Hiển thị bài đăng được sắp xếp theo mức độ liên quan cho truy vấn Tống Từ : THỦY ĐIỆU CA ĐẦU Tô Đông Pha (Đỗ Chiêu Đức Diển Giãi ). Sắp xếp theo ngày Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị bài đăng được sắp xếp theo mức độ liên quan cho truy vấn Tống Từ : THỦY ĐIỆU CA ĐẦU Tô Đông Pha (Đỗ Chiêu Đức Diển Giãi ). Sắp xếp theo ngày Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 13 tháng 9, 2019

Tống Từ : THỦY ĐIỆU CA ĐẦU Tô Đông Pha (Đỗ Chiêu Đức Diển Giãi )


Trung Thu Tống Hi Ninh năm thứ 9 (1076), Tô Thức 蘇軾 (Đông Pha 東坡) đang là Tri Châu Mật Châu. Vì chính kiến bất đồng với Tể Tướng đương triều là Vương An Thạch, nên mới bị trích hoạn đến nơi nầy. Trong khi Trung Thu là ngày trăng to nhất tròn nhất trong năm,và cũng là ngày Tết Đoàn Viên của mọi gia đình, thì ông lại phải ở nơi xa. Buồn nhớ gia đình và nhất là nhớ người em trai cùng chung chí hướng là Tô Triệt 蘇轍 (Tử Do 子由), nên nhân lúc tửu hứng mới viết nên bài từ bất hũ nầy với những câu mở đầu để đời là : 明月幾時有?把酒問青天。Minh nguyệt kỷ thời hữu ? Bả tửu vấn thanh thiên ... mà ta sẽ đọc dưới đây.
                  
水調歌頭                  THỦY ĐIỆU CA ĐẦU

明月幾時有?           Minh nguyệt hà thời hữu ?
把酒問青天。           Bả tửu vấn thanh thiên.
不知天上宮闕,          Bất tri thiên thượng cung khuyết,
今夕是何年?           Kim tịch thị hà niên ?
我欲乘風歸去,        Ngã dục thừa phong quy khứ,   
唯恐瓊樓玉宇,        Duy khủng quỳnh lâu ngọc vũ,
高處不勝寒。          Cao xứ bất thắng hàn,
起舞弄清影,          Khởi vũ lộng thanh ảnh,
何似在人間。          Hà tự tại nhân gian.

轉朱閣,低綺戶,    Chuyển chu các, đê ỷ hộ,
照無眠。不應有恨, Chiếu vô miên. Bất ưng hữu hận,
何事長向別時圓?   Hà sự trường hướng biệt thời viên ?
人有悲歡離合,      Nhân hữu bi hoan ly hợp,
月有陰晴圓缺,      Nguyệt hữu âm tình viên khuyết,
此事古難全。         Thử sự cổ nan toàn.
但願人長久,         Đản nguyện nhân trường cửu,
千里共嬋娟。         Thiên lý cộng thuyền quyên.
        蘇軾                                           Tô Thức

        Inline image

* CHÚ THÍCH :
     - THỦY ĐIỆU CA ĐẦU 水調歌頭 : là Tên của một Từ Bài : Một thể loại Từ, chớ không phải tựa của bài Từ. Thường thì người ta hay lấy câu đầu để làm tựa cho bài Từ, nên bài Từ nầy được gọi là : 明月幾時有?Minh nguyệt kỷ thời hữu ?
     - Bả Tửu 把酒 : là cầm ly rượu nâng lên.
     - Thiên Thượng Cung Khuyết 天上宮闕 : là những cung điện ở trên trời.
     - Quỳnh Lâu Ngọc Vũ 瓊樓玉宇 : là Lâu đài được cất bằng ngọc quỳnh ngọc dao, chỉ nơi thần tiên ở trong thần thoại.
     - Bất Thắng Hàn 不勝寒 : Không thắng được cái lạnh, có nghĩa là rất lạnh, lạnh chịu không nổi.
     - Chu Các Ỷ Hộ 朱閣綺戶 : Chu Các là Lầu son; Ỷ Hộ là Cửa sổ có treo rèm đẹp.
     - Bi Hoan Ly Hợp 悲歡離合 : là Buồn, vui, tan, hợp.
     - Âm Tình Viên Khuyết 陰晴圓缺 : (Trăng có lúc) Mờ, Tỏ, Tròn, Mẻ (khuyết).
     - Thuyền Quyên 嬋娟 : là Cô gái đẹp, là những sự việc tốt đẹp, trong bài từ Tô dùng để chỉ Mặt Trăng tròn và đẹp.

* NGHĨA BÀI TỪ :
        Từ lúc nào đã có vầng trăng sáng ? Ta nâng ly rượu mà hỏi trời xanh. Không biết là cung điện ở trên trời cao kia, đêm nay là năm tháng nào ? Ta muốn cởi gió để đi về trên ấy, chỉ e rằng cung vàng điện ngọc ở trên cao kia giá lạnh vô cùng. Khi ta múa lên thì bóng của ta cũng vũ lộng thanh tao dưới ánh trăng không giống như là ở nhân gian nầy.
        Bóng trăng chiếu qua lầu son, len lỏi xuống tận khung cửa sổ có rèm hoa đẹp, chiếu vào ta là người chưa ngủ được. Trăng chắc cũng chẳng có oán hận gì với người, nhưng tại sao lại cứ tròn vành vạnh trong khi con người đang chia ly cách biệt ? Người thì có bi hoan ly hợp, trăng thì có tỏ mờ tròn khuyết. Đó là chuyện từ xưa đến nay khó mà chu toàn cho được. Chỉ mong là người mãi mãi được trường cửu an lành cho dù cách xa ngàn dặm vẫn có thể cùng ngắm vầng trăng đẹp với nhau.
       
        Bài từ nầy Tô Đông Pha làm để nhớ về người em trai tài hoa suýt soát tuổi với mình là Tô Tử Do (Tô Triệt). Hai anh em đã cùng vùi mài kinh sử, cùng đậu đạt, cùng làm quan và nhất là cùng chính kiến với nhau, nhưng giờ phải cách biệt vì mình bị đày đi xa trong đêm trăng tròn và sáng nhất trong năm : Đêm Trung Thu, cũng là đêm Đoàn Viên của gia đình. Nhớ em trai, nhưng vì lời thơ qúa đẹp qúa mượt mà ướt át, nên đời sau lại vận dụng và mượn những câu từ nầy để nhớ về người yêu dấu ở nơi xa. Ví dụ như hai câu cuối :
                 但願人長久,      Đản nguyện nhân trường cửu,
                 千里共嬋娟。      Thiên lý cộng thuyền quyên.
Có nghĩa :
                      Những mong người vẫn an lành,
               Nghìn trùng cùng ngắm trăng thanh đêm này.
     

                  Inline image


* DIỄN NÔM :

                THỦY ĐIỆU CA ĐẦU

             Trăng thanh có tự khi nào ?
             Nâng ly ta hỏi trời cao mấy lời.
             Đêm nay cung khuyết trên trời,
             Là năm nào của cỏi đời thế gian ?
             Thừa phong ta muốn về ngang,
             Chỉnh e lầu ngọc điện vàng lạnh căm.
             Một mình đối bóng đêm trăng,
             Phiêu diêu thanh thản cỏi trần nào hơn !
             .....
             Trăng ngà bóng xế lầu son,
             Xuyên qua song đẹp người còn trở trăn.
             Ánh trăng chẳng hận chẳng rằng,
             Cớ sao người khuyết mà trăng lại tròn ?
             .....
             Người đời vui hợp buồn tan,
             Trăng mờ rồi tỏ khuyết tròn bao năm.
             Cổ kim luyến ánh trăng rằm,
             Sự đời khó vẹn trách lầm trời xanh.
             Những mong người vẫn an lành,
             Nghìn trùng cùng ngắm trăng thanh đêm này !

                                                                  Đỗ Chiêu Đức
             
* Bài từ nầy đã được phổ nhạc. Mời bấm vào link dưới đây để nghe cố ca sĩ nổi tiếng của Đài Loan là ĐẶNG LỆ QUÂN hát.


Inline image


Thứ Hai, 1 tháng 4, 2019

Về Tống Từ : VỌNG GIANG NAM - SIÊU NHIÊN ĐÀI TÁC của Tô Đông Pha (Đỗ Chiêu Đức,PKT,,Quên Đi,Mai Xuân Thanh


        VỌNG GIANG NAM 望江南 là tên một TỪ BÀI 詞牌 của Từ loại đời Tống. TỪ BÀI 詞牌 là TÊN của một trong những TỪ LOẠI 詞類. Giống như là bài VỌNG CỔ, XÀNG XÊ, LÝ CON SÁO, KHÓC HOÀNG THIÊN ... trong Cổ Nhạc của ta vậy. Bài ca VỌNG CỔ " Tình Anh Bán Chiếu " có nội dung nói về " Tình của anh bán chiếu ", chớ không có ý nghĩa VỌNG CỔ là " Trông về thuở xa xưa " gì cả ! Vì VỌNG CỔ là tên của một bài bản, một điệu của cổ nhạc mà thôi. Nên VỌNG GIANG NAM là Vọng Giang Nam, tên thực sự của bài từ nầy là SIÊU NHIÊN ĐÀI TÁC, có nghĩa : Sáng tác trên Đài SIÊU NHIÊN. 

       Đây là một trong những bài Từ nổi tiếng của Tô Đông Pha, mời tất cả cùng đọc :

 望江南-超然臺作  Vọng Giang Nam - Siêu Nhiên Đài Tác

春未老,              Xuân vị lão
風細柳斜斜.          Phong tế liễu tà tà
試上超然臺上看,    Thí thượng Siêu Nhiên Đài thượng khán 
半壕春水一城花,    Bán hào xuân thuỷ nhất thành hoa, 
煙雨暗千家.         Yên vũ ám thiên gia  

寒食後,               Hàn thực hậu
酒醒卻咨嗟.         Tửu tỉnh khước tư ta   
休對故人思故國,    Hưu đối cố nhân tư cố quốc   
且將新火試新茶,    Thả tương tân hoả thí tân trà  
詩酒趁年華。        Thi tửu sấn niên hoa.

      蘇軾 (東坡)                    Tô Thức (Đông Pha)

          Inline image
1. Chú Thích :

   * VỌNG GIANG NAM 望江南: là tên của một Từ Loại đời Tống, còn có tên là " Mộng Giang Nam hay Ức Giang Nam, vốn là tên một khúc hát nổi tiếng trong giáo phường đời Đường, sau mới dùng làm tên của Từ loại. Loại từ nầy gồm có 5 câu 27 chữ theo tiết tấu : 3, 5, 7, 7, 5. Gieo 3 vần bằng ở cuối các câu 2,4 và 5. Hai câu 7 chữ có thể đối hoặc không đối. Bài từ trên đây gồm có 2 khổ từ, mỗi khổ 27 chữ, năm câu và đều gieo cùng ba vần bằng. Vần của khổ đầu là TÀ, GIA, HOA. Vần của khổ sau là TA, TRÀ và HOA.
   * SIÊU NHIÊN ĐÀI 超然臺 : Tên của một cái đài ở phía bắc của thành Mật Châu ( thuộc Chư Thành của tỉnh Sơn Đông hiện nay ) Đứng trên đài nầy có thể ngắm cảnh của cả trong và ngoài thành. 
   * HÀO 壕 : là con kênh đào xung quanh để bảo vệ thành.  
   * HÀN THỰC 寒食 : Lễ tiết trước Thanh Minh một hoặc hai ngày. Theo tích Tấn văn Công lúc ly loạn, đói khát trong rừng, nhờ có Giới Chi Thôi ( Giới Tử Thôi ) cắt thịt đùi nấu cho ăn. Sau khi lên ngôi,phong thưởng công thần lại quên mất Giới Chi Thôi. Thôi cỏng mẹ vào ở ẩn trong rừng núi Miên Sơn. Tấn Văn Công nghe lời bàn của cận thần, đốt rừng để bức Giới Chi Thôi cỏng mẹ trở ra. Không ngờ mẹ con đều liều chết trong rừng. Tấn Văn Công vô cùng hối hận, ra lệnh hằng năm cấm lửa trong ngày hôm đó, đó chính là ngày lễ Hàn Thực trước lễ Thanh Minh một ngày, tất cả đều phải ăn đồ nguội không được dùng củi lửa.
   * TƯ TA 咨嗟 : là Than thở, là Cảm khái.
   * CỐ QUỐC 故國 : Ở đây chỉ Cố hương, là quê cũ.
   * TÂN HỎA TÂN TRÀ 新火新茶 : là Lửa mới Trà mới. Đây là tập tục của đời Đường Tống, trước Thanh Minh cấm lửa 3 ngày không được nấu nướng. Sau Thanh Minh mới nhóm lửa lại bằng cây du cây liễu, gọi là Lửa  Mới (Tân Hỏa). Những lá trà hái trước lễ Thanh Minh, gọi là Minh Tiền Trà 明前茶, tức là Tân Trà ( Trà Mới đó !). Trong bài từ Tô Đông Pha viết : Thả tương tân hoả thí tân trà 且將新火試新茶 Có nghĩa : Hãy đem lửa mới nhóm mà thử trà mới hái (xem sao nào !).
   * SẤN 趁 : là Nhân dịp, là Thừa lúc.
   * NIÊN HOA 年華 : Là Những năm tháng hoa mộng, chỉ thời gian còn trẻ, còn đẹp.

                     Inline image  Inline image
                                              Thả tương tân hoả thí tân trà       
     
2. Nghĩa Bài Từ :
                             Cảm Tác Trên Đài Siêu Nhiên
       Xuân chưa già, nghĩa là xuân chưa qua, gió nhẹ hây hây, cành liễu nghiêng nghiêng phe phẩy. Ta thử bước lên Siêu Nhiên Đài để ngắm cảnh xa xa, dòng nước xuân trong hào thành lưng chừng lắp loáng, cả thành đều tràn ngập trong rừng hoa đang khoe sắc. Xa xa cả ngàn nhà như chìm đắm trong màn mưa bụi như khói như mây đang che phủ.
      Tiết hàn Thực vừa đi qua, ta vừa tỉnh rượu lại cảm khái than thân. thôi thì đừng tỏ ý nhớ nhung quê hương trước mặt những người bạn cũ nữa, mà hãy thử nhóm lên ánh lửa mới để pha trà mới xem sao. Thơ và rượu cũng phải thừa lúc tuổi đang còn trẻ này mà buông thả ! 

       Bài từ nầy được làm vào cuối xuân năm Hi Ninh thứ 9 đời Tống Thần Tông,(1076), Tô Đông Pha bị đày đi làm quan ở phương nam, khi ông vừa từ Hàng Châu chuyển qua làm Thái Thú Mật Châu, đứng trên đài Siêu Nhiên ngắm nhìn cảnh xuân trong thành từ gần tới xa, rồi cảm khái nhớ quê hương trong tiết Thanh Minh lất phất mưa sau tiết Hàn Thực. Ta thấy toàn bài từ có bố cục rất tự nhiên, diễn tiến sát với tâm trạng kẻ xa quê tưởng nhớ cố hương trong các ngày lễ tiết...
      Khổ đầu của bài từ tả cảnh trí trước mắt với một tâm lý thật phóng khoáng : Xuân chưa già, nghĩa là xuân chưa qua ! Mặc dù đã cuối xuân nhưng liễu vẫn còn xanh om lả lướt, nước xuân vẫn còn lắp loáng quanh thành và cả một thành hoa xuân còn nở rộ. Nhưng xa xa ngàn nhà còn chìm đắm trong mưa khói mông lung. 
     Khổ hai là tình cảm tâm lý của tác giả diễn tiến một cách kín đáo và cũng không kém phần khoáng đạt. Tỉnh rượu sau đêm Hàn Thực, làm cho Tô Đông Pha cảm khái về hoàn cảnh xa nhà trước mắt của mình, vì sau Hàn Thực là Thanh Minh, lẽ ra phải về quê tảo mộ, nhưng có về được đâu với chức quan bị biếm ở phương nam. Nhưng ... lại nhưng, Tô đã mạnh dạn gạt bỏ tình cảm riêng tư sang một bên, không than thở lòng nhớ quê hương trước mặt bạn cũ (休對故人思故國 Hưu đối cố nhân tư cố quốc) mà phóng khoáng vui với cái vui trước mắt (且將新火試新茶 Thả tương tân hoả thí tân trà) Vì tuổi xuân có chờ đợi ai đâu, nhất là với các bạn thơ rượu 詩酒趁年華 Thi tửu sấn niên hoa ! 
     Tâm lý nầy của Tô lại làm cho ta nhớ đến cụ Nguyễn Công Trứ với bài Hát Nói có tựa là " Chơi Xuân Kẻo Hết Xuân Đi "(Cái già xồng xộc nó thì theo sau). Cái tâm lý phóng khoáng yêu đời và biết hưởng lạc nầy chỉ có những người như Uy Viễn Tướng Công hay Tô Đông Pha mới có được mà thôi ! Chấp nhận vui với hiện hữu là hạnh phúc !  

3. Diễn Nôm :
                     Inline image

                      CẢM TÁC TRÊN ĐÀI SIÊU NHIÊN

                      Xuân chưa già,
                     Gió nhẹ liễu la đà.
                     Lên đài Siêu Nhiên ngắm cảnh xa,
                     Nước xuân lắp loáng thành đầy hoa.
                     Mưa khói phủ ngàn nhà !

                     Sau Hàn Thực,
                     Tỉnh rượu lại thương ta,
                     Chớ đối cố nhân mơ cố quốc,
                     Hãy nhom lửa mới lại châm trà.
                     Thơ rượu lúc tuổi hoa !
      Lục bát :
                     Thiều quang chín chục chưa già,
                     Gió xuân lay liễu la đà quanh ta.
                     Siêu Nhiên Đài ngắm nẻo xa...
                     Nửa hào xuân thủy rực hoa khắp thành.
                     Ngàn nhà nhoà dưới mưa xanh !

                     Hàn Thực chuốc chén đêm thanh,
                     Tỉnh ra thương cảm tâm tình quê xa.
                     Chớ tìm bạn than nhớ nhà,
                     Hãy đem lửa mới pha trà mới nha...
                     Rượu thơ nhân lúc tuổi hoa !

                                                     Đỗ Chiêu Đức
   
                           
Bản Dịch của PKT



Vọng Giang Nam
Tô Đông Pha (1037 - 1101)

Xuân vị lão
Phong tế
Liễu tà tà

Thí thướng Siêu Nhiên đài thượng vọng
Bán hào xuân thủy
Nhất thành hoa
Yên vũ ám thiên gia

Hàn thực hậu
Tửu tỉnh khước tư ta
Hưu đối cố nhân tư cố quốc
Thả tương tân hỏa thí tân trà
Thi tửu sấn niên hoa

Cảm Dịch  : Một Từ Khúc Theo Điệu Vọng Giang Nam của Tô Đông Pha (đời Tống)
PKT - Mây Tần

Xuân vẫn mãi còn đây / Gió thổi nhẹ / Cành liễu đong đưa / Bước lên đài Siêu Nhiên (?) từ trên cao nhìn xuống / Nửa hào nước xuân / Một thành hoa  / Khói mưa  phủ khắp nhà nhà  / Sau lễ Hàn Thực / Tỉnh rượu lại nhớ nhà  / Gặp lại người cũ  mà chi thêm buồn / Thôi thì một mình hãy gầy lửa mới pha ấm trà mới / Cho thơ cùng rượu đuổi tuối hoa tôi 

Phụ Chú : Tục lệ xưa, lễ Hàn Thực vào mồng 3 tháng 3 âm lịch, nhà nhà kiêng gầy lửa bếp, ăn thức ăn nguội, (như bánh trôi, bánh chay)  

Xuân Chưa Già
PKT - Mây Tần

Xuân mãi xanh
Gíó thoảng
Liễu đong đưa

Nhẹ bước lên đài cao nhìn khắp
Nửa vùng sông nước
Một trời hoa
Mưa khói ấm ngàn nhà 

Sau lễ hàn thực
Tỉnh rượu chi thêm buồn
Gặp cố nhân chi thêm tội
Thôi hãy gầy lửa mới pha trà 
Thơ rượu cho đời qua 

Phụ Đính : Bài "One Day When We Were Young" của Johan Strauss II 

One day when we were young / One wonderful morning in May / You told me you loved me / When we were young one day // Sweet songs of Spring were sung / And music was never so gay / You told me you loved me / When we were young one day // You told me you loved me / And held me close to your heart / We laugh then, we cried then / Then came the time to part // 

When songs of Spring are sung / Remember that morning in May / Remember you loved me / When we were young one day ... 

Tri Khac Pham

 * Bản Dịch của Quên Đi

Dịch Nghĩa:

Trông Về Giang Nam - Viết Nơi Đài Siêu Nhiên

Mùa xuân đâu đã già
Gió nhẹ thổi cành liễu phất phơ
Bước lên đài Siêu Nhiên đứng trên cao nhìn
Xuân còn đọng lại trong nửa hào nước mà thành vẫn đầy hoa
Khói mưa làm mờ hàng ngàn ngôi nhà
Sau ngày lễ dùng thức ăn nguội
Vừa tỉnh rượu lại thở dài
Gặp lại người cũ mà chi càng thêm nhớ nước xưa
Thôi thì nhúm lửa mới để nấu nước pha bình trà mới
Thời tươi trẻ đã theo vào thơ rượu.

Dịch Thơ

Xuân vẫn chưa già
Gió nhẹ liễu la đà
Đài Siêu Nhiên từ cao nhìn xuống
Nửa hào xuân nước một thành hoa
Ngàn nhà mờ giữa khói mưa
Lễ Hàn Thực cũng mới vừa
Tỉnh rượu nghe buồn man mác
Gặp chi người cũ nhớ nước xưa
Thôi thì lửa mới pha trà mới
Tiếc chi thơ rượu cuốn thời trẻ trung
                                       Quên Đi

*
Bài Cảm ý của Mai Xuân Thanh
 Xuân Vẫn Chưa Già

Ai nói rằng xuân nay đã già ?
Phất phơ gió liễu rũ la đà
"Siêu Nhiên Đài Tác" cao nhìn xuống
Hoa lá nước hào thấp nhận ra
Mờ mịt sương mưa, nhà lẩn khuất
Mơ hồ Hàn Thực lễ vừa qua
Người xưa nước cũ than còn lửa
Thơ thẩn rượu trà tuổi trẻ pha...(!)

Mai Xuân Thanh

Thứ Tư, 30 tháng 10, 2019

Góc Đường Thi : Tảo Thu Sơn Cư ( Ôn Đình Quân )

1. Nguyên bàn chữ Nho của bài thơ :



       早秋山居        TẢO THU SƠN CƯ
      山近覺寒早,   Sơn cận giác hàn tảo,
      草堂霜氣晴。   Thảo đường sương khí tình.
      樹凋窗有日,   Thụ điêu song hữu nhật,
      池滿水無聲。   Trì mãn thuỷ vô thanh.
      果落見猿過,   Qủa lạc kiến viên quá,
      葉幹聞鹿行。   Diệp can văn lộc hành.
      素琴機慮靜,   Tố cầm cơ lự tịnh,
      空伴夜泉清。   Không bạn dạ tuyền thanh.
            溫庭筠                      Ôn Đình Quân

      

2. Chú Thích :
    - THẢO ĐƯỜNG 草堂 : ĐƯỜNG là Hall trong tiếng Anh, là cái phòng rộng lớn. Nhưng THẢO ĐƯỜNG ở đây là căn nhà cỏ, nhà tranh của những văn nhân thi sĩ ngày xưa khi ở ẩn. Gọi là Thảo Đường cho có vẻ cao nhã thanh thoát mà thôi.
    - TÌNH 晴 : là Tạnh, là Nắng ráo. Sương Khí Tình là chỉ Hơi sương đã tan.
    - THỤ ĐIÊU 樹凋 : là Cây héo. Ở đây chỉ Lá cây vàng rụng nên cành lá thưa thớt. LINH là Điêu Linh là lưa thưa héo úa. 
    - TỐ CẦM 素琴 : là Cây đàn chay. Có nghĩa Cây đàn không có trang trí thêm hoa văn gì cho đẹp cả.

3. Nghĩa bài thơ : 
                                THU SỚM TRONG VÙNG NÚI

       Vì ở gần với núi non nên có cảm giác là cái lạnh của mùa thu đến sớm hơn. Trong gian nhà cỏ đã tạnh hơi sương, ta nhìn qua song cửa thấy ánh nắng đã le lói qua các cành cây lưa thưa lá úa, và một ao nước thu đầy lạnh lẽo trong veo trong yên tĩnh. Trái cây cũng vàng rụng nên thấp thoáng bóng của các con vượn thoáng qua. Bên tai lại nghe tiếng xạc xào của các con nai đạp trên lá vàng khô. Ta gãy chiếc đàn mộc mạc mà lòng lâng lâng yên tịnh, đến khi đêm xuống thì chỉ còn nghe có tiếng suối trong thanh thoát hòa lẫn với tiếng đàn mà thôi.

     Câu thứ tư trong bài "池滿水無聲 Trì mãn thuỷ vô thanh" làm cho ta nhớ đến Tam nguyên Yên Đỗ với ...

                    Ao thu lạnh lẽo nước trong veo !

    và... câu thứ sáu "葉幹聞鹿行 Diệp can văn lộc hành" trong bài, lại làm cho ta liên tưởng đến thi sĩ Lưu Trọng Lư với ...

                    Con nai vàng ngơ ngác...
                    Đạp trên lá vàng khô !

    Quả là một bài thơ đẹp cho cảnh mùa thu đến sớm với những người ẩn cư tại các vùng núi non xa xôi hẻo lánh : Yên tịnh, thanh thoát và cao nhã !

4. Diễn Nôm :

             SỚM THU TRONG NÚI

               Hắt hiu núi gần lạnh sớm,
            Nhà tranh vừa tạnh sương mù.
            Cây rụng lưa thưa song nắng.
            Nước đầy trong trẻo ao thu.
            Bóng vượn chập chờn trái rụng,
            Tiếng nai xào xạc lá khô.
            Thanh thoát tiếng đàn mộc mạc,
            lẫn trong tiếng suối như thơ.
 Lục bát :
            Hắt hiu xóm núi lạnh tràn,
            Hơi thu nhà cỏ một gian sương mờ.
            Nắng xuyên song cửa lơ thơ,
            Cây cành thưa lá ao hồ nước dâng.
            Vượn buồn trái rụng bâng khuâng,
            Xạc xào nai đạp lá rừng vàng khô.
            Đàn tranh mộc mạc lửng lơ,
            Hoà cùng tiếng suối như mơ đêm trường.

                                       Đỗ Chiêu Đức


--Bản dịch của Mai Lộc-- 

Thu Sớm Trong Núi 
 (1)
Trong rừng núi , đã nghe lạnh sớm , 
Mái tranh nghèo , thu chớm , mờ sương . 
Ngoài song lá úa nắng vương , 
Ao đầy vắng lạnh , khói dường như mây. 
Hoa trái rụng trên cây vượn hú 
Đạp lá vàng một lũ hươu nai . 
Gảy đàn thanh thoát lòng ai , 
Bạn cùng suối nước đêm nay riêng mình . 
(2) 
Trong núi lạnh heo may , 
Mái nghèo sương khói bay . 
Song ngoài nắng lá úa , 
Ao vắng nước tràn đầy . 
Qủa rụng , vượn đâu đến , 
Lá vàng vẳng hươu nai . 
Gảy đàn lòng tĩnh lặng , 
Suối nước bạn đêm nay .


Phương Hà phỏng dịch 
THU SỚM TRONG NÚI

Cái lạnh mùa thu đến sớm hơn
Nhà tranh tĩnh lặng vắng hơi sương
Lưa thưa lá úa trên cành nắng
Lạnh lẽo hồ trong tựa mặt gương
Thấp thoáng vượn tìm hoa quả rụng
Xạc xào nai đạp  lá vàng vương
Gẩy cây đàn mộc ngân cùng suối
Thanh thản lòng ta nhẹ lạ thường.

Phương Hà

 Xem lại :Về Tống Từ : VỌNG GIANG NAM - SIÊU NHIÊN ĐÀI TÁC của Tô Đông Pha (Đỗ Chiêu Đức,PKT,,Quên Đi,Mai Xuân Thanh



Thứ Bảy, 28 tháng 9, 2019

Đường Thi : TỐNG NGỤY VẠN CHI KINH - Lý Kỳ (Đỗ Chiêu Đức Diển Giãi và 3 bài Thơ Họa



 LÝ KỲ 李頎 (690-751), thi nhân đời Đường. Người đất Đăng Phong tỉnh Hà Nam. Đậu tiến sĩ năm Đường Khai Nguyên thứ 13 (725), từng giữ chức Huyện Úy huyện Tân Hương. Ông là bạn thơ của Vương Duy, Cao Thích, Vương Xương Linh ... Ngụy Vạn là bạn vong niên của ông, rất tâm đầu ý hợp. Về già ông ẩn cư ở Dĩnh Dương , nhưng thường qua lại đất Lạc Dương. Bài thơ sau đây ông làm lúc đưa tiễn Ngụy Vạn về kinh thành.

 送魏萬之京           TỐNG NGỤY VẠN CHI KINH

朝聞遊子唱驪歌,    Triêu văn du tử xướng li ca,
昨夜微霜初度河。    Tạc dạ vi sương sơ độ hà.
鴻雁不堪愁裡聽,    Hồng nhạn bất kham sầu lý thính,
雲山況是客中過。    Vân sơn huống thị khách trung qua.
關城曙色催寒近,    Quan thành thự sắc thôi hàn cận,
御苑砧聲向晚多。    Ngự uyển châm thanh hướng vãn đa.
莫是長安行樂處,    Mạc thị Trường An hành lạc xứ,
空令歲月易蹉跎。    Không linh tuế nguyệt dị sa đà.
               李頎                                        Lý Kỳ
        Inline image
* CHÚ THÍCH :
     - CHI 之 : CHI ở đây là Động từ, có nghĩa là Đến. CHI KINH là đến Kinh đô.
     - LI CA 驪歌 : là Bài ca ly biệt; Bài hát lúc chia tay.
     - VI SƯƠNG 微霜 : là Màn sương mỏng.
     - QUAN THÀNH 關城 : là Cửa quan ải.
     - THỰ SẮC 曙色 : là Sắc trời lúc ban sáng; có bản in là THỌ SẮC 樹色 : là Màu của cây cỏ.
     - NGỰ UYỂN 御苑 : là Ngự hoa viên, là Vườn hoa của Vua trong kinh thành.
     - CHÂM THANH 砧聲 : Tiếng chày đá giặt áo quần. (Vải thô phải dùng chày để đập.)
     - MẠC THỊ 莫是 : MẠC là Đừng ,là Chẳng; THỊ là LÀ. MẠC THỊ là Chẳng là ...
     - KHÔNG LINH 空令 : là Để cho ...oan uổng. Câu "空令歲月易蹉跎 Không linh tuế nguyệt dị sa đà" là : Làm cho ngày tháng lần lừa mất đi một cách oan uổng !

* NGHĨA BÀI THƠ :
                                  Đưa Bạn Ngụy Vạn Về Kinh Thành
       Mới vừa sáng sớm đã nghe bạn hát bài ca ly biệt. (Bạn có biết chăng) tối đêm qua một màng sương mỏng đã tràn qua sông Hoàng Hà. (Nên) người ly khách rất sợ phải nghe tiếng nhạn kêu sương khi lòng đang buồn bã, và cảnh núi mây cũng gợi sầu cho người lữ khách qua đường. Sắc trời buổi sáng của kinh thành khi trời vào cuối thu cũng đang thôi thúc cho cái lạnh đông sắp tới, và tiếng chày giặt giũ trong vườn Thượng Uyển càng rộn rã hơn khi trời ngã về chiều (đập vải thô để may áo ngự hàn). Bạn đừng cho là đất Trường An là nơi ăn chơi hành lạc, mà lần lừa bỏ phí tuổi xuân xanh đi qua một cách oan uổng !

       Bài thơ tiễn bạn nầy thật đặc biệt. Câu đầu nói sáng nay bạn muốn đi xa, câu sau tả ngược lại cảnh đêm hôm qua sương đã rơi và đã tràn qua sông Hoàng Hà, có nghĩa trời đã gần cuối thu. Cảnh sắc đã trở buồn lại nhằm lúc phải chia tay. Bốn câu kế tả cảnh trí của mùa thu trên đường đi dễ gợi sầu cho người lữ thứ và cảnh thu rộn rã nhộn nhịp ở kinh thành. Hai câu kết mới là ý chính : Khuyên bạn khi đến kinh đô rồi, đừng chìm đắm trong cảnh phồn hoa đô hội của kinh thành mà ăn chơi trác táng để lở mất tuổi xuân xanh một cách oan uổng, mà hãy cố gắng tiến thủ lập chút công danh để làm nên sự nghiệp. 

* DIỄN NÔM :

                      ĐƯA NGỤY VẠN VỀ KINH

               Inline image


               Sáng nghe bạn hát khúc ly ca,
               Sương phủ Hoàng Hà đêm tối qua.
               Cánh nhạn kêu sương buồn lữ thứ,
               Núi mây đất khách quạnh lòng ta.
               Kinh thành lộng gió heo may lạnh,
               Ngự uyển tiếng chày rộn rã ra.
               Chớ tưởng Trường An nơi hưởng lạc,
               Lần lừa ngày tháng dễ tiêu pha.
   Lục bát :
               Sáng nghe bạn hát ly ca,
               Hoàng Hà sương phủ đêm qua tràn bờ.
               Kêu sương tiếng nhạn bơ vơ,
               Núi mây đất khách ơ hờ một thân.
               Kinh thành cái lạnh đến gần,
               Tiếng chày Ngự uyển bâng khuâng tối trời.
               Trường An là đất ăn chơi,
               Lần lừa ngày tháng hết đời xuân xanh !

                                                      Đỗ Chiêu Đức
                                                                                                                                                            Bài phỏng dich của Mailoc                                                                                                                                                                      TIỄN NGUỴ-VẠN VỀ KINH

Khúc ly biệt khách ngâm hừng sáng
Tối qua sông lãng đãng mù rơi.
Lòng buồn tiếng nhạn rụng rời
Lại thêm mây núi xứ người phải qua.
Cây hoàng thành như đà gọi lạnh
Vườn ngự chiều chày vẳng mau mau.
Trường An dù có xuyến xao
Chớ nên lần lữa tiêu hao tháng ngày.
           Mailoc  
                  
TIỄN NGỤY VẠN VỀ KINH 

Hửng sáng kim bằng tấu biệt ca

Sương đêm phủ kín khắp Hoàng Hà

Nghe hồng nhạn lẻ kêu buồn bã

Vượt núi mây mờ cảm xót xa

Thành mở hơi mai tràn sắc lạnh

Chày khua ngự uyển suốt dương tà 

Trường An mảnh đất đầy hoan lạc

Chớ để lần lừa phí tuổi hoa.
Mai Thắng – 190927
Bài Của Mai Xuân Thanh

Nghêu ngao chi sớm mà mong đợi
Sương trắng Hoàng Hà mới tối qua
Nỉ non nhạn gọi thiết tha
Mây ngàn đất khách lòng ta ngậm ngùi
Heo may lạnh lẽo kinh thành tủi
Ngự Uyển chày đâu ủi tối rồi
Trường an mới đến ham chơi
Tháng ngày khất lại tiêu đời tuổi xanh

Mai Xuân Thanh
Ngày 26/09/2019
                                                                                                                                                                                                                            Xem Thêm :*Góc Việt Thi : Thơ NGUYỄN TRÃI    
                          *Tống Từ : THỦY ĐIỆU CA ĐẦU Tô Đông Pha (Đỗ Chiêu Đức Diển Giãi )                                                                                                                      

.








ĐÔNG VỀ TRÊN HÈ PHỐ - Thơ rần Đông Thành và Các Bài Họa

  ĐÔNG VỀ TRÊN HÈ PHỐ Ấo ấm khăn quàng mủ dạ đêm Lang thang trên phố vắng bên thềm Mờ mờ ánh sáng soi vàng vọt Lẻ tẻ màng đêm rọi bóng chim...