Hiển thị bài đăng được sắp xếp theo mức độ liên quan cho truy vấn tô đông Pha. Sắp xếp theo ngày Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị bài đăng được sắp xếp theo mức độ liên quan cho truy vấn tô đông Pha. Sắp xếp theo ngày Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 29 tháng 3, 2026

Giai Thoại Văn Chương : MÁ HỒNG ĐỔI NGỰA TRUY PHONG - (Đỗ Chiêu Đức)

 Giai Thoại Văn Chương :   

      MÁ HỒNG ĐỔI NGỰA TRUY PHONG
         (Hồng Phấn Hoán Truy Phong 紅 粉 換 追 風)
             
              Tô Đông Pha và Vương Phất qua điện ảnh

       Năm Hi Ninh thứ 8 đời Tống Thần Tông (1075) Tô Đông Pha 蘇 東 坡 đã 40 tuổi, đang là Tri huyện Mật Châu (Sơn Đông). Ngày 20 tháng giêng năm đó, ông nằm mơ thấy người vợ đã mất 10 năm trước của mình. Khi tỉnh giấc ông đã làm một bài "điếu vong từ" nổi tiếng thiên cổ với tên từ khúc là: Giang Thành Tử 江 城 子 như sau:

 十 年 生 死 两 茫 茫, Thập niên sinh tử lưỡng mang mang,
 不 思 量,自 難 忘。   Bất tư lương, nan tự vương.
 千 里 孤 墳,無 處 話 凄 凉, Thiên lý cô phần, vô xứ thoại thê                                                        lương.
 縱 使 相 逢 應 不 識, Túng sử tương phùng ưng bất thức,
 塵 满 面,鬓 如 霜。   Trần mãn diện, Mấn như sương!

 夜 来 幽 梦 忽 還 鄉,  Dạ lai u mộng hốt hoàn hương,
 小 軒 窗,正 梳 妆。    Tiểu hiên song, chính sơ trang.
 相 顧 無 言,惟 有 泪 千 行。Tương cố vô ngôn, duy hữu lệ                                                               thiên hàng.
 料 得 年 年 腸 斷 處,  Liệu đắc niên niên trường đoạn xứ,
 明 月 夜,短 松 崗。    Minh nguyệt dạ, Đoản tùng cương.
    Có nghĩa :
                    Mười năm sống chết hai nơi,
                    Không cần nghĩ ngợi khó thời khó quên.
                    Dặm ngàn nấm mộ chênh vênh,
                    Thê lương biết nói sao nên lòng nầy.
                    Gặp nhau biết có nhận ngay,
                    Phong trần đầy mặt tóc dài như sương !

                    Đêm qua chợt mộng hoàn hương,
                    bên hiên song nhỏ nàng đương chải đầu.
                    Nhìn nhau luống những nghẹn ngào,
                    Muôn hàng lệ nhỏ thêm sầu lòng đây.
                    Năm năm ruột đứt nơi nầy,
                    Dưới vầng trăng sáng thông gầy đồi xa !
                     
      
                              Vương Nhuận Chi qua điện ảnh

       Bài Từ nhớ vợ bi thương là thế, xót xa là thế; Mỗi hàng mỗi chữ đều như là những dòng lệ nhớ thương vô tận. Đó chính là nàng Vương Phất 王 弗 ái nữ của Tiến sĩ Vương Phương là thầy dạy học của Tô Đông Pha từ vỡ lòng cho đến lớn. Nàng là người con gái nết na, tri thư đạt lễ, kết hôn với Tô năm nàng 17 tuổi và Tô 19 tuổi. Vợ chồng trẻ yêu thương rất mực, ân ái mặn nồng. Nhưng chỉ 11 năm sau nàng nhuốm bệnh và qua đời ở tuổi 27. Tô đau lòng đứt ruột, thơ thẩn vào ra chỉ nhớ tới bóng dáng của vợ hiền. Ba năm sau, Tô lại cưới cô em họ của vợ là Vương Nhuận Chi 王 閏 之, cô nầy tánh tình hiền thục, sống yên phận nên ít có dấu ấn trong văn thơ của Tô. Nhưng đến năm 46 tuổi thì cũng lại nhuốm bệnh qua đời khi Tô đã 58 tuổi rồi. Ngoài hai chị em họ Vương ra, năm 38 tuổi Tô Đông Pha đã từ lầu xanh chuộc về một cô bé 12 tuổi cũng họ Vương tên là Triêu Vân 王 朝 雲, giỏi cả cầm kỳ thi họa, khi lớn lên đã được Tô nạp làm ái thiếp và theo hầu cận Tô suốt con đường hoạn lộ. Nhưng hồng nhan bạc mệnh, năm 34 tuổi Vương Triêu Vân cũng nhuốm bệnh mà qua đời. Tô rất bi thương, soạn mộ chí và điếu từ, làm bài thơ "Điếu Triêu Vân 悼 朝 雲" và bài Từ "Tây Giang Nguyệt. Mai Hoa 西 江月· 梅 花" ví Triêu Vân như là Mai Hoa cao khiết đã về với cõi tiên: 

 玉 骨 那 愁 瘴 霧,      Ngọc cốt nả sầu chướng vụ,
 冰 姿 自 有 仙 風。      Băng tư tự hữu tiên phong.
 海 仙 時 遣 探 芳 叢。 Hải tiên thì khiển thám phương tùng.
 倒 掛 綠 毛 幺 鳳。      Đảo quải lục mao yêu phụng.

 素 面 翻 嫌 粉 涴,      Tố diện phiên hiềm phấn uyển,
 洗 妝 不 褪 脣 紅。      Tẩy trang bất thối thần hồng.
 高 情 已 逐 曉 雲 空。 Cao tình dĩ trục hiểu vân không.
 不 與 梨 花 同 夢。      Bất dữ lê hoa đồng mộng !

      Có nghĩa :
                   Cành ngọc nào ngại mù sương,
                   Phong tư yểu điệu tợ dường tiên nga.
                   Cỏi tiên sứ gỉa lân la,
                   Chim xanh phụng biếc hộ hoa bao ngày.

                   Mặt ngọc chê phấn son phai,
                   Môi son vẫn đỏ hơn dày điểm trang.
                   Tình nồng mây sớm mênh mang,
                   Lê hoa cũng chịu mơ màng nhớ nhung !

                               
                   Vương Triêu Vân qua điện ảnh

       Ngoài ba người phu nhân họ Vương ra, trong đời của Tô Đông Pha còn có rất nhiều thê thiếp mà ông từng sủng ái; Trong số đó có một người ái thiếp tên là Xuân Nương 春 娘. Xuân Nương là người nơi nào, sanh năm nào, gia cảnh ra sao thì không ai biết được, vì chỉ theo lời kể của văn học gia Phùng Mộng Long 馮 夢 龍 đời nhà Minh kể lại trong tác phẩm 《Tình Sử Loại Liệt 情 史 類 略》truyện "Hồng Phấn Hoán Truy Phong 紅 粉 換 追風" như sau:
      Năm Nguyên Phong thứ 3 đời Tống Thần Tông (1080), vì vụ "Ô Đài Thi Án" Tô Đông Pha bị biếm đi làm Đoàn Luyện Phó Sứ ở Hoàng Châu. Khi sắp lên đường, có công tử họ Tưởng đến để tiễn hành. Tô vô cùng cảm động bèn cho người thiếp trẻ đẹp là Xuân Nương ra chuốc rượu mời khách. Thấy Xuân Nương trẻ đẹp lại giỏi văn thơ ứng đối, Tưởng công tử mới động lòng bèn hỏi Tô rằng: Ngài đi đến xứ Hoàng Châu xa xôi, định an trí người đẹp như thế nào đây? Tô đáp: Đưa nàng về quê với cha mẹ ruột. Nghe thế Tưởng công tử bèn đưa ra một đề nghị thật hoang đường là: Ta có thể dùng một con bạch mã truy phong giúp cho Ngài ngày đi ngàn dặm để đổi lấy Xuân Nương hay không? Tô Đông Pha nghe thế bèn nghĩ rằng, từ đây đến Hoàng Châu xa xôi ngàn dặm lại núi non cách trở, có được con ngựa đỡ chân cũng là điều rất tốt, bèn không kịp nghĩ gì đến cảm nhận của Xuân Nương mà vui vẻ ưng thuận "Đổi Người lấy Ngựa". Họ Tưởng có được người đẹp, bèn rất đắc ý mà ngâm 4 câu thơ như sau:

  不 惜 霜 毛 雨 雪 蹄,  Bất tích sương mao vũ tuyết đề,
  等 閒 分 付 贖 娥 眉。  Đẳng nhàn phân phó thục nga mi.
  雖 無 金 勒 嘶 明 月,  Tuy vô kim lặc tê minh nguyệt,
  却 有 佳 人 捧 玉 卮。  Khước hữu giai nhân phủng ngọc chi!
      Có nghĩa :
                  Truy phong bạch mã chi mà tiếc,
                  Đổi được nga mi cũng thỏa tâm.
                  Tuy chẳng cương vàng phi dưới nguyệt,
                  Lại vui chén ngọc với giai nhân.

      Cùng là giới bút mực với nhau, nên Tô Đông Pha cũng đáp lễ lại bằng 4 câu thơ rằng:

 春 娘 此 去 太 匆 匆,   Xuân Nương thử khứ thái thông thông,
 不 敢 啼 聲 在 恨 中。   Bất cảm đề thanh tại hận trung.
 只 為 山 行 多 險 阻,   Chỉ vị sơn hành đa hiểm trở,
 故 將 紅 粉 換 追 風。   Cố tương hồng phấn hoán truy phong.
      Có nghĩa :
                 Xuân Nương đem đổi qủa là ngông,
                 Chẳng dám than van oán ngập lòng.
                 Chỉ tại núi non đường hiểm trở,
                 Mới đem má phấn đổi truy phong !

      "Chỉ tại núi non đường hiểm trở, Mới đem má phấn đổi truy phong!" Qủa là một cái cớ vụng về tàn nhẫn của kẻ bạc tình, nên vừa nghe xong Xuân Nương đã lòng lạnh như tiền, bước đến che mặt nói rằng: "Thiếp nghe nói khi xưa Tề Cảnh Công muốn chém người giữ chuồng ngựa khi để chuồng ngựa bị cháy. Án Tử mới can rằng: Khi chuồng ngựa cháy, Khổng Tử chỉ hỏi "Người có sao không, mà không hỏi Ngựa có sao không" Ấy là qúy người hơn là súc vật. Nay Học sĩ lại đem người để đổi ngựa, là qúy súc vật hơn là qúy người". Nói xong bèn đọc 4 câu thơ rằng:

  為 人 莫 作 婦 人 身,   Vị nhân mạc tác phụ nhân thân,
  百 般 苦 樂 在 他 人。   Bách ban khổ lạc tại tha nhân.
  今 日 始 知 人 賤 畜,   Kim nhật thủy tri nhân tiện súc,
  此 生 苟 活 怨 誰 嗔?    Thử sinh cẩu hoạt oán thùy sân ?
     Có nghĩa :
                 Làm người chớ chọn làm thân gái,
                 Cay đắng sướng vui chỉ tại ai.
                 Nay biết người không bằng súc vật,
                 Sống thừa một kiếp oán ai đây ?!
                 
                      
                        Hồng Phấn Hoán Truy Phong

      Đọc thơ xong, che mặt khóc lớn, rồi chạy xuống dưới thềm, va đầu vào cây hòe mà chết. Tô Đông Pha đã tỏ ra vô cùng hối hận về sự việc nầy. Ông chỉ muốn tìm cho Xuân Nương một chốn yên thân, không ngờ nàng lại qúa chung tình với ông mà tìm đến cái chết. Có thuyết còn cho rằng vì Xuân Nương đang mang thai con của ông nên nàng càng uất ức... làm cho câu truyện càng trở nên bạc bẽo và nhẫn tâm hơn đối với Tô Đông Pha. Nhưng...

      Câu truyện trên đây có phải là một câu truyện có thực hay không thì còn đang tranh cải; Vì truyện được kể bởi một nhà biên kịch, một kịch tác gia đời nhà Minh là Phùng Mộng Long 馮 夢 龍 chớ không phải của một nhà chuyên viết sử chân chính. Phùng Mộng Long là nhà chuyên viết về Tiểu thuyết, Kịch bản của các Hí khúc, Dân Ca, và Truyện cười dân gian... thường kết hợp những thực tế của cuộc sống mà hư cấu sáng tác nên những tác phẩm như Dụ Thế Minh Ngôn《喻 世 明 言》、Cảnh Thế Thông Ngôn《警 世 通 言》、Tỉnh Thế Hằng Ngôn《醒 世 恒 言》Hợp xưng là TAM NGÔN ... Vả lại...

                     
                         Phùng Mộng Long qua điện ảnh

       Trong chính sử ghi chép, không tìm đâu ra lý lịch của nàng Xuân Nương, cũng như không tìm thấy Tưởng Công Tử là nhân vật như thế nào, thân thế ra làm sao... nên, câu truyện "Hồng Phấn Hoán Truy Phong 紅 粉 換 追 風" đa phần là do Phùng Mộng Long hư cấu gán ghép mà nên. Nhưng...
       Trong cái xã hội phong kiến đời Đường Tống, việc trọng nam khinh nữ là việc thường tình ở trong cuộc sống. Trai năm thê bảy thiếp là chuyện bình thường; Qua bài viết nầy ta cũng đã biết Tô Đông Pha cũng chẳng đã tam thê tứ thiếp hay sao. Hơn nữa, việc tặng một người tì thiếp cho một người bạn thơ tri kỷ cũng là môt chuyện thường tình, như truyện của ông Tư Không Lý Thân 司 空 李 紳 đời Đường chỉ vì hai câu thơ của Lưu Vũ Tích là "Tư Không kiến quán hồn nhàn sự, Đoạn tận Tô Châu Thứ Sử trường 司 空 見 慣 渾 閒 事,斷 盡 蘇 州 刺 史 腸!" có nghĩa: "Tư Không quen mắt không cho lạ, Thứ Sử Tô Châu ruột đứt rồi!" mà tặng luôn nàng ca kỹ "cung dạng trang (ăn mặc như cung nữ trong cung vua)" cho Lưu Vũ Tích để cho ông ta đừng có "đứt ruột" nữa! (Xem "Bài Thơ Mẫn Nông Thứ Ba?" của ĐCĐ).
       Khi quan trường bất đắc chí, bị đàn hạch và bị biếm đến Hoàng Châu xa xôi, Tô Đông Pha đang lúc tâm thần bấn loạn, gia đạo rối ren, khí tiết của kẻ sĩ đang đi xuống, nên cũng khó mà giữ được cái phong độ và tiết tháo của một bậc đại phu, mà có những quyết định sai lầm, hồ đồ đến nổi đem người tì thiếp yêu dấu đang có mang của mình để đổi lấy con bạch mã truy phong...
      Thầy Mạnh Tử dạy rằng :“Phú qúy bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất, thử chi vị Đại Trượng Phu 富贵 不 能 淫,贫 贱 不 能 移,威 武 不 能 屈,此 之 谓 大 丈 夫”. Nhưng ở đời, có mấy ai đã làm được "Đại Trượng Phu" như lời thầy  Mạnh Tử đã dạy đâu, nhất là ở vào các hoàn cảnh khó khăn, éo le, nghèo nàn, thất bại và bất đắc chí về mọi mặt !

                 
  Tô Đông Pha qua Điện Ảnh

      
 Hẹn bài viết tới !

                                                               杜 紹 德
                                                            Đỗ Chiêu Đức



Thứ Hai, 1 tháng 4, 2019

Về Tống Từ : VỌNG GIANG NAM - SIÊU NHIÊN ĐÀI TÁC của Tô Đông Pha (Đỗ Chiêu Đức,PKT,,Quên Đi,Mai Xuân Thanh


        VỌNG GIANG NAM 望江南 là tên một TỪ BÀI 詞牌 của Từ loại đời Tống. TỪ BÀI 詞牌 là TÊN của một trong những TỪ LOẠI 詞類. Giống như là bài VỌNG CỔ, XÀNG XÊ, LÝ CON SÁO, KHÓC HOÀNG THIÊN ... trong Cổ Nhạc của ta vậy. Bài ca VỌNG CỔ " Tình Anh Bán Chiếu " có nội dung nói về " Tình của anh bán chiếu ", chớ không có ý nghĩa VỌNG CỔ là " Trông về thuở xa xưa " gì cả ! Vì VỌNG CỔ là tên của một bài bản, một điệu của cổ nhạc mà thôi. Nên VỌNG GIANG NAM là Vọng Giang Nam, tên thực sự của bài từ nầy là SIÊU NHIÊN ĐÀI TÁC, có nghĩa : Sáng tác trên Đài SIÊU NHIÊN. 

       Đây là một trong những bài Từ nổi tiếng của Tô Đông Pha, mời tất cả cùng đọc :

 望江南-超然臺作  Vọng Giang Nam - Siêu Nhiên Đài Tác

春未老,              Xuân vị lão
風細柳斜斜.          Phong tế liễu tà tà
試上超然臺上看,    Thí thượng Siêu Nhiên Đài thượng khán 
半壕春水一城花,    Bán hào xuân thuỷ nhất thành hoa, 
煙雨暗千家.         Yên vũ ám thiên gia  

寒食後,               Hàn thực hậu
酒醒卻咨嗟.         Tửu tỉnh khước tư ta   
休對故人思故國,    Hưu đối cố nhân tư cố quốc   
且將新火試新茶,    Thả tương tân hoả thí tân trà  
詩酒趁年華。        Thi tửu sấn niên hoa.

      蘇軾 (東坡)                    Tô Thức (Đông Pha)

          Inline image
1. Chú Thích :

   * VỌNG GIANG NAM 望江南: là tên của một Từ Loại đời Tống, còn có tên là " Mộng Giang Nam hay Ức Giang Nam, vốn là tên một khúc hát nổi tiếng trong giáo phường đời Đường, sau mới dùng làm tên của Từ loại. Loại từ nầy gồm có 5 câu 27 chữ theo tiết tấu : 3, 5, 7, 7, 5. Gieo 3 vần bằng ở cuối các câu 2,4 và 5. Hai câu 7 chữ có thể đối hoặc không đối. Bài từ trên đây gồm có 2 khổ từ, mỗi khổ 27 chữ, năm câu và đều gieo cùng ba vần bằng. Vần của khổ đầu là TÀ, GIA, HOA. Vần của khổ sau là TA, TRÀ và HOA.
   * SIÊU NHIÊN ĐÀI 超然臺 : Tên của một cái đài ở phía bắc của thành Mật Châu ( thuộc Chư Thành của tỉnh Sơn Đông hiện nay ) Đứng trên đài nầy có thể ngắm cảnh của cả trong và ngoài thành. 
   * HÀO 壕 : là con kênh đào xung quanh để bảo vệ thành.  
   * HÀN THỰC 寒食 : Lễ tiết trước Thanh Minh một hoặc hai ngày. Theo tích Tấn văn Công lúc ly loạn, đói khát trong rừng, nhờ có Giới Chi Thôi ( Giới Tử Thôi ) cắt thịt đùi nấu cho ăn. Sau khi lên ngôi,phong thưởng công thần lại quên mất Giới Chi Thôi. Thôi cỏng mẹ vào ở ẩn trong rừng núi Miên Sơn. Tấn Văn Công nghe lời bàn của cận thần, đốt rừng để bức Giới Chi Thôi cỏng mẹ trở ra. Không ngờ mẹ con đều liều chết trong rừng. Tấn Văn Công vô cùng hối hận, ra lệnh hằng năm cấm lửa trong ngày hôm đó, đó chính là ngày lễ Hàn Thực trước lễ Thanh Minh một ngày, tất cả đều phải ăn đồ nguội không được dùng củi lửa.
   * TƯ TA 咨嗟 : là Than thở, là Cảm khái.
   * CỐ QUỐC 故國 : Ở đây chỉ Cố hương, là quê cũ.
   * TÂN HỎA TÂN TRÀ 新火新茶 : là Lửa mới Trà mới. Đây là tập tục của đời Đường Tống, trước Thanh Minh cấm lửa 3 ngày không được nấu nướng. Sau Thanh Minh mới nhóm lửa lại bằng cây du cây liễu, gọi là Lửa  Mới (Tân Hỏa). Những lá trà hái trước lễ Thanh Minh, gọi là Minh Tiền Trà 明前茶, tức là Tân Trà ( Trà Mới đó !). Trong bài từ Tô Đông Pha viết : Thả tương tân hoả thí tân trà 且將新火試新茶 Có nghĩa : Hãy đem lửa mới nhóm mà thử trà mới hái (xem sao nào !).
   * SẤN 趁 : là Nhân dịp, là Thừa lúc.
   * NIÊN HOA 年華 : Là Những năm tháng hoa mộng, chỉ thời gian còn trẻ, còn đẹp.

                     Inline image  Inline image
                                              Thả tương tân hoả thí tân trà       
     
2. Nghĩa Bài Từ :
                             Cảm Tác Trên Đài Siêu Nhiên
       Xuân chưa già, nghĩa là xuân chưa qua, gió nhẹ hây hây, cành liễu nghiêng nghiêng phe phẩy. Ta thử bước lên Siêu Nhiên Đài để ngắm cảnh xa xa, dòng nước xuân trong hào thành lưng chừng lắp loáng, cả thành đều tràn ngập trong rừng hoa đang khoe sắc. Xa xa cả ngàn nhà như chìm đắm trong màn mưa bụi như khói như mây đang che phủ.
      Tiết hàn Thực vừa đi qua, ta vừa tỉnh rượu lại cảm khái than thân. thôi thì đừng tỏ ý nhớ nhung quê hương trước mặt những người bạn cũ nữa, mà hãy thử nhóm lên ánh lửa mới để pha trà mới xem sao. Thơ và rượu cũng phải thừa lúc tuổi đang còn trẻ này mà buông thả ! 

       Bài từ nầy được làm vào cuối xuân năm Hi Ninh thứ 9 đời Tống Thần Tông,(1076), Tô Đông Pha bị đày đi làm quan ở phương nam, khi ông vừa từ Hàng Châu chuyển qua làm Thái Thú Mật Châu, đứng trên đài Siêu Nhiên ngắm nhìn cảnh xuân trong thành từ gần tới xa, rồi cảm khái nhớ quê hương trong tiết Thanh Minh lất phất mưa sau tiết Hàn Thực. Ta thấy toàn bài từ có bố cục rất tự nhiên, diễn tiến sát với tâm trạng kẻ xa quê tưởng nhớ cố hương trong các ngày lễ tiết...
      Khổ đầu của bài từ tả cảnh trí trước mắt với một tâm lý thật phóng khoáng : Xuân chưa già, nghĩa là xuân chưa qua ! Mặc dù đã cuối xuân nhưng liễu vẫn còn xanh om lả lướt, nước xuân vẫn còn lắp loáng quanh thành và cả một thành hoa xuân còn nở rộ. Nhưng xa xa ngàn nhà còn chìm đắm trong mưa khói mông lung. 
     Khổ hai là tình cảm tâm lý của tác giả diễn tiến một cách kín đáo và cũng không kém phần khoáng đạt. Tỉnh rượu sau đêm Hàn Thực, làm cho Tô Đông Pha cảm khái về hoàn cảnh xa nhà trước mắt của mình, vì sau Hàn Thực là Thanh Minh, lẽ ra phải về quê tảo mộ, nhưng có về được đâu với chức quan bị biếm ở phương nam. Nhưng ... lại nhưng, Tô đã mạnh dạn gạt bỏ tình cảm riêng tư sang một bên, không than thở lòng nhớ quê hương trước mặt bạn cũ (休對故人思故國 Hưu đối cố nhân tư cố quốc) mà phóng khoáng vui với cái vui trước mắt (且將新火試新茶 Thả tương tân hoả thí tân trà) Vì tuổi xuân có chờ đợi ai đâu, nhất là với các bạn thơ rượu 詩酒趁年華 Thi tửu sấn niên hoa ! 
     Tâm lý nầy của Tô lại làm cho ta nhớ đến cụ Nguyễn Công Trứ với bài Hát Nói có tựa là " Chơi Xuân Kẻo Hết Xuân Đi "(Cái già xồng xộc nó thì theo sau). Cái tâm lý phóng khoáng yêu đời và biết hưởng lạc nầy chỉ có những người như Uy Viễn Tướng Công hay Tô Đông Pha mới có được mà thôi ! Chấp nhận vui với hiện hữu là hạnh phúc !  

3. Diễn Nôm :
                     Inline image

                      CẢM TÁC TRÊN ĐÀI SIÊU NHIÊN

                      Xuân chưa già,
                     Gió nhẹ liễu la đà.
                     Lên đài Siêu Nhiên ngắm cảnh xa,
                     Nước xuân lắp loáng thành đầy hoa.
                     Mưa khói phủ ngàn nhà !

                     Sau Hàn Thực,
                     Tỉnh rượu lại thương ta,
                     Chớ đối cố nhân mơ cố quốc,
                     Hãy nhom lửa mới lại châm trà.
                     Thơ rượu lúc tuổi hoa !
      Lục bát :
                     Thiều quang chín chục chưa già,
                     Gió xuân lay liễu la đà quanh ta.
                     Siêu Nhiên Đài ngắm nẻo xa...
                     Nửa hào xuân thủy rực hoa khắp thành.
                     Ngàn nhà nhoà dưới mưa xanh !

                     Hàn Thực chuốc chén đêm thanh,
                     Tỉnh ra thương cảm tâm tình quê xa.
                     Chớ tìm bạn than nhớ nhà,
                     Hãy đem lửa mới pha trà mới nha...
                     Rượu thơ nhân lúc tuổi hoa !

                                                     Đỗ Chiêu Đức
   
                           
Bản Dịch của PKT



Vọng Giang Nam
Tô Đông Pha (1037 - 1101)

Xuân vị lão
Phong tế
Liễu tà tà

Thí thướng Siêu Nhiên đài thượng vọng
Bán hào xuân thủy
Nhất thành hoa
Yên vũ ám thiên gia

Hàn thực hậu
Tửu tỉnh khước tư ta
Hưu đối cố nhân tư cố quốc
Thả tương tân hỏa thí tân trà
Thi tửu sấn niên hoa

Cảm Dịch  : Một Từ Khúc Theo Điệu Vọng Giang Nam của Tô Đông Pha (đời Tống)
PKT - Mây Tần

Xuân vẫn mãi còn đây / Gió thổi nhẹ / Cành liễu đong đưa / Bước lên đài Siêu Nhiên (?) từ trên cao nhìn xuống / Nửa hào nước xuân / Một thành hoa  / Khói mưa  phủ khắp nhà nhà  / Sau lễ Hàn Thực / Tỉnh rượu lại nhớ nhà  / Gặp lại người cũ  mà chi thêm buồn / Thôi thì một mình hãy gầy lửa mới pha ấm trà mới / Cho thơ cùng rượu đuổi tuối hoa tôi 

Phụ Chú : Tục lệ xưa, lễ Hàn Thực vào mồng 3 tháng 3 âm lịch, nhà nhà kiêng gầy lửa bếp, ăn thức ăn nguội, (như bánh trôi, bánh chay)  

Xuân Chưa Già
PKT - Mây Tần

Xuân mãi xanh
Gíó thoảng
Liễu đong đưa

Nhẹ bước lên đài cao nhìn khắp
Nửa vùng sông nước
Một trời hoa
Mưa khói ấm ngàn nhà 

Sau lễ hàn thực
Tỉnh rượu chi thêm buồn
Gặp cố nhân chi thêm tội
Thôi hãy gầy lửa mới pha trà 
Thơ rượu cho đời qua 

Phụ Đính : Bài "One Day When We Were Young" của Johan Strauss II 

One day when we were young / One wonderful morning in May / You told me you loved me / When we were young one day // Sweet songs of Spring were sung / And music was never so gay / You told me you loved me / When we were young one day // You told me you loved me / And held me close to your heart / We laugh then, we cried then / Then came the time to part // 

When songs of Spring are sung / Remember that morning in May / Remember you loved me / When we were young one day ... 

Tri Khac Pham

 * Bản Dịch của Quên Đi

Dịch Nghĩa:

Trông Về Giang Nam - Viết Nơi Đài Siêu Nhiên

Mùa xuân đâu đã già
Gió nhẹ thổi cành liễu phất phơ
Bước lên đài Siêu Nhiên đứng trên cao nhìn
Xuân còn đọng lại trong nửa hào nước mà thành vẫn đầy hoa
Khói mưa làm mờ hàng ngàn ngôi nhà
Sau ngày lễ dùng thức ăn nguội
Vừa tỉnh rượu lại thở dài
Gặp lại người cũ mà chi càng thêm nhớ nước xưa
Thôi thì nhúm lửa mới để nấu nước pha bình trà mới
Thời tươi trẻ đã theo vào thơ rượu.

Dịch Thơ

Xuân vẫn chưa già
Gió nhẹ liễu la đà
Đài Siêu Nhiên từ cao nhìn xuống
Nửa hào xuân nước một thành hoa
Ngàn nhà mờ giữa khói mưa
Lễ Hàn Thực cũng mới vừa
Tỉnh rượu nghe buồn man mác
Gặp chi người cũ nhớ nước xưa
Thôi thì lửa mới pha trà mới
Tiếc chi thơ rượu cuốn thời trẻ trung
                                       Quên Đi

*
Bài Cảm ý của Mai Xuân Thanh
 Xuân Vẫn Chưa Già

Ai nói rằng xuân nay đã già ?
Phất phơ gió liễu rũ la đà
"Siêu Nhiên Đài Tác" cao nhìn xuống
Hoa lá nước hào thấp nhận ra
Mờ mịt sương mưa, nhà lẩn khuất
Mơ hồ Hàn Thực lễ vừa qua
Người xưa nước cũ than còn lửa
Thơ thẩn rượu trà tuổi trẻ pha...(!)

Mai Xuân Thanh

Chủ Nhật, 2 tháng 7, 2023

Giai Thoại Văn Chương : ANH EM XƯỚNG HỌA- Đỗ Chiêu Đức

Giai Thoại Văn Chương  :
                                       
                                    ANH EM XƯỚNG HỌA
                                                  
                              Tô Thức  (Tử Chiêm)    Tô Triệt  (Tử Do)
             Trong cổ thi, rất ít khi thấy anh em bạn bè xướng họa với nhau. Mời đọc một giai thoại về Xướng Họa giữa hai anh em Tô Đông Pha và Tô Triệt, hai trong số Đường Tống Bát Đại Gia 唐宋八大家 (Tám nhà văn học giỏi nhất đời Đường và đời Tống) như sau :

         Tô Triệt 蘇轍 tự là Tử Do 子由, em trai của Tô Đông Pha 蘇東坡, tài hoa xuất chúng. Khi mới 19 đã được bổ nhiệm làm quan Chủ Bộ của huyện Mẫn Trì, chưa kịp đáo nhậm thì trên đường đi thi đã đậu ngay Tiến Sĩ. Tô Triệt cùng anh là Tô Thức 蘇軾, tự là Tử Chiêm 子瞻, hiệu là Đông Pha Cư Sĩ 東坡居士, cùng lai kinh ứng thí, khi đi ngang qua huyện Mẫn Trì, đêm trọ lại trong một tăng xá trong chùa, cùng đề thơ tặng sư trên vách. 

     Mùa đông năm Gia Hựu thứ 6 đời nhà Tống (1061), Tô Thức được bổ nhiệm đi làm quan ở Phụng Tường Thiểm Tây, lại phải đi ngang qua huyện Mẫn Trì. Tô Triệt đưa anh đến phía ngoài cửa Tây của thành Trịnh Châu. Tô Thức đã làm một bài thơ chia tay trên ngựa cho em như sau :

                 寒燈相對記疇昔,    Hàn đăng tương đối ký trù tích,
                 夜雨何時聽蕭瑟?    Dạ vũ hà thời thính tiêu sắc ?
                 君知此意不可忘,    Quân tri thử ý bất khả vong,
                 慎勿苦愛高官職!    Thận vật khổ ái cao quan chức !
Có nghĩa :
               Đèn lạnh nhìn nhau nhớ cổ tích,
               Đêm mưa ngày nao nghe rả rích ?
               Biết em ý ấy chớ nên quên,
               Cẩn thận đừng vì ham quan chức !
           
  Tô Triệt cũng làm một bài thơ《Hoài Mẫn Trì ký Tử Chiêm Huynh 懷澠池寄子瞻兄》tặng cho anh trước khi chia tay về lại kinh thành. Bài thơ đó như sau :

               相攜話別鄭原上,   Tương huề thoại biệt Trịnh nguyên thượng,
               共道長途怕雪泥。   Cộng đạo trường đồ phạ tuyết NÊ.
               歸騎還尋大梁陌,   Quy kỵ hoàn tầm đại Lương mạch,
               行人已度古崤西。   Hành nhân dĩ độ cổ Hào TÊ (TÂY).
               曾為縣吏民知否?   Tằng vi huyện lại dân tri phủ ?
               舊宿僧房壁共題。   Cựu túc tăng phòng bích cộng ĐỀ.
               遙想獨遊佳味少,   Dao tưởng độc du giai vị thiểu,
               無言騅馬但鳴嘶。   Vô ngôn chuy mã đản minh TÊ.
* Có nghĩa :
      - Cùng dắt tay nhau đi và cùng nói lời tạm biệt trên thảo nguyên đất Trịnh Châu.- Cùng bảo nhau đường xa sợ nhiều tuyết bẩn (vất vả).
      - Người quay đầu ngựa trở về còn đang lẩn quẩn trong đường ruộng đại Lương; còn người đi là huynh trưởng chắc đã qua khỏi đường núi Hào tây rồi.
      - Ta đã từng làm qua chức huyện lại ở đây rồi không biết dân chúng có biết không, và trước đây đã từng ngụ ở tăng phòng nầy và đã cùng đề thơ trên vách.
      - Những nghĩ là huynh trưởng du hành đơn độc chắc là rất vô vị; Con đường trước mặt lặng lẽ im lìm chỉ có tiếng ngựa kêu hí mà thôi.

* Diễn Nôm :
                                               (Song thất lục bát)

                  Ngoài Trịnh Châu vẫy tay gĩa biệt,
                  Ngại đường xa chi xiết tuyết lầy,
                  Đại Lương đường ruộng về đây,
                  Hào Tây núi thẳm người đi dặm ngàn.

                  Từng vì dân giữ an huyện lại,
                  Trọ tăng phòng vách lại đề thơ,
                  Đường xa lữ khách mịt mờ,
                  Dặm trường lặng lẽ ngựa khờ hí vang !
                                                        Đỗ Chiêu Đức diễn Nôm

      Khi đi đến huyện Mẫn Trì, Tô Đông Pha nhớ lại chuyện 5 năm trước, khi cùng Tô Triệt lai kinh ứng thí, đêm ở trọ lại một ngôi chùa ở đây, lúc chia tay đã đề tặng một bài thơ trên vách tăng phòng của nhà sư trụ trì là Phụng Nhàn 奉閒. Nay thì nhà sư đã viên tịch, vách cũ cũng đổ nát, cảm xúc cho cái vô thường của thế sự, lại nhận được bài thơ của em trai gởi, bèn làm bài thơ họa vận để nhớ về Mẫn Trì khi cùng với Tô Triệt tá túc nơi đây. Giác ngộ về lẽ vô thường của sự vật làm cho Tô Đông Pha xem nhẹ về lợi danh được mất ở đời, cho đó là chuyện tự nhiên; hình thành phẩm cách cao cả nơi con người ông khi bắt đầu bước vào con đường hoạn lộ làm quan, với cái tinh thần tích cực yêu dân yêu nước và dám xả thân để báo quốc mà không ngại gian lao khổ nhọc. Ta hãy đọc bài thơ "HỌA TỬ DO MẪN TRÌ HOÀI CỰU 和子由澠池懷舊". Có nghĩa :"Họa với Tử Do nhớ lại chuyện cũ ở huyện Mẫn Trì" sẽ rõ : 

              人生到處知何似?    Nhân sinh đáo xứ tri hà tự ?
              應似飛鴻踏雪泥。   Ưng tự phi hồng đạp tuyết NÊ.
              泥上偶然留指爪,   Nê thượng ngẫu nhiên lưu chỉ trảo,
              鴻飛哪復計東西?    Hồng phi nả phục kế đông TÊ (TÂY)?
              老僧已死成新塔,   Lão tăng dĩ tử thành tân tháp,
              壞壁無由見舊題。   Hoại bích vô do kiến cựu ĐỀ.
              往日崎嶇還記否?    Vãng nhật khi khu hoàn ký phủ ?
              路長人困蹇驢嘶。   Lộ trường nhân khổn kiển lư TÊ.
* Có nghĩa :
        - Người đời phiêu bạt hết chỗ nầy đến chỗ kia, giống như là gì đây ? Tôi nghĩ giống như là chim hồng hộc ngẫu nhiên đậu xuống trên bùn trên tuyết mà thôi.
        - Trên bùn trên tuyết ngẫu nhiên lưu lại cái vết móng vuốt của chim hồng, chớ chim hồng bay sang đông hay bay sang tây đều không có tính toán trước.
        - Lão hòa thượng thì đã viên tịch rồi chỉ còn lưu lại cái tháp tro cốt mà thôi; và chúng ta cũng không có dịp đi nhìn lại tấm vách có đề thơ năm xưa giờ đã đổ nát.
        - Có còn nhớ ngày xưa trên đường đá gập ghềnh trắc trở khi đi đến đây; Đường đã xa xôi người lại mõi mệt còn lừa thì cũng bước chân khập khiểng và cất tiếng hí vang.

* Diễn Nôm :
 
                                 (Song thất lục bát)

                         Kiếp người đời hợp tan ai muốn ?
                         Tựa chim hồng đáp xuống tuyết lầy,
                         Tuyết lưu móng vuốt là đây,
                         Chim hồng bay mãi đông tây chẳng màng !

                         Lão tăng đã dặm ngàn khuất núi,
                         Vách đề thơ tàn lụi khó tìm,
                         Đường xưa núi đá gập ghềnh,
                         Xa xăm người mõi lừa rên hí tràn !     
                                                            Đỗ Chiêu Đức diễn Nôm
         
                        Tô Thức  (Tử Chiêm)             Tô Triệt  (Tử Do)
       Cái triết lý nhân sinh đượm một chút Thiền Ý của Tô Đông Pha rất đáng cho ta suy gẫm; Vì nó thiên về chí hướng tích cực của Nho gia, chớ không buông xuôi tiêu cực như người đời thường nghĩ. Ta hãy nghe lại bài thơ "HỌA TỬ DO..." của ông sẽ rõ...
       Bốn câu đầu ông nêu lên ý : Người đời ở đâu cũng thế, giống như con chim hồng nhạn tình cờ bay đáp xuống vũng lầy bùn tuyết để lại dấu ấn rồi bay đi khắp đông tây mà không còn nhớ gì tới dấu ấn đó nữa; Dấu ấn đó còn hay mất con chim nhạn cũng không cần biết tới làm chi nữa. Bốn câu sau, ông ví với việc anh em ông đề thơ trên vách tăng phòng của nhà chùa khi trọ qua đêm nơi đó; Nay thì nhà sư Phụng Nhàn đã mất, chỉ còn lại cái tháp tro cốt mà thôi; Bức vách đề thơ cũng đã sụp đổ theo mưa nắng của tháng năm. Chuyện ngủ trọ đề thơ cũng giống như chuyện chim hồng để lại dấu ấn trên bùn tuyết, là chuyện "Vô Thường của Cuộc Sống" xảy ra hằng ngày, ta phải biết châm chước mà phớt lờ NÓ đi, đừng để NÓ vướng bận mãi trong lòng làm cho cuộc sống luôn luôn phiền muộn. Chuyện "Ở trọ đề thơ" là một trong muôn ngàn chuyện của cuộc sống của con người; Phải quên NÓ đi, như con chim hồng nhạn không nhớ gì đến việc để lại vết tích trên bùn tuyết ; QUÊN để còn tích cực vui sống và làm việc giúp ích cho đời; QUÊN để còn đối phó với biết bao nhiêu sự cố sẽ lần lượt xảy ra trong cuộc sống của những tháng ngày tiếp nối. 
       Vì ý thiền trên của bài thơ, đã hình thành thành ngữ HỒNG TRẢO TUYẾT NÊ 鴻爪雪泥 hay TUYẾT NÊ HỒNG TRẢO 雪泥鴻爪; thường dùng để chỉ : Những việc đã qua vô tình còn để lại vết tích một cách vô tâm không cố ý. Thành ngữ nầy còn có ý khuyên ta đừng qúa câu nệ với những việc đã qua mà hãy hướng đến tương lai cao rộng hơn như cánh chim hồng tung mây lướt gió không còn bận tâm đến cái móng vuốt vô tình để lại trên bùn tuyết của năm nào nữa; Có thế, mới hết lòng hướng đến tương lai mà làm việc lớn hơn nữa.
  Đây là cái nhân sinh quan lạc quan trước vô thường của cuộc sống của Tô Đông Pha; Ông cũng khuyến khích em trai mình theo cái nhân sinh quan tích cực nầy mà đi vào cuộc sống. Chả trách hai anh em ông đều là những ông quan tốt và lại là hai thành viên nổi tiếng trong "Đường Tống Bát Đại Gia 唐宋八大家 ".

     Sau đây là hai bài thơ Xướng Họa của anh em nhà họ Tô, được diễn Nôm theo phong cách "Xướng Họa Hiện Nay" của qúy Tiền bối thân hữu trong các vườn thơ thẩn... Ai có nhã hứng thì cùng dịch cho vui (dĩ nhiên là sẽ chọn VẦN tùy thích !).

    XƯỚNG :
               HOÀI MẪN TRÌ KÝ TỬ CHIÊM HUYNH 懷澠池寄子瞻兄 

                   Vẫy tay giả biệt cửa tây Trịnh,
                   Cùng sợ đường xa lắm tuyết lầy.
                   Lẩn khuất người về đường ruộng đó,
                   Gập ghềnh kẻ vượt núi non đây.
                   Trước làm huyện lại dân nào biết,
                   Xưa ngụ đề thơ chẳng kẻ hay.
                   Đơn lẻ hành trình sầu chất ngất,
                   Người buồn ngựa mõi hí vang vầy !

    HỌA :
                HỌA TỬ DO MẪN TRÌ HOÀI CỰU 和子由澠池懷舊

                   Cuộc sống nhân sinh sao biết được ?
                   Tựa như hồng nhạn đáp bùn lầy,
                   Bùn lầy dấu ấn còn đây đó,
                   Trời rộng hồng bay khắp đó đây.
                   Viên tịch sư già nào kẻ biết,
                   Vách xiêu thơ đổ chẳng người hay.
                   Đường xưa khấp khểnh quên hay nhớ ?
                   Người mõi lừa què hí mãi vầy !
                                               Đỗ Chiêu Đức diễn Nôm.

       Mong rằng mọi người đều có quan niệm VÔ THƯỜNG một cách tích cực như là 
TÔ ĐÔNG PHA vậy !

      Đọc bài thơ trên của Tô Đông Pha, làm cho ta lại nhớ đến bài thơ Thiền "VÔ TÂM 無心" của Hương Hải Thiền Sư 香海禪師 (1628 - 1715) đời Hậu Lê của Việt Nam ta như sau :
     
                鴈 過 長 空,           Nhạn quá trường không,                         
                影 沉 寒 水.           Ảnh trầm hàn thủy.                     
                鴈 無 遺 跡 之 意,   Nhạn vô di tích chi ý                 
                水 無 留 影 之 心.   Thủy vô lưu ảnh chi tâm .
Có nghĩa :
         Con chim nhạn bay ngang qua bầu trời, cái bóng của nó in xuống dưới dòng nước lạnh. Con nhạn đó không có Ý để lại vết tích của mình dưới nước, mà nước cũng không có Lòng giữ lại hình bóng của chim nhạn. 
        Tất cả đều là lẽ tự nhiên của Vô Thường, Vô Tâm, của Tâm Vô Sở Trụ 心無所住 !

Diễn Nôm:
                 Nhạn bay cao vút trên không,
                 Bóng chìm đáy nước lạnh căm vô tình.
                 Nhạn không có Ý để hình,
                 Nước không Lòng giữ bóng hình nhạn đâu!                                                                                                                         Đỗ Chiêu Đức diễn Nôm
           

       Hẹn bài viết tới !

                                                                                        杜紹德
                                                                                    Đỗ Chiêu Đức
    

 

Mời Xem : 1./

Giai Thoại Văn Chương : NHỮNG CÂU ĐỐI THÚ VỊ 10 - Đỗ Chiêu Đức Diển Giãi 

 

2./  Giai Thoại Văn Chương : VÕ TRẮC VÃNG NAM CÔ (Đỗ Chiêu Đức Diển Giãi )

TRÀ NGUỘI -Thơ kiều Mộng Hà và Thơ Họa

TRÀ NGUỘI Chớp mắt còn chi!!! Tiệc đã tàn Cố quên vết xước của thời gian Người đi trà nguội tình sương khói Bướm vắng hoa tàn mộng dở dang N...