân xác kia đã có vẻ rã rượi, ù lì, và cũng rất nhanh thôi các tế bào thần kinh nọ cũng mịt mờ, mỏi mệt, nhớ trước quên sau… Đầu năm 2019, tôi gom góp in cuốn Về thu xếp lại như một cột mốc, một hẹn hò, rồi cuối năm tiếp tục gom góp in thêm cuốn Biết ơn mình như một nhắc nhở… Bên cạnh đó, cũng đã tạm một bản thảo Đi để Học, Ghi chép lang thang… chủ yếu là một dịp để “nhìn lại mình”… và gần đây nhất là tập Tạp bút Để Làm Gì không phải để hỏi cũng chẳng phải để thở than chi! Tôi cũng mong gom góp, tập hợp một số bài viết, sách, biên chép bấy nay trong lúc lõm bõm học Phật, thấp thoáng lời kinh, làm thành một tập tuyển học Phật để ngẫm ngợi khi cần. Muốn thì muốn vậy, nhưng lực bất tòng tâm!
Duyên may lại đến.
Cách đây mấy năm, một buổi chiều, nhận được 4 cuốn bản thảo “Tuyển tập Đỗ Hồng Ngọc” dày hơn ngàn trang A4 của một người không quen biết gởi tặng. Giật mình. Ai vậy cà? Thấy có kẹp mảnh giấy nhỏ, ghi số điện thoại tên Nguyễn Hiền Đức. Bèn phone thăm hỏi mới biết đó là một bạn đọc quý mến mình, đã “dõi theo” hành trình viết lách của mình từ lâu, nay tỉ mẩn ghi chép lại cả một tuyển tập đồ sộ gởi tặng và nói còn sẽ gởi tiếp mấy tập nữa! Lúc đầu tưởng anh gom góp từ trên mạng, nhưng không, anh cho biết đã gò lưng đánh máy từ những trang sách mà anh ưa thích! Thời buổi này. Lạ thiệt.
Rồi hẹn gặp, mới biết Nguyễn Hiền Đức (thường gọi anh 5 Hiền), trước 1975 từng có thời là Thư ký Tòa soạn của tạp chí Tư Tưởng của Đại học Vạn Hạnh, thư ký riêng của HT Thích Minh Châu… Anh tốt nghiệp Báo chí và Xã hội học, rồi cao học Sử ở Đại học Vạn Hạnh. Đó là một người gầy gò, trông khắc khổ, nghiêm túc, nhưng rất nhiệt tâm và nói chung… dễ thương.
Gần đây, một người bạn bên kia nửa vòng trái đất cho hay tình cờ thấy có Tuyển tập Đỗ Hồng Ngọc “Thấp Thoáng Lời Kinh” trên Thư Viện Hoa Sen online. Nghĩ chắc… Nguyễn Hiền Đức đây rồi! Và đúng vậy.
Nguyễn Hiền Đức tâm sự: Tôi bắt đầu “gõ” và “gõ”, mải mê “gõ” cuốn “TUYỂN TẬP ĐỖ HỒNG NGỌC – THẤP THOÁNG LỜI KINH” này từ năm 2010 và kết thúc năm 2018. Tôi rất thích từ “Thấp thoáng” vì nó thể hiện rất rõ, rất đúng cái chất “thấp thoáng”, “lõm bõm” của tôi khi học Phật.
Ngay trong bước đầu “tập tễnh học Phật” tôi đã chọn cách học hợp với sở thích của mình. Đó là chọn bài, chọn sách rồi… rị mọ. cặm cụi, kiên trì “gõ” vào máy. Cách làm này giúp tôi đọc chậm, đọc kỹ từng đoạn, từng trang, từng bài, rồi chú tâm sửa lỗi. Tôi đọc ít nhất 5 lần cho mỗi trang với lòng thanh thản, thư thái. Tôi không “ép” mình phải ghi, phải nhớ một điều gì cứ để nó trôi chảy như một dòng sông…
* * *
Tôi có chút “duyên” với Phật, nhưng đến với Phật rất trễ. Lại đến một mình. Sanh ở Phan Thiết mấy ngày thì tôi được về nhà Ngoại ở làng Phong Điền, Hiệp Nghĩa, dưới chân núi Tà Cú, nơi có Linh Sơn Trường Thọ Tự. Nhỏ xíu, tôi đã được theo cha mẹ, các cậu, dì, lên chơi Chùa núi. Khi là sinh viên ở Saigon, tôi cũng đọc Bát Nhã, đọc Suzuki, Krishnamurti… nhưng đọc chỉ để mà đọc. Đến năm tuổi gần 60, sau một cơn bệnh thập tử nhất sinh, tôi thấy mọi sự khác hẳn đi. Tôi đọc Tâm Kinh thấy không khó nữa. Như vỡ ra. Và với Tâm Kinh, tôi thấy chỉ cần học một chữ thôi. Chữ Không. Từ đó mà vô trụ, vô trí, vô đắc… Từ đó mà gaté, gaté, paragaté… Nó như giúp tôi trả lời câu hỏi cho chính mình, Why, tại sao? Tôi vẫn thường tự đặt ra cho mình những câu hỏi “tại sao” như vậy. Rồi lại hỏi bằng cách nào đây (How?) để mà “hành thâm Bát nhã”? Câu trả lời nằm ở Kim Cang. Ở Kim Cang tôi học Vô ngã (nhân vô ngã, pháp vô ngã), và Thiền định. Dĩ nhiên không thể không học những bước cơ bản: Tứ diệu đế, Bát chánh đạo, Thập nhị nhân duyên… Không có chánh định thì làm sao có chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ… Con đường từ thể nghiệm, thực nghiệm đến ứng dụng trong đời sống hàng ngày. Ở Pháp Hoa, học vô tướng, thực tướng, gặp Như Lai Đa Bảo của mình như luôn tủm tỉm cười chọc quê mình! Cái học y khoa, tâm lý học, xã hội học cũng đã giúp tôi thấy rõ hơn vai trò thầy thuốc, tham vấn viên của bậc Y vương qua hình tượng các vị Bồ tát Thường Bất Khinh, Dược Vương, Quán Thế Âm… với tôn trọng (respect), chân thành (guenuine), thấu cảm (empathy) để không chỉ học hiểu lời kinh mà còn vận dụng vào nghề nghiệp… Ở Duy-ma-cật, học Bất nhị. Kinh mở ra một cách tiếp cận mới, sinh động, cho dòng chảy mênh mang rộng khắp.
Chắc chắn Phật không muốn chỉ có các đệ tử ngồi thiền định dưới gốc cây, tới giờ đi khất thực và đợi ngày nhập Niết bàn. Phật cần có những vị Bồ-tát đem đạo vào đời, tự giác giác tha. Thế nhưng, các vị Bồ-tát đầu tròn áo vuông cũng khó mà “thõng tay vào chợ” giữa thời đại bát nháo này. Vì thế mà cần Duy-ma-cật. Một thế hệ cư sĩ tại gia, nhằm thực hiện lý tưởng của Phổ Hiền Bồ-tát…!
Rồi từ những điều học hỏi, nghiền ngẫm, thể nghiệm… bấy nay mà tôi mạnh dạn sẻ chia với “Thấp thoáng lời Kinh”, “Thoảng hương Sen”, “Thiền và Sức khỏe”, “Nếp sống An lạc”… như một ứng dụng Phật pháp vào đời sống.
Khi được hỏi “kinh nghiệm” về học Phật, tôi nghĩ trước hết, cần nắm được các thuật ngữ, sau đó là hiểu được các ẩn dụ, ẩn nghĩa, hàm chứa trong lời Kinh và quan trọng nhất là thực hành, ứng dụng vào đời sống, ở đây và bây giờ…
Những năm sau này, tôi có dịp cùng học với nhóm bạn về Lăng Nghiêm, Viên Giác, Lăng Già… Con đường học Phật thênh thang như cánh rừng kia mà ta mới tiếp cận vài hạt bụi rơi từ nắm lá Simsapa dạo nọ.
Tôi lại gặp duyên may trong lúc một mình lõm bõm học Phật như vậy khi gắn bó với Tạp chí Văn hóa Phật giáo. Tôi còn nhớ buổi họp đầu tiên để thực hiện tạp chi Văn Hóa Phật Giáo có sự hiện diện của quý thầy cùng với các vị cư sĩ tôi hằng mến mộ như Cao Huy Thuần, Trần Tuấn Mẫn, Trần Đình Sơn, Nguyên Cẩn… Anh Cao Huy Thuần sau đó nói riêng với tôi: Này, tôi “thách” anh Đỗ Hồng Ngọc viết được mỗi tháng một bài cho Văn hóa Phật giáo đó. Thế là tôi gắn với Văn hóa Phật giáo từ thuở ban đầu đó đến nay đã gần 15 năm! Thực ra tôi viết Văn Hóa Phật Giáo là để học.
Nhớ những bài viết đầu tiên gởi Văn Hóa Phật Giáo tôi băn khoăn nên để mục này là “Lõm bõm học Phật” hay “Thấp thoáng Lời Kinh”, bởi biết mình chỉ học lõm bõm, thấp thoáng, chẳng chính quy hiện đại gì cả. Trần Tuấn Mẫn kêu “Lõm bõm” thiếu nghiêm túc. Chọn “Thấp thoáng Lời Kinh” nhé. Chẳng ngờ độc giả “chịu” cách viết “bên lề” như vậy. Thường khi bài đăng xong tôi hỏi Trần Tuấn Mẫn thế nào, có bị “rầy la, sỉ vả” gì không? Mẫn bảo viết tiếp đi, nhanh lên, được khen lắm đó. Đó là một lời khuyến khích động viên qúy báu, giúp mình tự tin hơn. Tôi viết từ những cảm nhận riêng với một văn phong đời thường về Tâm Kinh Bát nhã, về Kim Cang, Pháp Hoa, Duy-ma-cật… Tôi biết ở Ban Biên tập có những bậc tôn túc, những cao nhân và nhất là độc giả Phật tử khắp nơi đều là những vị thầy của mình, sẽ là “bộ lọc” cho những bài viết của mình, có gì sai họ sẽ chỉ dẫn. Thật vậy, thỉnh thoảng Trần Tuấn Mẫn giúp tôi chỉnh một chữ, thỉnh thoảng anh Lê Văn Lợi từ Huế khen một câu hoặc nhắc cho một ý… Khi tôi viết mục “Thoảng hương sen”, là những suy gẫm, những cảm nhận tích lũy trong nhiều năm tháng học Phật của mình, Văn Hóa Phật Giáo đã sửa thành “Hương Sen” mà bỏ đi chữ “Thoảng”. Tôi hiểu. Với tôi, viết cho Văn hóa Phật giáo là một cách học Phật tốt nhất.
Khi tôi xuất bản cuốn Thấp thoáng Lời Kinh thì Trần Tuấn Mẫn viết trên Văn hóa Phật giáo, số 163, ngày 15-10-2012:
Đọc xong tác phẩm Thấp thoáng lời kinh của Đỗ Hồng Ngọc. Im lặng, thanh thản, hoan hỷ như vừa trải qua một cuộc du lịch kỳ thú đến những vùng đất xa xôi, kỳ ảo, để rồi sau đó tâm trí như loãng đi, mơ hồ, lung linh, băn khoăn trong niềm vui thú vị vẫn còn đó, quanh quất lâu dài. Gập sách lại, tôi bỗng thấy thấp thoáng lời sách, từ ngữ, câu văn từ bài này chuyển sang bài nọ, chữ nghĩa nhẹ nhàng đổi chỗ nhau, nhưng vẫn rất tự nhiên, rất trật tự và rất đẹp. Phải chăng tác giả cũng thấy thấp thoáng chứ không nghe văng vẳng lời kinh vì không trực tiếp nghe được kim thanh của Đức Phật. Anh chỉ tự nghiên cứu kinh điển, tự cảm nghiệm và những dòng kinh chợt đến chợt đi trong tâm tưởng. Có lẽ anh dùng từ thấp thoáng cũng là do sự khiêm tốn, muốn bảo rằng những gì anh viết ra không phải là từ sự nghiên cứu mang tính kinh viện mà chủ yếu là do cảm nhận, do sự suy nghĩ và trải nghiệm cá nhân. Tôi vui vì nghĩ như thế, vì nghĩ mình thông cảm được với anh và được anh truyền cho niềm cảm hứng và mấy phần kiến thức Phật học (…).
Các bài viết ở đây, theo lời tác giả, là “những loay hoay, bứt rứt”, “những cảm nghiệm riêng tư, rất chủ quan của người thầy thuốc, bấy lâu nay tìm kiếm, thử nghiệm trên mình rồi mới dám mà sẻ chia cùng bạn bè tương lân”. Những lời tâm sự ấy là chân thật, là tình nghĩa và những gì anh viết ra thì chân xác trong chừng mức có sự chấp nhận của những người đã học Phật, đã tu Phật hay từng chiêm nghiệm về cuộc đời. Anh nhận định sâu sắc về các đề tài nói trên, nhưng vốn là một bác sĩ nhiều kinh nghiệm chữa trị thân và tâm, có khi anh tế nhị và có đôi chút dí dỏm nên chuyển ý sang bình diện cụ thể, thiết thực, gợi ý chúng ta về sự suy nghĩ, về thái độ tích cực trong cuộc sống hằng ngày nên cố ý chuyển ý nghĩa của vài lời kinh như là một thể cách khế cơ (…).
Nhẹ nhàng mà thâm sâu, dí dỏm mà chân thật là tính chất của Đỗ Hồng Ngọc. Thật hay và thật vui khi anh bàn về Hơi thở ra vào, Bồ-tát Di lặc, Du hý ta-bà, Luân hồi sanh tử v.v…
Đọc Thấp thoáng lời kinh của Đỗ Hồng Ngọc, tôi bỗng cảm thấy mình chỉ thấp thoáng lời anh và loay hoay, bứt rứt về cái kiến thức Phật học của mình. Những đoạn kinh tôi đã thuộc lòng bỗng trở nên “thấp thoáng”…
Với tôi, Trần Tuấn Mẫn vừa là bạn, mà cũng là thầy, từ thuở Vô Môn Quan, đến Bàng Ẩn, rồi Lăng Già… và nhất là Tạp chí Văn Hóa Phật Giáo suốt 15 năm qua.
CHỮ KÝ TRONG TÊN TIỆM ĂN, CHỮ ĐƯỜNG TRONG TIỆM THUỐC,
CHỮ TỰ Ở CÁC CHÙA VÀ CHỮ KIM Ở TIỆM VÀNG....
Đỗ Duy Ngọc.
Thời còn đi học, nhất là mấy năm đầu, bởi vì học ban Việt Hán, có môn Hán văn nên chịu tìm tòi chữ Hán dữ lắm. Còn nhớ hồi ấy GS Trần Trọng San, một người có in sách dịch thơ Đường và GS Phan Hồng Lạc dạy môn đấy. Học Hán văn thì phải có tự điển, cuốn Tự điển Hán Việt của tác giả Thiều Chửu là cuốn sinh viên nào cũng ráng mua về để tra cứu. Trong lớp có mấy bạn là thầy tu Phật giáo đã có học chữ Hán trong chùa nên rất giỏi môn này.
Tôi nhờ có chút hoa tay nên chỉ được viết chữ đẹp thôi, còn Hán không rộng lắm. Để khắc phục yếu kém của mình, tôi và vài người bạn thường vào Chợ Lớn, nhìn các bảng hiệu để đoán chữ như là một cách học thêm. Thuộc cho đủ 214 bộ thủ trong chữ Hán cũng là việc không dễ cho những người mới học chữ Hán, nhưng không thuộc được 214 bộ này thì sẽ khó tiến bộ và tiếp thu rất chậm.
Và trong những lần lang thang học chữ như thế, tôi lại có thắc mắc sao tên các tiệm, các quán ăn của người Hoa thường có chữ Ký, các tiệm thuốc và chữa bệnh có chữ Đường, các chùa chiền thường có thêm chữ Tự, nhiều tiệm vàng có chữ Kim v.v... Chính vì tò mò nên tôi tìm hiểu cho ra, bởi tánh tôi ngay từ bé muốn biết cái gì cũng phải tường tận.
Trước hết là chữ Ký. 記.
Ở Sài Gòn, Chợ Lớn ta thường bắt gặp nhiều bảng hiệu như Lương ký mì gia, Bồi Ký Mì Gia, Thiệu Ký Mì Gia, Hải Ký Mì Gia, Huê Ký Mì Gia... bằng tiếng Việt kèm thêm tiếng Hoa. Theo tự điển thì Ký có nghĩa là ghi chép, là ghi lại như nhật ký, bút ký... nhà báo gọi là ký giả...
Tuy nhiên trong trường hợp này, Ký không chỉ là ghi chép. Nó còn có nghĩa là ghi nhớ, như vậy đặt tên quán có chữ Ký là để thực khách đến ăn và nhớ tên quán của mình. Cho nên trước chữ Ký là tên riêng hoặc từ mang ý nghĩa tốt đẹp thành biển hiệu của quán. Còn mì gia được hiểu đơn giản chỉ là tiệm mì, nhà làm mì, nơi bán mì, mì gia truyền. Tức là muốn khẳng định đây là quán bán mì ngon do quán làm ra, bằng công thức truyền từ đời này sang đời khác.
Nhưng từ Ký không chỉ có ở các tiệm bán mì, nó còn có ở các quán ăn như Chuyên Ký bán cơm thố, Tuyền Ký là quán ăn của người Hẹ, hay Phúc Ký, Phát Ký. Và theo An Chi, một người chuyên nghiên cứu về chữ nghĩa thì sau khi tìm hiểu từ những người gốc Hoa, từ “ký” lộ ra rất nhiều nghĩa, và hiểu là dấu ấn, nhớ, danh dự, dấu hiệu đều có lý. Nhưng cuối cùng thì ông cũng nói cách giải thích khoa học nhất:
“Mathews’ Chinese – English Dictionary đối dịch Ký là a sign, a mark và Ký hiệu là trade-mark. Trade-mark, chẳng phải gì khác hơn là nhãn hiệu, thương hiệu.
Vậy cái là nghĩa gốc chính xác của chữ Ký trong Tường Ký, Chánh Ký, v.v… chẳng qua chỉ là “hiệu”. Chính vì thế nên chủ một số cửa hàng người Hoa mới đặt bảng hiệu của mình bằng một tên mà “ký” là trung tâm (đứng cuối) còn đứng trước là một trong những chữ dùng làm tên riêng cho cửa hàng của mình”.
Tóm lại chữ Ký trên biển hiệu của các quán ăn người Hoa có nghĩa là ghi nhớ đến quán, là để nhớ đến, là nhãn hiệu xem như đã được cầu chứng.
Lại tiếp đến từ Đường 堂 ở các tiệm thuốc Bắc hay các nơi bắt mạch, hốt thuốc của người Hoa như Ích Sanh Đường, Hạnh Lâm Đường, Tế Sinh Đường... Chữ Đường vốn trong tiếng Hán là có ý chỉ nhà lớn, phủ quan. Thế nhưng các tiệm thuốc có mang chữ Đường xuất phát từ một chuyện thời xưa ở bên Tàu của một trong những thầy thuốc danh tiếng bậc nhất trong lịch sử Trung Quốc: Thánh Y Trương Cơ.
Trương Cơ (张机), tự Trọng Cảnh, sinh năm 150 mất năm 219, là một thầy thuốc Trung Quốc hoạt động vào cuối đời Đông Hán. Ông được xưng tụng là “Thánh y” (医圣) của Đông y. Tác phẩm quan trọng nhất của ông, Thương hàn tạp bệnh luận, tuy đã thất lạc trong giai đoạn Tam Quốc nhưng sau đó đã được tổng hợp lại thành hai tập sách Thương hàn luận và Kim quỹ yếu lược, là hai trong bốn bộ sách quan trọng nhất của Đông y. Có một thời gian ông đến làm thái thú tại Trường Sa, đúng lúc dân gian đang có dịch thương hàn. Để cứu chữa cho dân, ông đã vừa làm việc quan vừa chữa bệnh. Và như vậy ông đã công nhiên phá vỡ giới luật nghiêm ngặt thời phong kiến: ngồi tại công đường kê đơn bốc thuốc cho dân. Ông thường ghi thêm trước tên của mình bốn chữ tọa đường y sinh. (Wikipedia)
Sau này để ghi nhớ công ơn của vị thánh y đầy đức độ và tài giỏi, người ta thường gọi những người ngồi trong nhà thuốc trị bệnh thành “tọa đường y sinh”, tức là người thầy thuốc ngồi ở nhà lớn. Và cũng từ đó, các thầy thuốc Bắc thường cho chữ Đường vào tên nhà thuốc của mình thành một thói quen cho đến nay.
Đến chữ Tự trong tên của các chùa. Tự (寺): là tiếng Hán, theo tự điển giải nghĩa là chùa.
Ngày nay chữ này được dùng đứng sau làm thành tố chính để kết hợp với một từ định danh nào đó tạo thành một cụm danh từ nêu tên gọi một ngôi chùa cụ thể, như Trấn Quốc Tự, Kim Liên tự, Quang Minh Tự, Bửu Lâm tự, Vĩnh Nghiêm Tự, Thiếu Lâm Tự, Pháp Vân Tự... và như thế ai cũng hiểu Tự nghĩa là chùa cho nên ghi là thế nhưng người Việt vẫn thường gọi là chùa Trấn Quốc, chùa Vĩnh Nghiêm, chùa Thiếu Lâm, chùa Pháp Vân... Nhưng thật ra trong ngôn ngữ Trung Quốc cổ đại thì nghĩa của Tự không phải là chùa vì Phật giáo mới tiến nhập Trung Quốc từ đầu Công Nguyên, trong khi chữ Hán thì đã có sớm hơn rất nhiều.
Vốn ngày xưa Tự vốn là từ để chỉ cơ quan làm việc cụ thể của bộ máy chính quyền phong kiến. Sách Hán thư chú: Phàm phủ đình sở tại giai vị chi tự (nói chung nơi làm việc của phủ đình đều gọi là Tự). Khang Hy tự điển chú khá rõ điều này: Hán dĩ Thái thường, Quang lộc, Huân vệ úy, Thái bộc, Đình úy, Đại hồng lô, Tông chính, Tư nông, Thiếu phủ vi cửu khanh. Hậu nguy dĩ lai danh tuy nhưng cửu nhi sở lị chi cục vị chi Tự. Nhân danh Cửu tự (đời Hán lấy Thái thường, Quang lộc, Huân vệ úy, Thái bộc, Đình úy, Đại hồng lô, Tông chính, Tư nông, Thiếu phủ làm Cửu khanh. Ngụy trở về sau tuy vẫn để như cũ nhưng các sở cục thì gọi là Tự. Vì vậy mà thành tên Cửu tự (thay cho Cửu Khanh). Thế tại làm sao từ chỗ làm việc, Tự biến thành nghĩa là chùa?
Hán Minh Đế Lưu Trang (25-75CN) là vị vua đầu tiên thừa nhận địa vị của Phật giáo ở Trung Quốc. Tương truyền nhà vua nằm mộng thấy “người vàng” bay qua sân điện, bèn sai sứ giả 12 người do Lang Trung Thái Âm dẫn đầu sang Tây Trúc cầu tìm đạo Phật. Đó là sự kiện năm Vĩnh Bình 7 (năm 64 CN). Ba năm sau (năm 67CN), sứ giả về với hai tăng nhân người Ấn Độ cùng rất nhiều kinh sách và tượng Phật được thồ trên lưng ngựa trắng. Lúc các tăng nhân cùng kinh, tượng, về đến kinh đô, triều đình chưa chuẩn bị kịp chỗ ở riêng nên cho ở tạm trong Hồng Lô tự (một cơ quan trong Cửu khanh hay Cửu Tự). Sau đó nhà vua mới cho xây dựng cái mà chúng ta gọi là chùa để thờ Phật và các tăng nhân tu tập. Kiến trúc xây dựng theo kiểu mẫu dinh thự của quý tộc đương thời.
Sau đó chùa được xây dựng ngày càng nhiều cũng theo kiểu mẫu nhà ở của địa phương. Chính vì vậy mà chùa ở Trung Quốc, và cả ở Việt Nam khi tiếp nhận Phật giáo theo hướng Trung Quốc, có kiểu chùa rất riêng, không theo quy chuẩn mái cong tháp nhọn như nơi Phật giáo phát nguyên.
Nhân vì kinh và tượng Phật được thồ về trên lưng ngựa trắng nên đặt tên chùa là Bạch Mã. Tự là chỗ đầu tiên tăng nhân tạm trú khi đến Trung Quốc nên được chuyển sang làm thành tố chính để gọi tên cho ngôi chùa: Bạch Mã Tự, ngôi chùa phật giáo đầu tiên của Trung Quốc. Kể từ đó, nơi thờ Phật và để kinh sách cho các đạo hữu tín đồ đến học tập, đọc kinh, nghe thuyết pháp đều có chữ Tự sau tên gọi.
Lại bàn về chữ Kim ở các tiệm vàng. Trước 1975 ở miền Nam, tên tiệm vàng nào cũng có chữ Kim. Nó bắt nguồn từ một thương hiệu vàng nổi tiếng ở Việt Nam là vàng lá Kim Thành. Vàng lá Kim Thành là nhãn hiệu vàng thương phẩm nổi tiếng tại vùng Đông Nam Á vào thời kỳ trước 1975, được dùng làm phương tiện trao đổi và cất giữ tài sản. Vàng lá Kim Thành có độ tinh khiết 999,9. Một lượng vàng lá Kim Thành có cân nặng đúng 37,5 g (khoảng 1,2 troy ounce), gồm 3 lá: 2 lá nặng 15 g mỗi lá và 1 lá nặng 7,5 g. Các lá này được bọc chung trong lớp giấy dầu mang nhãn hiệu của nhà sản xuất.(Wikipedia)
Kim Thành là nhà buôn bán và tinh chế vàng lớn nhất vào lúc đó, với trụ sở tại Sài Gòn và chi nhánh tại Hà Nội, Hồng Kông và Phnôm Pênh. Vàng lá Kim Thành nổi tiếng như cồn thế cho nên các tiệm buôn vàng bắt chước theo gắn tên Kim vào tên hiệu của mình.
Hơn nữa, Kim 金 có nghĩa là Vàng, là kim loại qúy có ký hiệu hóa học là Au (L. aurum) và số nguyên tử là 79. Vàng 24K là vàng ròng, không tạp chất. Đặt tên có chữ Kim là tiệm bán vàng tốt, vàng nguyên chất, vàng có uy tín. Ngày trước người ta chỉ dùng một tên, một từ có thể là tên riêng, tên chủ hiệu hoặc một chữ mang ước vọng, mong đợi của chủ nhân kèm với chữ Kim. Ví như Kim Vân, Kim Liên, Kim Phúc, Kim Đức, Kim Phát... Sau năm 1975 hình như truyền thống này có bớt đi nhiều, giờ đây tiệm vàng đặt tên theo ý thích của chủ nhân, cũng chẳng cần kèm theo chữ Kim nữa.
Rảnh vì trốn dịch, nhớ thì viết tào lao chơi vậy thôi chứ thật ra chữ nghĩa nó vô cùng. Để giải thích thì vô cùng tận. Thời nay có ông Hoàng Tuấn Công, đang ở miền ngoài, ông này kiến thức sâu lắm lại rất rành về chữ nghĩa. Viết thế này mà bị ông ấy phê một bài là quê một cục. Nên đành dừng ở đây vậy. Nói nhiều, viết nhiều dễ lộ cái ngu, cái kém của mình he...he.