Hiển thị bài đăng được sắp xếp theo mức độ liên quan cho truy vấn hoàng Ngoc Biên. Sắp xếp theo ngày Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị bài đăng được sắp xếp theo mức độ liên quan cho truy vấn hoàng Ngoc Biên. Sắp xếp theo ngày Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 19 tháng 5, 2019

Hoàng Ngọc Biên – quê hương, người về- Huỳnh Như Phương (Văn Việt )


Nhà văn, dịch giả, họa sĩ Hoàng Ngọc Biên vừa từ trần ở San Jose, tiểu bang California, lúc 8 giờ sáng ngày 16-5-2019, hưởng thọ 81 tuổi. Sinh năm 1938 ở Quảng Trị, ông là một nghệ sĩ đa tài và độc đáo, tác giả của nhiều tập thơ, tập truyện, bức tranh, công trình biên khảo được nhiều người biết từ khi còn ở Sài Gòn đến khi định cư ở Hoa Kỳ.
Về thơ, ông đã cho xuất bản: Uống trà sớm mai, Đất và người và thần thoại Việt Nam, Biển ngày đêm, Chân mây cuối trời (đồng tác giả với Đỗ Trung Quân).
Về văn xuôi, ông là tác giả của những cuốn sách Đêm ngủ ở tỉnh, Người đạp xe vào thành phố buổi sáng, Chuyến xe, Quê hương, người về.
Với tư cách dịch giả, ông chuyển ngữ nhiều tác phẩm của Boris Pasternak, Joseph Brodsky, Samuel Beckett, Jean Tardieu, Georges Perec, Alain Robbe-Grillet, trong đó có tác phẩm dịch chung với người bạn đời là Nguyễn Thu Hồng, cũng là một dịch giả tài năng.
Trên lĩnh vực hội họa, Hoàng Ngọc Biên là họa sĩ sáng tác và trình bày, đã triển lãm tranh ở Viện Đại học Đà Lạt, Viện Goethe, Pháp văn Đồng minh Hội, Hội Họa sĩ Trẻ Việt Nam…; đồng thời phụ trách mỹ thuật, vẽ bìa, minh họa cho nhiều ấn phẩm trong và ngoài nước.
Ngoài ra, ông còn sáng tác nhạc, thân hữu còn ghi nhớ những ca khúc ông viết thời trẻ tuổi về Huế (Nắng hoàng hoa, lời Hoàng Phủ Ngọc Tường), về Đà Lạt (Hồ thu)…
Nhà văn – hoạ sĩ này là người am hiểu sâu sắc các khuynh hướng nghệ thuật hiện đại phương Tây và có đóng góp nổi bật trong việc tiếp thu các trào lưu văn học hiện đại để cách tân văn học miền Nam những năm trước 1975. Với hai cuốn sách Tuyển tập các nhà văn Pháp hiện đại (Nxb Trình Bầy, Sài Gòn, 1969) và Marcel Proust – con người xã hội (Nxb Trình Bầy, Sài Gòn, 1974), Hoàng Ngọc Biên trở thành nhà nghiên cứu chuyên sâu về tiểu thuyết dòng ý thức và Tiểu thuyết Mới (Le Nouveau Roman). Soạn giả dành 60 trang mở đầu Tuyển tập các nhà văn Pháp hiện đại để “ghi nhận về một chuyển biến trong văn chương Pháp”. Theo ông, chuyển biến đó chính là sự xuất hiện của tiểu thuyết “dòng ý thức” và Tiểu thuyết Mới. Ông cho rằng Tiểu thuyết Mới là sự tiếp nối hợp lý của Tiểu thuyết “dòng ý thức” – tiểu thuyết như một cái nhìn. Tác giả trích dẫn hai câu nói của nhà văn M. Proust (“Thực tại đích thực là ở nội tâm”) và họa sĩ Paul Klee (“Nghệ thuật xứng danh với tên gọi không tạo ra cái để nhìn: nó phác họa những con mắt”), rồi đi đến nhận xét: “Mấy chục năm trước Proust đã phát biểu đâu đó là vấn đề đặt ra không phải là thực tại (hay mơ mộng) nữa mà là lối diễn tả thực tại, bắt nguồn từ cái nhìn của chúng ta” (Hoàng Ngọc Biên: Tuyển tập các nhà văn Pháp hiện đại, NXB Trình Bầy, Sài Gòn, 1969, tr. 25).
Marcel Proust – con người xã hội, cuốn sách dày 150 trang của Hoàng Ngọc Biên cho thấy tình yêu của soạn giả đối với nhà văn lớn này. Cuốn sách gồm bốn chương “Marcel Proust, cuộc đời thí nghiệm cho tác phẩm”,“Những chủ đề rời thời trẻ tuổi”, “Thời gian tìm thấy lại”, “Marcel Proust, con người xã hội” và hai bài viết của Nguyễn Đăng Thường (Proust, một kỷ niệm trong mùa mưa) và Cao Thanh Tùng (Quê hương của nhạc sĩ). Ngoài ra, cuốn sách còn trích dịch ba đoạn văn nổi tiếng trong tác phẩm Đi tìm thời gian đã mất (A la Recherche du Temps Perdu): “Chiếc bánh madeleine”, “Những gác chuông nhà thờ ở Martinville”, “Vũ trụ của Vinteuil”. Bằng những câu văn nhiều mệnh đề của một ngòi bút tài hoa, Hoàng Ngọc Biên đã phân tích sắc sảo thế giới nghệ thuật đầy bí ẩn của M. Proust. Điều thú vị là soạn giả đã kết nối sáng tác của Proust với thực tại đầu những năm 1970 : “Cuộc tìm kiếm của Marcel Proust – A la Recherche du Temps Perdu, sản phẩm lao động, và là lao động đấu tranh, bởi vì đấu tranh với thời gian, và đấu tranh cho con người – một trăm năm sau, vẫn còn là một tài liệu xã hội và nhân bản bất diệt, soi sáng những thảm kịch mà mọi xã hội văn minh, mọi xã hội kỹ nghệ ngày nay đang phải chịu đựng” (Hoàng Ngọc Biên: Sđd, tr. 99).
Văn xuôi Hoàng Ngọc Biên, trong Đêm ngủ ở tỉnh (NXB Cảo Thơm, Sài Gòn, 1971) và nhiều truyện ngắn khác, mờ nhạt yếu tố sử thi mà đậm đà chất liệu tự truyện, được thể hiện với kỹ thuật dòng ý thức. Tác giả còn là một nghệ sĩ dấn thân, nên tinh thần xã hội vẫn lấp lánh trong những trang viết của ông. Truyện ngắn Hoàng Ngọc Biên hoàn toàn không có cốt truyện sự kiện, chỉ có những hình ảnh trôi chảy theo một giọng văn giàu chất thơ. Theo chúng tôi, ông là một trong số ít nhà văn viết văn xuôi một cách kỹ thuật và nghệ thuật nhất ở miền Nam. Thật khó mà chọn ra để trích dẫn một đoạn văn của Hoàng Ngọc Biên, bởi vì văn ông có rất nhiều đoạn tinh tế và phải trích thật dài mới thể hiện hết phong cách của ông. Thử chọn một đoạn cho thấy sự hoà quyện giữa văn tự sự, thi ca và hội họa trong tác phẩm Hoàng Ngọc Biên:
“Tiếng súng giữa khuya làm anh giật mình tỉnh giấc. Cũng vẫn là những tiếng súng anh thường nghe giữa khuya vào những đêm trễ xe chiều phải ngủ lại tỉnh, vẫn là những tiếng súng xa vọng về xen lẫn những tiếng đại bác từ châu thành bắn ra — những âm thanh cuồng nộ giữa cái im vắng tĩnh mịch của đêm khuya nổi lên làm rung chuyển cả căn nhà, cả bốn bức tường vây quanh anh, cả trời đất ngoài kia — nhưng giữa những cơn đau buốt trong tim nhói lên theo mỗi tiếng đại bác, anh mơ hồ thấy hiện lên trong căn phòng, qua các khe cửa và các chấn song dưới trần nhà một thứ ánh sáng màu đỏ nhạt chiếu mù mờ lên những đồ vật khá quen thuộc, chiếc bàn ở đó tối nay trước khi đi ngủ anh đã có ngồi chuyện vãn với vợ chồng người bạn, chiếc ghế dựa trên đó anh đã ngồi hút thuốc một mình hàng giờ trước khi lên giường, chiếc máy thâu thanh, những tranh ảnh lồng kính, những tấm lịch màu, chiếc tủ kính cao, những ly tách, những chồng giấy tờ sách vở ngổn ngang, anh mơ hồ thấy hiện lên trong căn phòng thứ ánh sáng màu đỏ nhạt của những trái hoả châu bên kia sông chiếu mù mờ lên mùng màn chăn gối trên giường anh. Cũng vẫn là những tiếng súng anh thường nghe giữa khuya vào những đêm trễ xe chiều phải ngủ lại tỉnh, nhưng giữa những cơn đau buốt trong tim nhói lên theo mỗi tiếng đại bác, anh chợt tỉnh giấc sợ hãi, tưởng như thấy lại những ngôi trường tiểu học bốc cháy trong buổi rạng đông trên đường đi của anh, tưởng như nghe rõ từ bên kia sông hay từ những quận lỵ và những làng mạc lân cận tiếng kêu khóc của những đoàn người bồng bế xô đẩy nhau chạy qua những cánh đồng đỏ rực hoả châu và lửa đạn” (Đêm ngủ ở tỉnh).
So với những tác phẩm thuộc loại hình văn xuôi – chứng từ, hình ảnh và tiếng vọng chiến tranh trong Đêm ngủ ở tỉnh dường như được gián cách qua một màn sương của ký ức.
Những tác phẩm khác viết trước năm 1975 của Hoàng Ngọc Biên như Buổi sáng, Một góc phố, Thành phố dốc đồi, Quê hương, người về, Người đạp xe vào thành phố buổi sáng, Một đoạn giữa mùa hè (trích tiểu thuyết Về giữa mùa hè) đều là những áng văn xuôi không có cốt truyện, gần với những thiên tùy bút nên có thể gọi đó là những truyện ngắn – tùy bút.
Trong công trình biên khảo Văn học miền Nam, Võ Phiến có nhận xét về truyện ngắn Người đạp xe vào thành phố buổi sáng của Hoàng Ngọc Biên:
“Trong truyện ông không có nhân danh, không có địa danh. Người chờ chuyến xe là chờ ở tại ga nào? Không biết. Tỉnh nào? Không biết. Định đi đâu? Không biết. Để làm gì? Không biết. Người đạp xe vào thành phố, người ấy tên gì? Ở đâu? Không biết. Người đọc có biết ông ta đạp xe đi mần kiếm sống. Thế thôi. Những cái người đọc biết rõ là trời tối, trời sáng, trời sáng hơn, là dãy tường, con đường, chiếc áo xanh, cái quần không còn màu, v.v. Người viết chỉ ghi nhận những cái ấy. Bằng cái nhìn objectal. Nhìn cái bên ngoài: hình dạng, màu sắc, cử động, khua khuống… Nhìn, và loại trừ mọi xúc động, nhận xét, suy tưởng” (Võ Phiến: Văn học miền Nam. Truyện [Cuốn 1], NXB Văn nghệ, California, 1999, tr. 780).
Đó chính là do ảnh hưởng của những nhà tiểu thuyết mới như A. Robbe-Grillet, N. Sarraute, M. Butor… Nhưng không hẳn lúc nào Hoàng Ngọc Biên cũng chỉ có cái nhìn khách quan và loại trừ mọi xúc động, nhận xét, suy tưởng: đoạn văn trích từ Đêm ngủ ở tỉnh trên kia là một dẫn chứng. Không phải ngẫu nhiên mà Saint-Exupéry và Hoàng Ngọc Biên cùng yêu thích một câu văn của Marcel Proust: “Mơ tưởng đời mình vẫn hơn là sống thật cuộc đời ấy, cho dù rằng có sống thật đi nữa, thì cũng hãy còn mơ tưởng nó”. (Il vaut mieux rêver sa vie que la vivre, encore que la vivre ce soit encore la rêver). Tác phẩm của họ là sự mơ tưởng về cuộc đời hơn là chính cuộc đời ấy.
Bây giờ, ở thế giới bên kia, chắc hẳn Hoàng Ngọc Biên vẫn không thôi mơ tưởng về cuộc đời, về quê hương đất nước – mười năm qua chưa thấy bóng người về.
HUỲNH NHƯ PHƯƠNG
Nguồn: http://www.viet-studies.net
 * Ảnh trên từ Google Thầy HN.Biên lúc trẻ
Xem Thêm :https://thanhnien.vn/van-hoa/vinh-biet-thay-toi-hoa-si-hoang-ngoc-bien-1082889.html

Thứ Sáu, 28 tháng 5, 2021

Ảnh từ Thầy Lê Thanh Hoàng Dân

 

T.Hoàng Ngoc Biên (bìa phải),kế là T,LTH.Dân.


Tình cờ tìm được hình nầy chụp ở Trung học Tây Ninh 59 năm trước. Đứng bên trái là Hoàng Ngọc Biên, khóa 1 Đại học Sư Phạm môn Pháp Văn, kế đó là tôi vừa ra trường Cử nhân Triết Học đại học Văn Khoa Sài Gòn.
Đứng cạnh tôi là Vũ Văn Hiệu, khóa 1 ban Anh Văn đại học sư phạm Sài Gòn, và sau cùng Phan Nguyên giám học trường trung học Tây Ninh năm 1962, nếu tôi nhớ không lầm khóa 1 ban Việt Hán đại học Sư Phạm Sài Gòn.
Hoàng Ngọc Biên rất nổi tiếng, không cần giới thiệu. Khi anh qua đời, nhiều báo trong nước và hải ngoại đã nói về anh. Mỗi lần nghe bài "Quand j'entend siffler le train" (Khi tôi nghe tiếng còi xe lửa...), tiếng Mỹ là "500 miles", tôi nhớ tới anh. Lần đầu tiên tôi nghe bản này, là do anh hát.
Tình cờ thấy Amazon còn bán sách "The train" của Hoàng Ngọc Biên, xin giới thiệu với các bạn (link trong phần comment).
Hình này làm tôi nhớ tới bạn cũ, và thời tuổi trẻ ở Sài Gòn.
"Sài Gòn nơi ấy tang thương lắm
Gợi nhớ trong ta mấy vạn đời
Trăng ngọc, trăng say, trăng vẫn cũ
Riêng tình nghẹn suối nước khôn vơi...
... Sàigòn, Sàigòn, trời nơi ấy
Chưa mờ dấu vết mộng ngày xưa
Ngàn năm là vẫn là thương nhớ
Tim ta còn lạnh đến bao giờ…?!"
(Hoàng Ngọc Ẩn)
👀👀👀👀
Nhìn không ra thầy Hiệu day AV và T.Phan Nguyên

Thứ Sáu, 21 tháng 1, 2022

Thơ HOÀNG NGỌC BIÊN : NÓI VỚI MỌI NGƯỜI

Thơ HOÀNG NGỌC BIÊN

nói với mọi người
     gửi Huỳnh Như Phương – người đã hát

tôi sẽ lội qua con sông này
không mùa mưa nước cũng lên cao
tôi sẽ lội qua con sông này
cỏ sẽ khóc khi tuổi thơ tìm thấy
cây hai mươi năm không hề lớn dậy
nước buổi chiều chảy máu không thôi.

tôi sẽ lội qua con sông này
dấu chân mẹ cha hãy còn để lại
con đường dài như sáng mùa đông
khi cánh cửa mở ra một trời trắng buốt
một sớm mai về với núi sông
nghe tiếng anh em gọi mãi bên cầu.

tôi sẽ lội qua con sông này
nắng sẽ reo trong mặt trời rực đỏ
cát trên cồn trưa đã cháy vàng
đã bốc lửa đầy đốt nóng tiếng kêu.

Dans Notre Jardin - Hoàng Ngoc Biên (1938-2019)-GS Pháp văn tai THCL.Tây Ninh 1962
 

Xem Thêm : Hoàng Ngọc Biên – quê hương, người về- Huỳnh Như Phương (Văn Việt )

 

Chủ Nhật, 16 tháng 4, 2023

Công nữ Ngọc Vạn,- Bùi Thụy Đào Nguyên (Trang Chim Việt Cành Nam )

                                              Công nữ Ngọc Vạn,

người không có "truyện" trong sử nhà Nguyễn
___________

Bùi Thụy Đào Nguyên

Hơn ai hết, Ngọc Vạn thấu hiểu dãi đất miền Trung, nơi bà đã sinh trưởng, cuộc sống của người dân khốn khó như thế nào. Cho nên dù tuổi mới đôi mươi lại phải dấn thân đến chốn đất khách quê người rồi lâm cảnh chồng chết sớm, con trẻ bị giết hại, triều chính đầy dẫy những thế lực cùng tham vọng mù quáng, đen tối... trái tim bao dung, không bao giờ biết vun vén ấy; phải luôn dằn nén mọi nỗi đau riêng để hoàn thành sứ mạng vì dân tộc của mình.

Nguyễn Phúc Ngọc Vạn, gọi tắt là Ngọc Vạn, không rõ năm sinh năm mất, là con gái thứ hai của chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên (ở ngôi: 1613-1635). Nhiều tài liệu trước đây thường ghi tước vị của bà là công chúa, nhưng thực sự là công nữ, vì bà chỉ là con của chúa Nguyễn.

Năm Canh Thân (1620), bà được gả cho vua Chân Lạp là Chey Chetta II. Nhờ có cuộc hôn phối nầy mà tình giao hảo giữa hai nước được tốt đẹp, để chúa Nguyễn có thể dồn lực lại hòng đối phó với chúa Trịnh ở Đàng Ngoài, đồng thời cũng tạo thêm cơ hội cho người Việt mở rộng lãnh thổ về phía Nam.

*

Chúa Sãi lên ngôi chúa năm 1613, và để củng cố vị thế của mình, vị chúa này đã tìm cách giao hảo với các nước phương Nam khi đó là Chiêm Thành và Chân Lạp.

Khoảng thời gian đó, triều đình Xiêm La gần như trực tiếp thống trị Chân Lạp. Vì vậy, khi lên ngôi vua, Chey Chetta II (ở ngôi: 1618-1628), liền cho xây dựng kinh đô mới ở Oudong (Vũng Long hay Long Úc) và cầu thân với chúa Nguyễn để chống lại sự khống chế của Xiêm La.

 
 Làm vương hậu Chân Lạp
Năm 1620, theo lời cầu xin của vua Chey Chetta II, chúa Sãi thuận gả Ngọc Vạn cho ông, và bà trở thành Hoàng hậu nước Chân Lạp với tước hiệu là Somdach Prea Peaccayo dey Preavoreac.

Vừa đẹp người, đẹp nết xinh đẹp, nên bà được vua Chey Chettha II rất yêu quý. Nhờ vậy, mà nhà vua đã cho một số người Việt đi theo bà giữ những chức vụ quan trọng trong triều đình Chân Lạp, cũng như cho nhiều người Việt lập hãng xưởng và buôn bán ở gần kinh đô.

Lợi dụng mối quan hệ này, năm 1623, chúa Sãi còn cử một sứ bộ, đem theo thư cùng nhiều tặng phẩm, tới Oudong để tỏ tình thân hữu và bảo đảm sự ủng hộ của triều đình Huế. Trong quốc thư, chúa Nguyễn cũng đã yêu cầu vua Chey Chettha II cho lập một đồn thuế ở Prei Kor (tức vùng Sài Gòn) và lập một dinh điền ở Mô Xoài (gần Bà Rịa ngày nay. Đây là dinh điền chính thức đầu tiên trên đất Chân Lạp). Nhờ sự vận động của Ngọc Vạn, nên cả hai việc trên đều được vua Chey Chetta II chấp thuận.

Vai trò của Hoàng hậu Somdach (tức Ngọc Vạn), đã có nhiều tác giả đề cập đến, như: -G. Maspéro:

Vị vua mới lên ngôi là Chey Thettha II cho xây một cung điện tại Oudong, ở đây ông làm lễ thành hôn với một công chúa con vua An Nam. Bà này rất xinh đẹp, về sau có ảnh hưởng lớn đến vua. Nhờ bà mà một phái đoàn An Nam đã xin và được vua Chey Thettha II cho lập thương điếm ở miền nam Cao Miên, nơi này nay gọi là Sài Gòn (trích trong cuốn "L' Empire Khmer").-Moura:

Tháng 3 năm 1618, Prea Chey Chessda được phong vương với tước hiệu Somdach Prea Chey Chessda Thiréach Réaméa Thupphdey Barommonpit. Lúc đó vua An Nam gả một người con gái cho vua Cao Miên. Công chúa này rất đẹp, được nhà vua yêu mến và lập làm hoàng hậu tước hiệu Somdach Prea Preaccac Vodey Prea Voreac Khsattey (trích trong cuốn "Royaume du Cambodge").-Henri Russier:

Chúa Nguyễn lúc bấy giờ rất vui mừng thấy Cao Miên muốn giao hảo bèn gả công chúa cho vua Cao Miên. Công chúa xinh đẹp và được vua Miên yêu quý vô cùng...Năm 1623, sứ bộ Việt từ Huế đến Oudong yết kiến vua Cao Miên, dâng ngọc ngà châu báu, xin người Việt được khai khẩn và lập nghiệp tại miền Nam...Hoàng hậu xin chồng chấp thuận và cua Chey Chetta đã đồng ý (trích trong cuốn "Histoire sommaire du Royaume de Cambodge").-A. Dauphin Meunier:

Năm 1623, Chey Chettha, người đã cưới công chúa Việt Nam, được triều đình Huế giúp đỡ để chống lại quân Xiêm... Một sứ bộ Việt Nam đã tới bảo đảm với Chey Chetta về sự ủng hộ của triều đình Huế. Sứ bộ xin phép cho dân Việt Nam tới lập nghiệp Việt Nam tới lập nghiệp ở các tỉnh phía Đông Nam Vương Quốc. Vua Cao Miên cho phép lập một phòng thu thuế tại Prey Kôr để tài trợ việc định cư (trích trong cuốn "Le Cambodge").

-Nguyễn Văn Quế:

Chey Chettha II dời đô từ Lovéa Em đếu Oudong năm 1620 và cưới công chúa Việt Nam được phong làm hoàng hậu và rất được yêu quý nhớ đức hạnh và vẻ đẹp mỹ miều. Vì đã giúp đỡ cho vua Cao Miên chống lại những cuộc xâm lăng của Xiêm nên chúa Sãi mới xin vua Cao Miên cho phép những người Việt di cư vào Nam được khai khẩn đất đai, trồng trọt, buôn bán và trả thuế ở Sài Gòn, Biên Hòa và Bà Rịa. Vua Cao Miên chấp thuận đề nghị của nhạc phụ. (trích trong cuốn "Histoire des Pays de L'union Indochinoise").

-Phan Khoang:

Từ thế kỷ 17 đã có nhiều người Việt Nam đến hai xứ Đồng Nai và Mỗi Xuy của Chân Lạp (tức Biên Hòa, Bà Rịa ngày nay), để vỡ đất làm ruộng. Vua Chân Lạp Chey Chetta II muốn tìm một đối lực để chống lại lân bang Xiêm La nguy hiểm kia, đã xin cưới một công nữ con chúa Nguyễn làm hoàng hậu, trông mong sự ủng hộ của triều đình Thuận Hóa và chúa Hy Tông (chúa Sãi) có mưu đồ xa xôi, năm 1620, đã gả cho vua Chân Lạp một công nữ. Cuộc hôn nhân này có ảnh hưởng lớn lao đến vận mạng Chân Lạp sau này. Bà hoàng hậu đem nhiều người Việt đến, có người được giữ chức hệ trọng trong triều, bà lại lập một xưởng thợ và nhiều nhà buôn gần kinh đô.

Đến năm 1623, một sứ bộ của chúa Nguyễn đến Oudong yêu cầu được lập cơ sở ở Prey Kôr tức Sài Gòn ngày nay và được ở đấy một sở thu thuế hàng hóa. Vua Chey Chetta chấp thuận và triều đình Thuận Hóa khuyến khích người Việt di cư đến đấy làm ăn rồi lấy cớ để giúp chính quyền Miên gìn giữa trật tự, còn phái một tướng lãnh đến đóng ở Prey Kôr nữa. Khi Chey Chatta mất, vùng đất từ Prey Kôr trở ra Bắc đến biên giới Chiêm Thành (tức là Sài Gòn, Bà Rịa, Biên Hòa ngày nay), đã có nhiều người Việt đến ở và khai thác đất đai (trích trong cuốn "Việt sử xứ Đàng Trong", phần "Chúa Nguyễn gây ảnh hưởng trên đất Chân Lạp").

Đổi lại, chúa Sãi hai lần giúp con rể (Chey Chetta II) đẩy lui quân Xiêm sang xâm lược. Giáo sĩ người Ý tên Christopho Borri ở Quy Nhơn đã nhìn thấy viện binh từ Đàng Trong tiến sang Cao Miên, nên đã ghi lại trong cuốn Hồi ký của mình (xuất bản năm 1631) như sau:

Chúa Nguyễn luôn luyện tập binh sĩ và gởi quân đội giúp vua Cao Miên, tức chàng rể chồng của con chúa. Chúa viện trợ cho vua Cao Miên thuyền bè, binh lính để chống lại vua Xiêm...

 
 Ở giữa chốn tranh chấp đẫm máu
Năm 1628, vua Chey Chetta II từ trần, triều đình Chân Lạp liên tục xảy ra các cuộc tranh chấp ngôi giữa những hoàng thân. Nhiều nhà vua bị anh em họ, rể, cháu...giết chết một cách thê thảm.

Theo Biên Hòa sử lược toàn biên (quyển 2) thì Ngọc Vạn sống với vua Chey Chetta II, đã sinh được một trai là Chan Ponhéa Sô và một gái tên là Neang Nhéa Ksattrey.

Sau khi Chey Chetta II mất, liền xảy ra việc tranh quyền giữa chú và cháu. Chú là Prea Outey, em ruột của Chei Chetta II, giữ chức Giám quốc (ab joréach) và cháu là Chan Ponhéa Sô (ở ngôi: 1628-1630) , con của Chey Chetta II và Công nữ Ngọc Vạn.

Trước đây, lúc vua Chei Chetta còn sống đã định cưới Công chúa Ang Vodey cho Hoàng tử Chan Ponhéa Sô. Nhưng chẳng may, khi nhà vua vừa mất thì Préa Outey, tức là chú ruột của Chan Ponhéa Sô, lại cưới nàng Công chúa này trong khi Hoàng tử còn đang ở trong tu viện. Sau khi rời tu viện, Chan Ponhéa Sô lên ngôi và trong một buổi tiếp tân, nhà vua trẻ gặp lại nàng Ang Vodey xinh đẹp. Sau đó, cả hai đã mượn cớ đi săn bắn để gặp gỡ, nhưng không ngờ Préa Outey biết được liền đuổi theo và giết chết hết vào năm 1930, sau khi làm vua mới được hai năm.

Người con thứ hai của Chey Chetta II lên thay với vương hiệu là Ponhea Nu (ở ngôi: 1630-1640). Năm 1640, Ponhea Nu đột ngột băng hà, Phụ chính Préah Outey liền đưa con mình lên ngôi tức quốc vương Ang Non I. Nhưng Ang Non I cũng chỉ làm vua được hai năm (ở ngôi: 1640-1642) thì bị người con thứ ba của Chey Chetta II là Chau Ponhea Chan (Nặc Ông Chân. Mẹ ông là người Lào) dựa vào một số người Chăm và người Mã Lai, giết chết cả Préah Outey và Ang Non I để giành lại ngôi vua.

Nặc Ong Chân lên ngôi (ở ngôi: 1642-1659), cưới một Công chúa người Mã Lai theo đạo Hồi (Islam) làm Hoàng hậu và nhà vua cũng bỏ quốc giáo (Phật giáo Tiểu thừa) để theo đạo của vợ. Điều này cùng với việc cho người Mã Lai và người Chăm được nhiều ưu đãi, đã gây bất bình trong giới hoàng tộc và dân chúng Chân Lạp.

Năm 1658, con của Préah Outey là So và Ang Tan dấy binh chống lại Nặc Ông Chân nhưng thất bại...Nghe lời khuyên của Thái hậu Ngọc Vạn, So và Ang Tan cầu cứu chúa Nguyễn. Chúa Hiền Nguyễn Phúc Tần liền sai Phó tướng dinh Trấn Biên (Phú Yên) là Nguyễn Phước Yến dẫn 3000 quân đến thành Hưng Phước (bấy giờ là Mỗi Xuy, tức Bà Rịa), phá được thành rồi tiến vào bắt Nặc Ông Chân bỏ vào cũi đem về giam ở Quảng Bình.

Năm sau (1659), Nặc Ông Chân chết [1]chúa Nguyễn phong cho So làm vua Chân Lạp, hiệu là Batom Reachea (ở ngôi: 1660-1672). Từ đó, lưu dân Việt đến Gia Định, Mỗi Xuy (Bà Rịa), Biên Hòa ngày càng đông để khai khẩn đất đai...

Năm 1672, vua Batom Reachea bị một người vừa là rể vừa là cháu là Chey Chetta III giết chết, em là Ang Tan (Nặc Ông Tân) chạy sang cầu cứu chúa Nguyễn. Nhưng ngay sau đó Chey Chetta III cũng bị người của Nặc Ông Chân sát hại.

Ang Chei (Nặc Ông Đài, ở ngôi: 1673-1674) con trai đầu của vua Batom Reachea lên ngôi. Ông Đài cho đắp thành lũy ở địa đầu Mỗi Xuy, nhờ Xiêm cứu viện để chống lại chúa Nguyễn.

Bị quân Xiêm đánh đuổi, Ang Tan cùng cháu là Ang Nan (Nặc Ông Nộn) chạy sang Sài Côn kêu cứu chúa Nguyễn. Năm 1674, Chúa Hiền Nguyễn Phúc Tần sai Cai cơ Nguyễn Dương Lâm và Tham mưu Nguyễn Đình Phái chia quân làm hai cánh cùng tiến lên Chân Lạp. Nặc Ông Đài bỏ thành Nam Vang chạy vào rừng, để rồi bị thuộc hạ đâm chết.

Sau khi Nặc Ông Đài mất, người em là Nặc Ông Thu (Ang Sor) ra hàng. Để giải quyết tình trạng "nồi da xáo thịt" dai dẳng này, chúa Nguyễn cho Nặc Ông Thu làm Chính vương, đóng đô ở Phnom pênh (Nam Vang), cho Nặc Ông Nộn làm Đệ nhị vương, đóng đô ở khu vực gò Cây Mai (thuộc Sài Côn, nay thuộc Thành phố Hồ Chí Minh)...Tuy nhiên, hai phe vẫn không từ bỏ ý định loại trừ nhau.

Sau hơn 50 năm luôn phải tìm cách tồn tại trong chốn vàng son nhưng đẫm máu ấy, theo lời kể, thì Thái hậu Ngọc Vạn đã theo Nặc Ông Nộn về Sài Côn, rồi lui về sống ở Bà Rịa. Nơi đây, bà cho lập chùa Gia Lào (núi Chứa Chan, Đồng Nai), rồi ẩn tu cho đến hết đời.

 Khẳng định Ngọc Vạn chính là vợ vua Chey Chetta II
Trước đây, vị công nữ được gả cho Chey Chetta II vẫn còn là một vấn đề chưa thống nhất. Vì ở mục Công chúa trong Đại Nam Liệt Truyện Tiền Biên chỉ ghi như thế này:

Chúa Sãi có bốn người con gái là: 1/ Công chúa Ngọc Liên, lấy Trấn biên doanh trấn thủ phó tướng Nguyễn Phúc Vĩnh. Phúc Vĩnh là con trưởng Mạc Cảnh Huống. 2/ Công chúa Ngọc Vạn, không có truyện. 3/ Công chúa Ngọc Khoa, không có truyện. 4/ Công chúa Ngọc Đĩnh lấy phó tướng Nguyễu Cửu Kiều. Năm Giáp Tỵ (1684, Lê Chính Hòa năm thứ 5), mùa đông, Ngọc Đĩnh Mất.

Tương tự, trong quyển Généalogie des Nguyễn avant Gia Long (Phổ hệ nhà Nguyễn trước Gia Long) của Tôn Thất Hân và Bùi Thanh Vân (Bulletin des Amis de vieux Huế, 1920) cũng chỉ ghi là:

Ngọc Khoa con gái thứ của Sãi vương, không để lại dấu tích. Ngọc Vạn con gái thứ của Sãi vương, không có dấu tích gì về Ngọc Vạn.

Bàn về việc "không có truyện" trên, trong cuốn Việt sử xứ Đàng Trong của GS. Phan Khoang có đoạn:

Việc này, sử ta đều không chép, có lẽ các sử thần nhà Nguyễn cho là việc không đẹp, nên giấu đi chăng? Nhưng nếu họ quan điểm như vậy thì không đúng. Hôn nhân chính trị, nhiều nước đã dùng, còn ở nước ta thì chính sách đã đem lại ích lợi quan trọng. Đời nhà Lý thường đem công chúa gả cho các tù trưởng các bộ lạc thượng duBắc Việt, các bộ lạc ấy là những giống dân rất khó kiếm chế. Nhờ đó mà các vùng ấy được yên ổn, dân thượng không xuống cướp phá dân ta, triều đình thu được thuế má, cống phẩm; đất đai ấy, nhân dân ấy lại là một rào dậu kiên cố ở biên giới Hoa-Việt để bảo vệ cho miền Trung Châu và kinh đô Thăng Long. Đến đời Trần, chính đôi má hồng của ả Huyền Trân đã cho chúng ta hai châu Ô, Lý để làm bàn đạp mà tiến vào Bình Thuận.

Sử ta không chép, nhưng theo các sách sử Cao Miên do các nhà học giả Pháp biên soạn, mà họ lấy sử liệu Cao Miên để biên soạn thì quả Chey Chetta II năm 1620 có cưới một công nữ con chúa Nguyễn. Giáo sĩ Borri, ở Đàng Trong trong thời gian ấy cũng có nói đến cuộc hôn nhân này. Xem "Đại Nam liệt truyện Tiền biên" (mục Công Chúa), thấy chúa Hi Tông (tức chúa Sãi) có bốn con gái, hai nàng Ngọc Liên, Ngọc Đãng thì có chép rõ sự tích chồng con, còn hai nàng Ngọc Vạn, Ngọc Khoa thì chép là "khuyết truyện", nghĩa là không có tiểu truyện, tức là không biết chồng con như thế nào. Vậy người gả cho vua Chey Chetta II phải là Ngọc Vạn hoặc Ngọc Khoa.

Mãi đến khi Nguyễn Phúc tộc Thế phả được xuất bản tại Huế (1995), thì tiểu sử hai công nữ Ngọc Vạn và Ngọc Khoa mới được công bố rõ ràng:

-Năm Canh Thân (1620), Nguyễn Phúc Ngọc Vạn (con gái thứ hai của chúa Sãi) được gả cho vua Chân Lạp là Chey Chetta II. Về sau nể tình bà, vua Chân Lạp cho người Việt lập một dinh điền tại Mô Xoài (Bà Rịa ngày nay).

-Năm Tân Mùi (1631), Nguyễn Phúc Ngọc Khoa (con gái thứ ba của chúa Sãi) được gả cho vua Chiêm Thành là PôRôMê. Nhờ có cuộc hôn phối nầy mà tình giao hảo giữa hai nước Việt-Chiêm được tốt đẹp.

 Người Việt ghi nhận công lao
Theo Nguyễn Lệ Hậu, thì: việc giữ gìn biên cương và mở mang bờ cõi luôn là ước vọng lớn lao của hầu hết các đấng quân vương, và trong suốt thời gian trị vì của mình các bậc đế vương đã không ngừng khai thác bằng hầu hết những khả năng và biện pháp vốn có. Ở đây, vấn đề hôn nhân nhằm mục đích chính trị đã đóng một vai trò không nhỏ trong việc mở mang bờ cõi, nhất là trong công cuộc Nam tiến. Trong đó các cành vàng lá ngọc đã đóng một vai trò nhất định, nước mắt má hồng đã tô thắm cho từng dãi đất biên cương.

Nhận xét riêng về vai trò của Ngọc Vạn, TS. Trần Thuận viết:

Cuộc hôn nhân này mặc dầu không được sử nhà Nguyễn ghi chép vì một lý do nào đó. Song, xét đến cùng thì đây là một cuộc hôn nhân mang màu sắc chính trị có tầm quan trọng đặc biệt đối với lịch sử dân tộc Việt Nam, nó đáp ứng nhu cầu cho cả hai phía. Chân Lạp cần có sự "bảo hộ" của chúa Nguyễn để tránh khỏi sự tấn công tiêu diệt của vương quốc Xiêm. Chúa Nguyễn cần có chỗ đứng ở phía Nam, đẩy mạnh sự khai phá của lưu dân Việt trên mảnh đất khô cằn và thấp trũng mà từ lâu người Chân Lạp vẫn bỏ hoang, đồng thời tạo nên sự ổn định mặt phía Nam để rảnh tay lo đương đầu với thế lực Trịnh ở phía Bắc...Ngọc Vạn, rõ ràng là một chiếc cầu nối trong quan hệ Việt-Miên ở thế kỷ 17...Trong lịch sử dân tộc Việt Nam, từng có những người phụ nữ làm nên đại cuộc như Hai Bà Trưng, Bà Triệu,...góp phần giành giữ nền độc lập cho Tổ quốc, và cũng từng có những người phụ nữ lặng lẽ hy sinh để cha anh làm nên nghiệp lớn như Huyền Trân, Ngọc Vạn, Ngọc Khoa...Chính họ là những con người làm nên lịch sử. Đáng kính thay!

*

Cảm phục Ngọc Vạn và Ngọc Khoa, thi sĩ Trần Tuấn Khải (1895-1983), đã có thơ rằng:

Cảm vịnh hai bà Ngọc Vạn, Ngọc Khoa

Hồng Lạc ta đâu hiếm nữ tài
Nghìn xưa Trưng Triệu đã từng oai
Noi gương Khoa-Vạn, hai công chúa
Một sớm ra đi mở đất đai.

Mối tình hữu nghị Việt Chiêm Miên
Thần xỉ mong sao được vững bền;
Chúa Sãi bao năm nhờ diệu kế,
Giữ miền Nam Á đặng bình yên.

Đời vốn quen dùng sức lửa binh,
Gây nhiều thảm họa khổ sinh linh.
Riêng đây ngọc lụa thay gươm giáo,
Trăm họ âu ca hưởng thái bình.

Cũng vì hạnh phúc của muôn dân
Vì nước, vì nhà, xá quản thân.
Lá ngọc cành vàng coi nhẹ bổng,
Hiếu trung cho trọn đủ mười phân.

Những tiếc riêng cho phận nữ hài,
Đem thân giúp nước há nhường trai.
Vắng trang lịch sử, nào ai biết?
Người đã hy sinh vị giống nòi.

Tới nay kể đã mấy tinh sương
Mượn bút quan hoài để biểu dương:
Bà Rịa, Phan Rang ngàn vạn dặm,
Công người rạng rỡ chốn quê hương.

Tân Việt Điểu cũng có thơ ca ngợi hai bà:

Ngọc Vạn, Ngọc Khoa giữ một niềm
Vì ai, tô điểm nước non tiên?
Chị lo giữ vẹn tình Miên-Việt,
Em nhớ làm tròn nghĩa Việt-Chiêm
Bà rịa, Biên Hòa thêm vạn dặm,
Phan Rang, Phan Rí mở hai miền
Non sông gấp mấy lần Ô, Lý
Nam tiến, công người chẳng dám quên.

(chép trong Biên Hòa sử lược toàn thư, quyển 2)

Bùi Thụy Đào Nguyên, soạn.
Chú thích

1. Theo Việt Nam sử lược và Việt sử tân biên (quyển 3), thì Nặc Ông Chân chỉ bị giam một ít lâu rồi được tha sau khi chịu nạp cống, và hứa sẽ bênh vực người Việt đang làm ăn sinh sống trên đất Chân Lạp. Tuy nhiên, các nguồn ghi năm ông mất khác nhau: "Việt sử tân biên" (quyển 3) ghi Nặc Ông Chân mất năm 1674. TS. Trần Thuận ghi ông mất năm 1659, nhưng không nói rõ ở đâu, có nguồn ghi ông mất trong nhà lao Quảng Bình.

Tài liệu tham khảo

- Trần Trọng Kim, Việt Nam sử lược. Nxb Tân Việt, Sài Gòn, 1968.

- Phạm Văn Sơn, Việt sử tân biên (quyển 3), Sài Gòn, 1959.

- Lương Văn Lựu, Biên Hòa sử lược toàn biên (quyển 2). Tác giả tự xuất bản, Sài Gòn, 1973.

- Nguyễn Phan Quang- Trương Hữu Quýnh- Nguyễn cảnh Minh, Lịch sử Việt Nam (1427-1858). Nxb Giáo dục, 1977.

- Phan Quang, Việt sử xứ Đàng Trong. Nxb. Văn học, 2001

- Phạm Việt Trung-Nguyễn Xuân Kỳ-Đỗ Văn Nhung, Lịch sử Campuchia. Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp, 1981.

- Nhóm Nhân Văn Trẻ, Hỏi đáp lịch sử Việt Nam (tập 3). Nxb Trẻ, 2007.

- Bửu Diên Hoàng Oanh, Những công chúa có công trong việc mở mang bờ cõi nước Việt [http://www.suutap.com/HUE/default.asp?id=41&muc=1]

- TS. Trần Thuận, Công nữ Ngọc Vạn với Quốc vương Chân Lạp [http://www.phatgiaobaclieu.com/index.php?option=com_content&task=view&id=629&Itemid=51]

- Nguyễn Lệ Hậu, Nước mắt biên cương và phận má hồng [http://www.danangpt.vnn.vn/vanhoa/detail.php?id=79&a=76&k=124]

🌷🌷🌷🌷🌷🌷🌷🌷

Trường Trung Hoc Công Lâp Tây Ninh mở lớp 4 lớp đệ thất vào năm 1955: phải hoc nhờ trường Tiểu hoc Tây Ninh.

 Năm 1956  khánh thành cơ sở mới tại ngả ba Đồn, khóa.1956 có 2 lớp nam (A,B),1 lớp nữ (Đ) và 1 lớp nam nữ hoc chung C.

Năm 1970,lính tình nguyện Phi luật Tân cất nhiều dãy nhà trên 1 bãi đât trống trên đường từ Ao hồ ra thị xả  Tây Ninh 

Năm 1971,trường Nữ Trung Hoc Ngọc Vạn thành lập-Một số Thầy Cô và ất cả nữ sinh THTN chuyển về học tại đây và nhà trường cũng tuyển các lớp đệ thất mới toàn nữ. Hiệu Trưởng đầu tiên là bà Đào thị Thảo

Ngày nay ,trường TH.CL Tay Ninh là trường TH.Cơ sở Trần Hưng Đao,trường Nữ TH.Ngoc Vạn là trường Tiểu hoc Võ thị Sáu

Chủ Nhật, 2 tháng 8, 2026

Tin Bườn : Thầy LÊ THANH HOÀNG DÂN Tạ Thế

 

Thầy LÊ THANH HOÀNG DÂN ;

Cựu GS Trung Hoc CL.Tây Ninh,CGS.Sư Pham Saigon .Tác giả các sách vê Giáo Dục

đã mệnh chung tại  Florida - Mỷ ngày 2/8/2026  đại thọ 90 tuổi

Xin Thành Kính  Chia Buồn Cùng Cô Và Các Em , Cháu

Cầu Nguyên Hương Hồn Người Qá Cố Được PHIÊU DIÊU MIỀN CỰC LẠC

Ảnh Thầy LTH.Dân Lúc dạy ở THTN và các GS khác

Bìa vest den T.Hoàng Ngoc Biên, T.Dân, T.Triệu Canh Ngủ, T.Phan Nguyên và Ảnh TC


áng tác

  • Các Vấn đề Giáo dục
  • Triết lý Giáo dục
  • Lịch sử Chiến tranh lạnh
  • Yamamoto và những trận đánh lịch sử trên Thái Bình Dương
  • Tâm lý nhi đồng
  • Quản trị và thanh tra học đường
  • Hướng dẫn học sinh trung học đệ nhất cấp

Dịch

Hai năm nay nằm nhà thương nhiều lần, tôi sực tỉnh, thấy cuộc đời phù du quá. Sống đó, có thể chết bất cứ lúc nào. Nếu sống lâu, có thể chết từ từ, đến lúc mình không tự lo được, phải làm gì?
Nhiều bạn lựa chọn ở nhà, báo đời con cháu. Tổ chức xã hội Mỹ khác.
Nếu già bệnh tật không tự lo được, không sống độc lập được, thay vì ở nhà, các bạn có lựa chọn khác. Vô Viện Dưỡng Lão, để các chuyên viên lo cho các bạn những ngày cuối đời, chờ chết.
Tôi sẽ sống vui đến ngày cuối cùng. Sống ở ngoài không được, tôi sẽ chọn vô Viện Dưỡng Lão. Tôi sẽ ôm laptop, và computer vô đây, viết lách đến ngày ra đi.
Để quên đau đớn thể xác và sự cô đơn những ngày chờ chết, mỗi ngày tôi cố gắng nhớ một vài kỹ niệm vui thời tuổi trẻ, vừa hưu trí rãnh rổi, cùng người tình trăm năm chu du thiên hạ, rong chơi cuối trời quên lãng. "Mua vui cũng được một vài trống canh.

CÁO PHÓ

Dẫu biết sinh – lão – bệnh – tử là lẽ thường của kiếp người, nhưng gia đình chúng tôi vẫn không khỏi bàng hoàng và đau xót khi ba chúng con, ông Lê Thanh Hoàng Dân, đã khép lại hành trình trần thế.
Trong những ngày này, nỗi mất mát như phủ một lớp sương mỏng lên từng hơi thở, từng góc nhà, từng kỷ niệm. Ba ra đi, để lại khoảng trống không gì có thể lấp đầy, nhưng cũng để lại một di sản yêu thương, nhân hậu, và trí tuệ mà chúng con sẽ mang theo suốt đời.
Chúng con xin phép được đăng tải cáo phó dưới đây nhằm thông báo lịch trình tang lễ đến quý thân bằng quyến thuộc, bạn bè xa gần, những học trò của ba, những người đã thương mến ba và luôn đồng hành cùng gia đình chúng tôi.
Trong giờ phút thiêng liêng này, gia đình xin cúi đầu tri ân tất cả tấm lòng đã gửi đến. Mỗi lời chia buồn, mỗi vòng hoa, mỗi tin nhắn đều là một sự nâng đỡ dịu dàng giúp chúng tôi vững vàng hơn giữa nỗi đau mất mát.
Nguyện cầu hương linh ba, Giáo sư Lê Thanh Hoàng Dân được an nghỉ nơi cõi vĩnh hằng, tiêu diêu nơi miền an lạc.
🙏❤️ Dẫu biết sinh – lão – bệnh – tử là lẽ thường của kiếp người, nhưng gia đình chúng tôi vẫn không khỏi bàng hoàng và đau xót khi ba chúng con, ông Lê Thanh Hoàng Dân, đã khép lại hành trình trần thế.
Trong những ngày này, nỗi mất mát như phủ một lớp sương mỏng lên từng hơi thở, từng góc nhà, từng kỷ niệm. Ba ra đi, để lại khoảng trống không gì có thể lấp đầy, nhưng cũng để lại một di sản yêu thương, nhân hậu, và trí tuệ mà chúng con sẽ mang theo suốt đời.
Chúng con xin phép được đăng tải cáo phó dưới đây nhằm thông báo lịch trình tang lễ đến quý thân bằng quyến thuộc, bạn bè xa gần, những học trò của ba, những người đã thương mến ba và luôn đồng hành cùng gia đình chúng tôi.
Trong giờ phút thiêng liêng này, gia đình xin cúi đầu tri ân tất cả tấm lòng đã gửi đến. Mỗi lời chia buồn, mỗi vòng hoa, mỗi tin nhắn đều là một sự nâng đỡ dịu dàng giúp chúng tôi vững vàng hơn giữa nỗi đau mất mát.
Nguyện cầu hương linh ba, Giáo sư Lê Thanh Hoàng Dân được an nghỉ nơi cõi vĩnh hằng, tiêu diêu nơi miền an lạc.


Thứ Hai, 26 tháng 2, 2024

Họp CHS.TH.Tây Ninh 1955-1975 lần thứ 15 ngày 25/2/2024 tại trường THTN cũ

Mời Xem Lại :

-Hop CHS.TH.Tây Ninh Lần Thứ 14 ngày 12/2/2023 tại trường TH.Tây Ninh cũ

 Họp CHS.TH.Tây Ninh 1955-1975  lần thứ 15 ngày 25/2/2024 

 Ngày 25-2-2024, lúc 8g, tại Trường THCS Trần Hưng Đạo ( Trường THCL-TN cũ ) . Gần 60 CHS về tham dự buổi họp măt lần thư 15.

 Khai mạc, anh Nguyễn Ngọc Ẩn chào mừng các bạn. Anh cho biết, phần đông các Thầy Cô đã mất: Thầy Hoàng Ngoc Biên,Lê Ngọc Thọ,Trần Đình Kha,Vương Ngọc Em,Mai Văn Sít, Trần Văn Rạng, Cô Phạm Thị Bạch Tuyết,v/c thầy Võ Thanh Tòng, Cô Nguyễn Thị Hồng Vân, thầy Lê Hửu Khoan...
....Các Thầy Cô cao tuổi già yếu, không tham dự được: Thầy Tôn Thất Sum, Nguyễn Quang Ngân, Nguyễn Văn Thảnh, Võ Công Văn, Đào Tấn Luật, Cô Nguyễn Thị Hường. 
Một số bạn đã ra đi: chị Lý thị Thanh Tuyền, Thân Thị Đời, anh Đặng Mỷ Lệ, Đỗ Văn Tú, bạn Nguyễn Thị Thể, Trần Thị Kim Lang, Nguyễn Văn Mơi, Huỳnh Văn Phi.....Đăc biệt có hai chị khóa 1 tham dự: Võ Thị Ánh Tuyết,  Lâm Thị Sắng.
Tiếp theo anh Ẩn công bố chi thu quỹ học bổng các năm vừa qua. Do tuổi cao, bệnh, anh tuyên bố xin rút tên BLL, và giới thiệu các bạn trẻ thay thế. Bạn Nguyễn Văn Nam công bố quỹ tương trợ năm 2023. Sau đó bạn Hồ Khánh Dũng công bố đề nghị mở quỹ " Giữ mãi nụ cười" do một cựu học sinh niên khóa 1956- 1963 tài trợ.
 Quỹ nhằm giúp đở 
1- Các cựu học sinh THCL-TN già yếu, bệnh tật, có hoàn cảnh khó khăn đặc biệt.
 2- Các em học sinh nghèo, học giỏi của Trường THCS Trần Hưng Đạo. 
Ban liên lạc Hội sẽ điều hành quỹ " Giữ mãi nụ cười", với sự tham gia rộng rãi của nhiều Mạnh Thường Quân, Hội sẽ mở một tài khoản tại ngân hàng ; sau khi có tài khoản, vị MTQ khởi xướng, đầu tiên sẽ chuyển tiền vào
Tiếp theo, phần liên hoan, và văn nghệ. Đặc biệt, những vũ điêu Bolero, Valse, Lambada của các bạn nữ: Phụng, Kim Thủy, Lệ Mai, ..
Buổi họp mặt kết thúc lúc 12AM cùng ngày,sau bửa cơm thân mật
Hình ảnh và Bài :Hồ Khánh Dũng 

Cuối cùng,xin đốt nén nhang tưởng nhớ những người đã khuất núi :

-Thầy Cô , nhân viên VP. từ ngày thành lập trường 1955 đã đóng góp rất  nhiều công sức

- Các CHS.THTN sớm đi xa

Mà vì điều kiện thông tin ít ỏi nên chúng tôi không kể  hết ra đây


Ghi chú : ngày 9/2/2020 Ban LL thông báo mời họp nhưng cuối cùng bị hoản

Năm 2021 và 2022 vì Covic 19 ,không họp 

Mời Xem Lại : 🌹 Hoàng Ngọc Biên – quê hương, người về- Huỳnh Như Phương (Văn Việt ) 

🌹🌹Ảnh từ Thầy Lê Thanh Hoàng Dân  

🌹🌹🌹Mừng Tân niên của Cựu HS.Trung học Tây Ninh mùng 4 tháng giêng Giáp Ngọ 92014 )

🌹🌹🌹🌹 Thoáng thế mà..Pham Bạch Tuyết 

🌹🌹🌹🌹🌹  Bửa cơm trưa ở trường TH.Tây Ninh xưa

Thứ Hai, 7 tháng 8, 2023

CHS,TH.Nguyễn Trãi Thăm Thầy Vũ Văn Hiệu : 5/8/2023

Ngày Thứ Bảy 5/8/2023 nhóm Nguyễn Trãi 71-78 đã đến thăm Thầy Vũ Văn Hiệu ( Anh Văn) tại tư gia của Thầy ở Q7.
Thầy Cô đã tiếp đón học trò cũ rất niềm nở còn đãi học trò ăn bánh Tây và uống rượu Pháp 😉.
Thầy Vũ Văn Hiệu năm nay đã 87 tuổi, chỉ hơi lãng tai nhưng sức khỏe vẫn tốt.
Kính chúc Thầy được sống vui sống khỏe và an lành cùng gia đình ❤️

Ảnh :

(Áo đỏ  là con trai thầy )

Ảnh Thầy Vũ văn Hiêu khi dạy tại Trung Học Công Lập Tây Ninh (1961)

Bìa trái:T,Hoàng Ngoc Biên,GS Pháp đã mất ,T.Lê Thanh Hoàng Dân,GS.Triết,T.Hiệu,đứng bìa phải là T.Phan Nguyên (Việt Văn
 🌼🌼🌼🌼🌼🌼🌼🌼

Cám ơn các bạn Nguyễn Trãi,mây chuc năm mới biết tin Thầy🌹🌹🌹🌹🌹🌹

KÍNH MỜI XEM và HỌA (NẾU THÍCH) THƠ TRĂNG THU của HỒ NGUYỄN

TRĂNG THU Mây buồn kéo đám bám che trăng, Cuội ngóng chờ trông bóng chị Hằng. Chim mất tổ sầu kêu thảm thiết, Lá buông cành chiếc rớt tung ...