Hiển thị bài đăng được sắp xếp theo mức độ liên quan cho truy vấn Góc Việt Thi : Ngô Chi Lan. Sắp xếp theo ngày Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị bài đăng được sắp xếp theo mức độ liên quan cho truy vấn Góc Việt Thi : Ngô Chi Lan. Sắp xếp theo ngày Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 18 tháng 9, 2022

Góc Việt Thi : NGÔ CHI LAN - Đỗ Chiêu Đức

Ngô Chi Lan 吳芝蘭 (1434-?) còn có tên là Nguyễn Hạ Huệ, tự là Quỳnh Hương, tên tục là Ngô Thị Hĩm; là một nữ sĩ dưới triều vua Lê Thánh Tông trong lịch sử Việt Nam. Theo Toàn Việt thi lục là người làng Phù Lỗ (nay thuộc huyện Kim Anh, Phúc Yên), vợ ông Phù Thúc Hoành (người làng Phù Xá cũng thuộc huyện ấy, làm quan đến Đông Các Đại Học Sĩ). Bà thiên tư thông minh, có tài văn chương, được vua Lê Thánh Tông phong làm Phù Gia Nữ Học Sĩ, ban hiệu là Kim Hoa Nữ Học Sĩ, dạy các cung nữ học. Mỗi khi yến tiệc, vua thường sai làm thơ, chỉ thoắt chốc là bà làm xong ngay, không cần phải sửa chửa gì cả. Năm ngoài 40 tuổi bà mất, táng ở cánh bãi Tây Nguyên. Để tỏ lòng tiếc thương và ngưỡng mộ bà, nhân dân Phù Lỗ đã dựng đền thờ với tên đề “Kim Hoa Nữ Học Sĩ”. Ngôi đền đó hiện nay được đặt ngay trên nền nhà ở ngày xưa của gia đình bà.

         Ngô Chi Lan chỉ có một tập thơ duy nhất là Mai Trang Tập 梅莊集 (Tập thơ Vườn Mai). Dưới đây là những bài TỨ THỜI THI rất đặc biệt và độc đáo của bà. 

         * ĐẶC BIỆT vì 4 bài đều là Thất Ngôn Bát Cú, nhưng lại không phải là thơ Đường Luật.
         * ĐỘC ĐÁO vì 4 bài đều chia làm hai VẬN : 4 câu đầu gieo vần TRẮC, 4 câu sau gieo vần BẰNG.

         Đỗ Chiêu Đức đã tôn trọng theo ý của nữ sĩ, nên trừ bài diễn Nôm bằng Lục bát ra; Tất cả đều được Diễn Nôm 4 câu đầu gieo vần TRẮC; và 4 câu sau gieo vần BẰNG.

         Kính mời qúy Thầy Cô và Thân Hữu tùy nghi mà thưởng thức và Diễn Nôm cho vui !

                                                                                                                    Nay kính,
                                                                                                                      杜紹德 
                                                                                                            Đỗ Chiêu Đức
                   ....................................................................................

1. Tứ Thời Thi : XUÂN TỪ.

    春詞                             XUÂN TỪ

初晴薰人天似醉,    Sơ tình huân nhân thiên tự túy,
艷陽樓臺浮暖氣。    Diễm dương lâu đài phù noãn khí.
隔簾柳絮度鶯梭,    Cách liêm liễu nhứ độ oanh thoa,
繞檻花鬚穿蝶翅。    Nhiễu hạm hoa tu xuyên điệp xí.
階前紅線日添長,    Giai tiền hồng tuyến nhựt thiêm trường.
粉汗微微沁綠裳。    Phấn hạn vi vi tẩm lục thường.
小子不知春思苦,    Tiểu tử bất tri xuân tứ khổ,
傾身含笑過牙牀。    Khuynh thân hàm tiếu quá nha sàng.

      * Chú Thích :
   - Sơ Tình 初晴 : là nắng mới, chỉ nắng của mùa xuân sau ba tháng mùa đông lạnh lẽo.
   - Huân Nhân 薰人 : là Hanh người, là Làm cho con người cảm thấy ấm áp.
   - Diễm Dương 艷陽 : là Ánh nắng đẹp, trời nắng rất đẹp đẽ.
   - Oanh Thoa 鶯梭 : Các con chim oanh len lỏi trong cành liễu như con thoi.
   - Nhiễu Hạm 繞檻 : là Lòng vòng ở dưới mái hiên.
   - Giai Tiền 階前 : là Trước thềm.
   - Phấn Hạn 粉汗...câu 6 : Mồ hôi rịn ra phấn dồi thấm nhè nhẹ vào tà áo xanh.
  
* Nghĩa Bài Thơ :
                                     Thơ  Mùa Xuân
        
      - Nắng mới ấm áp hanh người làm cho trời cũng tựa như đang say,
      - Lâu đài chìm trong nắng đẹp cũng chan hòa vẽ ấm áp.
      - Trên cành tơ liễu cách rèm bên ngoài chim oanh len lỏi trong các cành liễu tựa con thoi.
      - Bay vòng dưới mái hiên con bướm bị các tua hoa xuyên qua cánh.
      - Những vệt nắng như những sợi chỉ hồng trước thềm làm cho ngày như dài thêm ra.
      - Mồ hôi rịn ra phấn dồi thấm nhè nhẹ vào tà áo xanh.
      - Chàng tuổi trẻ kia không biết được sự nhớ nhung trong mùa xuân là khổ tâm như thế nào (mùa xuân là mùa đoàn tụ mà phải xa nhau nhớ nhau), nên mới...
      - Nghiêng mình cười mĩm mà đi qua giường ngà (như chẳng có việc gì xảy ra !).

         Nằm trên giường ngà để nhớ người tình xa trong mùa xuân ấm áp tràn đầy nhựa sống thì còn gì khổ tâm và ray rức hơn nữa.  Tâm sự và nỗi lòng nầy làm cho ta nhđến nàng thiếu phụ có chồng là quan to, nên mỗi buổi sáng mùa xuân, lúc đôi lứa đang mặn nồng và ấp yêu nhất, thì lại  phải dậy sớm để đi chầu vua, bỏ mặc gối chăn thơm phức và nàng vợ trẻ. Bài thơ "Vị Hữu" của Lý Thương Ẩn như sau :

               Vị hữu vân bình vô hạn kiều,             爲有雲屏無限嬌,
               Phụng thành hàn tận phạ xuân tiêu.   鳳城寒盡怕春宵.
               Vô đoan giá đắc kim qui tế,               無端嫁得金亀婿,
               Cô phụ hương khâm sự tảo triều .      辜負香衾事早朝 .

Có nghĩa :
                   Vì có bình phong đẹp lắm mầu
                   Kinh thành hết  lạnh, sợ canh thâu
                   Khéo xui lấy được ngài quan lớn
                   Phụ bạc gối chăn, sớm phải chầu  !
   Lục Bát :
                   Bình phong đẹp đẽ yêu kiều
                   Phụng thành đông hết, xuân tiêu đêm dài
                   Vô duyên lấy phải quan ngài
                   Gối chăn bỏ hết mặc ai,… đi chầu !

                  
* Diễn Nôm :
                               THƠ XUÂN

                  Nắng mới hanh người trời túy lúy,
                  Lâu đài nắng đẹp ấm xuân khí.
                  Ngoài rèm tơ liễu rộn oanh ca,
                  Bướm lượn vờn hoa tua rách xí.
                  Vệt nắng trước thềm ngày chẳng nhanh,
                  Mồ hôi hòa phấn thấm bào xanh.
                  Trẻ con nào biết xuân nhung nhớ,
                  Cười mĩm nghiêng mình lại dạo quanh !
    Lục bát :
                  Hanh người nắng mới trời say,
               Nắng lên ấm đẹp lâu đài thêm xuân.
                  Ngoài rèm oanh hót liễu xanh,
             Xuyên hoa cánh bướm lượn quanh hiên nhà.
                  Trước thềm vệt nắng dài ra,
              Mồ hôi rịn phấn thấm tà áo xanh.
                  Trẻ trung nào biết xuân tình,
           Thản nhiên cười mĩm nghiêng mình lướt qua !
                                                    

2. Tứ Thời Thi : H TỪ.

      夏詞                               HẠ TỪ 

風吹柳花紅片片,    Phong xuy liễu hoa hồng phiến phiến,
佳人閒打鞦韆院。    Giai nhân nhàn đả thu thiên viện.
傷春背立一黄鶯,    Thương xuân bối lập nhất hoàng oanh,
惜景哀啼雙紫燕。    Tích cảnh ai đề song tử yến.
停針無語翠眉低,    Đình châm vô ngữ thúy mi đê,
倦倚紗窗夢欲迷。    Quyện ỷ sa song mộng dục mê.
却怪捲簾人喚起,    Khước quái quyển liêm nhân hoán khởi,
香魂終不到遼西。    Hương hồn chung bất đáo Liêu Tê (Tây).
  
          
* Chú Thích :
    - Thu Thiên 鞦韆 : là Cái Đu; nên ĐẢ THU THIÊN 打鞦韆 là Đánh Đu. 
    - Thương Xuân 傷春 : là Đau xót vì mùa xuân đã đi qua.
    - Bối Lập 背立 : là Đứng xây lưng lại.
    - Tích Cảnh 惜景 : là Tiếc cảnh xuân đà hết.
    - Ai Đề 哀啼 : là Tiếng chim hót bi ai, buồn thảm. Nếu từ nầy dùng cho người thì có nghĩa là "Khóc lóc một cách thảm thiết".  
    - Quyện Ỷ 倦倚 : Mõi mệt mà vựa vào... SA SONG 紗窗 : là Cửa sổ có màn che.  
    - Khước Quái 却怪 : Lại trách rằng...QUÁI là Động từ có nghĩa : Trách móc. 
    - Hương hồn 香魂 : là cái Hồn thơm, chỉ Hồn của phái nữ. Của phái nữ thì CÁI GÌ cũng thơm cả, kể cả hồn phách. (Mời đọc bài Tạp ghi và Phiếm luận : "HƯƠNG trong Truyện Kiều" sẽ rõ.) 
    - Liêu Tây 遼西 : Tên một quận xưa nằm ở phía tây của Liêu Hà thuộc tỉnh Liêu Ninh hiện nay, nhưng lại là vùng biên tái ngày xưa. 

* Nghĩa Bài Thơ :
                                         THƠ  MÙA HÈ
       Gió thổi hoa liễu từng mảnh từng mảnh đo đỏ bay bay. Người đẹp rảnh rỗi nên chơi đánh đu ở trong sân nhà. Vì thương xót cho mùa xuân đã đi qua nên một con oanh còn kêu trên cành liễu và hai con én tía còn tiếc cảnh xuân mà cất tiếng líu lo buồn bã. Nàng ngừng mũi kim thêu đôi mày biếc cúi thấp xuống, mõi mệt vựa vào màn nhiễu của song cửa chập chờn trong giấc mộng. Chỉ trách ai đó đã đến cuốn rèm làm cho nàng giật mình tỉnh giấc, nên mộng hồn rốt cuộc vẫn không thể đến được xứ Liêu Tây nữa rồi.

       Đọc bài thơ nầy làm cho ta nhớ đến bài kệ của Thiền sư Thích Trung Nhân đời Tống 宋.释中仁 là :

                 二八佳人刺繡遲,   Nhi bát giai nhân thích tú trì,
                 紫荊花下囀黃鸝。   Tử kinh hoa hạ chuyển hoàng li.
                 可憐無限傷春意,   Khả lân vô hạn thương xuân ý,
                 盡在停針不語時。   Tận tại đình châm bất ngữ thì !
Có nghĩa :
                Thêu thùa lơ đễnh giai nhân,
                Dưới cành hoa tím chim oanh hót chào.
                Thương thay xuân sắc dạt dào,
                Ngừng kim lặng lẽ biết bao ý tình !

       Hai câu chót của bài thơ lại làm cho ta nhớ đến bài "Y Châu Ca 伊州歌" của Kim Xương Tự 金昌绪(Có bản cho là Xuân Oán 春怨 của Cáp Gia Vận 亦作蓋嘉運)đời Đường :

                打起黃鶯兒,   Đả khởi hoàng oanh nhi,
                莫教枝上啼。   Mạc giao chi thượng đề.
                啼時驚妾夢,   Đề thời kinh thiếp mộng,
                不得到遼西。   Bất đắc đáo Liêu Tê (Tây).           
 Có nghĩa :
                Đuổi đi con chim hoàng oanh,
                Đừng để trên cành cất tiếng hót vang.
                Giật mình thiếp tỉnh mộng vàng,
                Liêu Tây khó đến thăm chàng đêm nay !

              


      Ngồi ở cảnh mùa hè, mà lại cứ nhớ tiếc cảnh mùa xuân. Bài thơ có tựa là HẠ TỪ (Thơ mùa Hạ) nhưng đúng ra là một bài thơ THƯƠNG XUÂN (Thương cảm cho mùa Xuân) thì đúng hơn.

*Diễn Nôm :
                                    HẠ T
    
                   Lấm chấm liễu hồng bay phất phới,
                   Người đẹp đánh đu lòng phơi phới.
                   Thương cảm oanh vàng một tiếng kêu,
                   Đôi chim én liệng buồn hè tới.
                   Dừng kim nín lặng nhíu mày xanh,
                   Tựa màn song cửa mộng hồn quanh.
                   Trách kẻ kéo rèm làm tỉnh giấc,
                   Liêu Tây chẳng thể đến cùng anh.
    Lục bát :
                   Liễu hồng bay rụng phất phơ,
                Đánh đu người đẹp vẩn vơ vườn nhà. 
                   Thương xuân một chú oanh già,
                 Một đôi chim én la đà tiếc xuân.
                   Dừng kim nín lặng tần ngần,
               Tựa song hồn mông lâng lâng cỏi nào.
                   Trách ai kéo tỉnh giấc đào,
              Liêu Tây rốt cũng không sao gặp chàng !   
                                            
            
3. Tứ Thời Thi : THU TỪ.
            
    秋詞                               THU TỪ

清商浮空澄霽景,   Thanh thương phù không trừng tể cảnh,
霜信遙將孤雁影。   Sương tín diêu tương cô nhạn ảnh.
十丈蓮殘玉井香,   Thập trượng liên tàn ngọc tỉnh hương,
三更楓落吳江冷。   Tam canh phong lạc Ngô giang lãnh.
飛螢夜度碧闌干,   Phi huỳnh dạ độ bích lan can,
衣薄難禁剪剪寒。   Y bạc nan câm tiễn tiễn hàn.
聲斷洞簫凝立久,   Thanh đoạn động tiêu ngưng lập cữu,
瑤臺何處覓驂鸞 ?   Dao đài hà xứ mịch tham loan ?

        * Chú Thích :
    - Thanh Thương 清商 : THANH là Trong, THƯƠNG là Một trong Ngũ Âm : Cung, Thương, Giốc, Trủy, vũ. THƯƠNG có giọng thê lương bi thiết, nên gọi là Thanh Thương. Ở trong bài mượn để chỉ tiếng gió thu hiu hắt. 
    - Trừng Tể 澄霽 : TRỪNG là trong vắt. TỂ là Trời vừa tạnh mưa. Nên TRỪNG TỄ là Trời quang mây tạnh.
    - Sương Tín 霜信 : là Tin Sương. Mỗi năm cứ gần đến tiết Sương giáng thì có chim nhạn bay đến trước để báo tin, nên thấy nhạn bay đến là biết sắp có sương rơi. Lâu dần, Tin Sương chỉ còn có nghĩa chỉ "Tin Tức" mà thôi. Như trong Truyện Kiều tả cô Kiều nhớ nhà lúc ở lầu Ngưng Bích :"Tin Sương luống những rày trông mai chờ".
    - Cô Nhạn 孤雁 : là Con nhạn cô độc.
    - Ngọc Tỉnh 玉井 : là Giếng Ngọc. Theo truyền thuyết, trên núi Thái Hoa có giếng ngọc, trong giếng có bạch liên ngàn cánh. Người nào ăn được hoa sen trắng ngàn cánh nầy có thể lên tiên. Trong bài thơ CỔ Ý của Hàn Dũ đời Đường có câu :"Thái Hoa phong đầu ngọc tỉnh liên, Hoa khai thập trượng ngẫu như thuyền 太华峰头玉井莲,花开十丈藕如船", vì thế NGỌC TỈNH còn gọi là BẠCH LIÊN TRÌ 白莲池 là "Giếng hoa sen trắng".
    - Phi Huỳnh 飛螢 : là Những con đom đóm lặp lòe đêm thu.
    - Nan Câm 難禁 : Khó mà cấm, Khó tránh khỏi, Không ngăn được...
    - Tiễn Tiễn Hàn 剪剪寒 : Từng trận từng trận gió lạnh.
    - Ngưng Lập 凝立 : là Ngưng đọng lại. Đứng một chỗ.
    - Dao Đài 瑤臺 : là Lầu cao được dát ngọc, thường dùng để chỉ chỗ tiên ở.
    - Tham Loan 驂鸞 : THAM là Xe ba ngựa kéo. LOAN là Chim Loan. THAM LOAN có nghĩa Cởi Chim Loan lên tiên dạo chơi.

* Nghĩa Bài Thơ :
                            THƠ MÙA THU
        Tiếng gió thu se sắt như cung thương rít trong cảnh từng không trong vắt khi trời quang mây tạnh. Nhìn bóng nhạn cô đơn mà mong ngóng tin sương. Hoa sen trắng đã tàn nhưng củ sen mười trượng trong giếng ngọc vẫn tỏa hương. Canh điểm ba nửa đêm lá cây phong rụng xuống làm cho nước sông Ngô chợt lạnh thêm. Những con đom đóm ban đêm bay vào lan can bằng đá xanh biếc. Áo mỏng nên không ngăn nổi từng trận từng trận gió lạnh. Tiếng tiêu ngọc đà chấm dứt hèn lâu mà người vẫn còn tần ngần đứng đó. Biết chim tham loan ở đâu mà tìm để cởi về Dao Đài cho đây ?
                   
                   * Diễn Nôm :
                        THU TỪ
               Gió thu se sắt tầng xanh ngắt,
               Cánh nhạn tin sương trời trong vắt.
               Mười trượng sen tàn giếng tỏa hương,
               Ba canh phong rụng sông lạnh ngắt.
               Đêm về đom đóm lượn lan can,
               Gió thổi áo the rét ngập tràn.
               Lặng ngắt tiêu thiều thanh đứt đoạn,
               Dao đài tìm chốn cởi tham loan.
   Lục bát :
               Gío thu hiu hắt trời quang,
               Tin sương cô nhạn vút ngang lưng trời.
               Sen tàn hương tỏa nơi nơi,
               Ngô giang phong rụng nước trôi lạnh lùng.
               Lan can đóm lượn đêm nhung,
               Áo the từng trận lạnh cùng gió thu.
               Tiêu thiều lặng ngắt từ lâu,
               Dao Đài muốn đến phải cầu tham loan.
                                       

4. Tứ Thời Thi : ĐÔNG TỪ.

    冬詞                             ĐÔNG TỪ

寶爐撥火銀瓶小,    Bảo lô bát hỏa ngân bình tiểu,
一杯羅浮破清曉。    Nhất bôi La Phù phá thanh hiểu.
雪將冷意透疎簾,    Tuyết tương lãnh ý thấu sơ liêm,
風遞輕冰落寒沼。    Phong đệ khinh băng lạc hàn chiểu.
美人金帳掩流蘇,    Mỹ nhân kim trướng yễm lưu tô,
紙護雲窗片片糊。    Chỉ hộ vân song phiến phiến hồ.
暗裏挽回春世界,    Ám lý vãn hồi xuân thế giới,
一株芳信小山孤.      Nhất chu phương tín tiểu sơn cô.

   * Chú Thích :
    - Bảo Lô Bát Hỏa 寶爐撥火 : là Bươi lửa (than) trong cáo lò nhỏ (qúy).
    - Nhất Bôi La Phù 一杯羅浮 : Một ly rượu La Phù.
    - Thanh Hiểu 清曉 : Buổi sáng trong lành.
    - Sơ Liêm 疎簾 : là Bức rèm thưa.
    - Hàn Chiểu 寒沼 : Đầm (ao) nước lạnh.
    - Kim Trướng 金帳 : là Cái mùng bằng chỉ kim tuyến.
    - Lưu Tô 流蘇 : Cái viền mùng có tua đẹp.
    - Ám lý 暗裏 : Trong âm thầm. Trong lặng lẽ.
    - Nhất Chu Phương Tín 一株芳信 : là do câu thơ của Tô Đông Pha đời Tống :" Niên niên phương tín phụ hồng mai 年年芳信负红梅". Có nghĩa : Mỗi năm cái cây mang lại tin thơm là đều vựa vào hồng mai cả. Ý chỉ mỗi năm báo tin thơm ( tin của mùa xuân sắp đến) đều là nhờ vào hồng mai cả ! Còn dân miền Nam Việt Nam ta thì chỉ biết có mai vàng báo tin xuân mà thôi, cũng như dân Miền Bắc, hễ cứ "Mỗi năm hoa đào nở" là biết xuân về Tết đến ngay !

* Nghĩa Bài Thơ :
                                Thơ Mùa Đông
        Khều lửa trong cái lò qúy để cho cái bình bằng bạc nho nhỏ ở trên, hâm lên một chung rượu La Phù để phá tan cái lạnh của một buổi sớm mai trong lành. Tuyết đem cái ý lạnh thấm qua bức màn thưa bên song của và gió lạnh đã đưa những làn băng mỏng rơi trên mặt ao lạnh. Cái màn bằng kim tuyến của người đẹp có tua viền đẹp đẽ phủ quanh. Trong khi bên cửa sổ chỉ che đậy bằng những mảnh giấy ván bằng hồ. Trong âm thầm cái thế giới của mùa xuân đang được vãn hồi, khi tin thơm của cây hồng mai đang trổ bông trên ngọn núi cô đơn nho nhỏ.

       
  
* Diễn Nôm :
                          ĐÔNG TỪ

               Bình bạc than hồng bên lò nhỏ,
               La Phù một chén trời sáng tỏ.
               Tuyết đem hơi lạnh thấm rèm thưa,
               Gió bấc đưa băng ao đóng bó.
               Người đẹp màn vàng phủ nhiễu tô,
               Bên song cản gió giấy thoa hồ.
               Âm thầm thế giới xuân hồi phục,
               Một cội mai hồng nở núi cô.
   Lục bát :
               Lò hồng bình bạc lửa reo,
            La phù một chén sáng theo nhau về.
               Tuyết rơi lạnh thấm màn the,
            Gió đưa băng mỏng phủ che mặt hồ.
               Trướng vàng người đẹp nhiễu tô,
             Giấy hoa chắn gió song hồ căm căm.
               Hồi xuân thế giới âm thầm,
            Một cành mai đỏ trổ bông báo điềm !

       Trên đây là TỨ THỜI THI đủ bốn mùa XUÂN HẠ THU ĐÔNG của nữ sĩ Ngô Chi Lan, một nữ tài danh thi nhân Việt nam dưới thời Hậu Lê, Trịnh Nguyễn.
       Xin được giới thiệu cùng tất cả các Thầy Cô, Các Thân Hữucùng tất cả các em học sinh thần mến; nếu có cảm hứng , xin cùng dịch cho vui !

                                                                                        Nay kính,
                                                                                     Đỗ Chiêu Đức
                                                                                          杜紹德
                                                                                  

Miếu nhà Bà (Đền thờ Kim Hoa nữ sỹ Ngô Chi Lan) tại thôn Đoài - xã Phù Lỗ - Sóc Sơn - HN

Thứ Bảy, 1 tháng 10, 2022

GÓC ĐƯỜNG THI : Chùm thơ TRƯỜNG TƯƠNG TƯ (1) - Đỗ Chiêu Đức

 GÓC ĐƯỜNG THI


  TRƯỜNG TƯƠNG TƯ

        TƯƠNG TƯ 相思 là NHỚ NHAU, mà đã nói là NHỚ NHAU thì phải là hai người chớ không thể nào là một người được; Nên, Bệnh Tương Tư là bệnh của những người yêu nhau, của những cặp đôi, của những cặp vợ chồng ... vì lý do nào đó mà phải xa cách nhau, rồi nhớ thương nhau mà ... thành bệnh. Từ ngàn xưa đến nay có biết bao nhiêu lứa đôi phải đau khổ day dứt và nhớ thương nhau thắm thiết vì...hai đứa hai nơi và vì chỉ có một bên có dịp bày tỏ, nên hễ buồn đau sầu khổ vì nhớ người yêu đến nỗi ăn không ngon ngủ không yên, thì đều gọi là BỆNH TƯƠNG TƯ cả; Mặc dù chỉ có "một bên" bày tỏ nỗi lòng mà thôi ! Ta hãy cùng đọc lại những vần thơ Tương Tư, Trường Tương Tư... của thời đại hoàng kim của thi ca ngày xưa để xem các "ông bà" lúc đó đã yêu nhau và nhớ nhau như thế nào nhé ! Nào, ta hãy bắt đầu bằng những vần thơ Trường Tương Tư của Thi Bá Bạch Cư Dị nhé !

1. Bài từ TRƯỜNG TƯƠNG TƯ 長相思 của Bạch Cư Dị :

長相思                 TRƯỜNG TƯƠNG TƯ

汴水流,                 Biện thủy lưu,
泗水流,                 Tứ thủy lưu,
流到瓜州古渡頭。      Lưu đáo Qua Châu cổ độ đầu.
吳山點點愁。           Ngô sơn điểm điểm sầu !

思悠悠,                 Tư du du,  
恨悠悠,                 Hận du du,
恨到歸時方始休。     Hận đáo quy thì phương thủy hưu.
月明人倚樓。           Nguyệt minh nhân ỷ lâu !
         白居易                                       Bạch Cư Dị

* Chú thích :
    - TRƯỜNG TƯƠNG TƯ 長相思 : Đây là Tên của một Từ Khúc, từ điệu lấy từ Nhạc phủ của Nam Triều thời Nam Bắc Triều, với câu trên là TRƯỜNG TƯƠNG TƯ và câu dưới là CỬU LY BIỆT 久離別 thường dùng phổ vào các khúc hát nói lên sự tưởng nhớ của nam nữ đang yêu nhau nhớ nhau.
    - Biện Thủy 汴水 : Tên sông, là một nhánh của con sông Hoài, bắt nguồn từ tỉnh Hà Nam, chảy vào Túc Huyện, Tứ Huyện của tỉnh An Huy rồi đổ vào sông Hoài Hà.
    - Tứ Thủy 泗水 : Cũng là một nhánh của con sông Hoài. Bắt nguồn từ huyện Khúc Phụ của tỉnh Sơn Đông chảy xuôi về Nam qua Từ Châu của tỉnh Giang Tô ngang qua huyện Hoài An rồi cũng đổ vào con sông Hoài Hà.
    - Qua Châu Cổ Độ 瓜洲古渡 : Bến đò cổ ở Qua Châu, thuộc bắc Trường Giang nằm trong Dương Châu của tỉnh Giang Tô.
    - Ngô Sơn 吳山 : Núi Ngô, là ranh giới của nước Ngô thời Chiến Quốc mà thành tên; Ngô Sơn còn chỉ chung các núi non ít ỏi của vùng Giang Nam thuộc Hàng Châu tỉnh Chiết Giang.
    - Du Du 悠悠 : là Dằng dặc, là Đằng đẵng, là day dứt mãi.
    - Hưu 休 : là Ngưng , nghỉ, là Thôi. 

* Nghĩa bài từ :
                        TRƯỜNG TƯƠNG TƯ
      Nước sông Biện chảy, nưóc sông Tứ cũng chảy. Chảy mãi cho đến bến đò cổ của xứ Qua Châu để thấy cảnh núi non xinh đẹp của đất Giang nam mà lòng càng thêm sầu muộn (Vì Tô Châu Hàng Châu là nơi nổi tiếng cảnh đẹp người đẹp và thức ăn ngon, mà chàng đang lãng du nơi đó). Cho nên...
      Lòng nhớ thương cứ đằng đẵng mãi mà nỗi sầu hận cũng cứ day dứt mãi cho đến khi nào chàng trở lại thì mới thôi không còn day dứt nữa. Vì lúc đó thì ta sẽ cùng đứng tựa vào nhau mà ngắm trăng trên lầu vắng nầy.

* Diễn Nôm :
                   TRƯỜNG TƯƠNG TƯ

                  Sông Biện chảy,
                  Sông Tứ chảy,
                  Chảy đến Qua Châu cổ độ đầu,
                  Núi Ngô chấm phá khiến lòng sầu !

                  Nhớ mênh mang,
                  Hận mênh mang,
                  Hận đến người về hận mới tan,
                  Lầu cao cùng tựa ngắm trăng vàng !
       Lục bát :
                  Sông Biện nước chảy xuôi dòng,
                  Sông Tứ nước cũng thuận dòng chảy theo.
                  Qua Châu bến đổ đáng yêu,
                  Núi Ngô chấm phá gợi nhiều nhớ nhung !

                  Nhớ ai lòng mãi mông lung,
                  Hận ai lòng cũng nấu nung đêm ngày.
                  Người về hận mới nguôi ngoai,
                  Tưa nhau lầu vắng ngắm hoài bóng trăng !
                                                              Đỗ Chiêu Đức diễn Nôm

     Bấm vào link sau đây để nghe bài từ Trường Tương Tư của Bạch Cư Dđược phổ nhạc :


2. Bài thơ TRƯỜNG TƯƠNG TƯ 長相思 của Bạch Cư Dị :

 長相思            TRƯỜNG TƯƠNG TƯ
九月西風興,    Cửu nguyệt tây phong hứng,
月冷霜華凝。    Nguyệt lãnh sương hoa ngưng.
思君秋夜長,    Tư quân thu dạ trường,
一夜魂九升。    Nhất dạ hồn cửu thăng.
二月東風來,    Nhị nguyệt đông phong lai,
草坼花心開。    Thảo sách hoa tâm khai.
思君春日遲,    Tứ quân xuân nhật trì,
一日腸九回。    Nhất nhật trường cửu hồi.
妾住洛橋北,    Thiếp trú Lạc kiều bắc,
君住洛橋南。    Quân trú Lạc kiều nam.
十五即相識,    Thập ngũ tức tương thức,
今年二十三。    Kim niên nhị thập tam.
有如女蘿草,    Hữu như nữ la thảo,
生在松之側。    Sanh tại tùng chi trắc.
蔓短枝苦高,    Mạn đoản chi khổ cao,
縈迴上不得。    Oanh hồi thướng bất đắc.
人言人有願,    Nhân ngôn nhân hữu nguyện,
願至天必成。    Nguyện chí thiên tất thành.
願作遠方獸,    Nguyện tác viễn phương thú,
步步比肩行。    Bộ bộ tỉ kiên hành.
願作深山木,    Nguyện tác thâm sơn mộc,
枝枝連理生。    Chi chi liên lý sanh.
         白居易                   Bạch Cư Dị

     Inline image

* Chú thích :
    - Trường Tương Tư 長相思 : là "Nhớ nhau dai dẳng", đó là tên của một trong 25 khúc hát "Cổ oán tư 古怨思" thuộc Tạp khúc ca từ trong Nhạc Phủ xưa.
    - Hứng 興 : là Nổi dậy; Tây Phong Hứng 西風興 là gió Tây nổi dậy, là trời trở gió Tây là gió của mùa thu. Ca dao Nam bộ của ta có câu :
                      Anh về để áo lại đây,
                 Để khuya em đắp GIÓ TÂY lạnh lùng.
    - Ngưng 凝 : là Đọng lại, ta có từ kép Ngưng đọng.
    - Hồn Cửu Thăng 魂九升 : là Thần hồn lên chín lần; ý chỉ tâm thần dao động không yên, lấy ý ở bài "Quả Phụ Phú 寡婦賦" của Phan Nhạc đời Tây Tấn có câu : Ý hốt hoảng dĩ thuyên việt hề, thần nhất tịch nhi cửu thăng 意忽怳以遷越兮,神一夕而九升. Có nghĩa : Tâm ý luôn thấp thỏm hoảng hốt không yên; Thần hồn trong một ngày đêm dao động lên xuống chín lần". Số 9 là con số lẻ cao nhất thường dùng để chỉ số nhiều thật nhiều.
    - Thảo Sách 草坼 : là những cọng cỏ nẩy mầm vươn ra khỏi mặt đất.
    - Trường Cửu Hồi 腸九回 : HỒI là Hồi Chuyển 回轉 là Trở đi trở lại, là lộn lạo; nên CỬU HỒI TRƯỜNG là chỉ Gan ruột lộn lạo co thắt chín lần; ý chỉ rất đau xót. Ca dao Nam bộ của ta cũng có câu :
                     Chiều chiều ra đứng ngõ sau,
              Trông về quê mẹ RUỘT ĐAU CHÍN CHIỀU.
    - Lạc Kiều 洛橋 : Chỉ cây cầu Thiên Tân bắt ngang dòng Lạc Thủy của đất Lạc Dương, nơi thường xảy ra các cuộc tiễn đưa người đi kẻ ở như lời thơ của Tống Chi Vấn một thi sĩ nổi tiếng thời Thịnh Đường :
                  可憐江浦望,  Khả lân giang phố vọng,
                  不見洛橋人。  Bất liến LẠC KIỀU nhân.
       Có nghĩa :
                     Thương thay trên bến vời trông,
                Lạc Kiều mất hút cầu không thấy người !
    - Nữ La Thảo 女蘿草 : Cỏ Nữ La, là một loại dây leo hay bò quấn quanh cây tùng cây bá; thường dùng để ví với các cô gái đào tơ liễu yếu phải sống nương tựa vào các đấng phu quân mạnh mẽ cao lớn để nương nhờ sự che chở.
    - Mạn Đoản 蔓短 : Mạn là Mạn đà la cũng là một loại dây leo; ĐOẢN là ngắn. Câu nầy ý chỉ không môn đang hộ đối, như dây leo ngắn không thể leo lên cây có cành lá qúa cao vậy.
    - Oanh Hồi 縈迴 : là vòng vo, quấn quanh.
    - Viễn Phương Thú 遠方獸 : Theo sách "Nhĩ Nhã. Thích Địa 爾雅·釋地" thiên thứ 9 có nhắc đến loại "Tỉ Kiên Thú 比肩獸" (Là loại thú kề vai nhau). Tương truyền loại thú nầy, một con gọi là Quyết 蟨 có chân trước ngắn như chuột và chân sau dài như chân thỏ, đầu thấp đuôi cao, chuyên tìm thức ăn dưới đất không đi đứng được; còn một con gọi là Cùng Cùng 邛邛 thì chân trước như chân nai, còn chân sau thì như chân thỏ, nên đầu cao đuôi thấp, đi đứng được nhưng không thể tìm thức ăn dưới đất; vì thế hai con thú nầy phải cùng kề vai sát cánh nương tựa nhau để đi đứng và tìm thức ăn, không thể sống tách rời ra được. Sau dùng để chỉ vợ chồng thương yêu gắng bó với như hình với bóng không thểrời xa nhau được.
    - Liên Lý Sanh 連理生 : là Cành nhánh như mọc liền vào nhau giữa hai cây khác nhau; thường dùng để chỉ sự ân ái thương yêu nhau đến tột cùng của tình nghĩa vợ chồng. Theo bài thơ trường thiên "Khổng Tước Đông Nam Phi 孔雀東南飛trong Hán Nhạc phủ có đoạn thơ như sau :
              ...兩家求合葬,   Lưỡng gia cầu hợp táng,
                 合葬華山傍。   Hợp táng Hoa sơn bàng.
                 東西植松柏,   Đông tây thực tòng bá,
                 左右種梧桐。   Tả hữu chủng ngô đồng.
                 枝枝相覆蓋,   Chi chi tương phúc cái,
                 葉葉相交通。   Diệp diệp tương gioa thông.
      Có nghĩa :
                 Hai nhà xin hợp táng chung,
                 Hoa Sơn bên núi vợ chồng cùng yên.
                 Đông tây tòng bá hai bên,
                 Ngô đồng phải trái trồng liền hai nơi.
                 Cành cành liền nhánh tốt tươi,
                 Lá xanh lá biếc khắp nơi giao hòa.
      Còn theo Sưu Thần Ký 搜神記 của Cán Bửu đời Đông Tấn thì : Vào thời Chiến Quốc, xá nhân của Tống Khang Vương là Hàn Bằng, văn hay chữ tốt, có vợ là Hà Thị, một yểu điệu thục nữ. Khang Vương mê sắc, đoạt vợ của Hàn Bằng rồi bắt Hàn Bằng đày đi xây trường thành. Bằng tự sát chết, Hà Thị cũng tự sát chết theo. Người trong làng thương tình chôn hai vợ chồng ở hai bên đường, nhưng chỉ cách có một đêm hai bên đầu mộ đều cùng mọc lên hai cây đại Tân mộc, chỉ mươi ngày sau thì thân cây đã to bằng người ôm, cành nhánh mọc liền vào nhau cả rể cây bên dưới cũng chằng chịt quấn lấy nhau, lại có một đôi uyên ương ngày đêm quấn quít trên cành kêu lên những tiếng bi thương làm xúc động lòng người.

* Nghĩa bài thơ :
                                TRƯỜNG TƯƠNG TƯ
       Những trận gió tây của tháng chín đã nổi lên, ánh trăng lạnh lẽo và những giọt sương đã ngưng đọng lại. Nhớ đến chàng nên cảm thấy đêm thu như dài thêm ra, mộng hồn ngơ ngẩn trăn trở suốt đêm (cửu thăng). Kịp đến khi gió xuân của tháng hai thổi đến làm cho cỏ nẩy mầm xanh và hoa đều nở đẹp, thì thiếp lại nhớ chàng mà cảm thấy ngày xuân qua sao mà chậm chạp thế, trong một ngày mà ruột đã thắt chín chiều. Thiếp thì ở bên phía bắc của Lạc kiều, còn chàng thì ở phía nam của Lạc Kiều; Mười lăm tuổi thì đã quen biết với chàng, đến hôm nay thiếp cũng đã hai mươi ba tuổi rồi. Thân thiếp như dây Nữ la thảo sống chùm gởi vào cây tùng cây bá, nhưng tùng bá lại qúa cao mà dây leo thì quá ngắn nên không thể uốn quanh mà bò lên cao được. Người đời thường nói là nếu người nào đó có ước nguyện chí thành khi thấu đến trời thì trời sẽ cho tròn ước nguyện. Thiếp cam tâm biến thành con "thú viễn phương" để được cùng chàng kề vai sát cánh trên từng bước chân, và cũng cam tâm làm những loài cây mọc trong núi rừng sâu thẵm mà cành nhánh đều được liền nhau.

* Diễn Nôm :
            
TRƯỜNG TƯƠNG TƯ 

Gió tây tháng chín hắt hiu,
Sương rơi trăng lạnh cho nhiều nhớ nhung.
Nhớ người đêm tối mông lung,
Một đêm chín lượt chờ mong não nề !

       Gió xuân tháng hai thổi về,
       Cỏ cây hoa lá tư bề lao xao.
       Nhớ người xuân cũng qua mau,
       Một ngày mong mõi ruột đau chín chiều.

Lạc Dương nam bắc hai chiều,
Thiếp nơi cầu bắc nhớ nhiều cầu nam.
Mười lăm đem dạ yêu chàng,
Hăm ba tình đã nồng nàn lắm thay !

       Thiếp như hoa nữ cỏ may,
       Leo quanh tòng bách tháng ngày nương thân.
       Thấp hèn cũng cố uốn quanh,
       Vươn theo cho kịp lá cành trên cao. 

Ý thành lòng những ước ao.
Thành tâm khấn nguyện trời nào phụ ta.
Có làm muông thú nơi xa,
Cũng nguyền sánh bước lọ là kề vai !

      Nguyện như cây núi vươn dài,
Nối liền cành nhánh thương hoài ngàn năm !
                                             Đỗ Chiêu Đức diễn Nôm

Hẹn bài viết tới :
                        TRƯỜNG TƯƠNG TƯ của Thi Tiên LÝ BẠCH

                                                                                                 杜紹德
                                                                                             Đỗ Chiêu Đức


 

CÕI TRĂNG - Thơ Sông Thu Và Thơ Họa

CÕI TRĂNG Ánh trăng vằng vặc khắp không gian Vầng sáng lung linh phủ ngập tràn Vài sợi mây vàng trôi lững thững Một dòng nhũ bạc chảy miên ...